1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tổng quan về huyện Thanh Chương

36 675 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 192 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quá trình thực tập của mình tại Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Thanh Chương, tôi được tham gia,tìm hiểu về tổ chức hoạt động, vị trí và chức năng của Phòng Văn hóa và Thông tin h

Trang 1

I NỘI DUNG VÀ TIẾN ĐỘ THỰC TẬP

NHẬT KÝ THỰC TẬP

1 30/01/2012 Đến cơ quan thực tập gặp mặt và làm quen với mọi

người trong cơ quan

2 31/ 01/2012 Nhận và chuyển công văn cho các phòng ban và cơ

sở

3 06/02/2012 Chuẩn bị hội trường để họp công tác tổ chức lễ hội

đền Bạch Mã

4 18/02/2012 Tham gia đón đơn vị văn hóa tại xã Thanh Hưng

5 19/02/2012 Tham gia đón đơn vị văn hóa tại xã Thanh Hà

6 21/02/2012 Tham gia đón đơn vị văn hóa tại xã Thanh Ngọc

7 22/02/2012 Tham gia đón đơn vị văn hóa tại xã Thanh Long

8 23/ 03/ 2012 Tham gia đón đơn vị văn hóa tại xã Thanh Lâm

9 24/ 03/ 2012 Tham gia đón đơn vị văn hóa tại xã Thanh Chi

10 25/ 03/ 2012 Tham gia đón đơn vị văn hóa tại xã Thanh Liên

11 26/ 03/ 2012 Tham gia đón đơn vị văn hóa tại xã Đồng Văn

12 27/ 03/ 2012 Tham gia đón đơn vị văn hóa tại xã Võ Liệt

13 28/ 03/ 2012 Tham gia đón đơn vị văn hóa tại xã Thanh Đồng

14 29/02-03/03/2012 Tham gia công tác tổ chức và kiểm tra các hoạt động của lễ hội đền Bạch Mã năm 2012.

15 04/03-06/03/2012 Làm công văn về khảo sát thiết bị truyền thanh cơ sở gửi cho các xã, thị trấn.

16 07/03-14/03/2012 Làm báo cáo thực tập tốt nghiệp

17 15/03-19/03/2012 Tổng hợp báo cáo truyền thanh cơ sở để gửi về sở Thông tin-Truyền thông Nghệ An.

18 20/03-23/03/2012 Tham gia đi kiểm tra về việc thực hiện chỉ thị 05

Trang 2

nông thôn mới.

19 24/03/2012 Xin ý kiến nhận xét của cơ quan thực tập, tổ chức gặp mặt chia tay cơ quan.

II CÁC KẾT QUẢ CỤ THỂ

Qua 2 tháng thực tập vừa rồi đã giúp tôi hiểu biết về cơ chế làm việc và hoạt động của cơ quan Học hỏi được rất nhiều kinh nghiệm trong việc tổ chức các hoạt động văn hoá, thể thao Quá trình thực tập đã rèn luyện cho bản thân những

kỷ năng làm việc và ứng xử trong các mối quan hệ tại cơ quan

Thời gian thực tập giúp tôi làm quen với các công việc cụ thể trong cơ quan, giúp cho tôi tìm hiểu được nội dung, cách làm các văn bản nhà nước

Giúp bản thân thêm tự tin, nâng cao tinh thần làm viêc tập thể, phát huy tính sáng tạo, chủ động trong công việc, làm việc có kế hoạch, kỷ luật

MỞ ĐẦU

Trang 3

Thanh Chương là một huyện miền núi phía tây của Nghệ An, Thanh Chương phong tục địa phương khoáng đạt, cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp; kẻ sĩ chăm chỉ đèn sách, trau dồi lễ nghĩa; dân làm nghề nông thì đàn ông chăm lo mùa vụ, đàn bà thì giữ gìn chính chuyên, hiền thục Mọi người đều rất coi trọng

lễ làng, phép nước, chuộng sự cần kiệm và đều coi trọng việc báo đáp công ơn đối với nhà vua cũng như cha mẹ là niềm vui

Là huyện có bề dày lịch sử lâu đời, có truyền thống yêu nước và chống giặc ngoại xâm, nơi đây đã sản sinh ra rất nhiều những anh hùng của dân tộc, đã

đi vào lịch sử của nước nhà Nơi đây có nhiều các di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia và cấp tỉnh, trong đó có đền Bạch Mã và lễ hội đền Bạch Mã

