1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận về chữ quốc ngữ

17 3,6K 17

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 146,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề bài: Nêu những điểm bất hợp lí của chữ quốc ngữ và nêu giải pháp khắc phục.A.ĐẶT VẤN ĐỀ Kh«ng ph¶i n­íc nµo còng cã ng«n ng÷ riªng, nh­ Singapho ph¶i dïng tiÕng Anh vµ Trung Quèc. V× vËy, chóng ta tù hµo khi cã ng«n ng÷ riªng, ®ã lµ tiÕng ViÖt. Góp phần quan trọng làm nên giá trị tinh thần vô giá của dân tộc là ngôn ngữ, là tiếng nói mang màu sắc của dân tộc. Tiếng Việt có nguồn gốc rất cổ xưa và đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài, đầy sức sống. Sức sống đó biểu hiện tinh thần dân tộc mạnh mẽ và sáng tạo của nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh anh dũng vì tiền đồ của đất nước, trong sự phấn đấu bền bỉ để xây dựng và phát triển một nền quốc ngữ, quốc văn, quốc học Việt Nam. Đặc biệt, tiếng Việt của dân tộc ta lại tìm được một kí tự ghi chép rất hữu dụng, đó là chữ quốc ngữ. Nói về vai trò của chữ quốc ngữ với lịch sử và sự phát triển dân tộc, các nhà biên soạn SGK Ngữ văn 10 đã nói: “Chữ quốc ngữ là một hệ thống chữ viết ưu việt nhất hiện nay, có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội và sự phát triển của đất nước ta hiện nay.”. Và nói như Nguyễn Văn Vĩnh đã nói “chữ Việt còn thì nước ta còn”. Ngày nay không ai có thể tưởng tượng điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta không có chữ quốc ngữ. Tuy nhiên, không phải nó không có nhược điểm. Tìm hiểu những nhược điểm này để đưa cách khắc phục, làm chữ quốc ngữ dễ viết, dễ sử dụng hơn. Từ đó, góp phần đưa tiếng Việt đóng góp tích cực hơn vào công cuộc xây dựng đất nước và được phổ biến rộng rãi trên thế giới. Bài viết sẽ đi sâu vào các điểm bất hợp lí của chữ quốc ngữ và cách khắc phục nó.

Trang 1

Đề bài: Nờu những điểm bất hợp lớ của chữ quốc ngữ và nờu giải phỏp khắc phục

A ĐẶT VẤN ĐỀ

Không phải nớc nào cũng có ngôn ngữ riêng, nh Singapho phải dùng tiếng Anh và Trung Quốc Vì vậy, chúng ta tự hào khi có ngôn ngữ riêng,

đó là tiếng Việt Gúp phần quan trọng làm nờn giỏ trị tinh thần vụ giỏ của dõn tộc là ngụn ngữ, là tiếng núi mang màu sắc của dõn tộc Tiếng Việt

cú nguồn gốc rất cổ xưa và đó trải qua một quỏ trỡnh phỏt triển lõu dài, đầy sức sống Sức sống đú biểu hiện tinh thần dõn tộc mạnh mẽ và sỏng tạo của nhõn dõn Việt Nam trong cuộc đấu tranh anh dũng vỡ tiền đồ của đất nước, trong sự phấn đấu bền bỉ để xõy dựng và phỏt triển một nền quốc ngữ, quốc văn, quốc học Việt Nam

Đặc biệt, tiếng Việt của dõn tộc ta lại tỡm được một kớ tự ghi chộp rất hữu dụng, đú là chữ quốc ngữ Núi về vai trũ của chữ quốc ngữ với lịch

sử và sự phỏt triển dõn tộc, cỏc nhà biờn soạn SGK Ngữ văn 10 đó núi:

“Chữ quốc ngữ là một hệ thống chữ viết ưu việt nhất hiện nay, cú vai trũ quan trọng trong đời sống xó hội và sự phỏt triển của đất nước ta hiện nay.” Và núi như Nguyễn Văn Vĩnh đó núi “chữ Việt cũn thỡ nước ta cũn” Ngày nay khụng ai cú thể tưởng tượng điều gỡ sẽ xảy ra nếu chỳng

ta khụng cú chữ quốc ngữ

Tuy nhiờn, khụng phải nú khụng cú nhược điểm Tỡm hiểu những nhược điểm này để đưa cỏch khắc phục, làm chữ quốc ngữ dễ viết, dễ sử dụng hơn Từ đú, gúp phần đưa tiếng Việt đúng gúp tớch cực hơn vào cụng cuộc xõy dựng đất nước và được phổ biến rộng rói trờn thế giới Bài viết sẽ đi sõu vào cỏc điểm bất hợp lớ của chữ quốc ngữ và cỏch khắc phục nú

