Xác định một số yếu tố liên quan như nhận máu, phẫu thuật dùng chung bàn chải đánh răng, kim châm cứu, bơm kim tiêm.... Ba hành vi nguy cơ được coi là liên quan đến tình trạng nhiễm viru
Trang 1ĐIỀU TRA DỊCH TỄ TÌNH HÌNH NHIỄM VI RÚT VIÊM GAN B VÀ C TẠI HÀ NỘI VÀ BẮC GIANG
Trần Hữu Bích * , Nguyễn Thúy Quỳnh * , Nguyễn Ngọc Bích * , Trần Văn Thuấn ** , Bùi
Diệu ** , Nguyễn Thị Hoài Nga **
TÓM TẮT
Việt Nam là quốc gia nằm trong vùng dịch tễ có tỷ lệ viêm gan cao, vì vậy tỷ lệ mới mắc ung thư gan ở cả hai giới chiếm 4% tổng số các ca ung thư, đứng thứ 3 ở nam và đứng thư 5 ở nữ.
Mục tiêu: Mô tả một số đặc điểm dịch tễ và xác định tỉ lệ hiện nhiễm
HBV và HCV của người trong độ tuổi từ 15 - 60 hai quận/huyện thuộc hai tỉnh/thành Hà Nội và Bắc Giang Xác định một số yếu tố liên quan như nhận máu, phẫu thuật dùng chung bàn chải đánh răng, kim châm cứu, bơm kim tiêm với tình trạng nhiễm HBV và HCV.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang phân tích; triển khai trên
quần thể từ 15 - 60 tuổi; chọn mẫu xác xuất nhiều giai đoạn ở hai huyện thuộc Hà Nội và Bắc Giang
Kết quả: Tỷ lệ nhiễm HBV và HCV hai địa bàn Hà Nội, Bắc Giang lần lượt là 8,0 %
và 2,7% Tỷ lệ nhiễm HBV và HCV ở Sóc Sơn cao hơn so với Lạng Giang, lần lượt là 9,5% và 6,5% với HBV và 4,5% và 0,5% đối với HCV Tỷ lệ đối tượng nhiễm cả hai virut viêm gan là 0,3% Tỷ lệ phân bố của HBV cao ở nữ trong nhóm tuổi 20 - 49 Ba hành vi nguy cơ được coi là liên quan đến tình trạng nhiễm virut viêm gan B và C là dùng chung bơm kim tiêm (BKT), dùng chung kim châm cứu và dùng chung bàn chải đánh răng Tỷ
lệ tiêm phòng vắc xin viêm gan B (VGB) ở Sóc Sơn (15,3%) cao hơn ở Lạng Giang (4,5%) với tỷ lệ tương ứng là 15,3% và 4,5%.
Kết luận: Tỷ lệ nhiễm HBV và HCV ở Sóc Sơn cao hơn so với Lạng Giang Tỷ lệ đối
tượng nhiễm cả hai virut viêm gan là 0,3% Tỷ lệ phân bố của HBV cao ở nữ trong nhóm tuổi 20-49 Tuyên truyền nhằm giảm thiểu các nguy cơ cá nhân có thể dẫn đến lây nhiễm viêm gan B và C như dùng chung bơm kim tiêm, kim châm cứu và dùng chung bàn chải đánh răng.
Từ khóa: Điều tra dịch tễ, nhiễm vi rút viêm gan B và C
ABSTRACT
EPIDEMIOLOGY SURVEY OF HBV AND HCV INFECTION
IN HANOI AND BACGIANG PROVINCE
Tran Huu Bich, Nguyen Thuy Quynh, Nguyen Ngoc Bich, Tran Van Thuan, Bui Dieu, Nguyen Thi Hoai Nga * Y Hoc TP Ho Chi Minh – Vol.14 - Supplement of No 4 – 2010 :
71 - 82
Background: Vietnam is one of area where has high HBV and HCV prevalence,
therefor, liver cancer incidence was 4%, was third for male and fifth for female.
