Dân tộc nation hay quốc gia dân tộc là một cộng đồng chính trị - xã hội được chỉ đạo bởi một nhà nước, thiết lập trên một lãnh thổ nhất định, ban đầu được hình thành do sự tập hợp của nh
Trang 1MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ DÂN TỘC VÀ MIỀN NÚI Ở NƯỚC TA
1.1 DÂN TỘC VÀ MIỀN NÚI TRONG SỰ NGHIỆP PHÁT TRIỂN ĐẤTNƯỚC
1.1.1 Khái niệm về Dân tộc và Miền núi
Hiện nay, khái niệm “dân tộc” còn có nhiều ý kiến khác nhau Điều đó một phần là
do vấn đề dân tộc được xem xét từ nhiều quan điểm, lập trường và giác độ khác nhau; phần khác là do hiện thực phong phú, phức tạp của các loại hình dân tộc đang tồn tại ở các quốc gia, khu vực trên thế giới Sự phong phú, phức tạp đó làm cho nhiều định nghĩa được nêu ra, cho đến nay chưa diễn đạt được đầy đủ, trọn vẹn các thuộc tính của các loại hình dân tộc đã xuất hiện trên thế giới Tìm kiếm một định nghĩa chuẩn xác về dân tộc đang là đòi hỏi của lý luận và thực tiễn, cần được quan tâm
Từ điển Bách khoa Việt Nam đưa ra định nghĩa như sau:
1 Dân tộc (nation) hay quốc gia dân tộc là một cộng đồng chính trị - xã hội được chỉ đạo bởi một nhà nước, thiết lập trên một lãnh thổ nhất định, ban đầu được hình thành do sự tập hợp của nhiều bộ lạc và liên minh bộ lạc, sau này của nhiều cộng đồng mang tính người (ethnie) của bộ phận tộc người Tính chất của dân tộc phụ thuộc vào những phương thức sản xuất khác nhau…
2 Dân tộc (ethnie) còn đồng nghĩa với cộng đồng mang tính tộc người… Cộng đồng này có thể là bộ phận chủ thể hay thiểu số của một dân tộc
(nation) sinh sống ở nhiều quốc gia dân tộc khác nhau được liên kết với nhau bằng những đặc điểm ngôn ngữ, văn hóa và nhất là ý thức tự giác tộc [35, tr 655]
Từ điển Tiếng Việt nêu định nghĩa dân tộc như sau:
1 Cộng đồng người hình thành trong lịch sử có chung một lãnh thổ, các quan hệ kinh tế, một ngôn ngữ văn học và một số đặc trưng văn hóa và tính cách…
2 Tên gọi chung những cộng đồng người cùng chung một ngôn ngữ, lãnh thổ, đời sống kinh tế và văn hóa, hình thành trong lịch sử từ sau bộ lạc…
Trang 23 Cộng đồng người ổn định làm thành nhân dân một nước, có ý thức về
sự thống nhất của mình, gắn bó với nhau bởi quyền lợi chính trị, kinh tế, truyền thống văn hóa và truyền thống đấu tranh chung [50, tr 255]
Và định nghĩa dân tộc thiểu số như sau: "Dân tộc chiếm số ít so với dân tộc chiếm số đông nhất trong một nước có nhiều dân tộc"
Giáo trình triết học Mác - Lênin, do Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình
quốc gia các bộ sách khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh xuất bản, nói về khái niệm dân tộc như sau:
Khái niệm dân tộc thông thường được dùng để chỉ hầu như tất cả các hình thức cộng đồng người (bộ lạc, bộ tộc, dân tộc) Cần phân biệt "dân tộc" theo nghĩa rộng trên đây với "dân tộc" theo nghĩa khoa học: đó là hình thức cộng đồng người cao hơn các hình thức cộng đồng trước đó, kể cả bộ tộc Cũng như bộ tộc, dân tộc là hình thức cộng đồng người gắn liền với xã hội có giai cấp, có nhà nước và các thể chế chính trị Dân tộc có thể từ một bộ tộc phát triển lên, song, đa số trường hợp được hình thành trên cơ sở nhiều bộ tộc và tộc người hợp nhất lại Từ hình thức cộng đồng trước dân tộc phát triển lên dân tộc là một quá trình vừa có tính liên tục vừa là bước nhảy vọt lớn [34,
tr 475-476]
Từ những nội dung trên có thể khái quát rằng: dân tộc là một khái niệm đa nghĩa, nhưng
có hai nghĩa chính: hoặc để chỉ cộng đồng dân cư của một quốc gia, hoặc để chỉ cộng đồng dân cư của một tộc người Sự liên kết cộng đồng dân tộc được tạo nên từ yếu tố có chung ngôn ngữ, văn hóa, lãnh thổ và biểu hiện thành ý thức tự giác tộc người Xét cho cùng, nền tảng của sự liên kết mà các yếu tố trên tạo nên là trình độ phát triển kinh tế Bởi vì, tính chất của dân tộc bao giờ cũng phụ thuộc vào phương thức sản xuất
