1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TÀI LIỆU MÔN MỸ HỌC

44 383 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 229,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thomas Cowperthwait Eakins 25/07/1844 – 25/6/1916 là một họa sĩ hiện thực, nhiếp ảnhgia , nhà điêu khắc và nhà giáo dục nghệ thuật người Mỹ.Ông được biết đến là một trong những nghệ sĩ q

Trang 1

Hội họa hiện thực

I Lịch sử hình thành và phát triển chủ nghĩa hiện thực ở Pháp xuất hiện sau cuộc Cách mạngnăm 1848 Tại Pháp nó thể hiện một biểu hiện cho sự dân chủ Đồng thời trong các nghệ sĩnước Anh - hiện thực đã đến trước công chúng với các phản ứng chống lại các vật Victoria vàcác công ước của Học viện Hoàng gia ở London Khi đến Nga, nghệ thuật Hiện thực trở thànhmột phương tiện hữu hiệu cho các họa sĩ trường họa Lưu động, khi hướng nghệ thuật về đờisống nhân dân Nga Còn ở Ý, chủ nghĩa hiện thực ra đời từ phong trào Hội hoạ tiền phục hưng

Ý, gắn liền với phong trào Hội họa phục hưng, khi mà các hoạ sĩ bắt đầu chú ý đến những chitiết hiện thực của đời sống hàng ngày Những truyện tích không chỉ được miêu tả một cáchmạnh mẽ và rõ ràng, mà còn được minh hoạ bằng những cảnh đời thường sống động Bắt đầu

từ đây, người hoạ sĩ không còn tự thoả mãn được với những tiểu xảo cho phép mình trình bàynhững nhân vật trong các tích truyện một cách chung chung, rập theo những khuôn mẫu cũmòn, quen thuộc nữa, mà họ phải quan sát và thể hiện một cách tỉ mỉ các hiện tượng thiênnhiên, cũng như các nhân vật, dựa theo những mẫu người thật và vật thật Chủ nghĩa Hiện thựctrong nghệ thuật nói chung, hội họa nói riêng như một ngôi đền thiêng của nhiều nghệ sỹ Ngôiđền ấy thường hay bị các anh chàng trẻ “xúc phạm”, chính bởi giới hạn khá mông lung cũngnhư các tiêu chuẩn không rõ ràng vì có thể hiểu chúng theo nhiều cách khác nhau.Song có mộtthời, nghệ thuật Hiện thực được quan niệm một cách cực đoan người ta coi xã hội này là quátuyệt đẹp, đến mức nghệ thuật chỉ làm mỗi việc là phản ánh nó sao cho thật giống Cái giống tựnhiên trở thành tiêu chuẩn của nghệ thuật Hiện thực và chết nỗi cái giống ở đây được giới hạntrong một số khu vực nhất định, ngoài khu vực đó ra hình như không được công nhận là hiệnthực Trên thực tế, không nghệ sĩ nào có thể làm việc máy móc như thế Tả thực chỉ là bài họcđầu tiên của nghệ thuật, không phải là cái đích cuối cùng, và có thể đi đến hiện thực bằngnhiều con đường, thay cho một sự duy nhất đúng

Khi thời của chủ nghĩa đề tài qua đi, hội họa Hiện thực không hề mất giá trị, nó mở ra nhiềuchiều, nhiều mặt hơn nữa Họa sỹ không phải là cái máy ảnh vụng về, hiện thực không phải là

sự đồng nhất với đời sống, hiện thực bao gồm cả những nhận thức nhiều chiều về nó, có cả sựphê phán và phủ nhận với ý nghĩa một hiện tượng có thể có nhiều cách quan sát và trình bàykhác nhau

II- Những đặc trưng cơ bản của trường phái hiện thực trong hội họa

1 Nội dung trường phái hội họa hiện thực: Hội họa hiện thực có hai hạt nhân Và hai tế bàomầm giống này cứ sinh sôi nảy nở suốt trong lịch sử mỹ thuật tạo ra nhiều bậc thầy vĩ đại của

Trang 2

lịch sử - Xu hướng chăm chú vào đời sống thực tại Sự chăm chú và đề cao đời sống của thếgiới bên này - chứ không phải nhằm vào thiên đường hay cảnh "bờ xôi ao mật" trong tưởngtượng - làm cho chủ nghĩa hiện thực mở rộng tầm mắt vào cái kề cận chúng ta nhất - Bằngviệc khẳng định giá trị của đời sống không bằng cách làm cho nó hấp dẫn hơn mà bằng cáchphơi bày nó trần trụi nhất, bình dị nhất, chủ nghĩa hiện thực mang nội dung nhân đạo sâu sắc.Tính nhân đạo là tế bào mầm giống thứ hai của chủ nghĩa hiện thực Từ các tranh hang động,tượng của các bộ lạc dã man, đến các bậc thầy của hội họa hiện thực sau này, ta luôn thấy thái