Đền Bạch Mã nằm trên địa bàn thôn Tân Hà, xã Võ Liệt huyện Thanh Chương Theo truyền thuyết và đền phả thì Đền Bạch Mã được lập để thờ danh tướng Phan Đà người thôn Chi Linh xã Võ Lỉệt, một trong những người đã có công lớn và hy sinh trong cuộc kháng chiến chống quân Minh ở thế kỷ 15 Không những nổi tiếng linh thiêng, Đền Bạch Mã còn là một công trình kiến trúc

có giá trị lịch sử văn hóa Từ xưa, đã có câu “Nhất Cờn, nhì Quả, tam Bạch Mã,

tứ Chiêu Trưng”… Đền đã được xếp hạng di tích cấp quốc gia từ năm 1994

Từ khi được xếp hạng di tích cấp quốc gia, Đền Bạch Mã thường xuyên được sự quan tâm hỗ trợ kinh phí để tu sửa, tôn tạo Đặc biệt từ năm 2001 đến nay, Sở Văn hóa Thông tin đã cùng huyện Thanh Chương khôi phục lễ hội, gọi

là lễ hội Đền Bạch Mã Sau nhiều năm được tổ chức vào mùa hè, từ năm 2007, lễ hội được chuyển sang mùa xuân, phù hợp với mùa lễ hội chung của mọi miền

Lễ hội đền Bạch mã nhằm giáo dục truyền thống yêu nước cho nhân dân

và là hoạt động văn hóa tâm linh lành mạnh nên đã được các cấp các ngành và nhân dân quan tâm

Trang 4

Trong quá trình thực tập của mình tại Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Thanh Chương, tôi được tham gia,tìm hiểu về tổ chức hoạt động, vị trí và chức năng của Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Thanh Chương, được nghiên cứu

về lễ hội Đền Bạch Mã để hiểu rõ hơn về di tích lịch sử văn hóa và lễ hội đền Bạch Mã, qua đó có thể thấy được những giá trị văn hóa và tâm linh của đền Bạch Mã

NỘI DUNG Chương 1 Tổng quan về huyện Thanh Chương và Phòng Văn hóa - Thông tin huyện

Trang 5

1.1 Vị trí địa lí, dân cư

Thanh Chương xưa là đất động trại Năm Thiên Ứng Chính Bình thứ 2 (1233) vạch lại bản đồ, huyện có tên là Thanh Giang Thời Lê Trung Hưng, hiềm tên húy là Trịnh Giang ( 1729-1740), danh xưng của huyện đổi từ Giang thành Chương Đó là theo khảo sát của Thanh Chương huyện chí, mang ký hiệu VHv2557, số thư tịch của thư viện Khoa học Trung ương, được biên soạn vào đầu triều Nguyễn, dưới sự chỉ đạo của Bùi Hoàng Giáp, khi ngài giữ chức Đốc học Nghệ An (1806-1812)

Thanh Chương là huyện miền núi thấp thuộc Tây Nam tỉnh Nghệ An Diện tích tự nhiên là 1128,87 km2, xếp thứ 5 trong tổng số 20 huyện, thành phố, thị xã của tỉnh Dân số năm 2000 là 288.603 người, năm 2005 là 235.316 người, năm 2009 là 248.952 người

Phía Bắc giáp huyện Đô Lương và Huyện Anh Sơn

Phía Nam giáp huyện Hương Sơn tỉnh Hà Tĩnh

Phía Tây giáp huyện Anh Sơn và tỉnh Boolykhămxay nước CHDCND Lào

Phía Đông giáp huyện Nam Đàn

Thị trấn Thanh Chương (Dùng) cách thành phố Vinh 45 km

Thanh Chương có Thị trấn Thanh Chương và 39 xã gồm: Cát Văn, Phong Thịnh, Thanh Hoà, Thanh Nho, Thanh Đức, Hạnh Lâm, Thanh Mỹ, Thanh Liên, Thanh Tiên, Thanh Lĩnh, Thanh Thịnh, Thanh Hương, Thanh An, Thanh Chi, Thanh Khê, Thanh Thuỷ, Võ Liệt, Thanh Long, Thanh Hà, Thanh Tùng, Thanh Giang, Thanh Mai, Thanh Xuân, Thanh Lâm, Thanh Hưng, Thanh Văn, Thanh Tường, Thanh Phong, Thanh Đồng, Đồng Văn, Thanh Ngọc, Ngọc Sơn, Xuân Tường,

Trang 6

Thanh Dương, Thanh Lương, Thanh Yên, Thanh Khai, Thanh Sơn và Ngọc Lâm.

