1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN CỨU TỘC NGƯỜI VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ DÂN TỘC Ở VIỆT NAM TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY

68 474 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 802,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, trải qua gần 30 năm đổi mới đất nước 1986, ngành Dân tộc học/Nhân học của Việt Nam vẫn chưa có những tổng kết xứng tầm về việc nghiên cứu tộc người, điều đó thể hiện trong ngà

Trang 1

ũng như các quốc gia đa tộc người khác, ở Việt Nam, vấn

đề dân tộc có vị trí rất quan trọng, cả trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như trong xây dựng và bảo vệ đất nước Bởi vậy, sau hòa bình được lập lại ở miền Bắc không lâu, vào đầu những năm 60 của thế kỷ XX, ngành Dân tộc học Việt Nam đã ra đời Từ thập niên 60 đến thập niên 70 của thế kỷ XX, với nòng cốt là Viện Dân tộc học, ngành Dân tộc học Việt Nam đã có nhiều đóng góp quan trọng Thành tựu nổi bật của ngành trong thời gian này là thực hiện nhiều nghiên cứu, điều tra cơ bản đối với các dân tộc ở nước ta, qua đó nâng cao nhận thức về các tộc người, giúp cho việc thực hiện công tác dân tộc hiệu quả hơn Kết quả lớn nhất của những nghiên cứu này là sự ra đời của bản

Danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam (1979) và bộ sách gồm hai tập: Các dân tộc ít người ở Việt Nam (Các tỉnh phía Bắc) (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1978) và Các dân

* Viện Dân tộc học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

C

Trang 2

tộc ít người ở Việt Nam (Các tỉnh phía Nam) (Nxb Khoa học

xã hội, Hà Nội, 1984) Đây là dấu mốc quan trọng trong sự nghiệp nghiên cứu về tộc người ở nước ta

Sau khi các công trình trên ra đời không lâu, đất nước bước vào sự nghiệp đổi mới Từ đó đến nay, sự phát triển của ngành Dân tộc học Việt Nam và đời sống của các tộc người ở nước ta đã có nhiều đổi thay; việc nghiên cứu về đời sống các dân tộc cũng đa dạng Tuy nhiên, trải qua gần 30 năm đổi mới đất nước (1986), ngành Dân tộc học/Nhân học của Việt Nam vẫn chưa có những tổng kết xứng tầm về việc nghiên cứu tộc người, điều đó thể hiện trong ngành chưa có những công trình phản ánh một cách tổng thể về các dân tộc

ở Việt Nam trong khoảng thời gian này

Các dân tộc ở Việt Nam là bộ sách tiếp nối công trình Các dân tộc ít người ở Việt Nam - gồm hai tập như đã nêu

Ngoài xem xét việc nghiên cứu về các tộc người, bộ sách còn phản ánh sự phát triển, biến đổi của các dân tộc ở nước

ta từ năm 1986 đến nay, trong đó dân tộc Kinh (Việt) lần đầu tiên được giới thiệu Bộ sách được biên soạn chủ yếu dựa trên nghiên cứu tài liệu thứ cấp kết hợp với tài liệu điền dã ở một số dân tộc

I- BỐI CẢNH QUỐC TẾ VÀ TRONG NƯỚC ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÁC DÂN TỘC Ở NƯỚC TA TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY

1 Bối cảnh quốc tế

Kể từ khi Liên Xô (cũ) và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu (cũ) tan rã, Chiến tranh lạnh kết thúc, vấn đề dân tộc trên thế giới đã có nhiều biến đổi theo cả chiều hướng tích cực và tiêu cực

Trang 3

Từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay, ý thức về tộc người, quốc gia - dân tộc (Nation - State) được khơi dậy mạnh mẽ Đó là ý thức về sự bình đẳng giữa các dân tộc, chống áp bức dân tộc trên mọi chiều cạnh; mối quan hệ giữa tộc người và quốc gia; vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa của tộc người Ý thức ấy đã được chuyển hóa thành hành động trong chính sách, chương trình, dự án phát triển của nhiều nước, của nhiều tổ chức liên quan đến tộc người và nhóm xã hội Sự khơi dậy của ý thức tộc người đã góp phần giữ gìn, bảo vệ văn hóa tộc người trước tác động của toàn cầu hóa Bên cạnh đó, với xu hướng giao lưu, hội nhập quốc tế diễn ra mạnh mẽ, các tộc người cũng có cơ hội học hỏi, chia sẻ lẫn nhau, dẫn tới bước phát triển mới trong đời sống kinh tế, xã hội và văn hóa

Cùng với xu hướng tích cực, đã xuất hiện chiều hướng tiêu cực về vấn đề dân tộc Do tác động của yếu tố lịch sử, chính trị, kinh tế, xã hội của thế giới và khu vực, mối quan

hệ dân tộc ở một số nơi trở nên nóng bỏng, đặc biệt ở vùng bán đảo Ban Căng, Cápcadơ, Trung Cận Đông, Nam Á và Đông Nam Á Tại các khu vực này vẫn đang diễn ra nhiều cuộc chiến tranh hoặc nội chiến mang màu sắc dân tộc kết hợp với tôn giáo Một số thế lực chính trị cực đoan đã lợi dụng đặc thù về quan hệ, tình cảm, lòng tự tôn dân tộc để kích động sự nghi kỵ, hận thù và xung đột dân tộc Các tổ chức khủng bố quốc tế cũng chủ yếu dựa vào vấn đề dân tộc, tôn giáo để chiêu tập lực lượng, đẩy mạnh hoạt động

Thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, một số thế lực quốc tế đã gắn vấn đề dân tộc, tôn giáo với vấn đề dân chủ và nhân quyền Với luận điểm cho rằng, các dân tộc thiểu số bị mất nhân quyền, thiếu tự do, dân chủ, các thế lực này sẽ tiếp

Trang 4

tục thúc đẩy mâu thuẫn giữa dân tộc thiểu số với nhà nước, giữa dân tộc thiểu số với dân tộc đa số trong những quốc gia

đa dân tộc, nhất là những quốc gia theo con đường xã hội chủ nghĩa như Việt Nam1

Trong bối cảnh chung đó, có một số vấn đề của khu vực và quốc tế ảnh hưởng trực tiếp đến các tộc người ở Việt Nam như:

- Sự hình thành trục hành lang kinh tế của khu vực tiểu vùng sông Mê Kông, gồm:

+ Trục hành lang kinh tế Bắc - Nam (Côn Minh (Trung

Quốc) - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh (Việt Nam); Nam Ninh (Trung Quốc) - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh);

+ Trục hành lang kinh tế Đông - Tây (Đà Nẵng, Thừa

Thiên Huế, Quảng Trị (Việt Nam) - Savannakhet (Lào) - 7 tỉnh Đông Bắc (Thái Lan) - Mawlamyine (Mianma));

+ Trục hành lang kinh tế Nam - Nam (Băng Cốc (Thái

Lan) - Phnôm Pênh (Campuchia) - Thành phố Hồ Chí Minh (Việt Nam))

Các trục hành lang kinh tế trên đều ảnh hưởng đến đời sống kinh tế - xã hội của nhiều tộc người ở Việt Nam, nhất là gia tăng quan hệ dân tộc xuyên quốc gia

- Việc ký kết hiệp ước biên giới hòa bình, hữu nghị giữa Việt Nam với Trung Quốc, Lào và Campuchia, trên cơ sở đó

bảo đảm an ninh và phát triển kinh tế - xã hội vùng biên giới, thúc đẩy quan hệ mậu dịch biên giới giữa Việt Nam với các nước trong khu vực Đây là lần đầu tiên trong lịch sử

1 Xem Vương Xuân Tình: “Định hướng phát triển của Viện Dân tộc

học giai đoạn 2013 - 2020 và tầm nhìn đến năm 2030”, Tạp chí Dân tộc

học, số 5-2013, tr.4-13

Trang 5

nước ta, biên giới được xác định rõ ràng và ổn định như hiện nay Điều đó có tác động tích cực đến sự phát triển, song cũng đặt ra những thách thức trong quản lý quan hệ dân tộc, nhất là quan hệ dân tộc xuyên biên giới

- Chính sách dân tộc của những quốc gia láng giềng Các

chính sách dân tộc của Trung Quốc, Lào và Campuchia, đặc

biệt là chính sách Hưng biên phú dân1 của Trung Quốc có ảnh hưởng nhất định đến các dân tộc ở vùng biên giới nước ta trên tuyến biên giới Việt Nam - Trung Quốc

- Hoạt động của các tổ chức phản động, ly khai ở nước ngoài Một số tổ chức phản động tại nước ngoài của người

Chăm, người Khơ-me, người Hmông, của các dân tộc tại chỗ Tây Nguyên và những tổ chức khác hoạt động ráo riết đòi tự trị, ly khai cho các dân tộc thiểu số Những tổ chức này thường xuyên chỉ đạo, tài trợ cho các hoạt động chống phá chính quyền, chống lại sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc

1 Xem Vương Xuân Tình (Chủ biên): Văn hóa với phát triển bền

vững ở vùng biên giới Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2014,

tr.53-55

Trang 6

2 Ở trong nước

Từ năm 1986 đến nay, có rất nhiều chính sách và sự kiện tác động tới các dân tộc ở Việt Nam Có thể nêu một số chính sách và sự kiện chính sau đây:

- Chính sách kinh tế thị trường Chính sách này góp

phần cơ bản làm xóa bỏ chế độ tập trung quan liêu bao cấp, ngày càng gắn chặt chẽ về sản xuất và đời sống của các tộc người, kể cả ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa với thị trường vùng, thị trường quốc gia và quốc tế

- Chính sách đất đai và việc xóa bỏ mô hình hợp tác xã kiểu cũ Việc thực hiện Khoán 10 trong nông nghiệp, chính

sách giao đất, giao rừng cho hộ gia đình và cho cộng đồng

dân cư thôn bản được thể hiện trong Luật đất đai năm 1993, Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004, Luật đất đai sửa đổi năm 2003, Luật đất đai sửa đổi năm 2014, cùng việc xóa

bỏ mô hình hợp tác xã kiểu cũ, tái lập vị trí của thôn, bản trong hệ thống hành chính cấp cơ sở đã làm thay đổi sự phát triển trong nông nghiệp, nông thôn và nông dân ở tất cả các tộc người của nước ta

- Chính sách phát triển đối với các dân tộc thiểu số

Chính sách này được tập trung thực hiện trong hơn hai thập

kỷ qua, trong đó chú trọng vào các vấn đề đói nghèo, giáo dục

và đào tạo, y tế, cán bộ , có liên quan đến nhiều chương trình, dự án phát triển, như Chương trình 135, 134; Chương trình 661 và Chương trình trồng mới 5 triệu hécta rừng; Chương trình phát triển kinh tế - xã hội cho các huyện nghèo, cho các dân tộc đặc biệt khó khăn, cho một số dân tộc

có điều kiện phát triển đặc thù (Khơ-me, Chăm, Hmông) Theo một thống kê của TS Nguyễn Lâm Thành, tại vùng

Trang 7

miền núi phía Bắc, chỉ tính từ năm 2006 đến năm 2012, đã

có 211 chính sách chung và chính sách đặc thù cho vùng này liên quan đến phát triển1 Bên cạnh những chính sách nêu trên, còn có những quan điểm, chủ trương, chính sách không liên quan trực tiếp đến các dân tộc thiểu số, nhưng vẫn có tác động sâu sắc tới các tộc người này Ví dụ, quan điểm chỉ đạo

về văn hóa, mà trọng tâm là giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa, được thể hiện qua Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 (khóa VIII); Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 (khóa XI) Những quan điểm chỉ đạo đó có vai trò chủ yếu trong việc tạo nên sự thay đổi lớn ở nhiều vùng dân tộc và nhiều tộc người Trong chính sách phát triển đối với các dân tộc thiểu số

kể từ sau năm 1986, còn phải kể tới việc lập ra ba Ban Chỉ đạo ở ba vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ và Trưởng Ban Chỉ đạo của mỗi vùng là một Ủy viên Bộ Chính trị Điều

đó thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước Việt Nam đến sự phát triển của ba vùng chiến lược này

- Di dân tự do vào Tây Nguyên Cuộc di dân tự do ồ ạt vào

Tây Nguyên của người Kinh (Việt) từ vùng đồng bằng Bắc Bộ, duyên hải miền Trung và của các dân tộc thiểu số ở vùng miền núi phía Bắc, nhất là trong thập kỷ 90 của thế kỷ XX đã làm đảo lộn phân bố dân cư, dân tộc; làm thay đổi sâu sắc đời sống kinh tế - xã hội của các tộc người tại chỗ ở Tây Nguyên

- Xây dựng các nhà máy thủy điện Việc xây dựng hàng

loạt các nhà máy thủy điện, đặc biệt là thủy điện Sơn La, Yaly, Đa Nhim, Lai Châu, Sê San, Sêrêpốk, Bản Vẽ đã dẫn

1 Xem Nguyễn Lâm Thành: Chính sách phát triển vùng dân tộc

thiểu số phía Bắc Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,

2014, tr.132

Trang 8

tới việc thực hiện tái định cư cho hàng trăm ngàn đồng bào các dân tộc Điều đó có tác động mạnh mẽ đến phát triển kinh tế - xã hội và biến đổi văn hóa của các tộc người ở nhiều vùng tại Tây Bắc, Trung Bộ và Tây Nguyên1

- Bất ổn định ở Thái Bình, bạo loạn ở Tây Nguyên, Tây Bắc

và những xung đột tại Tây Nam Bộ Sự bất ổn định ở nông thôn

tỉnh Thái Bình vào đầu những năm 90 của thế kỷ XX, ở một số nơi của người Khơ-me thuộc Tây Nam Bộ vào thập kỷ 90 và những năm 2000, và bạo loạn tại Tây Nguyên vào đầu những năm 2000, ở Tây Bắc vào năm 2011 đã tác động đến sự phát triển kinh tế - xã hội, tình hình an ninh - quốc phòng ở vùng nông thôn người Kinh (Việt) và ở ba vùng dân tộc

Bối cảnh trên cùng với các yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội

và văn hóa đã có tác động nhiều chiều tới sự phát triển của các tộc người ở Việt Nam Tuy nhiên, cần nhận thấy rằng, việc nêu lên các yếu tố đó chỉ có ý nghĩa khái quát, còn trên thực tế, có rất nhiều yếu tố khác đan xen, tác động đến các tộc người ở nước ta kể từ năm 1986 đến nay

II- VÀI NÉT VỀ NGHIÊN CỨU TỘC NGƯỜI Ở VIỆT NAM

1 Vai trò và lịch sử nghiên cứu về tộc người

Cho đến nay ở nước ta, mặc dù Dân tộc học đã tiếp thu

1 Theo tài liệu của Hội đập lớn và phát triển nguồn nước Việt Nam, nếu

chỉ tính các nhà máy thủy điện lớn trên 100MW, đến nay, nước ta đã có 8 nhà máy đang vận hành, 17 nhà máy đang xây dựng, 12 nhà máy đang chuẩn

bị xây dựng và 2 nhà máy đã quy hoạch (nguồn: http://www.vncold.vn/Web/ Content aspx?distid=112, truy cập ngày 21-8-2014) Cần lưu ý: tất cả các nhà máy này đều được xây dựng ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi

Trang 9

nhiều thế mạnh của Nhân học, thậm chí có những cơ sở đào tạo chuyển đổi mã ngành, tên gọi từ Dân tộc học sang Nhân học, song việc nghiên cứu về tộc người vẫn được quan tâm

Có hai lý do của thực trạng đã nêu: 1- Việt Nam là quốc gia

đa dân tộc, vấn đề tộc người có vị trí rất quan trọng đối với sự phát triển, kể cả trong lịch sử cũng như hiện tại; 2- Nhân học ở nước ta hiện nay chỉ là sự chuyển đổi từ Dân tộc học hay là sự mở rộng của Dân tộc học Điều này có thể nhận

thấy, ngay trong công trình Hiện đại và động thái của truyền thống ở Việt Nam: Những cách tiếp cận Nhân học1, với tập hợp nhiều nghiên cứu của các học giả nước ngoài và trong nước2 thời gian gần đây, có khoảng trên 30% bài viết lấy tộc người là đối tượng hoặc môi trường nghiên cứu Tổng kết 10 năm xây dựng và phát triển Nhân học của Khoa Nhân học thuộc Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh cũng cho biết: trong số 8 đề tài nghiên cứu trọng điểm của Khoa, đã có tới 5 đề tài lấy tộc người là đối tượng hoặc môi trường nghiên cứu3 Nếu nhìn rộng hơn ra thế giới, việc nghiên cứu tộc người vẫn rất được chú trọng, thậm chí có xu hướng hồi sinh và phát triển mạnh trở lại ở ngay những nước có truyền thống phát triển về Nhân học4

