1. Trang chủ
  2. » Biểu Mẫu - Văn Bản

Một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện quy định của pháp luật vê bảo lưu quyền sở hữu

12 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGHIÊN CỬU- TRAO ĐÓ!QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÉ BẢO Lưu QUYỀN sở HỮU PHẠM VĂN TUYẾT * * Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội E-mail: tuyetdansu@hlu.edu.vn Tóm tắt: Bộ luật Dân

Trang 1

NGHIÊN CỬU- TRAO ĐÓ!

QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÉ BẢO Lưu QUYỀN sở HỮU

PHẠM VĂN TUYẾT *

* Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội

E-mail: tuyetdansu@hlu.edu.vn

Tóm tắt: Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2015 quy định về bảo lưu quyền sở hữu theo hai góc độ: vừa là quyền luật định của bên bán trong mua trả chậm, trả dần; vừa là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ Vĩ thế, quy định của pháp luật về quyền của các bên trong biện pháp bảo lưu với quyền của các bên trong họp đỏng nhiều khi trùng lặp và còn khá nhiều bất cập Bài viết nhằm đưa đến nhận thức chung về bảo lưu quyền sở hữu, biện pháp bảo lưu để xác định các vẩn đề liên quan đến bảo lưu quyền sớ hữu dưới góc độ là quyền mặc định với bảo lưu quyền sở hữu dưới góc độ là một biện pháp bảo đảm Qua đó, nhằm xác định rõ khải niệm về biện pháp bảo lưu quyền sở hữu; hiệu lực đối kháng, đối tượng dùng để bảo đám, quyền và nghĩa vụ của các bên trong biện pháp bảo lưu quyền sở hữu.

Từ khoá: Bảo lưu quyền sờ hữu; biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ; hiệu lực đối kháng; quyển truy đòi tài sàn

Nhận bài: 20/6/2021 Hoàn thành biên tập: 28/3/2022 Duyệt đăng: 28/3/2022

SEVERAL UNRESOLVED ISSUES ON TITLE RETENTION

Abstract: The 2015 Civil Code of Vietnam regulates title retention under two perspectives: a law- provided right of the seller in purchases by deferred payment or payment in instalments; or a type of security for performance of obligations Therefore, regulations on parties’ right in title retention and parties’ right in contracts remain overlapping and conflicting This article presents the general understanding of tittle retention and types of retention to determine issues related to title retention as

a law-provided right and title retention as a form of security Thereby, this article will clearly define the definition of title retention; its antagonistic effects, the objects used for security, the rights and obligations of parties in title retention.

Keywords: Title retention; type of security for performance of obligations; effectiveness; right to reclaim assest

Received: June 2ơh, 2021; Editing completed: Mar 28th, 2022; Accepted for publication: Mar 28th, 2022

1 Nhận thức chung về bảo lưu quyền

sử hữu

Theo nghĩa chung thì bảo lưu là giữ lại

như cũ và được sử dụng trong nhiều trường

hợp như bảo lưu kết quả học tập, bào lưu ý

kiến trong một cuộc họp, bảo lưu điều ước quốc tế Theo đó, bảo lưu quyền sở hữu

được hiểu là người có quyền sở hữu đối với mộttài sản đãbán được giữlại quyền sở hữu

dù tài sản đã được chuyển giao cho người

mua Bảo lưu quyền sở hữu đã được quy định trong Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2005 dưới dạng là quyền của bên bán tài sản trong

Trang 2

NGHIÊN cứu- TRAO ĐÔI

trường hợp bên mua chưa thanh toán tiền

mua với mục đích là thông quaviệc bảo lưu

này, buộc bên bán phải thanh toán đầy đủ

tiền mua Cụ thể khoản 1 Điều 461 Bộ luật

quy định: “ Các bên có thể thoả thuận về

việc bên mua trả chậm hoặc trả dân tiên

mua trong một thời hạn sau khi nhận vật

mua; bên bán được bảo lưu quyền sở hữu

của mình đối với vật bán cho đến khi bên

mua trả đủ tiền, trừ trường hợp có thoả

thuận khác

Bảo lưu quyền sở hữu là một hoạt động

hoặc là quyền được hoạt động của chủ sở

hữu tài sản để giữ lại quyền sở hữu về mặt

pháp líđối với tài sản đã bán Nghĩa là, trong

hợp đồng mua bán tài sản mà bên bán thực

hiện quyền bảo lưu thì bên bán vẫn là chủ sở

hữu của tài sản mặc dù tài sản đã được

chuyển giao cho bên mua Trong thực tế,

hoạt động bảo lưu quyền sở hữu của bên bán

nhằm hướng tới việc hạn chế, kiểm soát sự

định đoạt, chuyển giao tài sản đó của bên

mua nên việc bảo lưu thường được bên bán

thực hiện thông qua phương thức: giữ lại

giấy tờchứngnhận quyền sở hữu đối với tài

sản đã bán và không làm thủ tục sang tên

chủ sở hữu đối vớitài sản đó cho bên mua

BLDS năm 2005 chưa xác định bảo lưu

quyền sở hữulà một trong các biện pháp bảo

đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự mà chỉ xác

định đó là một trong các quyền của bên bán

trong các trường hợp mua trả chậm, trả dần

Tuy nhiên, do bảo lưu quyền sở hữu cótính

chất tương tự như biện pháp bảo đảm thực

hiện nghĩa vụ nên trước khi BLDS năm 2015

được ban hành đã có quan điểm cho rằng

bảo lưu là mộttrong các “biến thể” của biện pháp bảo đảm: “Bảo lưu quyền sở hữu đối

với vật bán được đặt ra trong các hợp đồng mua bán mà bên mua trả chậm, trả dần tiền mua tài sán