1.2 Cơ cấu và chức năng của Phòng Văn hóa - Thông tin huyện Thanh

Chương

1.2.1 Vị trí, chức năng:

- Phòng Văn hóa & Thông tin là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, là cơ quan có chức năng tham mưu, giúp UBND cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: Văn hóa, gia đình, Thể dục – Thể thao; Du lịch; Bưu chính, Viễn thông và internet; Công nghệ thông tin; Phát thanh; Báo chí; Xuất bản

- Phòng Văn hóa & Thông tin có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng; chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của Ủy ban nhân dân huyện, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ của Sở Văn hóa, Thể thao & Du lịch và Sở Thông tin & Truyền thông

♦ Mối quan hệ, công tác

Đối với sở Văn hóa, Thể thao & Du lịch & sở Thông tin-Truyền thông:

- Chịu sự hướng dẫn, kiểm tra và thanh tra về chuyên môn nghiệp vụ của

Sở Văn hóa, Thể thao & Du lịch và Sở Thông tin –Truyền thông

Đối với Ủy ban nhân dân huyện:

- Chịu sự chỉ đạo trực tiếp của UBND huyện, Chủ tịch UBND huyện Định kỳ phải báo cáo UBND huyện, Chủ tịch UBND huyện về tình hình hoạt động của phòng, đồng thời tham mưu, đề xuất những vấn đề liên quan thuộc lĩnh vực được phân công phụ trách

Đối với Ban Tuyên giáo Huyện ủy:

Trang 7

- Thường xuyên giữ mối liên hệ phối hợp chặt chẽ với Ban Tuyên giáo Huyện ủy trong việc hướng dẫn công tác tuyên truyền.

Thường xuyên phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện; MTTQ và các ban ngành đoàn thể cấp huyện trong quá trình giải quyết công việc liên quan đến công tác Văn hóa, Gia đình, Thể dục-Thể thao; Du lịch; Thông tin-Tuyên truyền

1.2.2 Nhiệm vụ và quyền hạn:

1 Trình UBND huyện ban hành Quyết định, Chỉ thị, Kế hoạch dài hạn, 5 năm và hàng năm; các đề án, chương trình phát triển Văn hóa, Gia đình, Thể dục - Thể thao, Du lịch; Thông tin - Truyền thông, các chương trình, biện pháp, tổ chức thực hiện cải cách hành chính, xã hội hóa trong lĩnh vực quản lý nhà nước được giao;

2 Trình UBND huyện dự thảo các văn bản về lĩnh vực Văn hóa, Gia đình, Thể dục - Thể thao, Du lịch; Thông tin - Truyền thông thuộc thẩm quyền ban hành của Chủ tịch UBND huyện;

3 Tổ chức thực hiện các văn bản qui phạm pháp luật, qui hoạch, kế hoạch, đề án, chương trình đã được phê duyệt, hướng dẫn, thông tin tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về quản lý hoạt động phát triển sự nghiệp Văn hóa, Gia đình, Thể dục- Thể thao; chống bạo lực trong gia đình; Thông tin - Truyền thông;

4 Hướng dẫn các tổ chức, đơn vị và nhân dân trên địa bàn huyện thực hiện phong trào văn hóa, văn nghệ; phong trào tập luyện thể dục thể thao; xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội; xây dựng phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”; xây dựng gia đình văn hóa, làng, đơn

vị, cơ quan, trường học văn hóa, thiết chế văn hóa, thông tin, thể thao; bảo vệ các

Trang 8

di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh; bảo vệ, tôn tạo, khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên du lịch, môi trường du lịch, điểm du lịch trên địa bàn huyện;

5 Hướng dẫn, kiểm tra hoạt động của Trung tâm văn hóa thông tin thể thao; các thiết chế văn hóa thông tin thể thao cơ sở; các hoạt động dịch vụ văn hóa, thể dục thể thao, du lịch, các điểm vui chơi công cộng; thông tin, truyền thông thuộc phạm vi quản lý của phòng trên địa bàn huyện;

6 Giúp UBND huyện quản lý nhà nước, hướng dẫn và kiểm tra hoạt động các hội và tổ chức phi chính phủ hoạt động trên địa bàn huyện thuộc các lĩnh vực Văn hóa, Gia đình, Thể dục-Thể thao; Du lịch; Thông tin - Truyền thông theo qui định của pháp luật;

7 Hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ về lĩnh vực Văn hóa - Gia đình, Thể Thể thao; Du lịch; Thông tin - Truyền thông đối với các chức danh chuyên môn thuộc UBND các xã, thị trấn;

dục-8 Chủ trì phối hợp với cơ quan liên quan để kiểm tra, thanh tra việc chấp hành pháp luật về hoạt động văn hóa, Gia đình, Thể dục-Thể thao; Du lịch; Thông tin-Truyền thông; giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của các cá nhân, tập thể về lĩnh vực Văn hóa, Gia đình, Thể dục-Thể thao; Du lịch; Thông tin-Truyền thông theo qui định của pháp luật;

9 Thực hiện công tác thống kê, báo cáo định kỳ và đột xuất về tình hình Văn hóa, Gia đình, Thể dục-Thể thao; Du lịch; Thông tin-Truyền thông với UBND huyện và Sở Văn hóa, Thể thao & Du lịch; Sở Thông tin & Truyền thông;

10 Giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thẩm định, đăng ký, cấp các loại giấy phép thuộc các lĩnh vực về thông tin và truyền thông theo quy định của pháp luật và theo phân công, phân cấp của Ủy ban nhân dân cấp huyện