Objective: To describe epidemiology characteristics and measure HBV & HCV
prevalence among population from 15 - 60 in 2 districts in Hanoi, Bacgiang To define
Trang 2main factors relate HBV&HCV prevalence as sharing syringes and needles, sharing acupuncture tool and sharing tooth-brush
Methodology: Using cross-sectional study among population aged 15 - 60, random
sampling with multi-stages in 2 districts in Hanoi and Bacgiang
Result: HBV & HCV prevalence in Hanoi, Bacgiang is 8% and 2.7% HBV & HCV
prevalence in Soc Son is higher than Lang Giang, 9.5% and 6.5% with HBV and 4.5% and 0.5% with HCV Prevalence for both is 0.3% HBV prevalence is high among female aged 20 - 49 Three high risk behaviors relate HBV & HCV status are sharing syringes and needles, sharing acupuncture tool and sharing tooth-brush Percent of HBV vaxin injecting in Soc Son (15.3%) is higher than Lang Giang (4.5%)
Conclusion: HBV & HCV prevalence in Soc Son is higher than Lang Giang.
Prevalence for both is 0.3% HBV prevalence is high among female aged 20 - 49 Comunication and education to reduce HBV & HCV high risk as sharing syringes and needles, sharing acupuncture tool and sharing tooth-brush
Key words: Epidemiology survey, HBV and HCV infection.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm gan B (VGB) và viêm gan C (VGC) là những nguyên nhân hàng đầu của các bệnh gan mạn tính trên thế giới HBsAg có ở 58% số bệnh nhân xơ gan và 84% số bệnh nhân ung thư gan nguyên phát Mặc dù tỷ lệ nhiễm HBV đã giảm trong những năm gần đây do áp dụng thành công chương trình tiêm phòng VGB Vắc xin VGB đã được vào chương trình tiêm chủng mở rộng dành cho trẻ em và miễn phí cho tất cả trẻ em dưới 6 tuổi Tiêm phòng vắc xin cũng được khuyến cáo với những người trưởng thành nhưng chưa bị nhiễm HBV, tuy nhiên, tỷ lệ tiêm phòng ở nhóm này vẫn chưa cao Trong khi đó,
vi rút viêm gan C (HCV) hiện vẫn chưa có vắc xin phòng bệnh Mặt khác, ở Việt Nam hiện nay chưa có nhiều nghiên cứu tìm hiểu tỷ lệ nhiễm, đặc điểm dịch tễ học của hai loại nhiễm khuẩn nói trên một cách có hệ thống Tỷ lệ bội nhiễm hai loại nhiễm khuẩn trên cũng là vấn đề đáng quan tâm nhưng chúng tôi tiến hành nghiên cứu này với mục tiêu:
- Mô tả một số đặc điểm dịch tễ và xác định tỉ lệ hiện nhiễm HBV và HCV của người dân trong độ tuổi từ 15-60 hai quận/huyện thuộc hai tỉnh/thành Hà Nội và Bắc Giang
- Xác định một số yếu tố liên quan như nhận máu, phẫu thuật dùng chung bàn chải đánh răng, kim châm cứu, bơm kim tiêm với tình trạng nhiễm HBV và HCV
Trang 3PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Người dân có độ tuổi 15 - 60, tự nguyện tham gia nghiên cứu, có khả năng giao tiếp thông thường
Địa điểm nghiên cứu
Tại hai huyên là Sóc Sơn Hà Nội và Lạng Giang Bắc Giang
Thiết kế nghiên cứu
Mô tả cắt ngang có phân tích
Phương pháp chọn mẫu
Chọn mẫu nhiều giai đoạn, đảm bảo tính ngẫu nhiên
Chọn thị trấn và xã
Chọn ngẫu nhiên một xã và một thị trấn Cụ thể, ở huyện Sóc Sơn chọn thị trấn Sóc Sơn và xã Tiên Dược; ở Lạng Giang là thị trấn Vôi và xã Tân Thanh
