Trong lý luận và phê bình văn học hiện nay, một thành tựu của đổi mới là sự quan tâm ngày càng nhiều đối với vấn đề nhà văn, người đọc, tác phẩm. Trong quá trình đổi mới và giao lưu, hội nhập nhiều năm nay, thái độ hẹp hòi trong cái nhìn về vấn đề dần dần được sửa chữa, thông thoáng, rộng rãi hơn. Một thời gian dài nghiên cứu văn học chỉ tập trung vào mối quan hệ tác giả – tác phẩm mà coi nhẹ vấn đề bản thân tác phẩm và vấn đề quan hệ tác phẩm – độc giả. Chủ nghĩa cấu trúc và lý thuyết tiếp nhận có công chuyển dịch chủ ý của chúng ta sang nghiên cứu vấn đề bản thân tác phẩm và vấn đề quan hệ tác phẩm độc giả, từ lý luận sáng tác chuyển sang lý luận phê bình và khâu trung gian giữa sáng tác và phê bình. Nó làm tác phẩm như một thực thể có cấu trúc bên trong đồng thời cân bằng hai phía giao tiếp văn học, mở ra những triển vọng nghiên cứu phong phú, thú vị, có khả năng thâm nhập thêm vào quá trình hoạt động của văn học trong tâm lý con người và sinh hoạt xã hội. Tuy nhiên, đây vẫn là một vấn đề còn nhiều điều mới lạ, nhất là khi chúng ta được tiếp xúc với nhiều tác phẩm hiện đại – nơi mà cách xây dựng tác phẩm rất đa dạng. Ở đó, ta gặp trường hợp nhân vật được xây dựng trong tác phẩm như một người đọc. Trong bài viết này, chúng tôi sẽ tập trung làm rõ điều đó qua nhân vật nhà văn trong tác phẩm “Những ngã tư và những cột đèn” của Trần Dần.
Trang 1TIỂU LUẬN:
NHÂN VẬT NHƯ NGƯỜI ĐỌC (QUA TRƯỜNG HỢP NHÂN VẬT NHÀ VĂN TRONG “NHỮNG NGÃ TƯ VÀ NHỮNG CỘT ĐÈN”)
1 Đặt vấn đề
Trong lý luận và phê bình văn học hiện nay, một thành tựu của đổi mới
là sự quan tâm ngày càng nhiều đối với vấn đề nhà văn, người đọc, tác phẩm Trong quá trình đổi mới và giao lưu, hội nhập nhiều năm nay, thái
độ hẹp hòi trong cái nhìn về vấn đề dần dần được sửa chữa, thông thoáng, rộng rãi hơn Một thời gian dài nghiên cứu văn học chỉ tập trung vào mối quan hệ tác giả – tác phẩm mà coi nhẹ vấn đề bản thân tác phẩm và vấn đề quan hệ tác phẩm – độc giả Chủ nghĩa cấu trúc và lý thuyết tiếp nhận có công chuyển dịch chủ ý của chúng ta sang nghiên cứu vấn đề bản thân tác phẩm và vấn đề quan hệ tác phẩm - độc giả, từ lý luận sáng tác chuyển sang
lý luận phê bình và khâu trung gian giữa sáng tác và phê bình Nó làm tác phẩm như một thực thể có cấu trúc bên trong đồng thời cân bằng hai phía giao tiếp văn học, mở ra những triển vọng nghiên cứu phong phú, thú vị, có khả năng thâm nhập thêm vào quá trình hoạt động của văn học trong tâm lý con người và sinh hoạt xã hội Tuy nhiên, đây vẫn là một vấn đề còn nhiều điều mới lạ, nhất là khi chúng ta được tiếp xúc với nhiều tác phẩm hiện đại – nơi mà cách xây dựng tác phẩm rất đa dạng Ở đó, ta gặp trường hợp nhân vật được xây dựng trong tác phẩm như một người đọc Trong bài viết này, chúng tôi sẽ tập trung làm rõ điều đó qua nhân vật nhà văn trong tác phẩm “Những ngã tư và những cột đèn” của Trần Dần
2 Nội dung chính
2.1 Nhân vật như người đọc