độ đề cao con người, khẳng định con người ở trạng này hay dạng khác Tuy nhiên việc đề caocon người, cái con người của chủ nghĩa hiện thực không khi nào ràng buộc họ trở thành anhhùng, siêu nhân hay những người được tuyển lựa Hướng về con người bình thường, vào đờisống bình thường tự tại, vào những khát vọng và mơ ước bình thường của họ là bản chất nhânđạo của chủ nghĩa hiện thực Xuất phát từ những cao vọng, lấy một cái gì đó ngoài đời sốngbên này làm cứu cánh, lấy một cái siêu nhiên hay một đám người cô đơn, được tuyển lựa làmđiểm tựa là chiều đi của nghệ thuật phi hiện thực Phơi bày cái xấu xa hay đen tối của conngười để hiểu biết nó, để biến cải nó là hiện thực chủ nghĩa Chính ở chỗ này ta thấy chủ nghĩahiện thực không hạn hẹp và không gắn với hình thức hữu hiệu cụ thể nào Ở mỗi thời hai tế bàogiống nói trên kết hợp với nhau và sinh ra các hình thức khác nhau, phong cách và xu hướngkhác nhau Những kẻ hẹp hòi gạt bỏ ước mơ và khát vọng của con người ra khỏi chủ nghĩahiện thực và quên mất rằng giấc mơ, những mơ ước hão huyền nhất, bầu trời tầng sao và nỗiđau vũ trụ của nó cũng là một phần của đời sống hiện thực Những kẻ tầm thường lại gắn chủnghĩa hiện thực với một thứ tự nhiên chủ nghĩa tầm thường và thực chất là suy đồi và hàn lâmlạc hậu Lối quan niệm này kìm hãm sự phát triển của chủ nghĩa hiện thực một cách tai hại -làm cho tác phẩm dính lưng với những biểu hiện bề mặt, tản mạn, tủn mủn và vô hồn - làm chotác phẩm lạch bạch trên mặt đất thấp lè tè, nhốt chủ nghĩa hiện thực vốn rộng rãi và cao cả vàonhững khuôn sáo, sơ đồ cứng nhắc Một quan niệm nữa tai hại không kém là coi chủ nghĩahiện thực ngày nay là kẻ kế thừa trực tiếp xu hướng hiện thực thế kỷ 19 Quan niệm này dẫnđến việc mô tả tầm thường không đạt tới đỉnh cao như các bậc thầy kể trên vì nhiệm vụ củanghệ thuật, thực tại đời sống đã đổi khác

Đề tài

Tất cả những gì có trong cuộc sống, người phụ nữ, phong cảnh thiên nhiên, phong cảnh thànhphố, trường học, những bức tượng trong khuôn viên, những đồ vật giản dị… được khắc họabằng cảm giác về vật chất trong tĩnh vật và sự thay đổi của nó trong ánh sáng Nét bút tạo mâymưa, cây cỏ, hơi nước, ánh sáng trong tranh phong cảnh Đương nhiên sau đó là tâm trạng củanghệ sĩ hàm chứa trong từng nhát bút.Đề tài của hội họa hiện thực chính là yếu tố quan trọngnhất phân biệt hội họa hiện thực với các trường phái khác

Kỹ thuật

Đường nét: Chú ý đến từng chi tiết nhỏ của vật thể hiện trên tranh, họa sĩ chăm chút các đườngnét trong bức vẽ Màu sắc: + Thường dùng quy luật vẽ màu ấm lên nền xanh thẫm để làm nổibật những vật thể hay con người trong tranh.+ Coi trọng hiệu ứng sáng- tối tạo bố cục cân đối;trung thực với màu sắc tự nhiên

Trang 3

4 Giá trị Người ta thường bảo : người Ai Cập cổ vẽ cái mà họ biết là đúng, như trong thực tế ;người Hy Lạp cổ vẽ cái mà họ nhìn thấy Các họa sĩ hiện thực phát hiện ra cái trước đây chưađược coi là đẹp nay được nâng lên thành cái đẹp Nâng chính chúng lên chứ không phải tô vẽthêm hoặc mở rộng thêm cho đôi giày rách, cái cửa sổ cũ, cái bình vỡ, cái mũi to, làn da nhănnheo của một ông già, cái nạng gỗ của bọn què cụt… trở thành "đẹp" Chính những cái xấu xí

đó được nhìn nhận là đẹp Chủ nghĩa hiện thực có công nhất ở chức năng "biết cái xấu thànhcái đẹp" Điều này làm cho các bậc thầy theo chủ nghĩa hiện thực hay dùng hình thức "củachính đời sống" với tư cách là phương tiện mô tả

III- Các tác giả và tác phẩm tiêu biểu

1 Gustave Courbet (1819 - 1877) Là họa sĩ Pháp - người tiên phong của trường phái Hiệnthực, nhằm thay đổi tính lý tưởng hóa, luôn quay lưng với quá khứ Hy - La của nghệ thuật Cổđiển và sự hư tưởng thái quá của nghệ thuật Lãng mạn Đối với ông, không có gì mà mắt nhìnthấy không phải là hiện thực và không đáng vẽ Ông quan niệm: "Hội họa cơ bản là một nghệthuật cụ thể và hội họa phải dùng để thể hiện những vật có thật và hiện đang tồn tại"

Tác phẩm tiêu biểu:

2 Jean-François Millet (4/10/1814 – 20/01/1875) là một họa sĩ người Pháp, một trong nhữnghọa sĩ thành lập nên trường phái Barbizon.Những bức tranh của ông thường miêu tả nhữngngười nông dân trên đồng ruộng.Jean-François Millet thường được xếp vào trường phái hiệnthực, nhưng đôi khi cũng thuộc trường phái tự nhiên Millet là người gợi nguồn cảm hứng choVincent Van Gogh sau này

b) Kinh Truyền Tin, 1857-1859

c) The Sower, 1850

3 Thomas Eakins

Trang 4

Thomas Cowperthwait Eakins (25/07/1844 – 25/6/1916) là một họa sĩ hiện thực, nhiếp ảnhgia , nhà điêu khắc và nhà giáo dục nghệ thuật người Mỹ.