1 Xem Hiện đại và động thái truyền thống ở Việt Nam: Những cách tiếp

cận Nhân học, Nxb Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2010, q.1

2 Nhiều tác giả là người Việt Nam trong công trình này được đào tạo

về Nhân học ở nước ngoài

3 Xem Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc

gia Thành phố Hồ Chí Minh: Ngành Nhân học 10 năm xây dựng và phát

triển (2002 - 2012), Thành phố Hồ Chí Minh, 2012, tr.11-12

4 Xem Nguyễn Văn Chính: “Dân tộc học ở Mỹ: Đặc điểm, khuynh

hướng và cơ sở lý luận”, Tạp chí Dân tộc học, số 1, 2-2013, tr.103-114

Trang 10

Trong bối cảnh quan trọng của việc nghiên cứu về tộc người, thời gian qua đã xuất hiện các tổng kết, đánh giá có liên quan Công trình ghi dấu ấn khó phai mờ, có thể nói, vẫn là bộ

sách Các dân tộc ít người ở Việt Nam, gồm hai tập1 Đây là kết quả chủ yếu dựa trên nghiên cứu cơ bản và điều tra, xác minh thành phần các dân tộc ở Việt Nam vào cuối những năm 60 và những năm 70 của thế kỷ XX Đối tượng để trình bày chính là các dân tộc thiểu số của nước ta, vì thế, ngoài phần viết tổng luận về quá trình hình thành và phát triển của đại gia đình các dân tộc Việt Nam, công trình đã tập trung giới thiệu về những dân tộc thiểu số ở hai miền của đất nước Tuy nhiên, tập thứ nhất viết về các dân tộc thiểu số ở phía Bắc được xuất

bản trước khi công bố bản Danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam nên tộc danh một số dân tộc của công trình chưa thống nhất với bản Danh mục được ban hành sau đó một năm

Dẫu còn những hạn chế khó tránh khỏi, song công trình này vẫn được ghi nhận như là bộ “bách khoa thư”, phản ánh tương đối đầy đủ và toàn diện về các dân tộc thiểu số của nước ta Ở đây, người đọc có thể tìm thấy những chỉ dẫn cơ bản và cần thiết về từng dân tộc trong cả nước Hai công trình trên cũng

là cơ sở cho các nghiên cứu của những ngành kế cận như văn hóa, tôn giáo, lịch sử, nông nghiệp, kinh tế2 Đây có thể xem như cuộc tổng kết lớn đầu tiên về nghiên cứu tộc người ở nước

ta, với hướng chính không phải là tổng kết việc tác nghiệp, mà

là sự vận động, phát triển của các dân tộc thiểu số

1 Xem Viện Dân tộc học: Các dân tộc ít người ở Việt Nam (Các tỉnh phía

Bắc), Sđd; Các dân tộc ít người ở Việt Nam (Các tỉnh phía Nam), Sđd

2 Xem Khổng Diễn: “Viện Dân tộc học”, Trung tâm Khoa học xã hội

và Nhân văn quốc gia - 50 năm xây dựng và phát triển, Nxb Khoa học xã

hội, Hà Nội, 2003

Trang 11

Cuộc tổng kết thứ hai nghiên cứu về tộc người, có thể được

ghi nhận qua công trình Dân tộc học Việt Nam thế kỷ XX và những năm đầu thế kỷ XXI, do Khổng Diễn - Bùi Minh Đạo

chủ biên1, có sự tài trợ của Ford Foundation Công trình này

ra đời trong bối cảnh tìm hướng đổi mới cho Dân tộc học - bằng việc tiếp nhận những yếu tố tích cực của Nhân học Để đổi mới Dân tộc học, trước hết cần có tổng kết nghiên cứu trong những năm qua và vấn đề chủ yếu của công trình là nhìn nhận việc tác nghiệp Dân tộc học, mà không bàn về các tộc người Vì vậy, ngoài việc xem xét các lĩnh vực nghiên cứu, công trình còn quan tâm đến sự hình thành và phát triển của

tổ chức và đào tạo trong Dân tộc học Nếu nhìn sâu vào việc xem xét các lĩnh vực nghiên cứu đã nêu, ngoài những vấn đề chung (tổng quan, phương pháp nghiên cứu), công trình đã có những tổng kết của một số chuyên gia về những vấn đề như kinh tế truyền thống, nông nghiệp, sở hữu đất đai, thiết chế

xã hội, hệ thống thân tộc, dân số, gia đình, luật tục, tri thức địa phương, tôn giáo, văn hóa vật chất, ăn uống, giao tiếp văn hóa, ngôn ngữ ; chỉ có duy nhất một tổng kết nghiên cứu về một tộc người cụ thể, đó là dân tộc Chăm Những tổng kết này tuy chưa phản ánh hết sự đa dạng trong Dân tộc học Việt Nam cho đến thời điểm đó, song vẫn tạo được nền tảng nhất định cho việc đánh giá một giai đoạn nghiên cứu đã qua

Bên cạnh hai cuộc tổng kết nêu trên, còn phải kể tới các đánh giá về nghiên cứu của Viện Dân tộc học - cơ quan có nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản, toàn diện về các tộc người ở

1 Xem Khổng Diễn, Bùi Minh Đạo (Chủ biên): Dân tộc học Việt Nam

thế kỷ XX và những năm đầu thế kỷ XXI, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,

2003

Trang 12

Việt Nam, vào những dịp kỷ niệm 15, 20, 25, 30, 35, 40, 45 năm thành lập Viện Đánh giá này thường được phản ánh trong báo cáo tổng kết nhân dịp kỷ niệm nêu trên của lãnh

đạo Viện, công bố trên Tạp chí Dân tộc học1

Trong bối cảnh nghiên cứu về tộc người của Viện Dân tộc học còn phải kể tới một hoạt động khác cần được ghi nhận, đó

là việc điều tra, nghiên cứu để xác minh lại thành phần một

số dân tộc ở Việt Nam vào nửa đầu thập kỷ đầu tiên của thế

kỷ XXI Trước tình hình có một số dân tộc muốn đổi tộc danh, những nhóm địa phương muốn tách thành dân tộc riêng, một

số tộc bị ghép vào các tộc khác trước đây, nay cũng muốn tách ra, Viện Dân tộc học đã được giao nhiệm vụ nghiên cứu

để xây dựng kiến nghị về vấn đề này Ngoài việc tổ chức tọa đàm về lý luận và phương pháp, việc điều tra, nghiên cứu đã được tiến hành ở trên 40 dân tộc và nhóm địa phương trong

cả nước2 Đây có thể được coi là đợt tổng kết về một vấn đề

1 Xem Bế Viết Đẳng: “15 năm nghiên cứu Dân tộc học và những

nhiệm vụ hiện nay”, Tạp chí Dân tộc học, số 4-1983, tr.6-11; Bế Viết Đẳng: “Nhìn lại 20 năm nghiên cứu của Viện Dân tộc học”, Tạp chí Dân

tộc học, số 1-1988, tr.9-13; Bế Viết Đẳng: “Công tác nghiên cứu Dân tộc

học trong những năm qua và những nhiệm vụ trong những năm tới”, Tạp

chí Dân tộc học, số 1-1994, tr.5-15; Khổng Diễn: “Viện Dân tộc học 30 năm xây dựng và phát triển (1968 - 1998)”, Tạp chí Dân tộc học, số 1-1999,

tr.5-10; Khổng Diễn: “35 năm Viện Dân tộc học (1968 - 2013)”, Tạp chí

Dân tộc học, số 6-2003, tr.5-10; Phạm Quang Hoan: “Viện Dân tộc học -

Thành tựu 40 năm xây dựng và phát triển (1968 - 2008)”, Tạp chí Dân

tộc học, số 1, 2-2009, tr.6-9; Vương Xuân Tình: “Định hướng phát triển

của Viện Dân tộc học giai đoạn 2013 - 2020 và tầm nhìn đến năm 2030”,

Tạp chí Dân tộc học, số 5-2013, tr.4-13

2 Xem Khổng Diễn: “Về việc xác định lại một số thành phần các dân

tộc ở Việt Nam”, Tạp chí Dân tộc học, số 4-2002, tr.51-59

Trang 13

liên quan đến phát triển và biến đổi của các dân tộc ở nước

ta Tuy nhiên, do những nguyên nhân khách quan nên đến nay, nghiên cứu này vẫn chưa có điều kiện công bố

Cùng với những tổng kết, đánh giá nêu trên, còn phải kể đến các đánh giá, tổng kết liên quan đến việc nghiên cứu về tộc người trong công trình của một số tác giả, như về sự phát triển của Dân tộc học ở Việt Nam1; về quá trình tộc người ở Việt Nam2; về sự hình thành và phát triển của cộng đồng dân tộc Việt Nam3

2 Yêu cầu và bối cảnh mới trong nghiên cứu về tộc người

Kể từ khi công bố bản Danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam vào năm 1979 đến nay, trải qua gần 40 năm, Dân

tộc học Việt Nam chưa có cuộc tổng kết trọn vẹn nào trong việc nghiên cứu về tộc người trên cả hai phương diện: tác nghiệp nghiên cứu và những biến đổi về kinh tế - xã hội của các dân tộc Trong khi đó, sự đổi thay trên cả hai phương