Trang 9

11 Giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện trong việc tổ chức công tác bảo vệ an toàn,

an ninh thông tin trong các hoạt động bưu chính, chuyển phát, viễn thông, công nghệ thông tin, internet, phát thanh

12 Chịu trách nhiệm theo dõi và tổ chức thực hiện các chương trình, dự án về ứng dụng công nghệ thông tin trên địa bàn huyện theo sự phân công của Ủy ban nhân dân cấp huyện

13 Tổ chức thực hiện việc quản lý, kiểm tra và hướng dẫn các xã, thị trấn quản

lý các đại lý bưu chính, viễn thông, Internet trên địa bàn theo quy định của pháp luật

14 Tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn các tổ chức, đơn vị và cá nhân trên địa bàn huyện thực hiện pháp luật về các lĩnh vực bưu chính, viễn thông và internet; công nghệ thông tin, hạ tầng thông tin; phát thanh; quảng cáo; báo chí; xuất bản

15 Giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện quản lý nhà nước đối với mạng lưới phát thanh, truyền thanh cơ sở

16.Tổ chức ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ; xây dựng hệ thống thông tin, lưu trữ phục vụ công tác quản lý nhà nước và chuyên môn, nghiệp vụ trong lĩnh vực Thông tin và Truyền thông

17 Quản lý tổ chức, biên chế, thực hiện chế độ chính sách, chế độ đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật, bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động thuộc phạm vi quản lý của phòng về lĩnh vực Văn hóa, Gia đình, Thể dục-Thể thao; Du lịch; Thông tin-Truyền thông theo qui định của pháp luật và phân công của UBND huyện;

18 Quản lý tài chính, tài sản được giao theo qui định của phát luật và phân cấp,

ủy quyền của UBND huyện;

Trang 10

19 Thực hiện các nhiệm vụ khác do UBND huyện giao hoặc theo qui định của pháp luật.

Chương 2 Lễ hội đền Bạch Mã, xã VõLiệt, huyện Thanh Chương, Nghệ An 2.1 Giới thiệu sơ lược về Di tích lịch sử văn hóa đền Bạch Mã.

2.1.1 Lịch sử của đền Bạch Mã.

Đền Bạch Mã ở xã Võ Liệt, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An thờ thần Phan Đà, một vị tướng trẻ có công trong kháng chiến chống quân Minh ở thế kỷ XV Theo truyền thuyết ở Nghệ An, tướng Phan Đà sinh vào những năm đầu TK XV trong một gia đình sống bằng nghề chài lưới ven sông Lam ở thôn Chí Linh xã Võ Liệt, huyện Thổ Du (nay là thôn Khai Tiến, xã Võ Liệt)

Phan Đà mô côi cha mẹ từ nhỏ, được một người làm nghề rèn trong xã cưu mang Tuổi trẻ, Phan Đà là người rất thông minh, tuấn tú, giỏi võ nghệ, cung tên

nên nhân dân gọi là “trẻ kỳ đồng” Khi có giặc ngoại xâm, Phan Đà đã tập hợp

nghĩa quân ngày đêm luyện tập

Năm 1418, Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa Lam Sơn ở Thanh Hóa, sau đó về Nghệ An xây dựng căn cứ chống giặc Minh Tướng Phan Đà đã đem lực lượng của mình gia nhập nghĩa quân Lam Sơn và cùng dân binh xã Võ Liệt hăng hái tham gia nhiều trận chiến đấu tiêu diệt địch Phan Đà là vị tướng mưu lược dũng cảm “Xông vào trận mạc như xông vào chỗ không người” làm cho địch nhiều phen khiếp sợ Khi ra trận, tướng Phan đà thường mặc áo giáp trắng, cưỡi ngựa trắng nên nhân dân thường gọi ông bằng cái tên “Thần Bạch Mã”

Trong một lần bị phục kích bất ngờ ở bờ Bắc Lam Giang, tướng Phan Đà

bị thương nặng, được ngựa đưa về, gần đến Võ Liệt thì trút hơi thở cuối cùng tại Công Trung, Lai Thành (nay là thôn Trung Thành, xã Thanh Long) Thi thể ông được mối vùi lấp, rất linh ứng, đã cứu giúp nhân dân ra khỏi thiên tai, dịch bệnh

Trang 11

và phù trợ các triều vua, tướng lĩnh đánh thắngkẻ thù Nhân dân đã lập miếu thờ ông Năm 1428, xét công lao của tướng Phan Đà, vua Lê Lợi đã cấp tiền, của, giao cho nhân dân sở tại xây dựng ngôi đền bề thế và tổ chức các nghi lễ quốc tê hàng năm, đồng thời sắc phong “Đô thiên đại đế Bạch Mã thượng đẳng phúc thần” Về sau, các triều đại phong kiến gia phong “Thượng - Thượng - Thượng đẳng tối linh tôn thần”.