Ông được biết đến là một trong những nghệ sĩ quan trọng nhất trong lịch sử hội họa hiện thực.Đối tượng của ông là những người dân quê hương của ông ở Philadelphia Ông đã vẽ hàngtrăm bức chân dung thông thường về bạn bè, các thành viên gia đình, hoặc những người nổitiếng trong nghệ thuật, khoa học, y học, và giáo sĩ Đồng thời, Eakins sáng tác ra một số bứctranh lớn, đã trở thành hình mẫu điển hình trong phòng khách và vào văn phòng, đường phố,công viên, sông, nơi thi đấu… Những địa điểm hoạt động ngoài trời là cảm hứng chủ đạo choông, ngoài ra còn có những bức tranh khỏa thân Eakins có niềm đam mê đối với tính chính xác

và độ chính xác kỹ thuật Eakins cái nhìn thoáng qua các u sầu ở đằng sau mỗi con người.Nhiều khách hàng phàn nàn rằng ông làm cho họ trông già hơn họ Trong thực tế, Eakins vẽ rấtchậm và có xu hướng không nói chuyện nhiều trong khi bức tranh Ông tiếp cận chân dung với

tư cách một nhà giải phẫu học

TÁC PHẨM Miss Amelia Van Buren, ca 1891 , Max Schmitt in a single scull (1871); TheSwimming Hole, 1884-5

Henry Ossawa Tanner (21/06/1859 – 25/05/1937) là một nghệ sĩ nổi tiếng người Mỹ gốc Phivới phong cách của mình trong hội họa Ông là người đầu tiên họa sĩ người Mỹ gốc Phi đã đạtđược sự ca ngợi quốc tế Tanner làm việc không giới hạn và không cụ thể hóa một cách tiếpcận để vẽ tranh tác phẩm của ông thay đổi từ sự quan tâm tỉ mỉ đến từng chi tiết trong một sốbức tranh, biểu cảm ở nét vẽ Thường thì cả hai phương pháp được sử dụng đồng thời Sự kếthợp của hai kỹ thuật thể hiện một sự cân bằng bậc thầy khéo léo và chính xác biểu hiện mạnh

mẽ Tanner cũng quan tâm đến các hiệu ứng màu sắc có thể có trong một bức tranh Đa số cácbức tranh của ông nhấn mạnh một khu vực cụ thể của gam màu sắc Sáng tác với gam màunóng như "Sự Phục Sinh của của Lazarus" (1896) và "Truyền Tin" (1898) chảy ra cường độ vàngọn lửa của những khoảnh khắc tôn giáo.Họ mô tả những hứng khởi giữa Thiên Chúa và nhânloại Bức tranh khác nhấn mạnh sự tươi mát, màu xanh Ông vẽ các tác phẩm như "The GoodShepard" (1903) và “Sự trở lại của các phụ nữ Thánh Linh" (1904) gợi lên một cảm giác ảmđạm, mộ đạo Tanner thường thử nghiệm với tầm quan trọng của ánh sáng trong một thànhphần Các nguồn và cường độ của ánh sáng và bóng tối trong các bức tranh của ông tạo ra một

sự gần gũi, hữu hình vật chất không gian và bầu không khí trong khi thêm cảm xúc và tâmtrạng với cuộc sống xung quanh

Tác phẩm

a) Bài học Banjo, năm 1893 Sơn dầu trên vải : Bức tranh này cho thấy một người đàn ông dađen cao tuổi đang dạy cho cháu trai của ông cách chơi đàn banjo.Hai nhân vật tập trung chămchú vào các nhiệm vụ trước họ Họ dường như không biết gì về phần còn lại của thế giới; TheAnnunciation, 1898

IV - Đánh giá về vai trò của trường phái này đối với nghệ thuật và cuộc sống * Vai trò củatrường phái hiện thực trong hội họa nói chung và trong nghệ thuật nói riêng: Hiện thực trong là

Trang 5

một trong những trường phái cơ bản va quan trọng trong hội họa, nó mang đến sự đa dạng vàphong phú, có cái gì đó mang tính đơn giản nhưng rất ấn tượng Nhiều trường phái nghệ thuậtmang quan điểm “nghệ thuật vị nghệ thuật” nhưng trường phái Hiện thực lại mang quan điểm

“nghệ thuật vị nhân sinh” trong mình, tạo nên một vẻ đẹp khác biệt mà gần gũi trong lĩnh vựchội họa * Vai trò của trường phái hiện thực trong hội họa đối với cuộc sống và tâm hồn conngười: Trường phái hiện thực trong hội họa giúp cho người ta nhìn thấy sự chi tiết và có thểcảm thụ được nó Đó có thể là một bức tranh chân thực về cuộc sống của họ, con người họ, vàđôi khi cả tâm hồn họ cũng hiện hữu Ngày nay trong cuộc sống người ta có thể chụp ảnh đểlấy sự giống hoàn toàn, nhưng chỉ có hội họa mới có thể giúp người ta có thể cảm nhận suynghĩ của họ

Giới thiệu nghệ sĩ piano V.Horowitz và bản nhạc giấc mơ (traumerei) của R.Schumann”.

MỞ ĐẦU

Âm nhạc là một bộ phận không thể thiếu trong cuộc sống của con người Âm nhạc cóthể chia sẻ với chúng ta rất nhiều điều: Giải quyết những khó khăn trong cuộc sống, vơi đinhững hờn giận vu vơ, đưa người về dĩ vãng, tìm lại tuổi thơ yêu dấu, nghe lòng bồi hồi xaoxuyến với tình yêu quê mẹ, với nắng ấm quê cha, sống dậy long tự hào dân tôc, khát vọng tìm

về chân lí… Ngay từ thời thượng cổ, âm nhạc đã được ra đời cùng với đời sống sinh hoạt vàsản xuất của các cộng đồng người nguyên thủy Kể từ đấy, âm nhạc đã không ngừng được pháttriển và hoàn thiện cùng năm tháng Trong các dòng nhạc có lẽ sức sống của nhạc cổ điển làlâu dài, bền vững nhất Nó truyền cho ta cảm xúc qua những âm điệu xao xuyến Để hiểu hơn

về dòng nhạc này, em xin chọn đề bài: “ Giới thiệu nghệ sĩ piano V.Horowitz và bản nhạc giấc mơ ( traumerei) của R.Schumann”.

Trang 6

Vladimir Horowitz (tên đầy đủ: Vladimir Samoylovich Horowitz ) là một nghệ sĩ dươngcầm người Nga gốc Do Thái, sau nhập tịch Mỹ (ông sinh năm 1903 tại Kiev, Ukraina và mấtnăm 1989 tại New York).