Trang 2Đầu tiên, ta cần hiểu khái niệm nhân vật và người đọc Nhân vật là con người hoặc sự vật được nhà văn miêu tả trong tác phẩm bằng phương tiện văn học Nhân vật truyện ngắn có thể là con người có tên, có thể là những người không có tên hay có thể là một đại từ nhân xưng nào đó (như tôi, ta, ) Trong nhiều tác phẩm văn học hiện đại, nhân vật và tác giả như hòa trộn làm một trong nhiệm vụ trần thuật Người đọc là người tiếp nhận văn bản tác phẩm thông qua việc đọc, cảm nhận, thậm chí đồng sáng tạo Trong nhiều tác phẩm văn học hiện đại, người đọc và tác giả cũng gần như hòa làm một để cùng đồng sáng tạo nên tác phẩm
Qua khái niệm trên, ta thấy giữa người đọc và nhân vật có mối tương giao chặt chẽ Thông qua quan hệ với tác giả mà nhân vật và người đọc đã tìm được con đường đến với nhau Vì nhân vật là một phần của tác phẩm nên nó tất yếu có quan hệ gắn bó với người đọc Mối quan hệ này có nhiều cấp độ, từ việc chỉ biết tới thấu hiểu và cao nhất là hòa nhập vào nhau Ở bài viết này, chúng tôi đang đề cập tới cấp độ cao nhất này: nhân vật và người đọc là một Tuy nhiên, không phải ở tác phẩm nào ta cũng thấy mối quan hệ ở cấp độ này Điều kiện đặt ra phải là:
- Thứ nhất, nhân vật và tác giả như hòa trộn làm một trong nhiệm vụ trần thuật
- Thứ hai, người đọc và tác giả bình đẳng trong việc đồng sáng tạo nên tác phẩm
Quá trình tạo ra mối quan hệ này bắt nguồn từ khâu sáng tác Nhà văn khi sáng tác đã cố ý nhập vai trần thuật của mình và nhân vật vào nhau Nhờ việc hòa hợp điểm nhìn nhân vật với điểm nhìn tác giả mà nhà văn đã thể hiện được nét riêng của nhân vật từ suy nghĩ, nói năng tới hành động
mà vẫn đảm bảo tính khách quan Ở kiểu trần thuật này, lời người trần thuật xưng tôi kể chuyện về mình, kể về những gì mình đã trải qua, đã chứng kiến với vai trò chủ động giữ quyền kể chuyện từ đầu đến cuối tác
Trang 3phẩm Nó tạo cảm giác gần gũi, chân thật vì người trần thuật tham gia trực tiếp vào câu chuyện, xuất hiện như một con người thực, hiện hữu trong thế giới mà các nhân vật đang sinh sống và hoạt động Nhưng qua đó, ta vẫn thấy sự dẫn dắt, đánh giá, nhận xét, đan lồng kể chuyện miêu tả của nhà văn Tiếp đó, trong quá trình tiếp nhận, nhà văn và người đọc lại tìm thấy tiếng nói chung Người đọc như ở trong tác phẩm, người đọc và người viết nhiều khi không tách biệt, đôi khi người đọc còn lấn át người viết Người đọc nhìn qua vai nhân vật Tác phẩm văn học sinh ra từ tâm hồn và trí tuệ nhà văn trong một quá trình hoạt động tâm lý tư duy và ngôn ngữ, kết thúc thành một văn bản ngôn ngữ, sau đó văn bản bắt đầu sự sống của nó trong ngôn ngữ và tư duy của người đọc để đi vào tâm hồn và trí tuệ của người đọc cũng như một quá trình hoạt động tâm lý Như vậy, theo lý tự nhiên thì tác phẩm văn học ra đời trong qúa trình sáng tác của nhà văn thành một văn bản Văn bản tồn tại khách quan, độc lập ngay đối với người viết (người viết