Trang 2

B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1 Khái quát về chữ quốc ngữ

- Nguồn gốc

Vào nửa đầu thế kỉ XVII, một số giáo sĩ phương Tây đã dựa vào bộ chữ cái La-tinh để xây dựng một thứ chữ mới ghi âm TV, nhằm phục vụ cho việc truyền giảng đạo Thiên chúa, sau này được gọi là chữ quốc ngữ Chữ quốc ngữ ở thời kỳ đầu còn chịu nhiều ảnh hưởng của cách ghi âm theo tiếng nước ngoài Trong vòng 2 thế kỉ tiếp theo, chữ quốc ngữ được cải tiến từng bước và cuối cùng đã đạt tới hình thức ổn định và hoàn thiện như ngày nay

- Chữ cái

Theo từ điển wikipedia.org, chữ quốc ngữ có 29 chữ cái là:

A Ă Â B C D Đ E Ê G H I K L M N O Ô Ơ P Q R S T U Ư V X Y

a ă â B c d đ E ê G H I k l m n O ô Ơ p q R s t u ư v x y Mỗi chữ cái đều có hai hình thức viết lớn và viết nhỏ Kiểu viết lớn gọi là "chữ hoa", khi dùng ở dạng viết tay còn được gọi là "chữ viết hoa", khi dùng ở dạng chữ in còn được gọi là "chữ in hoa" Kiểu viết nhỏ gọi là

"chữ thường"

Chữ quốc ngữ có 11 chữ cái ghép do hai hay ba chữ cái tạo thành dùng để ghi lại các phụ âm của tiếng Việt 11 chữ cái ghép của chữ quốc ngữ bao gồm:

 10 chữ cái ghép đôi do hai chữ cái tạo thành: ch, gh, gi, kh, ng, nh,

ph, qu, th, tr

 1 chữ cái ghép ba do ba chữ cái tạo thành: ngh

Bốn chữ cái "f", "j", "w" và "z" không được dùng để ghi lại âm vị nào của tiếng Việt, nhưng chúng có thể xuất hiện khi biểu hiện nguyên mẫu danh từ riêng chỉ tên người và danh từ chung chỉ địa danh của tiếng

Trang 3

dân tộc khác không phải dân tộc Kinh (kể cả tiếng nước ngoài) và tên viết tắt từ tiếng nước ngoài

Có sáu nguyên âm đơn chính: A, E, I, O, U, Y nhưng chỉ tính là năm (I và Y phát âm gần giống nhau và có thể thay thế nhau trong một số trường hợp) và sáu nguyên âm biến thể do được thêm dấu là Ă, Â, Ê, Ô,

Ơ và Ư Như vậy, có 11 nguyên âm đơn

Ngoài các nguyên âm đơn, trong tiếng Việt còn có: 32 nguyên âm đôi, còn gọi là trùng nhị âm (AI, AO, AU, ÂU, AY, ÂY, EO, ÊU, IA, IÊ/

YÊ, IU, OA, OĂ, OE, OI, ÔI, ƠI,OO,ÔÔ, ƠU,UA, UĂ, UÂ, ƯA, UÊ,

UI, ƯI, UÔ, UƠ, ƯƠ, ƯU, UY) và 19 nguyên âm ba hay trùng tam âm (IÊU/YÊU, OAI, OAO, OAY, OEO, UAI, UAO, UAU, UÂU, UAY, UÂY, UEO, UÊU, UÔI, ƯƠI, ƯƠU, UYA,UYÊ, UYU)

- Thanh điệu: Tiếng Việt là ngôn ngữ thanh điệu, mọi âm tiết của tiếng Việt đều luôn mang một thanh điệu nào đó: ngang, huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng

- Dấu câu: Dưới đây là các dấu câu được dùng trong chữ quốc ngữ:

Dấu chấm, còn gọi là dấu chấm câu:.

Dấu phẩy", còn gọi "dấu phết":,

Dấu hỏi, còn gọi là dấu chấm hỏi, dấu hỏi chấm: ?