Trong thực tế, để cạnh tranh lẫn nhau giữa các nhà kinh doanh và tăng cường sức mua của người tiêu dùng nhằm thúc đẩy quá

trình chu chuyển hàng hoá, các nhà kinh doanhnghĩ đến việcbán hàng hoá trongđiều kiện cho phép người mua trả chậm, trả dần tiền mua trong một thời hạn nhất định Tuy nhiên, bên bán hàng hoá rất dễ gặp rủiro khi

đã giao hàng hoá mà tiền chưa thu đủ Vì

vậy, bên bán phải tìm ra và thoả thuận với

bên mua biện pháp nào đó để bên mua buộc

phải trả hếttiềntrongthời hạn đãthoảthuận

Theo đó, biện pháp được các bên lựa chọn là bên bán được bảo lưu quyền sở hữu đối với vật bán chođếnkhi bên mua trả đủ tiền Ghi nhận thực tế trên và để có cơ sở

pháp điều chỉnh, giải quyết các quan hệ này, Điều 461 BLDS năm 2005 đãquy định:

“Các bên có thể thoả thuận về việc bên mua trả chậni hoặc trả dần tiền mua trong một thời hạn sau khỉ nhận vật mua; bên bản được bảo lưu quyển sở hữu của mình đối với

vật bán cho đến khỉ bên mua trả đủ tiền, trừ trường hợp có thoả thuận khác

Đây được coi là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng mua bán tài

sản mà bênđược bảo đảm là bênbán tài sản

vớiquyền kiểm soát lưuthôngtài sản (vốn là

1 Phạm Văn Tuyết, Lê Kim Giang (Chủ biên), Hoàn

thiện chế định bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự,

Nxb Dân trí, Hà Nội, 2015, tr 6.

Trang 3

NGHIÊN CỬU- TRAO ĐÓI

một trong các quyền của bên nhận thế chấp

tài sản) Quyền này trong hợp đồng mua trả

chậm trả dần cũng nhưtrongthế chấptài sản

là quyền pháp định và chỉ được giải trừ khi

có sự thoả thuận khác giữa các bên Tuy

nhiên, quyền kiểm soát lưu thông tài sản

trongthế chấp tài sản chỉ là quyền pháp định

đối với tài sản thế chấp không phải là hàng

hoá luân chuyển trong quá trình sản xuất

kinhdoanh, còn trong mua trả chậm, trà dần,

không được luật thực định quy định rõ Bởi

vậy, cómột số câu hỏi được đặt ra là bên bán

được thực hiện việc bảo lưu quyền sở hữu

đối với vật bán là loại tài sản gì hay tất cả?

Việc bảo lưu quyền sở hữu được thực hiện

như thế nào?

Thực tiễn cho thấy, việc bảo lưu quyền

sở hữu đối vớivật bán chỉ có ý nghĩa là một

biện pháp bảo đảm cho việc trả tiền mua

trong các giao dịch mua trả chậm, trả dần

nhữngtài sản phải đăngkí quyền sởhữu,bởi

đối với loại tài sản này, bên mua chỉ có thể

đăng kí được quyền sở hữu đối với tài sản

khi có sự đồng ý của bên bản Khi chưatrả

đủ tiền mua, chưa đăng kí được quyền sở

hữu nên không thể định đoạt được tài sản

Trong các trường hợp này, quyền bảo lưu

được thực hiện bằng cách bên bán sẽ không

thực hiện việc đăng kí, sang tên đối với tài

sản cho bên mua nếu họ chưa trả đủ tiền

Chẳng hạn, Công ti kinh doanh ô tô X mua

một loạt xe hơi và đăng kí quyền sở hữu

mang tên Công ti để bán trả chậm, trả dần

Kháchhàng Amua một xe trảchậm, trả dần

trong thời hạn 3 năm từ 20/10/2013 đến

29/10/2016 với số tiền trả trước là 50%

Theo đó, khách hàng nhận xe và sử dụng

như một chủ sở hữu nhưng đứng tên trong đăng kí xe vẫn là Công tiX Trong thời gian này, kháchhàng A không thể bán xe đó cho người khác hoặc dù có bán cũng không thể

thực hiện được các thủtục bắtbuộc dùCông

ti X không cần có bất kì động thái nào2 3 Ngoài ra, có tác giả xác định: '‘Bảo lưu quyền sở hữu là biện pháp bảo đảm mới, lần đầu tiên được BLDS năm 2015 quy định tại

chế định về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.