Đền Bạch Mã còn là nơi ghi lại nhiều dấu ấn, sự kiện lịch sử quan trọng Vua Lê Thánh Tông trên đường đi chinh phục phương Nam (năm 1465) đã đến thăm đền và làm lễ tế tại đây Quận công Bùi Thế Đạt (năm 1770) trên đường đi dánh giặc cũng đến làm lễ tế tại đây và linh ứng Các cuộc giao chiến của vua và quận công đều thắng lớn Từ đó, uy linh của đền càng nổi tiếng

Đền Bạch Mã đợc coi là một trong “Tứ linh” của xứ Nghệ

Hàng năm cứ vào ngày 9 và ngày 10 tháng 02 âm lịch nhân dân lại tổ chức Lễ hội mừng công, thắp hương phúng viếng, chiêm bái để tưởng nhớ công đức của Ngài và cầu mong mọi sự tốt lành

Năm Quang Thuận thứ nhất (1460), vua Lê Thánh Tông đích thân làm tướng

đi đánh giặc Chiêm Thành, ban đêm nằm ngủ trong thuyền, mộng thấy một người mặc áo xanh cưỡi ngựa bạch hướng dẫn vua đi, bèn hỏi là ai thì người ấy

trả lời: "Thần là người xã Võ Liệt, nơi ở: trên có am Bạch Vân, dưới có hồ sen", chỉ trong chốc lát vua tỉnh mộng Đến ngày đánh thắng giặc trở về, vua đến

thăm Đền - Sở tại xã Võ Liệt, thấy cảnh sắc đúng như trong mộng, bèn cấp thêm

tế khí, sai dân tôn tạo đền sở, cấp một người thờ tự và 20 người sai phu chuyên

lo việc phụng sự hương khói trong đền, hàng năm họ được miễn trừ mọi tạp dịch

Do sự linh hiển của thần từng giúp nước cứu dân, các triều vua đã phong nhiều sắc mệnh

Trang 12

Theo bản sao: Gia phong thần sắc của xã Võ Liệt (tóm tắt) trong Tờ khải của Đại Tư đồ Đoan quận công Bùi Thế Đạt, Trấn thủ Nghệ An kiêm châu Bố Chính, Đốc suất quân doanh Trấn Ninh lập ngày 02 tháng 06 năm Cảnh Hưng 31 (1770) về việc xin gia phong cho các vị Đại vương vốn thờ phụng ở các đền:

1 Đại Càn Quốc Gia Nam Hải Tứ vị Thánh nương xã Hương Cần, huyện Quỳnh Lưu

2 Đô Thiên Đại Đế Trợ thuận bảo quốc hộ dân Đại vương xã Võ Liệt, huyện Thanh Chương

3 Tá Thánh Chính Đức Khuông quốc Đại vương, xã Cát Ngạn, huyện Thanh Chương

4 Cao Sơn Cao Các Hiển ứng Đại vương, tổng Quan Trung, huyện Đông Thành

5 Cao Các Hiển ứng Phù vận Đại vương, thôn Vĩnh Khánh, xã Yên Việt Thượng, huyện La Sơn

6 Hiển ứng Linh hữu Hậu đức Đại vương, 4 thôn của xã Việt Yên Thượng, huyện La Sơn

7 Chung Sơn Cao Các Hộ quốc Đại vương, thôn Thổ Ngõa, xã Hoàng Trường, huyện Đông Thành

8 Độc Lôi Yên Dũng Huệ Trí Đại vương, 2 thôn Tràng Cát, Hữu Biệt, huyệnNam Đường

9 Bỉnh Câu Hồng Trạch Đại vương, xã Độ Lưu, huyện Thiên Lộc

Riêng Đô Thiên Đại Đế Trợ thuận bảo quốc hộ dân Đại vương dưới thời nhà

Lê, có 16 đạo trong bản sao bằng chữ Hán (mang ký hiệu VHv 2497 sổ thư tịch Thư viện Khoa học Trung ương) và còn có 12 đạo có trong bản Tóm tắt Di tích lịch sử Đền Bạch Mã của cụ Phan Tố Đức lập ngày 15/7/1992 (lưu tại Thư viện Nghệ An) Cộng 28 đạo, gồm:

1 Năm Quang Hưng thứ 17 (1594), phong 1 đạo

2 Năm Hoằng Định thứ 2 (1602), khi cầu khôi phục đất nước đã được linh ứng, phong 1 đạo

3 Năm Hoằng Định thứ 10 (1610), phong 1 đạo, để gia phong phù trợ Soái

Trang 13

4 Năm Vĩnh Tộ thứ 2 (1621), phong 1 đạo.

5 Năm Vĩnh Tộ thứ 5 (1623), phong 1 đạo

6 Năm Vĩnh Tộ thứ 6 (1624), phong 1 đạo gia phong linh ứng phù trợ tiêu trừ nghiệt đảng

7 Năm Vĩnh Tộ thứ 8 (1626), phong 1 đạo khi quân Mạc đầu hàng

8 Năm Đức Long thứ 1(1629), phong 1 đạo để cầu mưa

9 Năm Đức Long thứ 4 (1632), phong 1 đạo

10 Năm Đức Long thứ 5 (1633), phong 1 đạo để cầu mưa

11 Năm Đức Long thứ 6 (1634), phong 1 đạo để cầu mưa

12 Năm Dương Hoà thứ 8 (1642), gia phong Đại vương để cầu tru diệt nghiệt đảng, khôi phục cương vực cũ

13, 14, 15 Các năm Phúc Thái thứ 3 (1645), thứ 5 (1647), thứ 7 (1649), phong mỗi năm 1 đạo

16 Năm Khánh Đức thứ 4 (1652), phong 1 đạo

17 Năm Thịnh Đức thứ 4 (1656), phong 1 đạo cầu thu lại xứ Thuận Quảng

18 Năm Vĩnh Thọ thứ 3 (1660), phong 1 đạo chém được tướng giặc, bắt được binh lính giặc

19 Năm Vĩnh Thọ thứ 3, tháng 11 ngày 29 tiêu trừ được nghịch tặc, gia phong

Sau đó làm Tờ khải tâu lên vua, được vua phê chuẩn cho tăng số sái phu lên

30 người, hàng năm đến tháng 2 vua sai quan trong triều về xã Võ Liệt làm chủ

tế Điển lễ Quốc tế bắt đầu từ đó Năm ấy được phong 1 đạo

20 Năm Cảnh Trị thứ 8 (1670), vua Lê Huyền Tông phong 1 đạo, trừ Mạc nghiệt

21 Năm Dương Đức thứ 3 (1674), phong 1 đạo

22 Năm Chính Hoà thứ 4 (1683), phong 1 đạo

23 Năm Chính Hoà thứ 10 (1689) được cấp thêm Tế phẩm "Tam sinh"

24 Năm Vĩnh Thịnh thứ 6 (1710), phong 1 đạo

Trang 14

25 Năm Vĩnh Khánh thứ 2 (1731), phong 1 đạo Năm ấy các bản tổng có thờ thần Thượng đẳng trong đó có các xã thôn thuộc bản tổng Võ Liệt được vua ban tiền đặt biện lễ vật cúng tế.

26 Năm Cảnh Hưng nguyên niên (1740) vua Lê Hiến Tông phong 1 đạo

27 Năm Cảnh Hưng 28 (1767), gia phong 2 chữ Mỹ tự

28 Năm Cảnh Hưng 31 (1770), để cầu thảo tặc ở Trấn Ninh, gia phong thượng đẳng thần

Từ đó, hàng năm đến tháng 2, phủ huyện hội đồng kính tế, cả tổng Võ Liệt phục dịch Đến cuối đời vua Cảnh Hưng phê chuẩn cho các xã thôn phụ cận cứ đến tháng 2 hàng năm được lãnh tiền công quỹ để sắm sanh tế phẩm hội tế, bèn

đình chỉ việc triều đình cử quan về làm chủ tế

Đến triều nhà Nguyễn năm Gia Long thứ 9 (1810), sau khi thống nhất quốc gia,

triều đình làm lễ "Đăng trật" phong cho Ngài các mỹ tự: "Khuông thời, Tế thế, Hoằng độ thuợng đẳng tối linh đại vương" (hiện khắc lên bảng gỗ treo trên chính

điện)

Sắc Đô Thiên Đại Đế Long Vương: Trợ thuận bảo quốc bảo dân/ Phu huệ phổ tế; Hiển ứng quảng uy; Khoáng dũng hồng nghị; Hồng huân phù tổ phụ quốc diễn phúc; Bảo hữu chí nhân đạt đổ hoành hưu; Uy đãng thông tuệ quảng chính; Dực vận hộ quốc phong niên, dương võ tế thời bát loạn Tế thời phổ tế,

uy linh tĩnh biên, cương đoán anh nghị, dũng lược hưu minh, hạnh cao ân hậu Đạt đức hồng tài, đại độ chiêu nghĩa phân trí trợ trị, uyên tĩnh phổ đạt, quá hoá tồn thần, linh diệu bao tuy, uyên tuyên nhuận trạch, tích khánh hưng bình, bảo nghiệp vi tích, dương oai vẫn dụng, trợ quốc anh đoán, thuỳ hưu tích huống Hiển đức vị mĩ liệt, tối linh đại vương.

Nguyên thuộc chính thần hệ, Thanh Chương Võ Liệt xã tùng tiền phụng sự, kinh hữu lịch triều bao tặng Tư quốc gia dư độ hỗn nhất, lễ hữu đăng trật, khả gia mĩ tự tam tự viết: "Khuông thời - Tế thế - Hoằng độ" tối linh đại vương Cố sắc

Gia Long cửu niên Lục nguyệt Thập ngũ nhật.