Ngoài ra nhiều ý kiến còn nhấn mạnh, dù hiểu theo nghĩa nào thì dân tộc cũng vừa là một cộng đồng người, vừa là một cộng đồng chính trị- xã hội-tộc người Có thể định nghĩa khái quát: dân tộc là một cộng đồng chính trị-xã hội- tộc người Quan niệm này tạo nên một ranh giới rõ rệt để phân biệt khái niệm dân tộc với sắc tộc, bởi vì khái niệm sắc tộc thường dùng để chỉ các tộc người da màu [53, tr 199] Quan niệm này cũng cho phép phân biệt khái niệm dân tộc với khái niệm chủng tộc, vì khái niệm chủng tộc thường dùng để chỉ sự khác nhau về cấu tạo tự nhiên của con người [35, tr 529]
Trang 3Dân tộc và Miền núi - đây là cách gọi ngắn gọn khi chúng ta dùng để chỉ toàn bộ các dân
tộc thiểu số và các vấn đề liên quan đến miền núi, cao nguyên, vùng cao Gọi như thế này
để dễ dàng trong giao tiếp và nhằm khu biệt với những nội dung khác Hiện nay, cụm từ này đang được dùng phổ biến trong các đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước ta
1.1.2 Đặc điểm về dân tộc thiểu số và miền núi ở Việt Nam
1.1.2.1 Những đặc điểm chung
Cộng đồng văn hóa Việt Nam rất đa dạng, bao gồm 54 dân tộc và bảy hệ ngôn ngữ chính tìm thấy từ Tây Á tới khu vực Thái Bình Dương Nhiều nhóm dân tộc đã tồn tại rất lâu đời và thậm chí trước cả khi người Việt tới định cư; một số khác thì mới nhập
cư gần đây Dân tộc thiểu số và miền núi đông nhất là người Tày, với gần 1,5 triệu người Trong khi dân tộc thiểu số nhỏ nhất là người Ơ Đu với con số vừa vặn 300 người
Các dân tộc thiểu số và miền núi có một vài đặc điểm chung: 75% người dân tộc thiểu số
ở Việt Nam sống ở hai vùng: miền núi phía Bắc giáp với Trung Quốc và vùng Tây Nguyên giáp Lào và Cam-pu-chia Hầu hết các dân tộc thiểu số đều sống ở vùng nông thôn Các vùng khác cũng có người dân tộc thiểu số sinh sống, ví dụ như: người Khơ -
me, người Hoa và người Chăm thấy ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long
Các tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên nhìn chung là những tỉnh nghèo, kinh tế chậm phát triển, đời sống vật chất, văn hóa, xã hội còn nhiều khó khăn Các tỉnh này cũng là nơi tập trung chủ yếu đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống Theo thống kê, số hộ nghèo ở vùng núi và trung du phía Bắc là 48,5% và ở Tây Nguyên hơn 48,4%
Mặt khác, sự đa dạng cũng tồn tại nhiều trong nội bộ các cộng đồng dân tộc thiểu số: họ rất khác nhau về sự đồng hóa, khác cả cấp độ thành công về kinh tế Một số dân tộc như: Tày và Mường, có mức thu nhập hộ gia đình và sự giáo dục tương đương với người Kinh, trong khi ở một nhóm dân tộc khác thì thậm chí lại không có thành viên nào theo học được tới bậc trung học phổ thông Tính đa dạng về văn hóa và địa lý này khiến cho việc xây dựng chương trình của Chính phủ và các chương trình khác đáp ứng được nhu cầu về ngôn ngữ và văn hóa của từng cá thể trở nên vô cùng khó khăn Điều này cho thấy sự cần thiết phải có những nghiên cứu nhân học đầy đủ trong tương lai về mối tương đồng và khác biệt dân tộc
Mặc dù được sự quan tâm đầu tư thích đáng của Đảng và Nhà nước, song đến nay vùng dân tộc thiểu số và miền núi nước ta vẫn là khu vực chậm phát triển về mọi mặt Khoảng
Trang 4cách chênh lệch phát triển giữa miền núi và miền xuôi có xu hướng ngày càng tăng Tính bền vững của quá trình phát triển giữa các vùng miền chưa được bảo đảm bởi còn nhiều hạn chế, yếu kém Hiện nay, đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đang phải đối mặt với nhiều cam go, thách thức, trước hết là đói nghèo Ba vùng nghèo nhất là Tây Nguyên, Bắc Trung Bộ và miền núi phía Bắc
1.1.2.2 Những khác biệt
Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng đói nghèo, lạc hậu ở hầu hết các vùng
dân tộc thiểu số và miền núi nước ta là: sự khác biệt về năng lực, và sự khác biệt về ngôn
ngữ.