BLDS năm 2005 tuy có đề cập bảo lưu quyền

sở hữu nhưng ở góc độ của họp đồng dân

sự, chứ không nhìn nhận như một biện pháp

bảo đảm thực hiện nghĩa vụ giống như BLDS năm 2015,,?l', hoặc “ bảo lưu quyền sở hữu không phải là một vẩn đề mới trong

BLDS năm 2015 Nội dung pháp lí này đã được quy định trong BLDS năm 2005 nhưng với tư cách là một điều khoản trong họp đồng mua bán tài sản ”4

2 Phạm Văn Tuyết, Lê Kim Giang (Chủ biên), tlđd,

tr 9, 10.

3 Hồ Quang Huy, “Nhận diện khía cạnh pháp lí về bào lưu quyền sở hữu và cầm giữ tài sản”, Tạp chí

Toà án nhân dãn điện tử, https://tapchitoaan.vn/

bai-viet/phap-luat/nhan-dien-khia-canh-phap-ly- cua-bien-phap-bao-luu-quyen-so-huu-cam-giu-tai- san-trong-blds-nam-2015, truy cập 12/02/2019.

4 Đoàn Thị Phương Diệp, “Bản chất pháp lí của hợp đồng mua bán tài sàn với các thỏa thuận đặc biệt”,

Tạp chi Nghiên cứu lập pháp, số 02+03 (258+259),

tháng 2/2014, tr 69 - 73.

Trongmộttác phẩm khoahọc củamình,

D Legeais cũng nhận định: Ban đầu bảo lưu quyền sở hữu đã được phân tích trên cơ sở

các cơ chế của quan hệ nghĩa vụ dân sự Khi

bànvề tính chất bảo đảm của bảo lưu quyền

Trang 4

NGHIÊN cứu - TRA o ĐÓI

sở hữu, ông thôngtin rằng có quanđiểm coi

bảo lưu quyền sở hữu là một biện pháp bảo

đảm đích thực vì nó có tất cả các đặc tính

chính của biện pháp bảo đảm nhưng đa số

quan điểm không coi bảo lưu quyền sở hữu

là một biện pháp bảo đảm Tuy nhiên, với

lần sửa đổi vào năm 2006, BLDS Pháp đã

ghi nhận bảo lưu quyền sở hữu là một biện

pháp bảo đảm đích thực, được quy định tại

các điều 2367,23685

5 D.Legeais, Suretés et garanties du credit, LGDJ

2008 (Dần theo: Đỗ Văn Đại, “Vật quyền bào đảm:

Kinh nghiệm của nước ngoài cho Việt Nam”, Tạp

chí khoa học pháp lí Việt Nam, số 01 (86)/2015, tr

57 -65.

Ở Việt Nam, nội dung bảo lưu đã được

quy định trong các văn bản pháp luật trước

đó nhưng đều được xác định theo góc độ là

quyền của bên bán trong các hợp đồng mua

bán tài sản mà bên mua chưa thanh toán hết

tiền mua mặc dù đã nhận được tài sản mua

nhưng với góc độ là một biện pháp bảo đảm

thực hiện nghĩa vụ thì BLDS năm 2015 là

văn bản luật đầu tiên của nước ta quy định

về bảo lưu quyền sở hữu Sau một thời gian

có hiệu lực thi hành, quy định về biện pháp

bảo lưu quyền sở hữu trong Bộ luật này bộc

lộmột số điểm bấtcập

2 Những bất cập trong quy định của

pháp luật hiện hành về bảo lưu quyền

sở hữu

2.1 về khái niệm biện pháp bảo lưu

quyền sở hữu

Khi quy định về biện pháp bảo lưu

quyền sởhữu, BLDS năm 2015 chỉ xác định:

Trong hợp đồng mua bán, quyền sở hữu tài

sản có thể đượcbênbán bảolưu cho đến khi

nghĩa vụ thanh toán được thực hiện đầy đủ

Các khoản 1, 2 Điều 331 BLDS quy định:

Bảo lưu quyền sở hữu phải được lập thành

vănbản riêng hoặc được ghi trong hợp đồng

mua bán và Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi

hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện

nghĩa vụ (sauđây gọi tắt là Nghị định số 22)

cũng không có hướng dẫn và giải thích gì

khác Tuy nhiên, với quy định của BLDS năm 2015 được hiểu là biện pháp bảo lưu quyền sở hữu chỉ hình thành thông qua thoả thuận của các bên (thuật ngữ “có thể” và hình thức “phải lập thành văn bản” cho chúng tacách hiểu này)