Chọn địa bàn điều tra
Chọn xác suất ngẫu nhiên đơn giản để lấy ra 2 tuyến tổ dân phố/cụm dân cư/thôn để tiến hành khảo sát
Chọn hộ gia đình:
- Chọn ngẫu nhiên hệ thống 100 hộ gia đình từ danh sách
- Chọn đối tượng điều tra Sử dụng bảng Kish để lựa chọn ngẫu nhiên thành viên trong hộ gia đình làm đối tượng điều tra
Cỡ mẫu
Công thức tính cỡ mẫu:
Trong đó:
n = cỡ mẫu
p = 0,15 (tỷ lệ nhiễm vi rút HBV, tham khảo một số nghiên cứu)
z2 1-α/2 = 1,96 (mức ý nghĩa = 0,05)
d = 0,05 (sai số tối đa cho phép)
Do chọn mẫu nhiều giai đoạn được lựa chọn nên cỡ mẫu được tính là: n = 196 x 2 =
392 (với 2 là tác động do thiết kế mẫu nhiều giai đoạn/cụm)
Nhằm đảm bảo đủ cỡ mẫu cho ước lượng tỷ lệ, tỷ lệ từ chối được ước tính là 5% Như vậy cỡ mẫu cần thiết tối thiểu để điều tra tại mỗi quận/huyện là: 392 + 392 x 0,05 =
412 người
Và cỡ mẫu cần thiết cho mỗi xã/thị trấn = 412/2 = 206 người
Trang 4Phương pháp thu thập số liệu
Thông tin liên quan đến tình trạng nhiễm HBV và HCV được thu thập thông qua xét nghiệm huyết thanh xác định sự hiện diện của kháng nguyên bề mặt HbsAg và kháng thể kháng HCV bằng test sàng lọc Các thông tin liên quan đến các yếu tố liên quan đến tình trạng nhiễm viêm gan nói chung cũng như các thục hành phòng chống nhiễm viêm gan được thu thập thông qua phỏng vấn sử dụng bộ câu hỏi định lượng
Quy trình phỏng vấn
Điều tra viên lần lượt thực hiện các bước sau:
Giải thích cho đối tượng phỏng vấn về tính bảo mật thông tin
Đọc lần lượt từng câu hỏi trong bảng hỏi cho đối tượng phỏng vấn nghe và trả lời Hẹn lịch xét nghiệm
Xét nghiệm
Mẫu máu của đối tượng được xét nghiệm tại chỗ bằng test xét nghiệm nhanh (kết quả nhận được sau 15 – 20 phút): SD bioline HBsAg (độ nhạy 99%, độ đặc hiệu 100%) để tìm kháng nguyên bề mặt HBsAg và SD bioline HCV (độ nhạy 99%, độ đặc hiệu 99,4%)
để xác định kháng thể kháng HCV trong huyết thanh của đối tượng
Xử lý và phân tích số liệu
Phân tích thống kê thích hợp được thực hiện bởi phần mềm Stata 9.0 Mức ý nghĩa 0,05 Tỷ số chênh OR bao gồm OR thô và OR được hiệu chỉnh với một số yếu tố nhiễu tiềm tàng được lựa chọn là đơn vị đo lường sự kết hợp giữa hai yếu tố
Các biến số/chỉ số nghiên cứu chính
Thông tin chung về
hộ gia đình Là các thông tin về nhân khẩu học, số thành viên trong độ tuổi 15 – 60 và tiền sử xét nghiệm VGB, VGC Thông tin chung về
đối tượng
Là các thông tin về tuổi, giới, tình trạng hôn nhân, tình trạng học vấn và nghề nghiệp hiện nay
người đó có HBV và có khả năng truyền bệnh cho người khác
Từng tiêm
thuốc/truyền dịch
Là thông tin về tiền sử đã từng tiêm thuốc/truyền dịch
máu Dùng lại bơm kim
Trang 5Tên biến Định nghĩa biến
Chữa răng/làm răng Là tiền sử đã từng chữa răng, làm răng
Chạy thận nhân tạo Là tiền sử đã từng chạy thận nhân tạo
Sử dụng vật dụng
Hành vi tình dục Quan hệ tình dục với nhiều người hay không, tuổi quan hệ tình
dục lần đầu, sử dụng bao cao su không
Sử dụng bơm kim
tiêm
Tiền sử từng sử dụng bơm kim tiêm, sử dụng chung bơm kim tiêm và sử dụng ma túy