Horowitz nhận được hướng dẫn đàn piano từ khi còn nhỏ, ban đầu từ người mẹ, người

đã cho mình một nghệ sĩ dương cầm Năm 1912 ông vào viện Kiey , nơi ông được dạy bởiVladimir Puchalsky, Sergei Tarnowsky, và Felix Blumenfeld Buổi biểu diễn solo đầu tiên củamình đang Kharkiv vào năm 1920

Nổi tiếng Horowitz của tăng trưởng, và ông đã sớm bắt đầu tham quan Nga , nơi ôngthường trả với bánh mì, bơ và sô cô la chứ không phải là tiền bạc, do khó khăn kinh tế của đấtnước do các cuộc nội chiến Trong mùa 1922-1923, ông đã thực hiện 23 buổi biểu diễn củamười chương trình khác nhau trong Petrograd một mình Mặc dù thành công ban đầu của mìnhnhư là một nghệ sĩ dương cầm, Horowitz cho rằng anh muốn trở thành một nhà soạn nhạc và

đã thực hiện một sự nghiệp như là một nghệ sĩ piano duy nhất để giúp gia đình mình, nhữngngười đã mất đi tài sản của họ trong Cách mạng Nga

Trong tháng 12 năm 1925, Horowitz vượt qua biên giới vào phương Tây, bề ngoài là đểnghiên cứu với Artur Schnabel tại Berlin Tư nhân có ý định không trở lại, nghệ sĩ dương cầm

22 tuổi đã nhồi đô la Mỹ và các ghi chú bảng Anh vào đôi giày của mình để tài trợ cho buổihòa nhạc đầu tiên của ông

1 Thành tựu

Kỹ thuật, sắc thái và sự sôi động trong lối chơi của Horowitz được xem như huyền thoại.Ông được tôn vinh là một trong những nghệ sĩ piano xuất chúng nhất của thế kỷ 20 cùng vớiSviatoslav Teofilovich Richter và Arturo Benedetti Michelangeli

Ở độ tuổi 21, ông đã có 70 buổi trình diễn, trong đó là 23 buổi độc tấu ở Leningrad, vàbiểu diễn tất cả trên 200 tác phẩm

Năm 1986, Horowitz được trao giải thưởng Huân chương vì Hoà Bình (giải thưởng caonhất có thể trao tặng cho một công dân Mỹ) Và vào chính năm đó, ông có một hành động vĩđại trong sự nghiệp của mình: quay trở lại liên bang Nga, lần đầu tiên sau 61 năm Hàng loạtnhững buổi biểu diễn của ông đều bán hết vé

2 Đánh giá.

“Nói về Horowitz? bạn sẽ được nghe những từ như: thiên tài, ma thuật, vị chúa của cây đàn piano Ông đã tạo nên chuẩn mực cho tài nghệ bậc thầy, chuẩn mực cho những biến tấu trên những âm thanh đầy màu sắc của cây đàn piano, để nói lên rằng, bạn có thể làm gì với thanh

âm của một chiếc dương cầm … Horowitz có thể thành chơi thạo đến mức, dường như ông đang chơi phức hợp một lúc trên nhiều chiếc piano Nhưng ông ấy không phải một gã nện những ngón tay chết tiệt lên phím đàn Horowitz làm nên danh tiếng của mình với tiếng đàn

giản dị, tĩnh lặng và kín đáo.” - Miles Hofmann

II S.Chumann.

Trang 7

Robert Alexander Schumann

(1810- 1856)

1 Tiểu sử.

Tháng 9 năm 1831, Chopin đến Paris, ở đây, ông đã nhận thấy mình không đủ sức chịuđựng để tranh tài với các nhạc sĩ bậc thầy về diễn tấu (virtuoso) như Franz Liszt và SigismundThalberg, vì vậy Chopin đã dồn thời gian vào việc sáng tác âm nhạc Nhà soạn nhạc này đãđóng cửa, ở trong nhà nhiều ngày để dạo đàn và viết ra các nhạc phẩm mà công chúng đềukhen ngợi

Năm 1848, Chopin sang nước Anh, tại đây Chopin đã trình diễn âm nhạc nhiều lần và đãbiểu diễn trước Nữ Hoàng Victoria của nước Anh Ngày 16-11-1848, ông đã biểu diễn cácnhạc phẩm của mình tại Thính Đường Guildhall để gây quỹ cứu trợ cho những người tị nạn BaLan

Frederic Chopin qua đời vì bệnh lao phổi vào ngày 17-10-1849 tại thành phố Paris

2 Thành tựu

Ông là một nhà soạn nhạc và phê bình âm nhạc nổi tiếng của Đức Ông là một trong nhữngnhà soạn nhạc lãng mạn lừng danh nhất thế kỷ 19

Các tác phẩm đầu tiên của ông là các bản piano và lieder; sau đó ông soạn nhạc cho piano

và dàn nhạc, thêm vào đó các tác phẩm lieder (những bài hát cho giọng ca và piano), bốnbản giao hưởng, một bản opera và các bảnorchestra, thánh ca và thính phòng Các bài viết của

ông về âm nhạc xuất hiện chủ yếu trên Die neue Zeitschrift für Musik (Tạp chí mới cho âm

nhạc), một tạp chí ở Leipzig mà Schumann đồng sáng lập

3 Đánh giá.