Do các văn bản pháp luật chưa có khái niệm chuẩn về bảo lưu quyền sở hữu nên

còn khá nhiều lúngtúngkhi xácđịnhthếnào

là bảo lưu quyền sở hữu, thế nào là quyền bảo lưu, khi nào bảo lưu là một biện pháp

bảo đảm và khi nào là quyền luật định của bên bán tài sản

Từ nhận thức chung về bảo lưu và bảo

lưu quyền sở hữu có thể hiểu các thuật ngữ

ưên nhưsau: 1) Bảolưuquyền sở hữulà việc bên bán với tư cách là chủ sởhữu vẫn giữ lại quyền sở hữu của mình đốivới tàisản mặcdù

tài sản đó đã được chuyển giao cho bên mua theohợpđồngmuabán tài sản 2) Quyền bảo

lưu là quyền được lưu lại (giữ lại) quyền sở hữu đối với tàisản đã chuyển giao cho người mua 3) Theo quy định của BLDS năm 2015

thì “đường biên” để có thể phân biệt đâu là

bảolưu quyền sở hữu với góc độ là một biện pháp bảo đảm thực hiện nhĩa vụ, đâulà bảo

Trang 5

XGHỈÊy CÚI’ - TRAo ĐOI

lưu quyền sở hữu với góc độ là quyền pháp

định củabên bán còn hết sức mong manh và

mơhồ Có tác giả đã đặt ra câu hỏi: “Trong

BLDS năm 2015, bảo lưu quyền sở hữu

không chỉ được xác định là quyền pháp định

gắn với hợp đồng mua bán trả chậm, trả dần

mà còn được coi là một biện pháp bảo đảm

thực hiện nghĩa vụ vẩn đề đặt ra là khi bảo

lưu quyền sở hữu được xác định là một biện

pháp bảo đảm thì quyền của bên bán trong

hợp đồng mua bán tài sản có sự thay đổi gì

so với quyền của bên bán khi bảo lưu quyền

sở hữu được coi là một quyền pháp định? ”6

Cũngchính tác giả này xác định: “ cho dù

bảo lưu chi là một quyền pháp định gắn liền

với hợp đồng mua bán trả chậm, trả dần hay

là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa

vụ thì quyền và nghĩa vụ của các bên cũng

không có sự thay đổi Thậm chí, mục đích

của bảo lưu quyền sở hữu trong hai trường

hợp này củng hoàn toàn giống nhau, đó là

buộc bên mua phải thanh toán hết số tiền

mua tài sản theo thoả thuận ” 7

6 Nguyễn Văn Hợi, “Tính chất bảo đảm ưong biện

pháp bảo lưu quyền sở hữu”, Kỉ yếu Hội thảo khoa

học: Chế định các biện pháp bảo đảm thực hiện

nghĩa vụ trong Bộ luật Dân sự năm 2015, Trường

Đại học Luật Hà Nội, ngày 26/12/2017, tr 72.

7 Nguyễn Văn Hợi, tlđd, tr 73.

Tính bảo đảm của các biện pháp bảo

đảm thực hiện nghĩa vụ được thể hiện hoặc

là thông qua chức năng dự phòng thay thế

(dùnggiá trị tài sản bảođảm để thaythế giá

trị của nghĩa vụ bị vi phạm hoặc thông qua

việc thực hiện công việc của bên bảo đảm

để thay thế nghĩa vụ bảo đảm khi nghĩa vụ

đó chưa được thực hiện khi đã hết thời hạn

thực hiện hoặc thực hiện không đúng theo thoảthuận) hoặc là thôngqua chức năng tác động (buộc bên có nghĩa vụ phải thực hiện

nghĩavụ)

Với những vấn đề đãđược đề cập ở trên,

cóthể xác địnhkhái niệm cụ thể hơn về bảo

lưu quyền sở hữu với góc độ là một biện pháp bảo đảm thực hiệnnghĩa vụ

2.2 về đối tượng dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự

Trong khi Điều331 BLDS năm 2015xác định: “ Trong họp đồng mua bán, quyền sở hữu tài sản có thể được bên bán bảo lưu cho đến khi nghĩa vụ thanh toán được thực hiện

đầy đủ ” thì Nghị định số 21 lại xác địnhđối tượng dùng để bảo đảm nghĩa vụ thanh toán

là tài sản bán (khoản 2 Điều 8)

Sự vênh nhau giữa Nghị định số 21 với

BLDS năm 2015 về vấn đề nàytrước hết là

do chưa có độ chuẩn xác về thuyết vật quyền nói chung và vật quyền sở hữu nói

riêng, dẫn đến có sự lẫn giữa “quyền đối với tài sản”và “tài sản” Quyềnsở hữutài sản là một loại vật quyền (còn gọi là vật quyền sở

hữu), trong đó xác định chủ sở hữu được

quyền bằng hành vi của mình tác động trực

tiếp đến tài sản để thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạtcủa mình đối với tài sản (quyền đối vật) mà hoàn toàn không phải

là tài sản Nói cụ thể hơn thì trong quyền sở

hữu, tài sản chỉ là đối tượng tác động của vật quyền (quyền đốivật)