(Theo tài liệu lưu tại Thư viện Nghệ An)

Trang 15

Năm Minh Mạng thứ 5 (1824) phong 1 đạo.

Năm Kỷ Hợi Minh Mạng thứ 20, Đền Bạch Mã được xếp đứng thứ 3 trong 4 ngôi đền linh thiêng nhất của Nghệ An

Nhất, Cờn (Phương Cần, Quỳnh Lưu)

Nhì, Quả (Bạch Đường, Anh Sơn)

Tam, Bạch Mã (Võ Liệt, Thanh Chương)

Tứ, Chiêu Trưng (Thạch Hà, Hà Tĩnh)

Trước cổng đền có câu đối:

"Nghệ An quốc tế tứ linh từ chi đệ tam/ y cổ sùng hồng minh tại thạch;

Minh Mệnh Kỷ Hợi vạn tư niên chi nhị thập/ tùng kim thể thế ngật như sơn"

乂乂乂乂乂乂乂乂乂乂/乂乂乂乂乂乂乂

乂乂乂乂乂乂乂乂乂乂/乂乂乂乂乂乂乂

Có nghĩa là:

Đây là ngôi đền đứng hàng thứ 3 theo nghi thức do nhà nước chủ tế trong

số 4 linh từ của Nghệ An, như từ xưa đã tôn sùng và khắc vào đá.

Sự kiện này một lần nữa được xác nhận vào năm Kỷ Hợi Minh Mệnh 20 (tức năm 1839), thể thế và vị trí của đền cao như núi.

Đây là câu đối chủ của đền, chỉ được phép nêu lên khi đã có sắc mệnh của nhà vua công nhận

Năm Thiệu Trị thứ 3, vua Hiến Tông Chương hoàng đế phong 2 đạo

Theo tư liệu lưu trữ tại Thư viện Hán Nôm, vào năm này, các xã thôn của tổng

Võ Liệt đã lập bản "giao từ"

Nguyên hàng năm vào đầu xuân, tổng có lễ tế tự vị tôn thần tại xã Võ Liệt Nguồn kinh phí lấy từ tiền lãi của 60 quan tiền vốn cho các xã thôn vay, lãi mỗi năm 24 quan Cứ đến hạn đã định, ai vay đem tiền lãi tới nạp để lo việc tế lễ Đây là việc trọng đối với đền thờ thần không được xem thường Vậy, lập thành 3 bản giao các xã Thanh La, Hoàng Xá, Minh Quả cùng giữ mỗi xã 1 bản

để lưu chiếu.

Thiệu Trị năm thứ 3 (1843), tháng 3 ngày 28.

Trang 16

Ngoại ủy, phó tổng Nguyễn Đạo ký.

Ngoại ủy, phó tổng Nguyễn Cảnh Vĩ ký.

Lý trưởng xã Hoàng Xá Nguyễn Kim Thường ký.

Lý trưởng thôn Chi Nê Trần Phạm Thiều ký.

Ngoại ủy, phó tổng thôn Thanh Nha Nguyễn Văn Cần ký.

Lý trưởng thôn Bão Đức Nguyễn Khắc Cung ký.

Lý trưởng xã Thanh La Nguyễn Văn Lệ ký.

Lý trưởng thôn Hương Thụ Lê Đăng Thụ ký.

Lý trưởng thôn Lai Nha Võ Khắc Kiệm ký.

Hương mục xã Hoà Quân Nguyễn Trọng Toàn ký.

Lý trưởng thôn Bàn Thạch Hoàng Văn Toại ký.

Tả văn từ Lý trưởng xã Minh Quả Nguyễn Đình Chương ký.

(Theo VHv 2525)Năm Tự Đức thứ 3 (1850) và thứ 33 (1880), phong mỗi năm một đạo

Vào năm Tự Đức thứ 21 nhân dịp tu sửa di cải đền thờ, Phan Đình Thực - Phó bảng khoa Tân Hợi (1851), làm quan án sát Nam Định có cúng số tiền 200 quan

để dùng vào việc chuẩn bị vật liệu và thi công công trình

(Theo VHv 2531)

Năm Tự Đức 28, Đề đốc Hải Dương người họ Phạm (Võ Liệt), cúng bức nghi môn và có lá thư ca ngợi về đền thiêng:

"Núi sông hun đúc nên sự anh linh, nghiêm túc hoà mục của ngôi đền thiêng Đó

là điều mọi người chúng tôi hằng mong tưởng tới Nghĩ rằng, ở làng ta, văn lấy khoa mục để xuất thân, võ lấy công tích làm hiện thân Ấy là nhờ phúc dày của Thần phù trợ Nay tôi tài mọn, nhờ có sự giúp rập của Thần được bước lên hiển trật xin có chút lễ nhỏ để tỏ lòng thành kính ".