Dấu chấm than, còn gọi là dấu cảm thán: !

Dấu chấm lửng, còn gọi là dấu ba chấm, dấu tỉnh lược: có hai

dạng là "…" và " "

Dấu dẫn: có hai loại là

Dấu dẫn đơn: có hai dạng là dấu dẫn đơn kiểu Anh Mỹ (' '),

còn gọi là dấu nháy đơn, và dấu dẫn đơn kiểu Pháp Nga (‹ ›), còn gọi là dấu ngoặc nhọn Ngoài chỉ dấu dẫn đơn kiểu Pháp Nga, tên gọi "dấu ngoặc nhọn" còn được cũng được dùng để chỉ phù hiệu "⟨ ⟩" và "< >"

Trang 4

Dấu dẫn kép, còn gọi là dấu ngoặc kép: có hai dạng là dấu

dẫn kép kiểu Anh Mỹ (" "), còn gọi là dấu nháy kép, và dấu dẫn kép kiểu Pháp Nga (« »)

Dấu chấm phẩy,còn gọi là" chấm phết : ;

Dấu hai chấm::

Dấu ngoặc, còn gọi là dấu ngoặc ôm: có ba loại là

Dấu ngoặc tròn, còn gọi là dấu ngoặc đơn: ()

Dấu ngoặc vuông: [ ]

Dấu ngoặc xoắn: { }

Dấu gạch ngang: có ba loại là

Dấu liên tự:

- Dấu liên tiếp: –

Dấu phá chiết: —

2 Các điểm bất hợp lí của chữ quốc ngữ

Không ai nghi ngờ gì về những ưu điểm của hệ thống chữ viết kí

âm dựa theo bảng chữ cái Latin này Nhưng nói thế không phải là hệ thống chữ viết này đã hoàn hảo Nó được tạo ra từ nhiều nguồn tri thức bản ngữ khác nhau nên nó đã có một số khuyết điểm tự thân cần phải khắc phục để được nhất quán

2.1 Vềhệ thống phiên âm vị học

2.1.1 Về mối quan hệ giữa chữ viết và âm đọc

Theo Đoàn Xuân Kiên trong bài “Chữ quốc ngữ qua những biển dâu” có thể phân các bất hợp lí của chữ quốc ngữ thành hai phần:

2.1.1.1 Những sự thay đổi tự nhiên qua thời gian khiến cho chữ viết không còn ghi đúng nội dung âm thanh tiếng nói

Kiểu nói phân biệt /d/ và /gi/ này đã dần dần biến mất, mà có khuynh hướng đồng hoá Nhưng chữ viết vẫn không thay đổi theo

Hình thức viết gi và d hiện nay vẫn là theo mẫu mực của thế kỉ XVII.

Trang 5

Nếu không dựa vào lịch sử phát âm như thế, khó có thể hiểu tại sao lại

viết giản dị mà không thể viết dản dị được

Hiện tượng chữ PH cũng đáng chú ý Chúng ta không bao giờ có

P đứng đầu các chữ Chỉ có PH Hiện giờ, chữ F và PH đang có cách

đọc giống nhau (khi phát âm chữ này, môi cử động rất nhẹ và hơi rít cũng chỉ qua loa), vì thế phải chăng nên xếp hai chữ ấy làm một

2.1.1.2 Những hiện tượng đi lạc ra ngoài nguyên tắc “mỗi kí hiệu chuyên chở một đơn vị âm thanh của ngôn ngữ”

Bộ chữ cái Latin dùng để ghi âm tiếng Việt tất nhiên là cũng theo nguyên tắc chung của một hệ thống chữ viết ghi âm: mỗi chữ cái là một kí hiệu ghi lại một âm thanh Thế nhưng trong chữ quốc ngữ của chúng ta, không phải lúc nào cũng có sự trùng khít giữa chữ cái và nội dung các âm thanh Cụ thể:

- Không phải chữ cái nào cũng biểu thị một âm vị duy nhất Có những chữ cái biểu thị nhiều âm vị khác nhau của tiếng Việt Nhất là nguyên

âm, một nguyên âm có thể biểu thị cho vài cách phát âm khác nhau, tùy theo nó nằm trong nguyên âm đơn, đôi hay ba Đã rắc rối vậy rồi mà khi đem những chữ cái ấy đặt trong tiếng để đánh vần, ta còn thấy nảy sinh nhiều cách đọc khác nữa, mà cũng không lí giải được