Dù quyền sở hữu bao gồm ba quyền đối

vật (quyềnchiếmhữu,quyền sử dụng, quyền

định đoạt) và BLDS năm 2015 đã quy định

Trang 6

NGHIÊN cứu- TRAO ĐÓI

“quyền sở hữu tài sản có thể được bên bán

bảo lưu” nhưng quy định này đặt trong hoàn

cảnh là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng đã

được bên bán chuyển giao thực tế cho bên

muatheo hợp đồng mua bán tài sản, theo đó

bên mua thực hiện các quyền này như một

chủ sở hữu đối với tài sản Bởi vậy, cái mà

bên bán có thể giữ lại (lưu lại) nhằm buộc

bên muaphải thanh toán tiềnmuachỉ có thể

là quyền định đoạt về mặt pháp lí với biểu

hiện cụ thể là quyền ngăn cản sự định đoạt

tài sản bán đối với bên mua và để giữ được

quyềnnày thì bên bán thực hiện việc giữ lại

giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu, không

trước bạ sang tên cho đến khi bên mua thực

hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán Vì vậy, có

thể xác định đối tượng dùng để bảo đảm

thực hiện nghĩa vụ trong biện pháp bảo lưu

là một quyền đối vật nhưng quyền đó phải

được thực hiện thông quahoạt động của bên

nhận bảo lưu (bên bán) với mục đích buộc

bên muaphải thực hiện nghĩa vụ thanh toán

Suy cho cùng thì đối tượngdùng để bảo đảm

thực hiện nghĩa vụ trong biện pháp bảo lưu

phải là hoạt động mang tính đối kháng về

quyền giữa bên mua và bên bán

về lí thuyết nói chung thì đối tượng

được dùng để bảo đảmthựchiện nghĩa vụ là

cái mà thông qua đó có thể bảo đảm rằng

nghĩa vụ chắc chắn phải được thực hiện và

theo đó, quyền lợi của bên nhận bảo đảm

chắc chắn được giải quyết Vìthế, việc dùng

cái gì để bảođảmthực hiện nghĩa vụthường

hướng tới một trong ba câu hỏi: 1) Nó có

thaythế được lượng tài chính do nghĩavụ bị

vi phạm không? 2) Nó có thể thay người có

nghĩa vụ để thực hiện nghĩa vụ hay không? 3) Nó có thể buộc người có nghĩa vụ phải

thực hiện nghĩa vụ hay không? Mặt khác,

quan hệ bảo đảm làmột quanhệnghĩa vụvà

tính chất tài sản của quan hệ nghĩa vụ cho

thấy chỉ có lợi ích vật chấtmớibảođảm cho

một lợi ích vật chất khác nên đối tượng của biện pháp bảo đảm chỉ có thể là tài sản hoặc một hoạt động mang đến lợi ích nhất định

hay hoạt động mà vì nó, bên có nghĩa vụ

buộc phải thực hiện nghĩa vụ

Theo đó, trong trường hợp thuộc về câu hỏi thứ nhất thì đối tượng dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ chỉ cóthể là tài sản (lấy

lượng tài chính này thay thế cho lượng tài

chính do nghĩa vụ bị vi phạm, vì vậy chỉ

dùng tài sản để bảo đảm trong các biệnpháp sau: cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc,

kí cược, kí quỹ) và đương nhiên, trong những trường họp này thì tài sản bảo đảm phải là tài sản của bên bảo đảm Trong

trường họp thuộc về câu hỏi thứ hai thì đối tượng dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ

là một công việc nhất định mà khi côngviệc

đó được thực hiện sẽ mang đến cho người

nhận bảo đảm một lợi ích nhất định Người bảo đảmphải thay ngườiđược bảo đảm thực

hiệncôngviệcmàngười đó đã camkết trước

người nhận bảo đảm nên công việc được thực hiện làcái được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong biện pháp bảo lãnh và

đương nhiên,người phảithực hiện công việc thay cho người có nghĩa vụ được bảo đảm