Ông là một nhạc sĩ cách tân, Schumann kế tục khuynh hướng dân chủ của âm nhạc lãngmạn Đức Những đặc tính của âm nhạc Schumann là tác phẩm có tiêu đề, sự bộc bạch tâm lý

Trang 8

sâu sắc những tình cảm con người kết hợp với sự say mê sôi nổi, bồng bột và mơ mộng lãngmạn Trong các tác phẩm của ông, nổi bật nhất là các bài ca, đặc trưng cho âm nhạc thời lãngmạn và các tiểu phẩm cho dương cầm, trong đó nổi bật nhất là sonat và etudes Ông còn sángtác nhiều giao hưởng, concerto, oratoria và cả opera

III Vị trí của tác phẩm Giấc mơ trong sáng tác của S.Chumann

Robert Schumann sáng tác Kinderszenen ("Thời thơ ấu"), Opus 15, năm 1838, để hồi tưởng lại

thời thơ ấu của mình Tác phẩm này gồm 13 đoạn viết cho đàn piano Lúc đầu ông viết tới 30đoạn nhưng cuối cùng lựa ra chỉ 13 đoạn để xuất bản

Trong 13 đoạn này, đoạn thứ 7, Träumerei, là đoạn hay nhất Có thể nói đoạn này là một trong

những bài cho piano nổi tiếng nhứt từng được sáng tác trong nhạc cổ điển Nhiều pianist danhtiếng chơi bài này trong encore, điển hình là Vladimir Horowitz

IV Cảm nhận về bản nhạc Giấc mơ.

Trang 9

Bản nhạc với âm điệu nhẹ nhàng, sâu lắng khiến người ta có cảm nhận như đang đi vàochốn mơ mòng làm sống dậy những giác quan nhạy cảm.Bản nhạc có những nốt cao bấtthường làm điểm nhấn.

Đây là một bản nhạc buồn, đầy xúc cảm với những tâm tư của chính cõi lòng tác giảcũng như cám xúc chân thật của người chơi đàn

KẾT LUẬN

Trang 10

Cuộc sống mà không có âm nhạc thì cuộc sống sẽ trở nên rất tẻ nhạt và trầm lắng

Sô-xta-cô-vits từng nói: “Âm nhạc nâng con người lên, làm con người cao quí hơn, củng cố phẩm

chất, củng cố niềm tin vào sức mạnh bên trong của bản thân, vào sứ mệnh lớn lao của mình”.

Bản nhạc Giấc mơ của R.Chumann dưới sự thể hiện của V.Horowitz đã chúng ta thấy được vẻđẹp của âm nhạc, truyền cho chúng ta những cảm xúc mới lạ Điều này khẳng định vai trò của

âm nhạc trong đời sống

Thể loại tổ khúc - Srul Irving Glick

 Thể loại tổ khúc ( suite )

Tổ khúc (Suite) là một bộ các tác phẩm khí nhạc được sắp xếp theo thứ tự nhằm để biểudiễn riêng một mạch Trong thời kỳ Baroque, tổ khúc là một thể loại khí nhạc bao gồm một sốchương có cùng điệu thức, một vài hay tất cả dựa trên các hình thức và phong cách vũ khúc(các thuật ngữ khác dành cho nhóm các vũ khúc thời Baroque gồm có Partita, Overture, Ordre

và Sonata da camera)

 Tác giả : Srul Irving Glick

 Srul Irving Glick sinh ngày 8/9/1934 mất 17/4/2002 Ông sinh ra tại Toronto, OntarioCanada và có bằng cử nhân âm nhạc của đại học Toronto năm 1955 và tiến sĩ âm nhạcnăm 1993 Ông là nhà soạn nhạc, chủ nhiệm đài radio, người chỉ huy dàn nhạc và là giáoviên người Canada Ông tiếp tục sự nghiệp học nhạc ở Pháp một cách chuyên nghiệpnhư Darius Milhaud, Louis Saguer and Max Deutsch Ông còn dạy nhạc lý và sáng tácnhạc ở Royal Conservatory of Music and York University

 Nộidung tác phẩm

Tựa đề tác phẩm đã trực tiếp cho thấy nó chịu ảnh hưởng từ thành phố quê hươngToronto nhưng không phải Toronto ngày nay mà là Toronto trong quá khứ Với thể Klezmer,Glick đã đặt tác phẩm trong một cấu trúc âm nhạc Do Thái phương Tây truyền thống Thể này

đã trở thành phổ biến ở Bắc Mỹ vì sự phục hưng gần đây của nó tại nước Mỹ Thể Klezmergần giống âm nhạc dân gian Do Thái tuy nhiên nó tuyệt vời hơn với nhiều ý nghĩa sâu sắc hơn

Chữ Klezmer(Klezmorim) nguồn gốc từ Do Thái cổ Klezemer (vessels of song) là thểYiddish (tiếng Đức cổ của người Do Thái ở Trung và Đông Âu) được những nhà soạn nhạc DoThái biểu diễn ở cộng đồng Do Thái phương Tây trước năm 1939 Klezmorim được phổ biếnrộng rãi đặc biệt qua vùng phía Bắc vùng Pale Settlement (Bessarabia, Moldova, Bắc Ukraina

và Bucovina Rumania) Qua thời gian, dần dần truyền thống dân gian ở Ai Cập, Hy Lạp,Romania cũng bị ngấm ảnh hưởng từ những điệu nhảy Do Thái Klezmorim được xem như 1phần di truyền trong giới quý tộc chiếm một vị trí nhỏ trong xã hội Yiddish

Tổ khúc “suite” sử dụng trong ngữ cảnh này bao hàm một thể đặc biệt của tác phẩmtrong truyền thống nhạc cổ điển phương Tây Kể từ thời Baroque, tổ khúc đã được sử dụng để

đề cập tới 3 hoặc nhiều hơn 3 chương được nhóm vào cùng nhau để thể hiện cùng một serieschủ đạo Sáng tác dưới hình thức này, Glick đã nhấn mạnh trung tâm của một tác phẩm nghệthuật phải ở bên trong hệ tư tưởng của âm nhạc phương Tây

Trang 11

Qua sự lựa chọn tiêu đề Glick đã cho thấy được cái cốt lõi trong tác phẩm của mình.Cách đặt như vậy là sự hòa trộn của nghệ thuật âm nhạc Do Thái, phương Đông và phươngTây Hơn nữa, nó đại diện cho các truyền thống dân gian, nghi thức tế lễ, và thể cổ điển trong