Sự khác biệt về năng lực
- Rào cản lớn nhất để đạt tới sự thành công chính là giáo dục Các dân tộc thiểu số và miền núi được tiếp cận ít hơn nền giáo dục có chất lượng Do vậy, kết quả học tập của họ cũng thấp hơn Tỷ lệ học sinh bỏ học vẫn còn cao trong cộng đồng các dân tộc thiểu số và miền núi Họ có xu hướng đi học muộn hơn ở bậc tiểu học và còn thiếu tiếp cận giáo dục bậc mầm non Kết quả là tỷ lệ mù chữ và không thông thạo tiếng Việt ở người dân tộc thiểu số cao, từ đó cản trở khả năng tương tác của họ
Nhiều người dân tộc thiểu số, đặc biệt là người già và phụ nữ, không biết đọc biết viết, thậm chí không biết nói tiếng Việt Điều này hạn chế khả năng tiếp cận và chia sẻ thông tin; đồng thời là trở lớn trọng tới năng lực của họ trong suốt cả cuộc đời
- Rào cản khác ngăn cản khả năng mở rộng năng lực là việc thiếu tính di chuyển và ít kinh nghiệm hòa nhập về một thế giới rộng lớn Các dân tộc thiểu số và miền núi ít di chuyển hơn so với người Kinh Điều đó hạn chế tới khả năng quan sát, học hỏi các ý tưởng và công nghệ mới của họ
- Khả năng hành động cũng bị hạn chế bởi yếu tố văn hóa Nhiều người dân tộc thiểu số
tự nhận ra những khác biệt về văn hóa giữa người Kinh và người dân tộc thiểu số trong các hoạt động giao dịch mua bán ở chợ, ở trường học hay ở các hoạt động xã hội khác
Sự khác biệt về ngôn ngữ
Trong "các cuộc thảo luận nhóm tập trung trên khắp cả nước, các nhóm dân tộc thiểu số thường bày tỏ rằng họ "không tự tin" và "e ngại" khi lui tới các khu chợ, đòi giá cao hơn cho hàng hóa của mình, đòi hỏi các dịch vụ của Chính phủ mà họ được quyền hưởng lợi" [33, tr.13]
Trang 5Sự e ngại này cùng với những hạn chế về tiếp cận giáo dục đã khiến người dân tộc thiểu
số cảm thấy bị hạn chế về khả năng ngôn ngữ Cùng với đó, việc thiếu tính di chuyển cũng khiến cho họ ít kinh nghiệm và ít sẵn sàng tiếp cận với thế giới xung quanh
Một trở ngại nữa hạn chế việc tăng tiếng nói và quyền tự quyết của các dân tộc thiểu số là lối suy nghĩ rập khuôn phổ biến hiển thị về sự kém cỏi của người dân tộc thiểu số trong con mắt của những người khác Lối suy nghĩ rập khuôn này có thể dẫn tới những hậu quả xấu, đặc biệt là ảnh hưởng nghiêm trọng đến lòng tự trọng và sự tự tin của người dân tộc thiểu số trong việc sử dụng tiếng nói và quyền lực riêng của họ
Thay đổi nhận thức của số đông về người dân tộc thiểu số đòi hỏi phải chú ý đến sự đại diện của các dân tộc thiểu số trong những công trình nhân học, đặc biệt trong các phương tiện truyền thông đại chúng
1.2 QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA VỀ CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ MIỀN NÚI
1.2.1 Vị trí, vai trò, mục tiêu, nhiệm vụ của công tác dân tộc và miền núi
1.2.1.1 Vị trí
Ngay từ khi mới ra đời, vấn đề dân tộc và đại đoàn kết dân tộc được nhà nước ta đặt ở vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp cách mạng Trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, Đảng ta đã
đề ra chính sách dân tộc và công tác dân tộc phù hợp với từng giai đoạn lịch sử và đã đạt được những kết quả quan trọng
Cùng với sự phát triển của cách mạng, báo chí nước ta ngày càng khẳng định được vai trò