sẽ thành người đọc khi đọc lại văn bản tác phẩm của mình) Từ văn bản, tác phẩm sống dậy trong quá trình tiếp nhận của người đọc, người đọc tiếp nhận văn bản tác phẩm như một thông điệp tức một lời nhắn gửi của người viết Đây là tính chất mở của văn bản, là tiền đề để văn bản văn học trở thành tác phẩm văn học Vì thế, hoạt động tiếp nhận văn học là quá trình biến đổi theo những biến động xã hội và tầm đón đợi của người đọc Như vậy, “nhân vật và người đọc là một” chỉ tới mối quan hệ gắn bó cao nhất giữa nhân vật trong tác phẩm và người đọc tác phẩm đó Quan hệ
đó là mối quan hệ tương tác có tính chất đối thoại, mang tính bình đẳng, không phải là một quan hệ phụ thuộc, áp đặt quyền uy lên nhau Đây cũng
là một quá trình chuyển hóa nội tại, là sự thẩm thấu vào nhau giữa thế giới của người đọc và thế giới của văn bản được tác giả tạo nên Nó dựa trên chủ ý xây dựng và sự bình đẳng trong tiếp nhận của độc giả Biểu hiện của mối quan hệ này là:
Trang 4- Mọi điều về nhân vật (tâm lí, hành động, lời nói, số phận,…) đều
mở Từ xưa Phương Đông đã có mệnh đề: Thi tại ngôn ngoại và văn hữu
dư ba Áp dụng vào nhân vật trong tiểu thuyết, ta cũng thấy rõ điều này, như trong các tác phẩm kinh điển: “Hồng lâu mộng”, “Cuốn theo chiều gió”, số phận nhân vật ở cuối tác phẩm không được nói rõ Người đọc tự phán đoán với nhiều hướng khác nhau Còn có người viết hẳn thêm cuốn tiểu thuyết khác để bổ sung phần kết cho những cuốn tiểu thuyết trên Nó tạo thành dư ba mãi vang vọng cho hình tượng nhân vật Cái phần ngôn ngoại và dư ba này không tồn tại trên văn bản mà tạo ra trong tưởng tượng
và cảm xúc của người đọc Người đọc đã đồng nhập vào nhân vật để suy nghĩ về hướng đi cho cuộc đời
- Người đọc ở đây cũng phải có đặc điểm riêng Nếu người đọc trước
là người đọc tuyến tính, người đọc sau là người đọc phi tuyến tính, người đọc trước đứng ngoài tác phẩm, người đọc sau đứng trong tác phẩm, người đọc trước chỉ thấy nghĩa tồn tại của tác phẩm, người đọc sau còn thấy nghĩa kiến tạo, người đọc trước là người đọc một cách cứng đờ, người đọc sau là người đọc một cách mềm mại, người đọc trước chỉ thấy văn học là nghệ thuật thời gian, người đọc sau còn thấy văn học là nghệ thuật không gian… Tuy không theo những quan niệm cực đoan như “cái chết của tác giả”,
“người đọc lên ngôi ” nhưng để người đọc hòa nhập vào nhân vật thì người đọc phải thực sự làm chủ tác phẩm Họ được tự do trong xem xét, đánh giá, cảm nhận,…về nhân vật Những điều này được xem là đặc trưng tiêu biểu của văn hóa và văn học “hậu hiện đại”
2.2 Nhân vật trong “Những ngã tư và những cột đèn”
“Những ngã tư và những cột đèn” của Trần Dần là một sáng tạo đột
xuất, mới mẻ về nghệ thuật trần thuật và xây dựng nhân vật của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại Tác phẩm tuy viết trong thời kì văn học còn chịu ảnh hưởng từ tư tưởng phiến diện, một chiều về văn học song tác phẩm lại