phải làbên nhận bảođảm Trong trườnghợp

thuộc về câu hỏi thứ ba thì đối tượng dùng

để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ là một hoạt

Trang 7

NGHIÊN CỬU-TRAO ĐỐI

động nhấtđịnh để buộc bên có nghĩa vụ phải

thực hiện nghĩavụ cùa họ Đó chính là hoạt

động bảo lưu quyền sở hữu đối với tài sản

bán của bên bán

Trong bảo lưu quyền sở hữu, hoạt động

mà theo đó buộc bên mua phải thanh toán

đầy đủ tiền mua, chính là giữ lại quyền sở

hữu đối với tài sản đãbán Hoạt động này do

chính bên bán/bên nhận bảo đảm thực hiện

Như vậy, cái mà thông qua đó để bên mua

tài sản buộc phải thanh toán tiền mua không

phải là tài sản, bởi theo nguyên lí chung thi

tài sản bảo đảm phải thuộc sở hữu của bên

bảo đảm trong khi tài sản mua bán có bảo

lưu quyền sở hữu là tài sản của bên bán/bên

nhận bảo đảm, đồngthời cũng không phải là

công việc được thực hiện bởi giữ lại quyền

sở hữu là hoạt động của bên nhận bảo

lưu/bên nhận bảo đảm mà không phải là

công việc mà bên bảo đảm phải thực hiện

trước bên nhận bảo đảm

Trong mua bán tài sản mà người mua trả

chậm, trả dần tiền mua, các bên vẫn có thể

lựa chọn những biện pháp bảo đảm khác để

cho bảo đảm cho nghĩa vụ thanh toán của

bên mua mà đối tượng dùng để bảo đảm là

tài sản nhưng đương nhiên tài sản đó phải

thuộc sở hữu của bên bảo đảm Chẳng hạn

như kí quỳ thanh toánhoặc cầm cố, thế chấp

mà theo đó bên mua dùng tài sản thuộc

quyền sở hữu của mình để bảo đảm thực

hiện nghĩa vụ thanh toán Tài sản dùng để

bảo đảm ưong những trường hợp này mới

thật sự là lượng tài chính dự phòng để bù

đắp lợi íchvậtchất cho bênbán khi bên mua

không thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền

mua Vì vậy, trong trường hợp các bên áp dụng biện pháp bảo lưu quyền sở hữu kèm

theo hợp đồng mua bán mà đối tượng dùng

để bảo đảm là “tài sản bán” như khoản 2 Điều 8 Nghị định số 21 đã xác định là bất

cập bởi tài sản bán trong hợp đồng mua trả

chậm, trả dần không mang tính chấtlà lượng tài chính dự phòng

Mục đích chính của việc bảo lưu là để người mua tài sản phải thanh toán đầy đủ

tiền mua, nếu muốn được nhận chuyển giao

quyền sở hữu đổi với tài sản mua bán nên bên bán là bên thực hiện quyền bảo lưu tài sản và bên mua là bên phải chấp nhận việc

bảo lưu đó Vì vậy, cần xác định đối tượng

dùng đế bảo đảm trong biện pháp bảo lưu

quyền sở hữu là một hoạt động đối kháng quyền (bênbán không chuyển quyền sở hữu

cho bên mua khi bên mua chưa thanh toán

đủ tiền mua; chỉ khi nào quyền được thanh toán của bên bán được đáp ứng đầy đủ thì

bênbán mới thực hiện chuyển giao quyền sở hữu đối với tài sản bán và khi đó, bên mua

mới đạt được sự trọn vẹn về quyền sở hữu đốivới tài sản đã mua)

Vì vậy, đối tượng được dùng trong bảo lưuquyền sở hữu không phải là “tài sản bán”

mà là hoạt động đối kháng quyền Nói cách

khác, trongbảo lưuquyền sở hữu người bán lưu lại mộtvậtquyền đối với tài sản

Mặt khác, pháp luật về bảo đảm thực

hiện nghĩavụ dân sự cần phải xác định toàn

bộ các đối tượng được dùng đểbảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ theo từngbiện pháp

bảo đảm cụ thể (pháp luậthiện hành mới chỉ xác định về tài sản bảo đảm, trong khi có

Trang 8

XGHIỀA Cl I - TRA o ĐÕ!

nhiều loại đối tượng khác nhau dùng để bảo

đảm thực hiện nghĩavụ)

2.3 về hiệu lực đổi kháng của biện pháp

bảo lưu quyền sở hữu

Theo quy định của pháp luật thì trước

hết, "biện pháp bảo đảm chi phát sinh hiệu

lực đối khảng với người thứ ba trong trường

hợp họp đồng bảo đảm đã có hiệu lực pháp

luật" (khoản 1 Điều 23 Nghị định số 21),

tiếp theo "bảo lưu quyền sở hữu phát sinh

hiệu lực đối kháng với người thứ ba kê từ

thời điểm đãng kí” (khoản 3 Điều 331 BLDS

năm2015)

Những quy định trên của pháp luật về

bảo đảm thực hiện nghĩa vụ cho thấy biện

pháp bảo lưu quyền sở hữu chỉ có hiệu lực

đối kháng khi hợp đồng bảo lưu có hiệu lực

phápluật (vìbiệnpháp bảo lưu hình thànhtừ

sự thoả thuậngiữa các bên hay nói cách khác

là từ mộthợp đồng bảolưu quyền sởhữu) và

chi phát sinh hiệu lực đối kháng khi đã đăng

kí Đồng thời, thời điểm phát sinh hiệu lực

đối kháng là thờiđiểm đăng kí

Tuy nhiên, quy định này sẽ dẫn đến sự

lẫn lộn giữa quyền bảo lưu dưới góc độ là

quyền của bên nhận bảo đảm trong một biện

pháp bảo đảm với quyền bảo lưu dưới góc

độ là quyền mặc định của bên bán trong các

trường hợp mua trả chậm, trả dần với quyền

bảo lưu8

8 Khoản 1 Điều 453 Mua trả chậm, trả dần quy định:

“Các bên có thể thoả thuận về việc bên mua trả

chậm hoặc trả dần tiền mua trong một thời hạn sau

khi nhận tài sản mua Bên bán được bảo lưu quyển

sở hữu đối với tài sản bán cho đen khi bền mua trả

đủ tiền, trừ trường hợp có thoả thuận khác

9 Điều 167 Quyền đòi lại động sản không phải đăng

kí quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tinh:

“Chủ sớ hữu có quyền đòi lại động sản không phái đăng kí quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình trong trường họp người chiếm hữu ngay tình có được động sản này thông qua hợp đông không có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản; trường hợp hợp đồng này là hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản

đó bị lav cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ỷ chí của chủ sở hữu

Điều 168 Quyền đòi lại động sản phải đăng kí quyền sở hữu hoặc bất động sản từ người chiếm hữu ngay tình:

“Chủ sớ hữu được đòi lại động sàn phải đáng kí quyền sở hữu hoặc bất động sản từ người chiêm hữu ngay tình, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 133 của Bộ luật này ”.