là cầu nối tin cậy giữa Đảng với dân, dân với Đảng Nước ta có 54 dân tộc anh em, trong
đó có 53 dân tộc thiểu số sống trải đều từ Bắc vào Nam Từ khi ra đời đến nay, Đảng ta luôn coi miền núi dân tộc thiểu số có tầm quan trọng chiến lược trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc Trong mọi thời điểm phát triển, Đảng và Nhà nước vẫn tập trung mọi nguồn lực để đầu tư phát triển miền núi và vùng đồng bào dân tộc
Cách mạng xã hội, đó là sự nghiệp của quần chúng Vì vậy, về cơ bản mọi chính sách của Đảng và Nhà nước đến với các vùng và đồng bào các dân tộc là nhằm hỗ trợ, giúp đỡ, tạo điều kiện để đồng bào các dân tộc phát huy được nội lực, phấn đấu vượt qua đói nghèo, vươn lên từng bước hòa nhập vào sự phát triển chung của cả nước
Trang 6Nghị quyết 22/NQ-TW của Bộ Chính trị ngày 27-11-1989 "Về chủ trương chính sách lớn
phát triển kinh tế- xã hội miền núi" đánh dấu bước chuyển biến mạnh mẽ trong quá trình
tổ chức thực hiện chính sách dân tộc và miền núi, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ)
đã có quyết định số 72/QĐ-HĐBT, ngày 13-3-1990 "Về một số chủ trương, chính sách
cụ thể phát triển KT-XH miền núi" quy định rõ những nội dung đổi mới cơ cấu kinh tế và
tổ chức sản xuất ở miền núi theo hướng chuyển sang kinh tế hàng hóa phù hợp với đặc điểm từng vùng, từng tiểu vùng, từng dân tộc, gắn phát triển kinh tế với vấn đề dân tộc, thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và củng cố an ninh, quốc phòng
Ngày 31 tháng 12 năm 2001, Thủ tướng chính phủ đã ký Quyết định số 1637/QĐ-TTg về việc cấp một số loại báo, tạp chí của 17 tòa soạn báo được Chính phủ cấp kinh phí xuất bản
để phát hành không thu tiền đối với đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi Ngày 20 tháng
7 năm 2006, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 975/QĐ-TTg thay thế Quyết định 1637 nhưng nội dung không thay đổi Đến nay, các báo, tạp chí phục vụ riêng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi thuộc diện thụ hưởng của Quyết định 975 đang phát huy hiệu quả tuyên truyền, được đồng bào ghi nhận
Có thể nói, thông tin nói chung và thông tin phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi nói riêng luôn được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, các cơ quan báo chí và sự hưởng ứng của đông đảo nhân dân
Cả trong thời kỳ chiến tranh và trong thời kỳ đổi mới hiện nay, thông tin về lĩnh vực này luôn được coi trọng góp phần rút ngắn khoảng cách giữa miền ngược và miền xuôi Thông tin giúp đồng bào nắm bắt được chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; nhanh chóng xóa đói, giảm nghèo, từng bước vươn lên làm giàu,…
1.2.1.2 Vai trò
Ngay từ khi thành lập, Đảng ta trên cơ sở nguyên lý của chủ nghĩa Mác -Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đã coi trọng vấn đề dân tộc, coi đây là một bộ phận quan trọng của
sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn nhất quán quan điểm coi công tác dân tộc thiểu số là một phần hữu cơ, có vai trò quan trọng của cách mạng Việt Nam Nghị quyết hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX (2003) đã đánh dấu một bước ngoặt lớn về đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước ta về dân tộc miền