Ví dụ 1 là trường hợp có những chữ cái biểu thị nhiều âm vị khác nhau của tiếng Việt: Trừ ba chữ cái "đ" (đờ), "k" (ca) và "q" (quy, cu, quờ) ra thì tất cả các chữ cái quốc ngữ biểu thị phụ âm khác đều có hai kiểu tên gọi: kiểu thứ nhất là bắt nguồn từ tên gọi của nó trong tiếng Pháp, kiểu thứ hai là ghép phụ âm mà nó biểu thị với nguyên âm "ơ" và thanh huyền Ví dụ như chữ "c" có hai tên gọi là "xê" và "cờ", trong đó

"xê" bắt nguồn từ tên gọi của chữ cái "c" trong tiếng Pháp là "cé" [se] Khi đánh vần từ tiếng Việt người ta sẽ dùng kiểu tên gọi thứ hai, không dùng kiểu tên gọi thứ nhất, ví dụ như từ "cá" được đánh vần là "cờ a cá

Trang 6

sắc cá", không được đánh vần là "xê a ca sắc cá" Nhưng hiện nay trừ trường hợp đánh vần tiếng Việt đã nêu ở trên ra và ba chữ cái "d", "k",

"q" thì người ta thường gọi tên các chữ cái biểu thị phụ âm bằng kiểu thứ nhất, ví dụ như "VAT" (tên gọi tắt theo tiếng Anh của thuế giá trị gia tăng) được đọc là "vê a tê", không gọi là "vờ a tờ"

Ví dụ thứ 2 là sự thay đổi âm đọc của nguyên âm khi ghép nguyên

âm đôi, ba Tiêu biểu là ă đọc là / á/ Nhưng khi ghép vần với n /n/, đọc

là /á – n à ăn/, chúng ta không hiểu sao không thấy dấu sắc / ’/ nữa Nếu theo trực quan phải là / á – n à án / nhưng vì ă khi kết hợp với n

thì bị thay đổi âm đọc nên ta mới có cách đọc trên

Ví dụ 3: đây là trường hợp một âm ghi bằng một con chữ song lại đánh vần khác nhau Con chữ “giê” (g) trong “gà” là:

gờ-a-ga-huyền-gà Song con chữ “giê”(g) trong “giết” là: giờ-iêt-sắc-giết

- Cũng không phải âm vị nào cũng được biểu thị bằng một cách duy nhất Có một số âm vị của tiếng Việt được ghi lại bằng nhiều cách khác nhau

Ví dụ 1 là hiện tượng c, k, qu Cả ba chữ đều đọc là /k/ song cách viết lại khác nhau, cách kết hợp với nguyên âm cũng khác Chữ C chỉ

ở vị trí đầu các tiếng có nguyên âm A, Ô, Ơ, U, Ư; còn K chỉ đứng với nguyên âm Ê và I, chẳng hạn: kẻ, kĩ…Điều này gây ra nhiều nhầm

lẫn, không lí giải được

Ví dụ 2 là: ng và ngh cùng âm đọc là /ng/ song cách viết khác

nhau Điều này làm các học sinh tiểu học rất hay mắc lỗi chính tả Các

em được dạy ng đọc là /ngờ/ nên cứ yên trí là ngề ngiệp đúng chính tả, như ngọc ngà vậy thôi.

Ví dụ thứ 3 là y và i Hai chữ viết khác nhau song cùng âm đọc là /i/,

vì vậy nó có thể dùng thay cho nhau trong nhiều trường hợp Đã có quyết

Trang 7

định của Bộ Giáo dục Việt Nam vào năm 1984, quy định dùng i thay cho y Quy chuẩn này không áp dụng cho các nguyên âm đôi và nguyên

âm ba, cũng như ngoại trừ tên riêng; nhưng vẫn có hạn chế trong việc thực thi trong cuộc sống Trường hợp các từ có phụ âm đầu là qu, sử dụng vần y thì sẽ đúng hơn

2.1.2. Về vấn đề sử dụng kí tự

2.1.2.1 Về chữ

- Những trường hợp viết thiếu nhất quán mà không có quy tắc là:

viết phân biệt – i và – y; kèm theo đó viết âm đệm /w/ bằng con chữ u và o.