1 Xem Phan Hữu Dật: Một số vấn đề về dân tộc học Việt Nam,

Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 1998, tr.74-88; Nguyễn Văn Chính: “Một thế kỷ Dân tộc học Việt Nam và những thách thức trên con đường đổi mới

và hội nhập”, Tạp chí Văn hóa dân gian, số 5 (113)-2007, tr.47-67

2 Xem Bế Viết Đẳng: “Các quá trình tộc người ở Việt Nam”, Tạp chí

Dân tộc học, số 3-1988, tr.3-15; Phan Hữu Dật: Góp phần nghiên cứu Dân tộc học Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tr.381-500;

Nguyễn Văn Huy: Từ Dân tộc học đến Bảo tàng Dân tộc học: Con đường học tập và nghiên cứu, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2005, t.II,

tr.339-369

3 Xem Đặng Nghiêm Vạn: Cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam,

Nxb Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2003; Nguyễn Văn Huy:

Từ Dân tộc học đến Bảo tàng Dân tộc học: Con đường học tập và nghiên cứu, Sđd, tr.407-428

Trang 14

diện ấy lại diễn ra khá mạnh mẽ, đặc biệt kể từ những năm cuối của thế kỷ XX và bước sang thế kỷ XXI Đây là thời điểm Việt Nam mở rộng hội nhập, chú trọng chính sách phát triển đối với các dân tộc thiểu số và cũng là khi Dân tộc học có những đổi mới Mặt khác, đây cũng là thời điểm vấn đề dân tộc của nước ta có những diễn biến phức tạp - trong xu hướng chung của thế giới: đó là việc diễn ra các cuộc bạo loạn hay xung đột cục bộ ở Tây Nguyên, Tây Bắc và Tây Nam Bộ, do tác động của các thế lực thù địch và phần nào cả từ mâu thuẫn nội tại chưa được giải quyết kịp thời

Tuy nhiên cần nhận rõ, sự cần thiết của việc tổng kết nghiên cứu một giai đoạn đã qua không phải chỉ để tổng kết,

mà quan trọng hơn là nhằm đáp ứng nhu cầu của tình hình mới là xác định những vấn đề đang đặt ra với các tộc người ở nước ta hiện nay và xu hướng trong thời gian tới Bởi vậy, để thực hiện tốt nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản, toàn diện về các dân tộc ở Việt Nam, Viện Dân tộc học đã đề xuất một kế hoạch tổng kết nghiên cứu về tộc người, được triển khai từ những năm 2012 - 2015, với sự hợp tác của các tổ chức, cá nhân nghiên cứu khác Trong khoảng thời gian này, Viện tổ chức ba hội nghị Thông báo Dân tộc học với mục đích nêu

trên và biên soạn bộ sách về Các dân tộc ở Việt Nam

Năm 2012, Viện Dân tộc học đã tổ chức Hội nghị Thông

báo Dân tộc học với chủ đề: Nghiên cứu tộc người ở Việt Nam (1980 - 2012): Vấn đề chung và các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường, Tày - Thái Kađai Đây là hội

nghị đầu tiên của kế hoạch tổ chức Hội nghị Thông báo Dân tộc học trong ba năm (2012 - 2014), nhằm phục vụ cho việc tổng kết nghiên cứu về tộc người ở nước ta từ năm 1980

Trang 15

đến nay Thời điểm xem xét vấn đề được tính bắt đầu từ

năm 1980 chính là dấu mốc sau khi công bố bản Danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam vào năm 1979 Hội nghị

năm 2013, ngoài các vấn đề chung, đã chủ yếu xem xét những lĩnh vực nghiên cứu về tộc người của các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ-me Còn Hội nghị năm 2014, ngoài những vấn đề chung, còn đi sâu xem xét các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Hmông - Dao, Hán, Tạng - Miến và

Mã Lai - Đa Đảo Nội dung chính của các hội nghị là tìm hiểu những vấn đề lý thuyết về tộc người; xem xét toàn diện vấn đề tộc người, trong đó tập trung vào các khía cạnh: quá trình tộc người (quá trình phát triển nội tại và biến đổi của tộc người), quan hệ tộc người và bản sắc văn hóa tộc người Tại Hội nghị năm 2012, Ban Tổ chức đã nhận được 74 báo cáo, trong đó có 14 báo cáo phản ánh việc nghiên cứu về tộc người của các tổ chức nghiên cứu, đào tạo và nghiệp vụ liên quan đến Dân tộc học/Nhân học ở nước ta Hội nghị năm

2013, Ban Tổ chức đã nhận được 89 báo cáo Còn Hội nghị năm 2014, Ban Tổ chức đã nhận được 107 báo cáo Kết quả của ba hội nghị này đã được biên tập thành kỷ yếu và chắt lọc để xây dựng các số chuyên đề, gồm các số 1, 2-2013, số 1,

Trang 16

đầu, dựa trên kết quả đánh giá của Viện Dân tộc học cùng một số cơ quan làm công tác nghiên cứu và giảng dạy khác được trình bày trong các hội nghị Thông báo Dân tộc học năm

2012, năm 2013, năm 2014 và kế thừa một bài viết của tác giả Vương Xuân Tình1

Qua thống kê của Viện Dân tộc học và một số tổ chức nghiên cứu, giảng dạy hoặc công tác liên quan đến Dân tộc học/Nhân học trong cả nước, nghiên cứu về tộc người ở nước

ta trong gần 30 năm qua vẫn được quan tâm Theo thống kê chưa đầy đủ, chỉ ở nguồn tư liệu của Thư viện Viện Dân tộc học, cho đến năm 2012 đã có 1.667 cuốn sách liên quan đến các tộc người ở Việt Nam2 Còn trên Tạp chí Dân tộc học, đến

năm 2012, số lượng bài viết có nội dung như vậy gồm 1.809 bài trong tổng số 2.062 bài đã đăng Những công trình này phản ánh nhiều chiều về đời sống các dân tộc, đặc biệt là về những lĩnh vực của văn hóa tộc người

Tuy nhiên, qua thống kê đã nhận thấy một số bất cập,

mà trước hết là sự thiên lệch trong nghiên cứu Sự thiên lệch này biểu hiện ở ba khía cạnh: tộc người, địa bàn và vấn

đề nghiên cứu

Về tộc người, hầu như các dân tộc có dân số đông, dễ tiếp

cận hoặc cần quan tâm đặc biệt đến phát triển kinh tế - xã

1 Xem Vương Xuân Tình: “Nghiên cứu về tộc người ở Việt Nam từ

năm 1980 đến nay: Bước đầu nhận diện”, Tạp chí Dân tộc học, số 1, 2-2013,

tr.7-14

2 Thống kê này chưa phản ánh đầy đủ, song vẫn có thể nhận thấy, Thư viện của Viện Dân tộc học đã lưu trữ được về cơ bản những cuốn sách có giá trị liên quan đến nghiên cứu tộc người ở Việt Nam

Trang 17

hội, an ninh - quốc phòng thường được chú trọng; còn các dân tộc có dân số ít, lại cư trú ở địa bàn xa xôi, hẻo lánh đều ít được nghiên cứu Thống kê về sách và tạp chí xuất bản đã nêu, đều phản ánh tình trạng này: trong 32 năm, có 8 dân tộc chỉ được đề cập đến trong 1 cuốn sách (Chơ-ro, Xtiêng, Hrê, Cơ Lao, Thổ, Chu-ru) Có 5 dân tộc chỉ có 2 bài tạp chí

đề cập (Co, La Chí, Lự, Pu Péo, Ơ-đu); và 3 dân tộc chỉ có 1 bài (Mạ, Rơ-măm, Brâu) Sự thiên lệch như vậy không chỉ được phản ánh ở bình diện chung của toàn ngành, mà còn ở từng cơ quan có nhiệm vụ nghiên cứu về vấn đề tộc người Tại Viện Dân tộc học, qua 32 năm, có 12 dân tộc chưa từng được nghiên cứu (Bố Y, Pu Péo, Ngái, Hrê, Xtiêng, Bru - Vân Kiều, Tà-ôi, Co, Chơ-ro, Brâu)1 Tình trạng này cũng diễn ra tại những tổ chức có nhiệm vụ thực hiện công tác có liên quan đến các tộc người trong cả nước, như Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam2

Sự thiên lệch này có nguyên nhân chủ yếu từ nguồn lực của các cơ quan có trách nhiệm nghiên cứu về vấn đề tộc người Đơn cử tại Viện Dân tộc học, kinh phí nghiên cứu của

1 Thống kê này được xây dựng qua xem xét 340 công trình nghiên cứu, bao gồm các đề tài cấp nhà nước, đề tài cấp bộ, dự án điều tra, đề tài cấp cơ sở (cấp viện) và các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, khóa luận đại học (văn bằng 2) Số lượng trên có thể chưa đầy đủ, với nhiều lý do khác nhau Xem Vương Xuân Tình: “Nghiên cứu về tộc người ở Việt Nam từ

năm 1980 đến nay: Bước đầu nhận diện”, Tlđd

2 Xem Lưu Hùng: “Tình hình nghiên cứu về các tộc người ở Việt Nam

của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam”, Tạp chí Dân tộc học, số 1, 2-2013,

tr.30-36; Ma Ngọc Dung: “Công tác nghiên cứu dân tộc học tại Bảo tàng

Văn hóa các dân tộc Việt Nam”, Tạp chí Dân tộc học, số 1, 2- 2013, tr.49-57

Trang 18

Viện vốn đã hạn chế, lại được tập trung cho những nhiệm vụ cấp thiết, như các đề tài, chương trình cấp bộ; các dự án, chương trình điều tra và đề tài cấp nhà nước Số kinh phí còn lại dành cho đề tài cấp cơ sở (cấp viện) không nhiều, vì vậy,