núi Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng xác định: "Vấn đề dân tộc
Trang 7và đoàn kết dân tộc luôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng Thực hiện tốt chính sách các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển" [23, tr.127]
Văn kiện Đảng khóa X đã khẳng định lại quan điểm của Đảng ta về vấn đề dân tộc, miền núi trong thời kỳ mới:
Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc có vị trí chiến lược lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; cùng nhau thực hiện thắng lợi công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Phát triển kinh tế, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, xóa đói giảm nghèo, nâng cao trình độ dân trí, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, tiếng nói, chữ viết và truyền thống tốt đẹp của các dân tộc Thực hiện tốt chiến lược phát triển KT-XH ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, vùng căn cứ cách mạng; làm tốt công tác định canh định cư và xây dựng vùng kinh
tế mới Quy hoạch, phân bố, sắp xếp lại dân cư, gắn phát triển kinh tế với đảm bảo an ninh, quốc phòng Củng cố và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở vùng đồng bào dân tộc thiểu số; động viên những người tiêu biểu trong các dân tộc Thực hiện chính sách ưu tiên trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, tri thức là người dân tộc thiểu số Cán bộ công tác ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi phải gần gũi, hiểu phong tục tập quán, tiếng nói của đồng bào dân tộc, làm tốt công tác dân vận Chống các biểu hiện kỳ thị hẹp hòi chia rẽ dân tộc [54]
1.2.1.3 Mục tiêu
Trang 8Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc đưa ra mục tiêu đến năm 2010:
Phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, nâng cao mức sống đồng bào các dân tộc Đến năm 2010, các vùng dân tộc và miền núi cơ bản không còn hộ đói, giảm hộ nghèo xuống dưới 10%; giảm dần khoảng cách mức sống giữa các dân tộc, các vùng; trên 90% hộ dân có đủ điện, nước sinh hoạt; xóa tình trạng nhà tạm, nhà dột nát; 100% xã có đường ôtô đến trung tâm xã; cơ bản không còn xã đặc biệt khó khăn
Nâng cao trình độ dân trí, chăm sóc sức khỏe, nâng cao mức hưởng thụ văn hóa của đồng bào: hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở; nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục, đào tạo; đẩy mạnh việc dạy và học tiếng dân tộc Hầu hết đồng bào nghèo vùng sâu, vùng xa được tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe; tiếp tục khống chế, tiến tới loại bỏ dịch bệnh ở vùng dân tộc Phấn đấu 90% đồng bào được xem truyền hình; 100% được nghe đàiphát thanh; các giá trị, bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu
số được bảo tồn và phát triển [6].
Thực hiện mục tiêu trên, Nghị quyết nêu nhiệm vụ:
Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chương trình phủ sóng phát thanh, truyền hình, tăng cường các hoát động văn hóa, thông tin tuyên truyền hướng
về cơ sở; tăng thời lượng và nâng cao chất lượng các chương trình phát thanh, truyền hình bằng các tiếng dân tộc thiểu số; làm tốt công tác nghiên cứu, sưu tầm, giữ gìn và phát huy các giá trị, truyền thống tốt đẹp trong văn hóa các
dân tộc [6].