Các đối tượng nghiên cứu có kết quả xét nghiệm dương tính, không cung cấp các xét nghiệm khẳng định tình trạng nhiễm HBV và HCV nhưng sẽ cung cấp thông tin về viêm gan B và viêm gan C, các biện pháp dự phòng lây nhiễm cũng như một số địa chỉ mà đối tượng có thể nhận được tư vấn kỹ hơn
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Bảng 1 Đặc điểm về hộ gia đình của quần thể nghiên cứu
Số hộ gia đình
Số thành viên trong hộ gia
đình Trung
bình
Khoảng tin cậy 95%
Huyện Sóc Sơn
Huyện Lạng Giang
Số thành viên trung bình trong một hộ gia đình ở địa bàn xã xã đều lớn hơn số thành viên trung bình ở hộ gia đình thuộc khu vực thị trấn Sự khác biệt này có ý nghĩa thống
kê với p < 0,01 ở cả hai huyện nghiên cứu
Trang 6Bảng 2 Đặc điểm nhân khẩu của đối tượng nghiên cứu
Đặc điểm Sóc Sơn Lạng Giang Chung
Giới tính
Nhóm tuổi
Tình trạng hôn nhân
Sống với vợ/chồng
Ly hôn/ly
Tổng số 814 người được phỏng vấn, 779 người đã được lấy máu xét nghiệm tình trạng nhiễm HBV và HCV ở cả hai địa bàn nghiên cứu Trong tổng số 779 người có 388 người ở Sóc Sơn và 391 người ở Lạng Giang
Trang 7Bảng 3 Phân bố tỷ lệ đối tượng có HBsAg và Anti-HCV theo địa bàn nghiên cứu
Tình
trạng
viêm gan
Thị trấn Sóc Sơn (N=196)
Xã Tiên Dược (N=192)
Chung (N=388)
Thị trấn Vôi (N=192)
Xã Tân Thanh (N=199)
Chung (N=391)
(N=779)
HbsAg
Anti –
HCV (+)
n (%)
(5,2%)
19
21 (2,7%)
Tỷ lệ anti HCV ở Sóc Sơn cao hơn ở Lạng Giang (4,9% so với 0, 5%) một cách có ý nghĩa thống kê (p < 0,001) Sự khác biệt giữa tỷ lệ HBsAg ở Sóc Sơn (9,5%) so với Lạng Giang (6,4%) không có ý nghĩa thống kê với p = 0,105
Biểu đồ 1 Phân bố tỷ lệ đối tượng hiện có HBsAg và anti HCV theo loại nhiễm
Tỷ lệ các đối tượng dương tính với cả 2 loại xét nghiệm không cao, chiếm 0,3% Có 2/62 người nhiễm HBV có kết quả dương tính với xét nghiệm tìm anti HCV, chiếm tỷ lệ 3,3%
Trang 8Biểu đồ 2 Phân bố tỷ lệ đối tượng hiện có HBsAg theo nhóm tuổi và giới tính
Tỷ lệ hiện mắc HBsAg ở nữ cao hơn nam ở các nhóm tuổi từ 20 - 49 và thấp hơn ở nhóm 15-20 tuổi và 49 - 60 tuổi Trong nhóm nam, phân bố HBsAg khá đồng đều ở các lứa tuổi, chênh lệch về tỷ lệ HBsAg giữa nhóm cao nhất (10,1%) so với nhóm thấp nhất (6,5%) chưa đến 4% Trong khi đó, ở nhóm nữ, phân bố tỷ lệ HBsAg theo nhóm tuổi có
sự chênh lệch; nhóm có tỷ lệ mắc cao nhất là nhóm 40 - 49 tuổi (10,3%) so với nhóm có
tỷ lệ mắc thấp nhất là nhóm 49 - 60 tuổi (2,7%) Sự khác biệt này có ý nghĩa về mặt thống kê (p = 0,05)
Biểu đồ 3 Phân bố tỷ lệ hiện mắc anti HCV theo nhóm tuổi và giới tính
Trang 9Tỷ lệ mang anti HCV ở nữ cao hơn nam ở tất cả các nhóm tuổi Trong nhóm nữ, sự khác biệt về tỷ lệ mang anti HCV giữa các nhóm tuổi không đáng kể (nhóm có tỷ lệ mắc cao nhất là 4,9% so với tỷ lệ thấp nhất là 2,7%) Trong nhóm nam, do số người mang anti HCV thấp (chỉ có 2 đối tượng) nên việc so sánh không có ý nghĩa
Tiêm vaxin phòng nhiễm VGB thường được chỉ định cho những người chưa nhiễm HBV Đây được coi là biện pháp thực hành có hiệu quả trong phòng chống nhiễm HBV trong cộng đồng
Bảng 4 Tình hình tiêm phòng HBV theo địa bàn nghiên cứu.