đã ảnh hưởng nhất định đến việc tổ chức nghiên cứu cơ bản đối với các dân tộc sống tại các địa bàn khó khăn, xa xôi, cách trở về giao thông Bên cạnh đó, có những nguyên nhân chủ quan, trong đó có việc thiếu kế hoạch tổng thể của Viện cũng như của cá nhân các nhà nghiên cứu nhằm bảo đảm mối quan tâm tới mọi tộc người Tuy nhiên, đây cũng là tình trạng chung của tất cả các cơ sở nghiên cứu và đào tạo trong

cả nước1

Nghiên cứu tộc người thường gắn với địa bàn, vì vậy, sự bất cập trong nghiên cứu các tộc người cũng gắn với bất cập

về mối quan tâm tới địa bàn nghiên cứu Miền núi phía Bắc

và đồng bằng Bắc Bộ là nơi có nhiều công trình đề cập hơn

cả: trong số 1.604 bài viết đăng trên Tạp chí Dân tộc học gắn

với vùng nghiên cứu, có 973 bài (chiếm 60,9%) dựa trên kết quả nghiên cứu ở hai vùng này Trong khi đó, vùng Nam Bộ chỉ có 53 bài (chiếm 3,4%); còn lại là vùng Trung Bộ và Tây Nguyên (có 568 bài viết, chiếm 35,7%) Nếu xem xét các sách

1 Chúng tôi đồng tình với sự nhận diện tình trạng này của các tác giả: Lâm Bá Nam và cộng sự (2013): “Nghiên cứu và giảng dạy về tộc

người ở bộ môn Nhân học”, Tạp chí Dân tộc học, số 1, 2, tr.15-23; Lưu

Hùng: “Tình hình nghiên cứu về các tộc người ở Việt Nam của Bảo tàng

Dân tộc học Việt Nam”, Tlđd, tr.30-36; Ma Ngọc Dung: “Công tác nghiên cứu dân tộc học tại Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam”, Tlđd, tr.49-57,

khi có ý cho rằng, những thiếu sót như vậy có phần từ sự tự lựa chọn của các nhà nghiên cứu theo kiểu dễ làm, khó tránh

Trang 19

đã xuất bản được lưu trữ ở Thư viện Viện Dân tộc học, việc nghiên cứu tộc người theo vùng khá cân bằng hơn khi so sánh giữa đồng bằng Bắc Bộ, miền núi phía Bắc với vùng Trung Bộ và Tây Nguyên Theo đó, có 445 công trình (chiếm 45,6%) nghiên cứu ở vùng Bắc Bộ và miền núi phía Bắc; tương tự, số lượng ở vùng Trung Bộ, Tây Nguyên là 424 (chiếm 43,8%); còn tại Nam Bộ là 107 công trình (chiếm 10,6%) Tuy nhiên, cần lưu ý tác giả của các công trình sách thống kê nêu trên không chỉ làm việc ở lĩnh vực Dân tộc học/Nhân học, mà còn ở nhiều ngành khoa học khác, như Văn hóa học, Xã hội học, Sử học, Chính trị học1

Sự thiên lệch về vùng nghiên cứu được thể hiện rõ hơn trong kết quả nghiên cứu của những tổ chức có nhiệm vụ công tác gắn với vấn đề tộc người Ví dụ, tại Viện Dân tộc

học, có 251 nghiên cứu (chiếm 79,4%) ở vùng Bắc Bộ và miền núi phía Bắc; 52 nghiên cứu (chiếm 16,5%) ở vùng Trung Bộ

và Tây Nguyên và 13 nghiên cứu (chiếm 4,1%) ở vùng Nam

Bộ2 Tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, số liệu tương ứng là: 164 (chiếm 70,4%), 64 (chiếm 27,4%) và 5 (chiếm 2,2%)3 Còn ở Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam, số liệu tương ứng là: 69 (chiếm 84,1%), 11 (chiếm 3,4%) và 2 (chiếm 2,5%)4 Như vậy, sự thiên lệch về vùng trong nghiên cứu của các cơ

1, 2 Xem Vương Xuân Tình: “Nghiên cứu về tộc người ở Việt Nam từ

năm 1980 đến nay: Bước đầu nhận diện”, Tlđd

3 Xem Lưu Hùng: “Tình hình nghiên cứu về các tộc người ở Việt

Nam của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam”, Tlđd

4 Xem Ma Ngọc Dung: “Công tác nghiên cứu dân tộc học tại Bảo

tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam”, Tlđd

Trang 20

quan có nhiệm vụ công tác gắn với các tộc người trong cả nước là khá rõ Dĩ nhiên, không phủ nhận việc phần lớn các

cơ quan nghiên cứu, đào tạo, nghiệp vụ liên quan đến Dân tộc học/Nhân học của nước ta được tập trung ở phía Bắc, song điều đó hẳn không phải là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới tình trạng mất cân đối về địa bàn được nghiên cứu như đã nêu Việc thiên lệch giữa nghiên cứu cơ bản và phát triển của nghiên cứu tộc người cũng là vấn đề đáng lưu ý trong giai

đoạn vừa qua Với các bài đăng trên Tạp chí Dân tộc học, chỉ

có 453 bài, chiếm 25% của tổng số bài nghiên cứu liên quan đến vấn đề tộc người ở Việt Nam, có nội dung nghiên cứu phát triển Còn với các sách xuất bản được lưu trữ tại Thư viện Viện Dân tộc học, nghiên cứu về phát triển chỉ có 189 tác phẩm, chiếm 11,3% Điều đáng nói là những công trình nghiên cứu được coi là “cơ bản”, phần lớn nặng về miêu thuật, ít tham khảo lý thuyết, ít tính lý luận Thậm chí, ngay việc miêu thuật cũng còn nhiều bất cập về kỹ năng và độ tin cậy của tư liệu thu thập được Tuy nhiên, trong bối cảnh đó, vẫn nhận thấy sự nỗ lực đổi mới khi nghiên cứu về tộc người

Có thể nêu ví dụ: trong công trình Hiện đại và động thái truyền thống ở Việt Nam: Những cách tiếp cận Nhân học1, mặc dù chỉ có khoảng trên 30% số bài viết về tộc người, song các nghiên cứu đã thể hiện phương pháp và cách tiếp cận mới Nghiên cứu ấy đề cập đến những vấn đề nóng bỏng trong đời sống các dân tộc hiện nay và không sa vào miêu thuật kiểu dân tộc chí, góp phần đổi mới cách thức nghiên

1 Xem Hiện đại và động thái truyền thống ở Việt Nam: Những cách tiếp

cận Nhân học, Sđd, q.1, 2

Trang 21

cứu về tộc người ở Việt Nam trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa1

Sau cùng, có một điểm mới trong nghiên cứu về tộc người

ở Việt Nam kể từ năm 1986 đến nay cần được ghi nhận, đó là

sự tham gia ngày càng nhiều của các tác giả nước ngoài Những tác giả này là chuyên gia nghiên cứu về Việt Nam; nghiên cứu sinh hay học viên cao học lấy tộc người hoặc vấn

đề liên quan đến tộc người ở Việt Nam làm đề tài luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ Một số nghiên cứu của họ còn có sự hợp tác với các nhà nghiên cứu Việt Nam Những nghiên cứu

ấy có thể dưới góc độ Dân tộc học/Nhân học hoặc thuộc ngành khoa học khác, như văn hóa, xã hội học, môi trường, nông nghiệp, lâm nghiệp, kinh tế , song có liên quan đến tộc người Đây là hệ quả của công cuộc đổi mới ở Việt Nam, mà trực tiếp là nhu cầu hợp tác trong nghiên cứu, đào tạo, nhu cầu nghiên cứu phát triển của các tổ chức có liên quan Kết quả này không chỉ đem lại một số cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu mới, mà còn có cả những luận điểm mới hoặc khác biệt so với nghiên cứu của các tác giả Việt Nam Điều đó tạo nên sự đa dạng hay vấn đề cần thảo luận, đồng

1 Xem Nguyễn Thị Thanh Bình: “Sự thách thức đối với những mô hình thuần nhất về nuôi dạy trẻ: Tiến trình giáo dục ngôn ngữ ở một cộng