Chữ quốc ngữ đã dùng con chữ I vừa để viết nguyên âm /i/ (trong bi,

in, it,v.v…), vừa để viết bán nguyên âm /j/ (trong ai, oi, ui,v.v…) Trong

tiếng Việt, bán nguyên âm /j/ chỉ xuất hiện ở vị trí cuối âm tiết, ghép sau một nguyên âm, ở vị trí này không thể có nguyên âm /i/ Như vậy, hai âm

vị này không bao giờ xuất hiện ở cùng một vị trí trong cấu tạo âm tiết, cho nên, để tiết kiệm số lượng kí hiệu trong bộ kí hiệu, có thể ghi bằng cùng một kí hiệu I Nhưng bất hợp lí ở đây là điều này đã không được áp dụng một cách nhất quán: trong một số trường hợp, lại dùng Y thay cho I,

và đã hình thành các quy tắc phức tạp sau đây:

+ Nguyên âm /i/ một mình làm thành âm tiết: viết Y: Y (học), Ỷ (lại)

+ Nguyên âm /i/ ở đầu âm tiết, trong âm tiết có hai âm vị: viết I: IN,

IT, INH, IU, IA (nguyên âm đôi ia (/ / coi như là một tổ hợp hai âm vị)

+ Nguyên âm /i/ ở đầu âm tiết, trong âm tiết có ba âm vị: viết Y:

YÊU, YÊN, YÊT (thật ra, đây là tổ hợp nguyên âm đôi / / với một phụ âm cuối hoặc bán nguyên âm cuối)

Trang 8

+ Nguyên âm /i/ ở vị trí thứ hai trong cấu tạo âm tiết, sau một phụ

âm đầu: viết I: BI, TIN, TIÊU, NHIÊN

+ Nguyên âm /i/ sau bán nguyên âm /w/: viết Y: UY, TUY, HUYNH, QUYÊN

+ Bán nguyên âm /j/:

Viết I: AI, OI, ÔI, ƠI, UÔI, ƯI, ƯƠI;

trừ hai trường hợp sau đây (sau một nguyên âm ngắn) viết Y: AY,

ÂY (thật ra có thể viết ĂI, ÂI)

Những người sáng chế ra chữ quốc ngữ đã lúng túng trước yêu cầu phải viết phân biệt /wi/ với /uj/ Nhưng đáng lẽ nên viết phân biệt bán nguyên âm /w/ với nguyên âm /u/, vì bán nguyên âm /w/ được sử dụng khá rộng rãi, và viết, chẳng hạn, WI, phân biệt với UI, thì họ đã chọn giải pháp viết phân biệt bán nguyên âm /j/ với nguyên âm /i/, và viết UY, UI Tóm lại, Y dùng thay cho I trong ba trường hợp: khi đứng một mình: Y; khi đứng ở đầu âm tiết mà theo sau lại có hai con chữ nữa: YÊU, YÊN, YÊT (nhưng viết INH, ICH, vì NH, CH coi như là những con chữ kép); và trong các tổ hợp UY, AY, ÂY

Điều này làm rắc rối thêm là dần dần lại đã hình thành những lỗi chính tả làm thành những ngoại lệ cho các quy tắc đã quá phức tạp nói ở trên:

+ Khi đứng một mình, có thể vẫn viết I, chứ không viết Y, nhưng chỉ trong một số trường hợp, thường là với những từ gọi là thuần Việt: (sức)

Ì, Ì (ạch), (trẻ) Ị (nhưng nhiều người vẫn chỉ viết (lợn) Ỷ)

+ Riêng /kwi/ có thể viết QUY hoặc QUI, và /kwit/ thường chỉ viết QUIT, không viết QUYT

+ Điều đặc biệt là chỉ riêng với mấy âm tiết hi, ki, li, mi, ti (và trong một thời kì cả si), tuỳ từng từ, tuỳ từng hình vị mà nguyên âm /i/ được