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng ta đã nêu: "Phát triển mạnh và nâng cao chất lượng các hoạt động thông tin, báo chí, phát thanh, truyền hình, xuất bản và phát hành sách trên tất cả các vùng, chú ý nhiều hơn đến vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số" [25, tr, 214]
Những năm gần đây, việc nâng cao mức hưởng thụ văn hóa tinh thần cho nhân dân, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc được Đảng và Nhà nước, các cấp, các ngành quan tâm hơn, thể hiện trong việc ban hành các chủ trương, đường lối, chính sách, xây dựng và phát triển bộ máy ngành văn hóa-thông tin, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất và
Trang 9phát triển các loại hình văn hóa Chủ trương phủ sóng phát thanh, truyền hình được triển khai khắp các địa phương miền núi, kể cả các vùng xa xôi hẻo lánh
Hiện nay, tỷ lệ phủ sóng phát thanh đạt hơn 90% lãnh thổ, truyền hình khoảng 85% Các
xã miền núi được trang bị các thiết bị thông tin hiện đại như video, máy thu hình, thu thanh, điện thoại, intơnet… và có thêm nhiều loại hình văn hóa truyền thống phù hợp với nhân dân các dân tộc; mở rộng chương trình phát thanh, truyền hình bằng nhiều thứ tiếng phù hợp với nguyện vọng đông đảo của đồng bào các dân tộc
Bằng sự nỗ lực của các cơ quan báo chí dưới sự quan tâm và chỉ đạo sát sao của Đảng và Nhà nước, công tác thông tin về đồng bào các dân tộc thiểu số và miền núi đã góp phần thay đổi diện mạo nông thôn miền núi Mục tiêu của Đảng và Nhà nước đối với đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi rất rõ, đó là ngày càng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào
1.2.1.4 Nhiệm vụ
Chăm lo cuộc sống của đồng bào các dân tộc thiểu số là trách nhiệm và nghĩa vụ của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta Đây là yêu cầu tất yếu nhằm bồi dưỡng lực lượng cách mạng ở những địa bàn chiến lược của đất nước, vừa xuất phát từ truyền thống và đạo lý của các dân tộc, vừa thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa của chúng ta
Về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới, Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa X, nêu rõ:
Báo chí phải nắm vững và tuyên truyền sâu rộng, kịp thời, có hiệu quả đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, bám sát nhiệm vụ công tác tư tưởng, tích cực tuyên truyền, cổ vũ thành tựu của công cuộc đổi mới Coi trọng đúng việc phát hiện, biểu dương các nhân tố mới, điển hình tiên tiến; tích cực đấu tranh góp phần ngăn chặn và từng bước đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, quan liêu, các tiêu cực và tệ nạn xã hội; phản bác có hiệu quả những thông tin, quan điểm sai trái, phản động, thù địch, bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng… Đổi mới, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động báo chí [7]
Sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc luôn được Đảng và Bác Hồ quan tâm và coi trọng Trong
thư gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam năm 1946, Bác viết:
Trang 10Đồng báo Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Lai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau,
no đói giúp nhau…Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt [49]
Khẳng định vai trò và nhiệm vụ của báo chí trong sự nghiệp đổi mới, Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng đã nêu rõ:
Phát triển đi đôi với quản lý tốt hệ thống thông tin đại chúng Báo chí, xuất bản… làm tốt chức năng tuyên truyền, thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; phát hiện những nhân tố mới, cái hay, cái đẹp trong xã hội; giới thiệu gương người tốt, việc tốt, những điển hình tiên tiến, phê phán các hiện tượng tiêu cực, uốn nắn những nhân tố lệch lạc, đấu tranh với những quan điểm sai trái; coi trọng, nâng cao tính chân thật, tính giáo dục và tính chiến đấu của thông tin [32]
1.2.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta
Từ khi ra đời đến nay, Đảng ta luôn coi dân tộc và miền núi có tầm chiến lược quan trọng trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới của đất nước
Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị (ngày 27-11-1989) "Về chủ trương chính sách lớn phát
triển KT-XH miền núi" đánh dấu bước chuyển biến mạnh mẽ trong quá trình tổ chức thực
hiện chính sách dân tộc và miền núi của Đảng và Nhà nước; đồng thời đưa ra các quan điểm, chủ trương, đường lối cho việc phát triển KT-XH vùng dân tộc và miền núi Thể chế hóa Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị và Quyết định 72 của Hội đồng Bộ trưởng, Thủ tướng Chính phủ đã có chỉ thị 525/CT - TTg "Về một số chủ trương, biện pháp tiếp tục phát triển KT-XH miền núi" nhằm thúc đẩy việc thực hiện Nghị quyết 22, Quyết định
72 và quán triệt tinh thần Nghị quyết Trung ương lần thứ 5 (khóa VII) về "Đổi mới và
phát triển KT-XH nông thôn".
Khẳng định những nội dung cơ bản của chính sách dân tộc, miền núi trong sự nghiệp đổi mới, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, IX tiếp tục coi vấn đề dân tộc có vị trí chiến lược lớn Thực hiện bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước…bằng nhiều biện pháp tích cực và vững chắc Thực hiện cho được ba mục tiêu là xóa đói giảm nghèo, ổn định và cải thiện cuộc sống, sức khỏe đồng bào các dân tộc, đồng bào vùng cao, vùng biên giới; xóa