Theo quy định tại Điều 453 BLDS năm

2015, khi các bên có thoả thuận về việc bên

mua trả chậm hoặc trả dần tiền mua trong một thời hạn sau khi nhận tài sản mua thì

bên bán đương nhiên có quyền bảo lưu đối với tài sản đã bán Điều này đồng nghĩa với

việc quyền bảo lưu xuất hiện ngay cả khi không có thoả thuận và vì vậy, bên bán vẫn

có quyền đòi lại tài sản đó trước sự chiếm hữu củangười thứba bởi tài sản bán mặc dù

đã giao cho người mua nhưng quyền sở hữu

về mặt pháp lí vẫn thuộc về bên bán nhưng quyền đòi lại tài sản này không phải hình

thành từ một biện pháp bảo đảm mà hình thành từ quy định của pháp luật về sở hữu nên quyền đó chỉ giới hạn trong các trường hợp đã được pháp luậtvề sở hữu quy định9 Chẳng hạn, bên A (bên bán) đã giao tài sản

cho bên B (bên mua) trong một hợp đồng mua trả chậm, trả dần, nếu người thứ ba

chiếmhữutài sản đó thìbên A với tư cách là

Trang 9

NGH/ÊN (ít - TRA o ĐÓI

chủ sở hừu của tài sản vẫn có quyền đòi lại

tài sản đótừngười thứba

Tuy nhiên, quyền được ưu tiên thanh

toánkhi tài sảnbị xử lí để thực hiện nghĩavụ

không phải là quyền mặc nhiên của bên bán

mà quyền ưu tiên đó phải xác định theo quy

định của pháp luật về bảo đảm thực hiện

nghĩa vụ Chẳng hạn, bên A ('bên bán) đã

giao tài sản cho bên B (bên mua) trong một

hợp đồng mua trả chậm, trả dần và bên B

dùng tài sản đó để thế chấp bảo đảm nghĩa

vụ trả nợ vay thì bên nhận thế chấp sẽ được

ưu tiên thanh toán trước nếu biện pháp thế

chấp đã được đăng kí Trong trường hợp các

bên trong mua bán đã thoả thuận xác lập về

biện pháp bảo lưu quyền sở hữuvà biện pháp

đó đã đăng kí thi quyền ưu tiên thanh toán

được xác định theo thứtự thời điểm phát sinh

hiệu lực đối kháng đối với người thứ ba của

biệnpháp bảo lưu và biện pháp thếchấp

Như vậy, cần phải xác định quyền đối

kháng với người thứ ba xuất hiện cả trong

bảo lưu dưới góc độ là quyền mặc định và

dưới góc độ là một biện pháp bảo đảm

nhung với căn cứ hình thành và nội dung

khácnhau Cụ thể, dưới góc độlà quyền mặc

nhiên thì bên bán tàisản chỉ có quyền đòi lại

tài sản nhưng nếu bên bán là bên nhận bảo

đảm trong biện pháp bảo lưu quyền sờ hữu

thì sẽ cóthêm quyền ưu tiên thanh toánđược

xác địnhtheo thứ tự nói trên Mặt khác, nếu

như quyền đòi lại tài sản của bên bán trong

trường hợp không có thoả thuận về biện

pháp bảo lưu được xác định theo pháp luật

về sở hữu thì quyền truy đòi tài sảncủa bên

nhận bảo lưu quyền sở hữu được xác định

theo pháp luật về biện pháp bảo đảm thực

hiệnnghĩa vụ

Tính đối kháng với người thứ ba trong

quyền bảo lưu mặc định chỉ là quyền đòi lại

tài sản nhưng theo quy định tại khoản 2 Điều

297 BLDS năm 2015 thì tính đối kháng với người thứ ba trong các biện pháp bảo đảm

bao gồm quyền được truy đòi tài sản (hay

còn gọi là quyền theo đuổi) Bởi thế, quyền

truy đòi trong biện pháp bảo lưu quyền sở hữu có nội hàm rộng hon quyền đòi lại tài sản bởi quyền truy đòi bao hàm cả quyền

giámsát, kiểm soát lưu thông tài sản đó nên

bên nhận bảo lưu có quyền đòi lại tài sản

ngay cả khi bên mua dùng tài sảnđó để bảo đảm thực hiệnnghĩa vụ

Với việc phân tích trên và để có sự rạch ròigiữa quyền bảo lưumặcđịnh của bên bán trong mua trả chậm, tra dần và quyền của bên nhận bảo lưu trong biện pháp bảo lưu