Trang 5mang tính dân chủ, cởi mở rõ nét Nó mở ra một bức tranh sinh động về con người trong trạng thái chấn thương tinh thần; thao thức, lựa chọn những ngả rẽ khó khăn của đời họ, trước những va đập kinh động, khôn lường của thời cuộc (từ chiến tranh sang hòa bình, rồi từ hòa bình trở lại chiến tranh)
Tác phẩm được kể qua lời nhân vật Dưỡng Dưỡng là nạn nhân của thời đại Dưỡng là một tân ngụy binh nhưng chưa kịp bắn giết ai thì Pháp thua trận tại Điện Biên Phủ Anh không theo chân thực dân Pháp vào Nam, nghe lời khuyên của cán bộ bảo vệ khu phố, anh nộp vũ khí quy hàng để nhận lượng khoan hồng của chính phủ, về làm dân, sống với mẹ già, vợ trẻ Song, do bị định kiến về sở thích, lối sinh hoạt phóng túng, khác người, lại thêm vụ phát súng, không rõ do kẻ nào mưu sát hụt một anh bộ đội “bốn túi” từ trong vườn đêm nhà mình, anh bị ngờ oan là thủ phạm, là người được phòng Nhì cài lại nằm vùng, phá hoại trị an miền Bắc Cuộc sống của anh thay đổi chóng mặt, cả anh và gia đình bị sống trong sự dè bỉu, ruồng
bỏ của mọi người xung quanh, của dân phố và họ hàng Đây là một chấn động tinh thần, một chấn thương rất nặng nề đối với Dưỡng Cùng với mặc cảm quá khứ lầm lạc, chấn thương tinh thần này, anh đã trốn chạy tất cả, bỏ
đi vào Nam, song vẫn cứ lưỡng lự, thấy chọn ở hay đi cũng không xong Dưỡng cũng là người hiểu biết, trọng danh dự Dưỡng nhất định không cam tâm để bị chụp lên đầu mình những cái mũ tội đồ chính trị khủng khiếp như
“thằng địch”, “thằng tay sai cho địch”,…Vì đặc điểm cuộc sống mang bi kịch như vậy nên lời kể của Dưỡng cũng nặng chất tâm lí, với nhiều chiều đấu tranh Đôi chỗ ta dường như không phân biệt được đâu là lời kể về cuộc sống, đâu là dòng độc thoại nội tâm của nhân vật
2.3 Nhân vật như người đọc (qua nhân vật trong “Những ngã tư và những cột đèn”)
Trang 6Trong tác phẩm “Những ngã tư và những cột đèn”, mối quan hệ giữa nhân vật và người đọc cũng được thể hiện ở mức độ cao nhất: nhân vật như người đọc Nó thể hiện ở nhiều phương diện nhưng ở đây chúng tôi chỉ xem xét ở phương diện xây dựng nhân vật của tác giả Nhân vật đã được xây dựng với nhiều bút pháp mở để tạo nên sự cộng hưởng trong tâm hồn người đọc Trong truyện, người đọc đã nhìn qua vai của Dưỡng, qua nhật kí của anh ta và viết như anh ta để cùng đồng sáng tạo với tác giả Cụ thể, nó biểu hiện ở một số mặt sau:
- Thứ nhất, trong tiểu thuyết “Những ngã tư và những cột đèn”, tác
giả cố ý sử dụng hình thức trần thuật đặc biệt: kết hợp, hòa trộn giữa ngôi
kể chuyện thứ nhất (nhân vật) và ngôi thứ ba (tác giả) Nó được thể hiện
qua từ xưng “tôi” để thể hiện tính chủ quan và sắc thái cảm xúc của