âm nhạc, những thứ bao bọc lấy Glick trong suốt thời ông còn trẻ, hòa trộn trong ký ức của ông

về Toronto Có một câu hỏi cái gì đã cấu thành nên “Old Toronto” trong Glick? Tác phẩm củaGlick theo phong cách tự truyện phản ánh cuộc sống ở Toronto trong suốt thời ấu thơ củamình Qua sự hồi tưởng của Glick, có một số sự kiện hay địa điểm then chốt được nổi bật lên

và chắc chắn nó có ý nghĩa đặc biệt đối với ông

Chương I :KENSINGTON MARKET

Khu chợ Kensington là một nơi lý tưởng để khởi đầu bởi nó là trung tâm thành phố củangười Do Thái và cũng là nơi Glick ở trong suốt thời ấu thơ Từ nơi đây có thể mua đủ mọi thứthực phẩm, sách báo, những vật phẩm liên quan đến tôn giáo và tham gia vào các hoạt động xãhội, chính trị Do Thái Có những vùng khác trong thành phố tập trung nhiều nhân công, họcsinh,… hơn nhưng chỉ ở khu chợ này người ta mới thấy được tính tập thể và vẻ đẹp truyềnthống của nó Rõ ràng ý đồ của Glick khá tinh tế khi ông bắt đầu bằng cách tạo ấn tượng tổngquát của toàn vùng sau đó mới tập trung vào từng sự kiện từng nơi ỏ trong khu chợKensington

So với khu phố phía Bắc Dundas và phía Tây Spadina Avenue, khu chợ Kensington rấtđông đúc, chen chúc với vô số dân nhập cư Các quầy thịt, tiệm bánh, nhà ở, trụ sở đã tạo nênmột nền kinh tế trên khu phố Do Thái Hơn thế Kensington tập trung tất cả các tôn giáo, nềnvăn hóa và cộng đồng Cơ đốc chính thống bao gồm các hội và giáo đường Do Thái, các trườngtôn giáo, các quầy thịt ăn kiêng, tiệm bánh, hiệu sách đều của người Do Thái

Chương II : THE ROSELAWN CEMETERY

Chương 2 đề cập tới nghĩa trang Roselawn, nó được xây vào năm 1906 Theo truyềnthống, thành viên nào trong cộng đồng chết đi, họ sẽ được an táng ở vùng đất cúng xung quanhgiáo đường Tuy nhiên, dân nhập cư tới Canada tăng nhanh dẫn đến những người Do Thái quaToronto vào cuối thế kỷ 19 không còn đất an tang Vấn đề này đã được giải quyết bằng cáchquyên góp cho ra đời nghĩa trang Roselawn

Sau khi thăm những người Do thái bị chết trong vụ tai nạn và được an tang tại nghĩatrang Christian, Samuel Weber, một thành viên sùng đạo của Goel Tzedec, đã lập ra hộiHebrew Free Burial Society Sau đó ông đã mua nhiều mảnh đất , bây giờ được cắt ra thành đại

lộ Roselawn, và từ thiện biến chúng thành nghĩa trang Dưới sự chỉ thị của Rabbi JacobGordon, những nạn nhân vụ tai nạn được an táng lại trong khu nghĩa trang mới Từ nay về sau,quỹ Hebrew Free Burial Society đảm bảo rằng tất cả những người Do thái chết ở Torontokhông cần có tiền hay phải theo đạo Do Thái vẫn được sát nhập vào khu an táng

Dường như đây là sự trọn vẹn đối với Glick khi bao gồm cả hai khía cạnh cuộc sống vàcái chết trong tác phẩm của ông cũng như chúng là điều không thể tránh khỏi đối với bất cứcộng đồng tôn giáo nào Mặt khác, ông củng cố sức mạnh cộng đồng trên cả 2 cấp độ địaphương và cộng đồng Do Thái lớn hơn Một cộng đồng tôn giáo phải quan tâm đến bất cứ ai

dù là bạn bè hay người lạ mặt Và một nguyên nhân tạo nên chương 2 này đó là, một lần trongkhi đi bộ qua nghĩa trang (lối đi tắt từ trường về nhà của ông), Srul đã bắt gặp một tấm bia vớidòng chữ: We will never forget you Henry, dear Died 14 July 1921, age 7 Henry Glick

Trang 12

Chương III : THE UNITED BAKER’S

DAIRY RESTAURANT

Chương 3: Tiệm bánh bơ sữa là nơi gặp mặt giữa những người trong cộng đồng Do Thái

ở Toronto Nó được thành lập năm 1912 ở phố Dundas Năm 1920 cửa hàng chuyển tới đại lộSpadina cho đến năm 1986 lại chuyển một lần nữa Mặc dù những sự di chuyển này cửa hàngvẫn hầu như không hề thay đổi Nơi mà người chủ và công nhân nói chuyện và tranh cãi vớinhau Những bà mẹ cùng đứa con, chủ cửa tiệm, công nhân nhà máy,… tất cả tầng lớp xã hộigặp nhau ở đây và các cá nhân, những người không biết nhau đã biết nhau Srul Irving Glick đãsống trong một môi trường như thế

Ông đã vô tình phát hiện ra đó là anh trai của ông, người mà cha mẹ ông không bao giờnhắc đến Anh trai ông đã mất 10 năm trước khi ông ra đời năm 1934 Việc phát hiện ý nghĩanày đã tạo nên một chương nhạc vô cùng sâu sắc

Cộng đồng Do Thái Toronto vẫn nằm trong khuôn khổ của nó, trải qua một thập kỷ hoạtđộng mạnh mẽ và đã tự phát triển quỹ vào năm 1920 Những kiến trúc sư Do Thái bắt đầu thiết

kế những hội và giáo đường Do Thái lần đầu tiên trong lịch sử Toronto Tòa Agudath IsraelAnshei Sepharad xây vào năm 1914 và được xây lại theo phong cách vòng cung ở đại lộPalmerton vào năm 1925, là một trong số ít những giáo đường được kiến tạo vào đầu thế kỷ19