(Theo VHv 2536)Năm Đồng Khánh thứ 2, phong 1 đạo

Năm Thành Thái thứ 6, phong 1 đạo

Năm Duy Tân thứ 3, phong 1 đạo

Trang 17

Năm Khải Định từ nguyên niên đến năm thứ 9, mỗi năm phong 1 đạo.

Theo văn tế Đô Thiên Đại Đế linh từ, kể từ ngày rằm tháng giêng năm Ất Hợi (1935), đền có thêm hai vị chính thần, dân xã Võ Liệt cùng thờ phụng (Quan Tả,Quan Hữu) nơi đây Hai vị đều linh ứng:

1- Hoa Lương Văn Đạo Đại Tướng quân Đại vương, Hùng tài Dũng quyết Địch nghị Dương võ Quang ý Trung đẳng công thần

2- Thiết Cương Anh Quả Đại Tướng quân Đại vương, Cảm ứng Uy linh Hộ quốc Hùng đoán Quang ý Trung đẳng công thần

Năm Cảnh Hưng 44 (1783), có sắc phong hai vị Tả, Hữu mỗi vị 1 đạo

Năm Gia Long thứ 8 (1809), phong mỗi vị 1 đạo

2.1.2 Kiến trúc của Đền Bạch Mã.

Đền Bạch Mã được coi là một trong tứ linh của đất Nghệ An, đền tọa lạc

tại thôn Tân Hà, xã Võ Liệt, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An Đền Bạch Mã thờ Phan Đà, một vị tướng trẻ của Bình Định Vương Lê Lợi

Đền gồm năm toà với đầy đủ tam quan, nghi môn, tả vu, hữu vu, hạ điện, trung điện và thượng điện, được bố cục hài hoà tạo nét uy nghiêm, tôn kính Hầu hết các chi tiết gỗ đều được chạm trổ, điêu khắc công phu với cá hoá rồng, phượng ngậm cuốn thư, lưỡng long chầu nguyệt

Trong đền còn lưu giữ nhiều hiện vật quý hiếm: nhà vàng, nhà bạc, bộ lục lạc bằng đồng (38 cái), tượng chim Phượng sơn son thiếp vàng

Ngày 24/3/1994, Bộ Văn hoá-Thông tin đã có quyết định số 226/QĐ-BVH xếp

hạng đền Bạch Mã là Di tích Lịch sử văn hoá kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia.

2.2 Lễ hội Đền Bạch Mã.

2.2.1 Phần lễ

Trang 18

Thành phần tham gia gồm: BCH Đảng bộ, Ban tổ chức, TTMTTQ và

BTV các đoàn thể, các ngành và nhân dân cùng tham gia,

Lễ vật gồm: 2 mâm ngũ quả + rượu 2 chai + cau 13 quả, trầu 20 lá + Hương 10

búp, vàng 21 đinh, vàng tiền 10 đinh + nước + nến 10 Cây + oản 5 chùm, nổ 20 gói+ 18 con ngựa và nước ngũ vị + 36 tờ giấy ngũ sắc + gạo muối

Bài trí: 1 mâm ngũ quả+ rượu+ cau, trầu + Hương, vàng (Tại bàn thờ tướng

quân Phan Đà giữa nhà Thượng Điện)

1 mâm ngũ quả + rượu + cau, trầu + Hương, vàng, vàng tiền + 18 con

ngựa giấy (Tại bàn thờ cộng đồng chính giữa nhà Trung Điện)

Bàn thờ 2 bên nhà Trung Điện, Thượng Điện+ Bàn thờ Tả Vu, Hữu Vu: Cau, trầu + nước nến

Lễ dâng hương phần mộ Phan Đà: 7 giờ 30 phút ngày 09/02ÂL Thành phần tham gia gồm: Mời toàn BTV Đảng uỷ, TT UBND

Lễ vật gồm: Cau 5 quả + trầu 5 lá + rượu 1 chai + hương 5 búp + vàng 5 đinh + vàng tiền 5 đinh to + nước + nến 2 cây to+ giấy ngũ sắc 16 tờ + mâm ngũ quả

Lễ dâng hương tại Phủ Ngoại: 9 giờ 30 phút ngày 09/02ÂL

Thành phần tham gia gồm: Mời toàn BCH Đảng bộ, Ban tổ chức, TTMTTQ

và BTV các đoàn thể, các ngành và nhân dân cùng tham gia,

Lễ vật gồm: 1 mâm xôi gà + mâm ngũ quả + 1 Cau 5 quả + trầu 5 lá + rượu 1 chai + hương 5 búp + vàng 5 đinh + vàng tiền 5 đinh to + nước + nến 2 cây to+ giấy ngũ sắc 16 tờ + gạo muối

Ngày đăng: 22/01/2016, 12:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w