người trần thuật Chối bỏ đại tự sự, hậu hiện đại khước từ vai trò toàn tri của người kể chuyện ngôi ba Trong lúc kể, có lúc nhân vật như đang thủ thỉ với người đọc, có lúc nhân vật bỏ lửng để người đọc tự nghĩ Vì thế, không phải người đọc nào cũng có cách lí giải nhân vật, cốt truyện giống người nào Người đọc gián tiếp nhận ra qua hệ thống sự kiện và cách trình bày những biến cố theo cách riêng mà họ thâu nhận, qua kinh nghiệm sống của họ Đôi lúc còn xuất hiện dòng kể chuyện trong tâm thế bất tín nhận thức Cái nhận thức được là bề nổi của tiểu thuyết, cái bất tín nhận thức mới là mảnh đất của tưởng tượng và đối thoại Trên một phương diện nào đó, cái bất tín nhận thức tương ứng với việc khước từ điểm nhìn toàn tri với người kể chuyện “thượng đế” Đặc biệt, Trần Dần đã tạo điều kiện
để người kể chuyện không ngừng di chuyển điểm nhìn vào nhân vật của mình Chính vì vậy bức tranh đời sống, thế giới tâm hồn nhân vật trở nên sinh động, đa dạng hơn Người kể không chỉ kể mà còn phải đóng vai nhân vật, do vậy, tất yếu phải biểu lộ những cũng bậc tình cảm sâu kín cũng như những sắc thái ngôn ngữ, giọng điệu phong phú Vì thế, câu
Trang 7chuyện trở nên lôi cuốn và hấp dẫn đối với người đọc Lối viết ấy còn mang tính khách quan khi nó đứng giữa những lời phán xét, không tham gia gì vào bên nào cả, thản nhiên như không, lãnh đạm, dửng dưng khi chỉ tái hiện sự việc hay những hành động bên ngoài Do vậy, bản thân câu chuyện dù được kể từ từ vị trí chủ quan vẫn mang được tính khách quan cần thiết
Bằng điểm nhìn ấy, nhân vật Dưỡng đã được tái hiện trong sự va đập, đối thoại, tương tác giữa thế giới quan đa trị, và thế giới quan đơn trị cũng diễn ra từng ngày, từng giờ Guồng máy chính quyền nhân dân của chế độ mới được điều hành theo thế giới quan đơn trị; chiến tuyến ta – địch, tốt – xấu được thiết lập rất rõ ràng cả trong hành động thực tế lẫn trong tư tưởng Não trạng thế giới quan đơn trị đang hình thành trong tính “lịch sử cụ thể” của nó Trong khi đó, Dưỡng, nhân vật chính của tác phẩm, vẫn khăng khăng ôm giữ một quan niệm riêng về thế giới đa trị của mình Dưỡng rơi vào bi kịch trước cuộc sống có quá nhiều điều phiền phức, oan ức Viết về nỗi oan mang tính thời đại của Dưỡng, tác giả đã thể hiện thái độ thương cảm với nhân vật, dù rằng nhân vật là kẻ bị dè bỉu trong xã hội bấy giờ Từng là một tân ngụy binh được đào tạo 11 tháng, ra trường vừa lái tàu bò được 3 tháng, hầu như chưa kịp bắn giết ai, thì Pháp thua trận tại Điện Biên Phủ; không theo chân thực dân Pháp vào Nam, nghe lời khuyên của cán bộ bảo vệ khu phố, anh nộp vũ khí quy hàng để nhận lượng khoan hồng của chính phủ, về làm dân, sống với mẹ già, vợ trẻ Song, do bị định kiến về sở thích, lối sinh hoạt phóng túng, khác người, lại thêm vụ phát súng, không
rõ do kẻ nào mưu sát hụt một anh bộ đội “bốn túi” từ trong vườn đêm nhà mình, anh bị ngờ oan là thủ phạm, là người được phòng Nhì cài lại nằm vùng, phá hoại trị an miền Bắc Điều đó, gần như đồng nghĩa với sinh mệnh chính trị của anh có nguy cơ bị thủ tiêu, tuyệt đường sống yên ổn với dân phố và gia đình Đây là một chấn động tinh thần, một chấn thương rất