Trang 9

viết bằng I hay Y: LI (bì), LI TI, nhưng (biệt) LY, LY (rượu); HỈ (mũi), nhưng lại (báo) HỶ Đây là kết quả của một thói quen không rõ từ đâu, bắt đầu hình thành từ cuối thế kỉ XIX Đầu thế kỉ này, người ta đã có nhận xét về "cái thói quen dùng Y thay cho I trong một số trường hợp" này, và cho đó là một "sự thay thế hoàn toàn không có lí do" Thật vậy, trong Từ điển A de Rhodes, thế kỉ XVII, nguyên âm /i/ trong những âm tiết này cũng chỉ viết I, không hề viết Y Trong từ điển Taberd (1838),

thấy xuất hiện cách viết LY, nhưng chỉ trong mấy từ: (họ)Lý, hương lý,

đạo lý; trong Từ điển Legrand de la Liraye (1868)m bên cạnh LY còn

thấy thêm KY: ký, kỳ, kỷ Dần dần, không phải chỉ có LY, KY bên cạnh

LI, KI, mà còn có thêm HY, MY, TY, và cả SY (một dạo nhiều người

quen viết (bác) SỸ), bên cạnh HI, MI, TI, SI Điều này tạo ra một bất hợp

lí hoàn toàn không có quy tắc, và một sự lộn xộn thấy rõ khi so sánh,

chẳng hạn, cách viết một số từ trong bốn quyển từ điển tiếng Việt xuất

bản trong vòng ba mươi năm lại đây (Từ điển Việt Nam phổ thông của Đào Văn Tập, viết tắt ĐVT; Từ-điển Việt-Nam của Thanh Nghị: TN; Việt-Nam Tự-Điển của Lê Văn Đức: LVĐ; và Từ điển tiếng Việt, Văn Tân chủ biên: VT):

KÌ cọ KỲ cọ KÌ/KỲ cọ KỲ cọ

KÌ kèo KÌ kèo KÌ/ kèo KỲ kèo

HY sinh HY sinh HI/HY sinh HI sinh

MỴ dân MỊ dân MỊ dân MỊ dân

- Một vấn đề gây tranh cãi khá náo nhiệt trong những năm gần đây

là nên chuyển các tên riêng nước ngoài (chủ yếu là nhân danh, địa danh) vào văn bản tiếng Việt như thế nào Sở dĩ gây tranh cãi, chỉ là vì có những chủ trương đưa ra theo kiểu loại trừ, chỉ thế này mà không được như thế kia Họ chia làm hai nhóm: một nhóm chỉ chấp nhận để nguyên

Trang 10

dạng (hoặc chuyển tự), một nhóm khác chỉ chấp nhận phiên âm (trong nhóm này còn có bất đồng về vấn đề viết liền, viết cách có dấu nối hay không có dấu nối…) Mặc dù chữ viết đòi hỏi phải được thống nhất cao

độ, song một khi đụng chạm đến sự phân biệt các phong cách ngôn từ và môi trường sử dụng khác nhau của ngôn ngữ, thì chữ viết phải thể hiện cho được sự phân biệt này

- Theo Lê Thời Tân, trong bài viết Chữ cái La tinh - phiên âm Hán

ngữ và chữ Quốc ngữ của ta, việc viết tắt từ ngữ và tạo lập tên gọi bằng

các tắt tố theo chữ cái là một hiện tượng khá nổi bật trong các loại văn bản tiếng Việt hiện nay Dễ dàng nhận thấy sự cần thiết của những đơn vị

từ ngữ viết tắt như vậy, do chỗ chúng thực hiện nguyên tắc tiết kiệm trong tạo lập và sử dụng ngôn từ

Ðiều khiến nhiều người quan tâm là đây đó, nhất là trên báo chí, đã

có sự lạm dụng các định danh tắt, có sự lộn xộn gây trở ngại cho việc tiếp nhận văn bản

2.1.2.2 Về dấu trong chữ, tiếng

Có quá nhiều dấu phụ để ghi thanh điệu và các mũ chữ như: I, ê, â,

ă, ư, ơ, ô,…Điều này gây khó khăn lớn cho người tập viết và đặc biệt là việc in ấn Đối với người nước ngoài thì dấu phụ này quả là một mê hồn trận

2.2 Về mặt ngữ nghĩa

GS Cao Xuân Hạo trong Tiếng Việt, mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp,

quốc ngữ “có tính chất thuần tuý ghi âm, và hoàn toàn bất lực trước nhiệm vụ biểu hiện nghĩa mà lẽ ra nó phải đảm đương, và nhược điểm ấy

lộ rõ nhất và tai hại nhất là trong trường hợp các từ đồng âm vốn có rất nhiều trong tiếng Việt.”

3 Cách khắc phục

Ngày đăng: 16/01/2016, 23:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w