Tiêm phòng
HBV
χ2 = 26.08; p < 0.001
Tỷ lệ tiêm phòng VGB ở cả hai địa bàn nghiên cứu là 10% Tỷ lệ tiêm phòng ở Sóc Sơn cao hơn ở Lạng Giang với tỷ lệ tương ứng là15,3% và 4,5% (p < 0,001)
Bảng 5 Phân bố tần suất các hành vi nguy cơ theo địa bàn nghiên cứu
Tần số
số
% Tiêm thuốc/truyền dịch
Nhận máu từ người khác
Trang 10Sóc Sơn Lạng Giang Chung
Tần
Dùng chung BKT
Chữa răng/làm răng
Phẫu thuật/mổ xẻ
Dùng chung kim châm cứu
Dùng chung bàn chải đánh răng
Trang 11Sóc Sơn Lạng Giang Chung
Tần
Tiêm thuốc và truyền dịch là các thực hành phổ biến Số liệu bảng 10 cho thấy 73,7% đối tượng được phỏng vấn đã truyền dịch ít nhất một lần, tỷ lệ này ở Lạng Giang cao hơn
so với ở Sóc Sơn (lần lược là 84,4% và 65,3%) Số người nhận máu truyền chỉ chiếm 1,97% trong tổng số người được hỏi
Đáng chú ý là tỷ lệ sử dụng kim tiêm ở Lạng Giang cao (37,4%) hơn so với ở Sóc Sơn (18,1%), p < 0,001 Tỷ lệ từng sử dụng kim tiêm dùng nhiều lần với tần suất nhiều hơn ba lần khá cao, tương ứng ở Sóc Sơn và Lạng Giang và Sóc Sơn là 30,1% và 8,4%
Sự chênh lệch giữa hai tỷ lệ một lần nữa cho thấy việc sử dụng kim tiêm dùng nhiều lần ở Lạng Giang là phổ biến hơn ở Sóc Sơn
Gần 11% cho biết còn sử dụng chung dao cạo râu Đặc biệt, khoảng 6,4% đối tượng báo cáo từng sử dụng chung dao cạo râu nhiều hơn ba lần Tỷ lệ dùng chung dao cạo râu
ở Lạng Giang cao hơn ở Sóc Sơn 8,8% so với 4,1%
Hành vi quan hệ tình dục với nhiều người không phổ biến, chỉ chiếm 1,6%, lần lượt
là 2% và 1,3% ở Sóc Sơn và Lạng Giang Với tính nhạy cảm của câu hỏi, ta có thể dự đoán kết quả tìm được là một ước lượng thấp của con số trong thực tế
Trang 12Biểu đồ 4 Phân bố tỷ lệ ba hành vi nguy cơ theo giới tính ở Lạng Giang
Đo lường mức độ phổ biến của ba hành vi nguy cơ (dùng chung BKT, dùng chung kim châm cứu, dùng chung bàn chải đánh răng) theo hai giới nam và nữ tại địa bàn Lạng Giang Tỷ lệ các hành vi nguy cơ đối chiếu theo giới có sự chênh lệnh nhưng không có ý nghĩa thống kê (p>0,05)
Bảng 6 Phân bổ tần suất hành vi sử dụng chung BKT theo nhóm tuổi ở hai địa bàn
nghiên cứu
Sử dụng chung
kim tiêm
Nhóm tuổi
15 – 20 20 – 29 30 – 39 40 – 49 49 – 60