đồng người Việt”, Hiện đại và động thái truyền thống ở Việt Nam: Những

cách tiếp cận Nhân học, Sđd, q.1, tr.265-271; Trương Huyền Chi: “Họ nói

đồng bào không biết quý sự học: Những mâu thuẫn trong giáo dục ở vùng

đa dân tộc Tây Nguyên Việt Nam”, Hiện đại và động thái truyền thống ở

Việt Nam: Những cách tiếp cận Nhân học, Sđd, q.1, tr.349-360; Nguyễn

Thị Hiền: “Bệnh âm: chẩn đoán và chữa bệnh trong lên đồng của người

Việt”, Hiện đại và động thái truyền thống ở Việt Nam: Những cách tiếp

cận Nhân học, Sđd, q.2, tr.37-51

Trang 22

thời cũng góp phần đổi mới trong nghiên cứu về tộc người ở nước ta1

III- MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ DÂN TỘC Ở VIỆT NAM

Từ năm 1986 đến nay, có rất nhiều vấn đề về dân tộc ở Việt Nam, song chúng tôi chỉ tập trung vào ba vấn đề lớn:

1 Chính sách dân tộc

Chính sách dân tộc là một bộ phận không thể tách rời trong đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Điều đó thể hiện rõ trong nguyên tắc “đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ nhau cùng phát triển” của Đảng Cộng sản Việt Nam Trong Hiến pháp các năm 1980, 1992; Hiến pháp năm 2013, nguyên tắc ấy càng được làm rõ, đó là Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống

và văn hóa tốt đẹp của mình Nhà nước thực hiện chính sách phát triển về mọi mặt, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số Các

1 Xem Philip Taylo: “Minorities at Large: New Approaches to

Minority Ethnicity in Vietnam”, in Journal Vietnamese Studies, Vol 3,

Issue 3, p 3-43 ISSN 1559-372x, electronic ISSN 1559-3738, the

Regents of the University of California; Hiện đại và động thái truyền

thống ở Việt Nam: Những cách tiếp cận Nhân học, Sđd, q.1, 2; Tạp chí Dân tộc học, số 3-2014 (Số chuyên đề về chợ ở Việt Nam - kết quả hợp

tác nghiên cứu giữa Institute of Anthropology, Max-Planck và Viện Dân tộc học)

Trang 23

chính sách cơ bản nêu trên tiếp tục được cụ thể hóa trong nhiều lĩnh vực của công tác dân tộc, từ chính trị, kinh tế, xã hội đến văn hóa

Khái niệm “chính sách dân tộc” đã được văn bản của Đảng, Nhà nước và một số công trình nghiên cứu quan tâm1 Điểm chung của khái niệm này là đều cho rằng, đây

là hệ thống chính sách của chính đảng hay nhà nước đối với các tộc người trong một quốc gia, để giải quyết vấn đề dân tộc Với Việt Nam, chính sách này có thể cho tất cả các dân tộc, cho từng vùng dân tộc hay một tộc người cụ thể, nhằm thực hiện đoàn kết giữa các dân tộc, bảo đảm phát triển của các tộc người Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (nay là Ban Tuyên giáo Trung ương) và Ủy ban Dân tộc còn nhấn mạnh, chính sách dân tộc của nước ta mang bản chất, quan điểm giai cấp của đảng cầm quyền2

Cho đến nay ở Việt Nam, có rất nhiều chính sách dân tộc được thực hiện Theo Đặng Kim Sơn và cộng sự3, tính đến năm 2011, đã có 182 chính sách cho đồng bào dân tộc thiểu số, do Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ ban hành

1 Xem Lê Ngọc Thắng: “Một số vấn đề về tác động của các thế lực thù địch đến mối quan hệ tộc người ở nước ta hiện nay”, Viện Nghiên cứu

phát triển Thành phố Hồ Chí Minh: Quan hệ tộc người và phát triển xã

hội ở Việt Nam hiện nay, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2010

2 Xem Lê Ngọc Thắng: “Quan điểm và chính sách cơ bản của Nhà

nước ta về dân tộc”, Đậu Tuấn Nam (Chủ biên): Vấn đề dân tộc và quan

hệ dân tộc ở Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010

3 Xem Đặng Kim Sơn và cộng sự: Nghiên cứu rà soát, phân tích các

chính sách dân tộc thiểu số và hỗ trợ xây dựng khung chính sách cho Ủy ban Dân tộc, CEMA, UNDP, 2012, tr.52, 53

Trang 24

Việc phân loại chính sách dân tộc là vấn đề khó khăn, vì vậy, khi đề cập, không ít tác giả bị lẫn giữa nguyên tắc với chính sách, giữa chính sách này với chính sách khác Bởi trên thực tế, có những chính sách chồng chéo nhau Ví dụ, chính sách xóa đói, giảm nghèo lại bao gồm nhiều chính sách khác như đầu tư, tài chính, giáo dục, y tế Trong Nghị định số 05/2011/NĐ-CP, ngày 14-1-2011 của Chính phủ về công tác dân số, đã phân loại chính sách dân tộc thành 12 loại khác nhau, song chỉ là những chính sách rất cụ thể, mà không đưa các quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước như một loại hình chính sách dân tộc

a) Chính sách vĩ mô

Chính sách này ít có thay đổi so với giai đoạn trước năm

1986 và những thay đổi chủ yếu chỉ ở một số câu chữ để phù hợp với bối cảnh mới Điều đó được thể hiện ngay trong cương lĩnh, nghị quyết đại hội của Đảng, trong Hiến pháp năm

2013 Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá

độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) chỉ

rõ: “Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và

giúp đỡ nhau giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân

tộc cùng phát triển, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam”1 Báo cáo chính trị của

Đại hội lần thứ XI của Đảng cũng xác định: “Các dân tộc

trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng,

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong

thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), Nxb

Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.24-25

Trang 25

giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”1

Có thể nói, bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong chính sách dân tộc của

Đảng và Nhà nước Việt Nam trong chặng đường cách mạng vừa qua Giáo sư Phan Hữu Dật còn cho rằng, đó là nguyên tắc cơ bản trong chính sách dân tộc của Đảng, mang bản chất của giai cấp vô sản2 Lê Ngọc Thắng thì chỉ xếp “bình đẳng, đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc” vào phạm trù nguyên tắc trong công tác dân tộc mà không phải là chính sách dân tộc, song cũng thừa nhận nguyên tắc này là nền tảng cơ bản của chính sách đó3

Chính sách dân tộc ở tầm vĩ mô của Việt Nam đều xác định lợi ích, sự phát triển của mỗi tộc người phải gắn liền với lợi ích và phát triển của quốc gia - dân tộc Dẫu được diễn đạt bằng hình thức nào trong văn kiện, như “Đại gia đình Việt Nam”, “Cộng đồng các dân tộc Việt Nam” hay “54 dân tộc anh em”, thì về bản chất, việc xác định nêu trên không có

gì thay đổi

Trong khi các nhà khoa học và hoạt động thực tiễn ở Việt Nam hầu như không có ý kiến khác nhau về chính

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần

thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.51

2 Phan Hữu Dật: Góp phần nghiên cứu Dân tộc học Việt Nam,

Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tr.713-724

3 Xem Lê Ngọc Thắng: “Một số vấn đề về tác động của các thế lực thù địch đến mối quan hệ tộc người ở nước ta hiện nay”, Viện Nghiên cứu phát

triển Thành phố Hồ Chí Minh: Quan hệ tộc người và phát triển xã hội ở

Việt Nam hiện nay, Sđd, tr.77-79

Trang 26

sách dân tộc ở tầm vĩ mô và đều khẳng định chính sách đó

là cơ sở cho thắng lợi của công tác dân tộc ở nước ta, thì một số học giả và tổ chức nước ngoài lại có những quan điểm với hàm ý phê phán Họ cho rằng, tương tự như Trung Quốc, chính sách ở nông thôn miền núi của Việt Nam (ngụ ý thuộc chính sách dân tộc) đã chịu ảnh hưởng của thuyết tiến hóa, đó là việc coi các dân tộc thiểu số là “lạc hậu”, “kém văn minh” hơn so với dân tộc Kinh (Việt), bởi vậy, phải để người thiểu số tiến kịp người đa số, để miền núi tiến kịp miền xuôi1 Tác giả Neil J và cộng sự cho rằng, việc chuyển đổi các dân tộc lạc hậu cho giống hoặc bằng với thang bậc tiến hóa tự nhiên của dân tộc phát triển cao hơn (hàm ý dân tộc Kinh (Việt)) được coi là quyền

và nghĩa vụ của nhóm có trình độ phát triển cao hơn Những luận điểm này rõ ràng không phù hợp với bản chất chính sách dân tộc của nước ta2

b) Chính sách cụ thể

Theo Cao Văn Thanh, tính đến năm 2010, ở nước ta có hơn 40 chương trình, mục tiêu, dự án lớn được triển khai