Trang 8nặng nề đối với Dưỡng Qua góc nhìn nội cảm và những góc nhìn trinh thám, Dưỡng, một mặt tự nhận thức con người bên trong phóng túng, phức tạp của mình Cùng với mặc cảm quá khứ lầm lạc, chấn thương tinh thần này đẩy anh vào thế “đi” (vào Nam) “cũng dở”, “ở” (với chính phủ, gia đình) “cũng không xong” Sự áp đặt mang tính qui chụp chính trị, thời nào cũng đáng sợ, đáng bi phẫn Nhưng trong cái thời láo nháo thật – giả, ta – địch của Dưỡng, sự áp đặt càng đáng sợ, đáng bi phẫn hơn Bởi nó rất nguy hiểm và ác độc Việc bị quy chụp, không có gì khác là sự áp đặt một “cái biểu đạt” ghê gớm, có thể mang lại cái chết tinh thần, thủ tiêu sinh mệnh chính trị, mà người ta, nhất là với kẻ đang mấp mé ngưỡng cửa hoàn lương, phục thiện, như Dưỡng, quý còn hơn mạng sống của mình Dưỡng trong trường hợp này đã bộc bạch lòng mình vào hai hành động: làm thám tử và ghi nhật kí
Anh đã nói bằng cách ghi nhật kí Nó là tiếng nói âm thầm để bào chữa cho mình Theo đó, những trang ghi chép trong ba cuốn nhật kí của nhân vật Dưỡng ở “Những ngã tư và những cột đèn” của Trần Dần có thể gọi là “nhật kí chấn thương” Người ghi nhật kí trong tác phẩm là nạn nhân của định kiến chính trị xã hội, phải chịu đựng điều tiếng oan khuất, bất công trong suốt một thời gian dài Nhật kí là một dạng diễn ngôn thoại có
ưu thế trong việc tái hiện nhân vật cùng với hiện thực cuộc sống Nó chịu
sự chi phối của tư tưởng, chủ đề, của kết cấu, của tính cách số phận nhân vật, của kĩ thuật trần thuật; áp lực chỉnh thể của tác phẩm; tiềm năng ưu thế của thể loại và cả hoàn cảnh, mục đích sáng tác;…Chỉ ghi nhật kí, nhân vật mới tác động trực diện được vào thực tại Đó là một cách dấn thân tranh đấu để cải thiện tình hình Đứng ở thời điểm hiện tại, chủ nhân “nhật kí” ghi lại hiện trạng đang là của đời sống cá nhân, như nó đang có, không thể trang điểm, sửa chữa Nhật kí đã có lúc phải thốt lên: “Tôi đâu có biết, ngã
tư nào lưu manh, ngã tư nào đọa lạc, ngã tư nào gian dối.” [,304), bởi: “Đời
Trang 9nghiệt ngã Đời lằng nhằng, ngã tư đời do đó, lờ mờ và loằng ngoằng” [], hoặc “những ngã tư và những cột đèn, không lường được đường rẽ, tôi lường một đằng, thực tế giằng một nẻo.” [,288] Những trang nhật kí “dằn di”, “lem nhem mực tím” của nhân vật Dưỡng, vẫn/ đã được viết ra để ghi khắc những chấn động tinh thần, những đau thương cùng cực cần được chia sẻ của một tâm hồn chất chứa oan khiên cùng những bức bách cần được giải tỏa Ghi nhật kí, là một cách “tác động lên thời gian”, chiếm lĩnh thực tại ở cái thời điểm đang là của nó (thực tại trong hồi kí được chiếm lĩnh ở thời điểm đã là) Và, trong trường hợp này, chính trạng thái chấn thương tinh thần của người ghi nhật kí, làm nên sắc thái tâm lý cũng như nội dung, chiều hướng suy cảm khá đặc biệt của nhân vật trung tâm trong cuốn tiểu thuyết của Trần Dần Trong nhật kí, cái tôi bị chấn thương chỉ thấy thời gian hiện sinh của mình toàn là những khoảnh khắc bốc mùi xú