Chương IV : THE RABBI’S WEDDING AT

THE PALMERSTON SHUL

Chương cuối là chương duy nhất phản ánh một con người và một sự kiện đồng thời cũng

là một địa điểm “The Rabbi’s Wedding at the Palmerston Shul” ám chỉ tòa giáo đường xâyvào năm 1914 Bằng việc tạo nên đám cưới của giáo sỹ Do Thái, Glick đã nhấn mạnh tầm quantrọng của nhân vật này trong xã hội Do Thái Giáo sỹ là nhân vật khá được quan tâm mặc dùnhiều cộng đồng không đủ nguồn tài chính để giữ một trong số họ là của riêng Họ không chỉ

là người dẫn đầu tinh thần của dân Do Thái mà còn là sứ giả hợp pháp cho nhiều vấn đề trongcộng đồng

Thêm vào đó tựa đề của chương phản ánh sự thật các đám cưới là cơ sở chính củaklezmorim, những người mà xuất phát phần lớn từ các buổi diễn của họ ở các lễ hội, đám rước

và điệu nhảy tại đám cưới Ashkenazi Có thể đây cũng là ý nghĩa để củng cố tầm quan trọngcủa đám cưới và gia đình trong văn hóa Do Thái Cả sự sống và cái chết đã được phản ánhtrong tác phẩm thông qua 2 hình ảnh đám cưới và nghĩa trang Glick đã cho thấy được vòngtuần hoàn của cuộc đời con người

 Nghệ thuật

Ở chương I, Glick đã thể hiện một không khí bận rộn, dân cư đông đúc tấp nập qua việc

sử dụng những tầng lớp nhạc tố chồng chất Sự lặp lại hàng chuỗi nốt móc đôi đã tạo ra ấntượng không ngừng của chương nhạc Theo như Glick thì nên chơi chương nhạc với tốc độnhanh, tươi sáng, thể hiện sự hân hoan vui mừng thậm chí khôi hài một cách tự nhiên

Nhạc công biểu diễn chương II, The Roselawn Cemetery, được hướng dẫn chơi thậtchậm, thanh nhã và bí ẩn ma mị Những nốt đen của double bass gợi những tiếng bước chân

Trang 13

nặng nhọc bước qua nghĩa trang Một chủ đề chính ở (measure 3-14) mở đầu với cello và viola.

Nó làm nền cho đoạn solo sau này dựa theo Bằng cách đó, Glick đã làm nổi bật giai điệu thêlương Sau đó là một đoạn bass cho các soloists Những soloist trình diễn các âm thanh khácnhau, đúng hơn là sự vang dội của những tiếng than khóc khi bước qua nghĩa trang

Đoạn violin solo (measures 15-22) đặc biệt xuất hiện để bổ sung cho nhiều nhân tố đặctrưng của âm nhạc dân gian Yiddish Qua việc sử dụng các nốt duyên dáng, Glick đã khai tâmcho ý tưởng bắt và trượt nốt tạo ra sự ấn tượng khi mô tả tiếng khóc của người phụ nữ Hòa âmđoạn measures 23-25 như an ủi những người đang khóc trong khi âm vang sâu đậm của tiếngcello solo (measures 28-31) vang dội miêu tả nỗi buồn phảng phất Mặc dù về tổng quan vẻđẹp của đoạn hòa âm tiếng than vãn nhưng sức mạnh của chương này nằm trong những hợp âmnghịch cuối đoạn, để lại một nỗi băn khoăn, không yên lòng; chúng dường như không bị mất đicho đến khi chương III thực sự bắt đầu

Trong United Baker’s Dairy Restaurant Glick đã tận dụng khía cạnh các thức truyềnthống của hội Do Thái để thêm chút vị Ashkenazic vào trong chất lãng mạn ở chương này.Chương III khá giống một bản waltz, một thể loại được phát triển trong cuối thế kỷ 18 thuộccuối thời kỳ cổ điển đầu thời kỳ lãng mạn Điệu nhảy dành cho các cặp đôi đã trở thành biểutượng cổ điển và đầy tính thanh lịch, tuy nhiên ở đây, công thức cổ điển này có một bước ngoặttrong việc giới thiệu thức ngâm tụng, kết quả của sự sáng tạo một chuỗi giai điệu du dương bấtngờ

Trong 6 measures đầu The Rabbi’s Wedding at the Palmerston Shul, double bass thểhiện giai điệu đơn tự do Những âm thanh sâu và tối khiến liên tưởng đến người điều khiển cađoàn hay giáo sỹ đang cầu nguyện tại đám cưới Những đặc trưng riêng lẻ này chưa khẳng địnhđược Glick đang sử dụng lối tụng ngâm Ashkenazic Cần phải khám phá nhiều hơn về sự thốngnhất trong lối ngâm tụng và phần đầu của chương

Qua việc khám phá Askenazic và đoạn đầu chương IV, cho thấy bằng chứng lối tụngngâm truyền thống được sử dụng thống nhất với phần này của tác phẩm Sự hòa hợp giữa cácđặc trưng trong thánh ca Do Thái với nhân tố cổ điển đã đạt được kết quả đáng ngạc nhiên tạonên niềm xúc động sâu sắc và đó chính là sự thành công trong việc hòa âm 2 thể loại nhạctruyền thống