1 Xem Neil J và cộng sự: Những khó khăn trong công cuộc phát

triển miền núi ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000;

Salemink, Oscar: “Sedentarization and Selective Preservation among the

Montagnards in the Vietnamese Central Highlands”, Turbulent Times

and Enduring Peoples: Mountain Minorities in the South-East Asian Massif, JeanMichaud (ed.) London: Curzon Press, p.124-128; WB: Country Social Analysis: Ethnicity and Development in Vietnam, Report

2 Xem Neil J và cộng sự: Những khó khăn trong công cuộc phát

triển miền núi ở Việt Nam, Sđd, tr.19

Trang 27

thực hiện cho phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu

số1 Để tiện theo dõi, chúng tôi sẽ tổng quan lần lượt từng chính sách theo khung phân tích nêu trên

* Chính sách xóa đói, giảm nghèo:

Thực tế chính sách này không chỉ dành riêng cho các dân tộc thiểu số mà áp dụng chung cho người nghèo ở Việt Nam,

có dấu mốc quan trọng kể từ Quyết định số 133/1998/QĐ-TTg, ngày 23-7-1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt

Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói, giảm nghèo trong giai đoạn 1998 - 2000 Tiếp đó, các chương trình khác như 134,

135, 661 có mục tiêu chủ yếu là xóa đói, giảm nghèo, hướng tới đối tượng chính là đồng bào các dân tộc thiểu số Khi xem xét những chính sách ấy, có ý kiến đã nhìn nhận như là chính sách kinh tế hoặc liên quan nhiều đến chính sách kinh tế Theo chúng tôi, đó vẫn là chính sách xóa đói, giảm nghèo, bởi hàng thập kỷ qua, có lẽ không thuật ngữ nào được sử dụng nhiều bằng “xóa đói, giảm nghèo” hay “đói nghèo” khi đề cập đến các dân tộc thiểu số, kể từ các văn kiện của Đảng và Nhà nước đến những công trình nghiên cứu hay tác phẩm báo chí Đói nghèo và cuộc chiến chống đói nghèo với các tộc người này

là vấn đề nóng bỏng, nên được phản ánh sâu sắc trong chính sách của Đảng và Nhà nước ta

Liên quan đến chính sách ấy, có rất nhiều chương trình,

dự án Trong công trình Thực trạng đói nghèo và một số giải pháp xóa đói, giảm nghèo đối với các dân tộc thiểu số tại chỗ

1 Xem Cao Văn Thanh: “Chính sách kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu

số ở nước ta hiện nay”, Đậu Tuấn Nam (Chủ biên): Vấn đề dân tộc và quan

hệ dân tộc ở Việt Nam hiện nay, Sđd

Trang 28

Tây Nguyên, Bùi Minh Đạo cho rằng, chính sách xóa đói,

giảm nghèo cho các dân tộc thiểu số thể hiện qua những chương trình, dự án như Chương trình cứu trợ thường niên; Chương trình định canh, định cư; Chương trình xây dựng trung tâm cụm xã (sau được gộp vào Chương trình 135); Chính sách trợ giá, trợ cước và hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm đối với vùng dân tộc, vùng sâu, vùng xa; Dự án hỗ trợ đồng bào dân tộc đặc biệt khó khăn; Chương trình 1351 Còn trong

nghiên cứu Xóa đói, giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số nước ta hiện nay - Thực trạng và giải pháp, Hà Quế Lâm

cho rằng, việc thực hiện xóa đói, giảm nghèo ở các dân tộc thiểu số nước ta được thực hiện qua sáu chương trình hay lĩnh vực, đó là: 1- Phát triển nông nghiệp, nông thôn, thủy lợi và giao thông; 2- Giải quyết việc làm; 3- Chương trình tín dụng; 4- Chương trình giáo dục, y tế với mục tiêu xóa đói, giảm nghèo; 5- Chương trình quốc gia số 06/CP; 6- Chương trình hỗ trợ dân tộc đặc biệt khó khăn và 7- Bảo

vệ môi trường (Dự án 327, FAO, PAM)2 Nếu căn cứ vào mục tiêu xóa đói, giảm nghèo còn có thể đề cập đến nhiều chương trình, dự án khác

Chính sách xóa đói, giảm nghèo đối với các dân tộc thiểu

số của Việt Nam đã đạt được thành tựu to lớn Thành tựu đó thể hiện qua sự tăng trưởng GDP ở các tỉnh miền núi, góp

1 Xem Bùi Minh Đạo (Chủ biên): Thực trạng đói nghèo và một số

giải pháp xóa đói, giảm nghèo đối với các dân tộc thiểu số tại chỗ Tây Nguyên, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2005, tr.54-60

2 Xem Hà Quế Lâm: Xóa đói, giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số

nước ta hiện nay - Thực trạng và giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà

Nội, 2002, tr.108-137

Trang 29

phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế miền núi, vùng dân tộc theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa1 Việt Nam đã giảm mức đói nghèo nhanh hơn những nước khác ở cùng mức độ phát triển tương tự2 và thực sự đã đạt được thành tích xuất sắc về giảm nghèo - chủ yếu được thực hiện ở vùng dân tộc thiểu số3

Cùng với những thành tựu, việc thực hiện xóa đói, giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số cũng còn có nhiều thách thức bởi người dân nơi đây rất khó thoát nghèo4 Sự tiến bộ về giảm nghèo vẫn hạn chế đối với đồng bào dân tộc thiểu số,

tỷ lệ tái đói nghèo còn cao5 Năm 2004, tỷ lệ nghèo trong các dân tộc thiểu số là 61%, gấp 4,5 lần tỷ lệ nghèo của các dân tộc Việt (Kinh) và Hoa gộp lại6 Còn theo một tài liệu được công bố trong năm 2014, sau hơn hai thập kỷ tấn công nghèo đói, Việt Nam đã có 35 triệu người thoát nghèo Tuy

tỷ lệ nghèo đói của các dân tộc thiểu số đã giảm mạnh so với khoảng đầu những năm 90 của thế kỷ XX, song lại có chiều hướng gia tăng khi so với dân tộc đa số; và trong khi chỉ

1 Xem Hà Quế Lâm: Xóa đói, giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số

nước ta hiện nay - Thực trạng và giải pháp, Sđd, tr.109-110

2, 4 Xem Báo cáo Phát triển Việt Nam: Nghèo, Hội nghị tư vấn các

nhà tài trợ Việt Nam, Hà Nội, 2003, tr.59

3 Xem Viện Khoa học xã hội Việt Nam: Báo cáo cập nhật nghèo

2006: Nghèo và giảm nghèo ở Việt Nam giai đoạn 1993 - 2004, Nxb Khoa

học xã hội, Hà Nội, 2007, tr.7

5 Xem Bùi Minh Đạo (Chủ biên): Thực trạng đói nghèo và một số

giải pháp xoá đói giảm nghèo đối với các dân tộc thiểu số tại chỗ Tây Nguyên, Sđd, tr.78

6 Viện Khoa học xã hội Việt Nam: Báo cáo cập nhật nghèo 2006:

Nghèo và giảm nghèo ở Việt Nam giai đoạn 1993 - 2004, Tlđd, tr.9

Trang 30

chiếm khoảng 15% dân số, nhưng các dân tộc thiểu số lại có đến 53% số hộ đói nghèo1 Một số báo cáo của các tổ chức còn cho rằng, trong tiếp cận với các nguồn lực để xóa đói, giảm nghèo, các dân tộc Kinh (Việt) và Hoa có ưu thế hơn dân tộc thiểu số và đó là lý do tại sao các dân tộc thiểu số vẫn bị tụt hậu2

Nguyên nhân của những hạn chế nêu trên được xác định gồm cả từ phía người dân và những cơ quan có trách nhiệm triển khai chính sách Về người dân, đó là do trình độ dân trí thấp, hủ tục lạc hậu, thói quen ỷ lại; còn với các cơ quan triển khai chính sách được xác định là chưa đầu tư đồng bộ, hợp lý; chưa thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở trong đầu tư; việc triển khai chưa phù hợp với đặc điểm của địa phương3; ít có chính sách và chương trình giải quyết có hiệu quả việc thu nhập thấp của các dân tộc thiểu số4; hoặc do người dân có ít đất đai màu mỡ5

* Chính sách đất đai:

Đất đai là nguồn vốn quan trọng trong sinh kế của

1 Ủy ban Dân tộc, UNICEF: Kỷ yếu Hội thảo góp ý Khung đề án

phát triển nguồn nhân lực dân tộc thiểu số đến năm 2020, định hướng

đến năm 2030, Hà Nội, tháng 4-2014

2 Xem AF- IDS: Sự phát triển kinh tế của các dân tộc thiểu số Việt

Nam, DFID, 2008, tr.5; Ủy ban Dân tộc, UNDP: Báo cáo phân tích điều tra cơ bản Chương trình 135-II, Hà Nội, 2008