uế đến buồn nôn Nhật kí ghi: “[…] thành kiến của khu phố với tôi ngày càng nặng nề Tôi gọi thời gian này là những ngày chua loét và những chủ nhật mắm thối, những tuần lễ khắm và những buổi sáng đi-cũng-dở-ở-cũng-không-xong” [13;69] Hoặc, một đoạn khác: “23 tuổi thì ngày khai, thì tuần phùn, thì chủ nhật bú dù, thì ngày ghẻ ruồi buổi chiều quai bị, thì thứ ba thiu thứ bảy khú” [13;70]
Để thể hiện tính nhân văn, diễn ngôn trong tác phẩm phải mang đậm tính chủ thể Ở đây, tác giả đã giành toàn quyền cho nhân vật Dưỡng suy nghĩ, tâm sự Hình thức tâm sự được chuyển tải qua một thể loại đắc dụng
Đó là nhật kí Trước 1954, sau 1955, Dưỡng đều không ghi nhật kí Ba cuốn nhật kí của anh (với thời gian xác định) chỉ gồm những trang được viết trong khoảng thời gian “va chạm với một sự kiện vượt ngưỡng” – bị quy chụp là phần tử phản động, do thực dân cài lại để phá hoại miền Bắc, đặc biệt là sau những lần bị ông Trung Trố, nhân danh chính quyền nhân dân, trấn áp thô bạo – thời gian tinh thần lâm vào trạng thái bị chấn thương
Trang 10Trong trường hợp này, khi nhân vật đột nhiên tìm đến việc ghi nhật
kí, cây bút không chỉ là phương tiện để viết mà trước tiên và hơn hết, nó là một vật thể cho phép người ta bằng cách nào đó có thể nắm bắt được cái nỗi đau không thể chạm đến của mình Bằng động thái viết, nhân vật cố gắng ““đóng khung” chính mình trong vùng chấn thương để giữ mình không rơi vào trạng thái tồi tệ hơn
Và, ghi nhật kí, chính là “viết một tự thuật/ chuyện đời – không chỉ có nghĩa là một tự sự miêu tả lại cuộc đời của người viết mà còn theo nghĩa đen, trực diện nhất, câu chuyện thực sự cho phép đời sống khả hữu”.” [32] Chỉ ghi nhật kí mới tác động trực diện được vào thực tại Đó là một cách dấn thân tranh đấu để cải thiện tình hình Đứng ở thời điểm hiện tại, chủ nhân “nhật kí” ghi lại hiện trạng đang là của đời sống cá nhân, như nó đang
có, không thể trang điểm, sửa chữa Tự truyện, hồi kí thì khác: Tác giả buộc phải đứng ở một khoảng lùi khá xa về thời gian, hồi tưởng và viết Khoảng cách này tước mất của anh ta một số ưu thế Mọi thứ ở đây đều trong tình trạng đã là Trong cái thế giới mà nhân vật Dưỡng bị ném vào
đó, anh “không được thừa nhận đương nhiên như là trạng thái tự nhiên của tồn tại nữa” những trang nhật kí “dằn di”, “lem nhem mực tím” của nhân vật Dưỡng, vẫn/ đã được viết ra để ghi khắc những chấn động tinh thần, những đau thương cùng cực cần được chia sẻ của một tâm hồn chất chứa oan khiên cùng những bức bách cần được giải tỏa
Điều này một lần nữa cho thấy, với nhân vật bị chấn thương tinh thần như Dưỡng, ghi nhật kí, không phải để thư giãn trong phút mộng mơ, giờ tiêu khiển, mà là một cách hành động, một cách tồn tại Nhân vật “nhà văn” trong tác phẩm, về sau, khi đọc, sao nhật kí cho Dưỡng, đã phát hiện: bên cạnh những trang có tẩy xóa, có tới 11 trang bị xé, còn cuống hoặc mất cuống “Nhà văn” gọi đó là “tập bản thảo bị thương”