Trang 13Hành vi sử dụng chung BKT khá phổ biến Sự phân bố của việc sử dụng chung BKT theo nhóm tuổi cho thấy việc sử dụng chung BKT diễn ra nhiều nhất tại nhóm tuổi trên
49 (lớn hơn 40%) Hầu hết những đối tượng có sử dụng chung BKT đều là những người
có hành vi này nhiều lần (đặc biệt có nhóm có mức độ thường xuyên, 23% nhóm trên 40 tuổi dùng chung nhiều hơn ba lần) Chỉ có một số ít đối tượng sử dụng chung BKT một lần
Tại Lạng Giang, việc sử dụng chung BKT diễn ra có phần nhiều hơn so với Sóc Sơn
Bảng 7 Phân bổ tần suất hành vi sử dụng chung bàn chải đánh răng theo nhóm tuổi ở
hai địa bàn nghiên cứu
Sử dụng chung
bàn chải đánh
răng
Nhóm tuổi
15 - 20 20 – 29 30 – 39 40 – 49 49 – 60
Tại Sóc Sơn tỷ lệ hành vi sử dụng chung bàn chải đánh răng cao nhất tại nhóm 40-49 tuổi (27,6%), tỷ lệ tương ứng ở Lạng Giang là 40,4% ở nhóm 49 – 60 tuổi
Bảng 8 Mối liên quan giữa nhận máu với tình trạng có HBsAg tại Sóc Sơn
Nhận máu
HBsAg
χ2 = 0,01; p = 0,32; OR = 0,9; KTC 95% (0,02 – 6,6)
Trang 14Tỷ lệ có HBsAg trong nhóm có nhận máu không thấp hơn nhiều so với nhóm chưa từng nhận máu từ người khác; 9,1% so với 10,9% và không có sự kết hợp giữa thống kê giữa hai yếu tố
Bảng 9 Mối liên quan giữa việc nhận máu với việc mang anti HCV tại Sóc Sơn
Nhận máu
Anti HCV
χ2 = 0,75; p = 0,39; OR = 2,5; KTC 95% (0,3 – 21,1) Kết quả cho thấy những người nhận máu từ người khác co khả năng bi có anti HCV cao gấp 2,5 lần so với những người không nhận máu Tuy nhiên sự kết hợp này không có
ý nghĩa thống kê (p = 0,39 > 0,05) Mặc dù vậy, với khoảng tin cậy 95% rộng (0,3 - 21,1)
có xu hướng nghiêng về sự kết hợp dương tính cho ta gợi ý về sự thiếu hụt mẫu nghiên cứu trong việc đảm bảo sự kết hợp có ý nghĩa thống kê giữa việc nhận mãu với lây nhiễm HCV
Bảng 10 Đo lường mối liên quan giữa việc nhận máu với lây nhiễm HBsAg tại Lạng
Giang
Nhận máu
HBsAg
χ2 = 5,86; p = 0,016; OR = 6,3; KTC 95% (1,1 – 34,6) Những người nhận máu có khả năng có HBsAg cao gấp 6,3 lần người không nhận máu từ người khác
Phân tích đo lường mối liên quan giữa dùng chung BKT, mổ xẻ, dùng chung kim châm cứu với tình trạng mang HBsAg cho thấy không có mối liên quan giữa các yếu tố này với tình trạng mang HBsAg
Không có mối liên quan giữa nhận máu từ người khác, dùng chung kim châm cứu với tình trạng mang HCV