3 Xem Bùi Minh Đạo (Chủ biên): Thực trạng đói nghèo và một số

giải pháp xoá đói giảm nghèo đối với các dân tộc thiểu số tại chỗ Tây Nguyên, Sđd, tr.77-78

4 Xem AF- IDS: Sự phát triển kinh tế của các dân tộc thiểu số Việt

Nam, Tlđd, tr.6

5 Xem Báo cáo Phát triển Việt Nam: Nghèo, Tlđd, tr.29

Trang 31

nông dân các dân tộc, bởi vậy, từ năm 1986 đến nay, đã có nhiều chính sách đất đai được ban hành Trong giai đoạn này, đã có những đột phá về chính sách đất đai: đó là việc

thực hiện Khoán 10, là sự ra đời của Luật đất đai năm 1993, của Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004, Luật đất đai

sửa đổi năm 2013 Với các chính sách đất đai đã ban hành, đặc biệt với 5 quyền của chủ sử dụng đất, đã có tác động tích cực, góp phần nâng cao năng suất trong nông nghiệp của nhiều vùng dân tộc thiểu số; làm xuất hiện đội ngũ chủ trang trại vừa và nhỏ; thay đổi nếp sống từ du canh sang định canh; thay đổi nếp sống từ khai thác rừng sang trồng

và bảo vệ rừng; tăng cường cư trú xen cài giữa các dân tộc, thúc đẩy phát triển thương mại và kỹ thuật; và góp phần nâng cao công bằng giới1

Bên cạnh mặt tích cực, chính sách đất đai kể từ sau năm

1986 còn tồn tại một số hạn chế Tranh chấp đất đai đã nổi lên khi tiến hành thực hiện Khoán 10, Chỉ thị số 364-CT và

Luật đất đai năm 1993 Tranh chấp này diễn ra phổ biến ở

vùng Đông Bắc và đặc biệt ở vùng Tây Nguyên2 Đó là tranh

1 Xem Trần Đăng Tuấn: “Chia đất cho con trong hộ gia đình”, Kỷ

yếu Hội thảo khoa học Hưởng dụng đất ở vùng cao Việt Nam,

GENDCEN, Hà Nội, 2003; Vương Xuân Tình: “Rừng cộng đồng với xóa đói giảm nghèo của các dân tộc thiểu số miền núi Việt Nam”, Tạp chí

Dân tộc học, số 6-2008

2 Xem Vương Xuân Tình: “Những biến đổi kinh tế - xã hội ở một

huyện vùng thấp, biên giới”, Viện Dân tộc học: Những biến đổi kinh tế -

văn hóa ở các tỉnh miền núi phía Bắc, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,

1993; La Công Ý: “Một số vấn đề quan hệ ruộng đất ở tỉnh Bắc Kạn sau thực

hiện Khoán 10”, Tạp chí Dân tộc học, số 6, 2001; Vũ Đình Lợi, Bùi Minh Đạo,

Vũ Thị Hồng: Sở hữu và sử dụng đất đai ở các tỉnh Tây Nguyên,

Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000

Trang 32

chấp giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân với tập thể và cả giữa tập thể với nhau Nguyên nhân của tranh chấp chủ yếu

do thay đổi chế độ sở hữu và sử dụng đất và quá trình triển khai chính sách đất đai mới Ngoài ra, tình trạng thiếu đất canh tác của nhiều hộ hay nhiều địa phương dân tộc thiểu số còn bởi việc bao chiếm đất đai của nông lâm trường, mua bán đất đai của người Kinh (Việt), mở rộng cây công nghiệp; bởi

chính sách giao đất giao rừng của Luật đất đai năm 1993 và

năm 20031 Để giải quyết việc thiếu đất canh tác của hộ gia đình dân tộc thiểu số, Nhà nước đã thực hiện Chương trình 134, song vẫn không đáp ứng được nhu cầu về đất của nông dân vì nhiều địa phương không còn quỹ đất2

Chính sách đất đai còn tạo nên tình trạng phân hóa đất đai Hộ nhiều đất không những có tổng diện tích lớn, mà còn

có nhiều loại đất, đặc biệt là đất tốt và rừng3 Mặt khác, Luật đất đai và các chính sách đất đai sau năm 1986 chỉ có tác

dụng rõ rệt trong xóa đói, giảm nghèo ở cư dân vùng thung lũng, còn với cư dân vùng cao, vùng sâu lại chưa có tác dụng đáng kể4

1 Xem Vũ Đình Lợi, Bùi Minh Đạo, Vũ Thị Hồng: Sở hữu và sử dụng đất đai ở các tỉnh Tây Nguyên, Sđd, tr.118-133

2 Xem Vương Xuân Tình: “Hưởng dụng đất với xóa đói giảm nghèo của

các dân tộc thiểu số ở miền núi Việt Nam”, Tạp chí Dân tộc học, số 2-2007

3 Xem Tô Xuân Phúc: “Sự đa dạng trong hưởng dụng đất ở vùng cao

Việt Nam”, Tạp chí Dân tộc học, số 4-2002; Vương Xuân Tình: “Hưởng

dụng đất với xoá đói giảm nghèo của các dân tộc thiểu số ở miền núi

Việt Nam”, Tlđd

4 Xem Vương Xuân Tình: “Rừng cộng đồng với xóa đói giảm nghèo

của các dân tộc thiểu số miền núi Việt Nam”, Tlđd

Trang 33

và đời sống người dân1

Trong nhiều năm qua, chính sách đầu tư ở vùng dân tộc thiểu số chưa thu hút các doanh nghiệp và tổ chức xã hội Việc đầu tư này thường chỉ chú trọng ở một số vùng dễ thu được lợi nhuận2

* Chính sách cán bộ:

Xây dựng đội ngũ cán bộ ở vùng dân tộc thiểu số là vấn

đề quan trọng, vì vậy, Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm đến vấn đề này Kể từ năm 1986 đến nay, có nhiều chính sách liên quan đến cán bộ tại vùng này, bao gồm chính sách với cán bộ người dân tộc thiểu số và cán bộ công tác tại vùng dân tộc thiểu số - kể cả người Kinh (Việt)

Trong số chính sách liên quan đến các vấn đề nêu trên, đáng lưu ý là Đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn người dân tộc thiểu số giai đoạn 2006 - 2010

1 Xem Bùi Minh Đạo (Chủ biên): Thực trạng đói nghèo và một số

giải pháp xóa đói giảm nghèo đối với các dân tộc thiểu số tại chỗ Tây Nguyên, Sđd, tr.78

2 Xem Hoàng Nam: “Quan hệ dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa,

hiện đại hóa”, Viện Nghiên cứu phát triển Thành phố Hồ Chí Minh: Quan

hệ tộc người và phát triển xã hội ở Việt Nam hiện nay, Sđd, tr.40-42

Trang 34

được thông qua tại Quyết định số 34/2006/QĐ-TTg, ngày 8-12-2006 của Thủ tướng Chính phủ Mục tiêu của Đề án là nâng cao trình độ, phẩm chất của đội ngũ cán bộ thiểu số cấp xã, phường để thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị được giao Nội dung đào tạo rất phong phú, gồm giáo dục phổ thông, chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị, quản lý hành chính nhà nước, tin học văn phòng Bên cạnh đó, còn

có chính sách bố trí việc làm cho học sinh cử tuyển sau khi tốt nghiệp1

Để tạo điều kiện phát triển cho vùng dân tộc và miền núi, Nhà nước còn có chính sách hỗ trợ các tổ chức, đơn vị sử dụng lao động là người dân tộc thiểu số tại khu vực miền núi, vùng đặc biệt khó khăn, với việc hỗ trợ về đào tạo, bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, định mức lao động, tiền thuê đất, nguồn vốn hỗ trợ và trách nhiệm của cơ quan nhà nước có liên quan (Quyết định số 42/2012/QĐ-TTg, ngày 8-10-2012 của Thủ tướng Chính phủ) Bên cạnh đó, Nhà nước cũng có chính sách tăng cường đội ngũ cán bộ trẻ tình nguyện, có trình độ đại học về làm phó chủ tịch xã cho 500 xã đặc biệt khó khăn của vùng dân tộc và miền núi trong giai đoạn 2013 - 2020 (Quyết định số 1758/QĐ-TTg, ngày 30-9-2013 của Thủ tướng Chính phủ)

* Chính sách giáo dục và đào tạo:

Trong chính sách này, đáng lưu ý là các vấn đề về hệ thống giáo dục - đào tạo, chương trình giảng dạy, cơ sở vật

1 Xem Ủy ban Dân tộc, UNICEF: Kỷ yếu Hội thảo khoa học góp ý

Khung đề án phát triển nguồn nhân lực dân tộc thiểu số đến năm 2020,

định hướng đến năm 2030, Tlđd, tr.32-33

Ngày đăng: 11/05/2016, 15:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w