quyền sở hữu, pháp luật cần có quy định cụ thể về nội dung của hiệu lực đối kháng của

biện pháp bảolun

2.4 về quyền và nghĩa vụ của các bên trong biện pháp bảo lưu quyền sở hữu

Quyền và nghĩa vụ của các bên trong biện pháp bảo lưu được BLDS năm 2015 quy định như sau: Trường hợp bên mua

không hoàn thành nghĩa vụ thanh toán cho

bên bán theo thoả thuận thì bên bán có

quyền đòi lại tài sản Bên bán hoàn trả cho

bên mua số tiền bên mua đã thanh toán sau

khi trừ giá trị hao mòn tài sản do sử dụng Trường hợp bên mua làm mất, hư hỏng tài sảnthì bên bán có quyền yêu cầu bồi thường

thiệthại (Điều332); bên mua tài sản được sử

Trang 10

NGHIÊN CỨU - TRA o ĐÓI

dụng tài sản, hưởng hoa lợi, lợi tứctừtài sản

trong thời hạnbảo lưu quyền sởhữu có hiệu

lực và phải chịu rủi ro về tài sản trong thời

hạnbảo lưu quyền sởhữu, trừtrường họp có

thoảthuận khác (Điều 333)

Quyđịnh trên của BLDS năm 2015 được

Nghị định số 21 hướng dẫn thêm: Trường

hợp bên muaphải trả lại tài sản mua cho bên

bán do vi phạm nghĩa vụ thanh toán nhưng

tại thời điểm hoàn trả, giá trị tài sản lớn horn

giá trị tài sản ban đầu do bên mua hoặc bên

thứ ba đã đầu tư làm tăng giá trị tài sản thì

bên bán phải hoàn lại giá trị chênh lệch cho

người đã đầutư vàotài sản Việc đầu tư vào

tài sản mua phải phù hợp với quy định tại

khoản 5 Điều 20 Nghị định này Bên mua

không phải chịu trách nhiệm về hao mòn tự

nhiên của tài sản được bảo lưu quyền sở hữu

(Điều 41)

về quyền và nghĩa vụ của các bên trong

họp đồng mua bán tài sản cũng đã được

BLDS năm 2015 quy định: Bên bán chịu rủi

rođối với tài sảntrước khi tàisản được giao

cho bên mua,bên mua chịu rủiro đối với tài

sản kể từ thời điểm nhận tài sản, trừ trường

họp có thoả thuận khác hoặc luật có quy

định khác (khoản 1 Điều 441)

Biệnpháp bảo lưu được đặt ra bên cạnh

mọi hợp đồng mua bán tài sản hay chỉ cần

đặt ra trong một số trường hợp mua bán cụ

thể? Đểtrả lời câuhỏi này thì cần nhận thức

rằng, việc bảo lưu quyền sở hữu chỉ phải

nghĩ đến và chỉ cần đặt ra trong trường hợp

bên mua tài sản đã nhận tài sản mua nhưng

chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán

tiền mua Những trường hợp này được hình

thành trong thực tế có thể là do thoả thuận

trong hợp đồng mua bán tài sản mà theo đó bên bán là người phải thực hiện nghĩa vụ

giao tài sản trước (hợp đồng đã xác định bên nào phải thực hiện nghĩa vụ trước); có thể là do thoả thuận trong hợp đồng mua bán tài sản, theo đó bên mua sau một thời hạn nhất định, kể từthời điểm nhận tài sản mua mới phải thanh toán tiền mua (trả

chậm); có thể là do thoà thuận trong họp đồng mua bán tài sản, theođó bên mua phải

thanh toán tiền mua theo các kì hạn trong một thờihạn nhất định, sau khi nhậntài sản

(trả dần) BLDS năm 2015 cũng có quy

định về quyền và nghĩa vụ của các bên

trong mua trả chậm, trả dần như sau: Các

bên có thể thoả thuận về việc bên mua trả chậm hoặc trả dần tiền mua trong một thời

hạn sau khi nhận tài sản mua Bên bán được

bảo lưu quyền sở hữu đối với tài sản bán chođến khi bên mua trả đủ tiền, trừ trường họp có thoả thuận khác Hợp đồng muatrả

chậm hoặc trả dần phải được lập thành văn bản Bên muacó quyền sử dụng tài sản mua

trả chậm, trả dần và phải chịu rủi ro trong

thời gian sử dụng, trừ trường hợp có thoả

thuận khác (Điều453)

Như vậy, có thể thấy với các quy định

trên của luậthiện hành thì quyềnvà nghĩa vụ của các bên trong biện pháp bảo lưu quyền

sở hữu không khác gì với quyền và nghĩa vụ

(vốn là quyền, nghĩa vụ mặc định) của các bên trong hợp đồng mua bán tài sản Mặt

khác, quyền đòi lại tài sản đã bán cũng có

thể thực hiện thông qua việc tuyên bố hủy hợp đồng khi bên mua vi phạm nghĩa vụ

Ngày đăng: 29/10/2022, 17:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w