• ĐẶC ĐIỂM

o Cách phối hợp màu sắc, ánh sáng thông minh hài hòa với sự chọn lựa phông nền độcđáo làm cho đối tượng được thể hiện trong tranh trở lên sống động, có hồn khiến ngườixem thấy gần gũi, dễ hiểu, quen thuộc với cuộc sống, với thế giới xung quanh mình hơn

o Cách phối hợp màu sắc, ánh sáng thông minh hài hòa với sự chọn lựa phông nền độcđáo làm cho đối tượng được thể hiện trong tranh trở lên sống động, có hồn khiến ngườixem thấy gần gũi, dễ hiểu, quen thuộc với cuộc sống, với thế giới xung quanh mình hơn

o Vẻ đẹp của con người và cuộc sống được tôn lên nhờ ánh sáng và bóng tối, nhờ ngày

và đêm, quá khứ và hiện tại, cái thiện và cái ác cũng như những giá trị tư tưởng đượcnhận ra giữa ranh giới chiến tranh và hòa bình

• Painter Studio

- Hoàn thành năm 1855

- Loại dầu trên vải

Trang 14

- Kích thước 361 cm x 598 cm (142 × 235 ở trong)

- Trưng bày tại bảo tàng Orsay, Paris

- Bắt đầu vào cuối năm 1854, ông đã hoàn thành nó trong sáu tuần Những hình ảnh trongbức tranh là đại diện ngụ ngôn của những ảnh hưởng khác nhau về đời sống nghệ thuậtcủa Courbet Bên trái là hình người từ tất cả các tầng lớp xã hội Ở trung tâm, Courbethoạt động trên một cảnh quan, trong khi quay lưng lại với một người mẫu nude là ngườimột biểu tượng của nghệ thuật Bên phải là bạn bè và cộng sự của Courbet

- Đươc coi là tuyên ngôn của trường phái hiện thực

• CHÂN DUNG CỦA JULIETTE COURBET NGỦ TRE EM (1841)

• Người đàn ông bị thương (1844-1854)

• Mùa thu vàng của Levitan

- vẽ năm 1895 Hoàn thành năm 1879

- Loại tranh sơn dầu

- hiện được lưu tại Bảo tàng nghệ thuật Tretyakov, Moscow, Nga

- Mùa thu vàng, là một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của họa sỹ phong cảnh Nga

thế kỷ XIX Isaac Levitan Với bút pháp hiện thực tinh tế và ít nhiều lãng mạn, bức tranhnhư mang chở cả tâm hồn Nga Ở đó những âm điệu bạch dương như cất lên những âmthanh đầy xúc cảm

- Quang cảnh làng quê Nga được vẽ ra với nền trời xanh thắm, những vầng mây lơ lửngnhư đem lại cảm xúc bâng khuâng vô định Bên hai bờ sông uốn khúc là những hàngdương ngả màu vàng báo hiệu mùa thu đến Ánh nắng yếu ớt trải dài trên thảm cỏ Sắcxanh lam của nền trời lại in bóng trên mặt nước bàng bạc của dòng sông nhỏ phẳng lặng,yên bình Một phong cảnh mà người ta có thể đọc ra nhiều dự cảm với tấm lòng trắc ẩn

Đề bài số 06

Khái niệm

“ hình tượng nghệ thuật” và những nét đặc trưng của nó

• Nội dung

• Nguồn gốc khái niệm hình tượng nghệ thuật

 Xuất hiện cách đây hơn hai nghìn năm, hình tượng nghệ thuật được hiểu đơn giản làcách mô phỏng thế giới khách quan Các nhà triết học cổ đại Hi Lạp – tiêu biểu là Platon

và Aristotle đã chú ý đến tính chất nổi bật này của tạc phẩm nghệ thuật Họ gọi nghệthuật là sự “mô phỏng tự nhiên” “Tự nhiên” được hiểu là toàn bộ thế giới thực tại gồm:

tự nhiên và xã hội, còn “mô phỏng” là khả năng của nghệ thuật trong việc tái tạo lại cáchiện tượng riêng lẻ ấy bằng các loại hình nghệ thuật Điều đó cho thấy, ở thời cổ đại,mặc dù chưa có khái niệm hình tượng, song trên thực tế ta đã hiểu rằng nghệ thuật táihiện, tái tạo cuộc sống bằng hình tượng

Trang 15

 Sau này, Hegel – nhà triết học người Đức, người sang lập ra chủ nghĩa suy tâm Đức,cũng chia nhận thức của con người ta ra làm ba nhóm: triết học nhận thức bằng kháiniệm: tôn giáo nhận thức bằng biểu tượng còn nghệ thuật nhận thức bằng hình tượng

• Nguồn gốc khái niệm hình tượng nghệ thuật

 Còn Beilinski – nhà tư tưởng Nga nổi tiếng thế kỷ 19 thì phân biệt cụ thể hơn, ông chorằng: “nhà triêt học nói bằng phép tam đoạn luận, nhà thơ nói bằng các hình tượng vàbức tranh… Nhà kinh tế chính trị được võ trang bằng các số liệu thống kê để tác độngđến trí tuệ người đọc và người nghe […] Nhà thơ được trang bị bằng sự miêu tả sinhđộng, đậm nét về hiện thực, tác động vào trí tưởng tượng các độc giả của mình, phơi bàytrong một bức tranh […] người này chứng minh, người kia phơi bày và cả hai đều thuyếtphục, chỉ có điều người này thì bằng các luận chứng logic, còn người kia lại bằng nhữngbức bức tranh”

 Cho đến nay, tư tưởng ấy vẫn giữ nguyên được tính đúng đắn của nó và thực tế đã chứngminh: tính hình tượng được xem là nét đặc trưng, đặc trưng chủ yếu của tất cả các loạihình nghệ thuật

• Khái niệm “hình tượng nghệ thuật"

• Khái niệm hình tượng nghệ thuật nói chung

 Hình tượng nghệ thuật là phương tiện đặc thù của nghệ thuật nhằm phản ánh cuộc sốngmột cách sáng tạo, bằng những hình thức sinh động, cảm tính, cụ thể như bản thân đờisống, thông qua đó nhằm lí giải, khái quát về đời sống gắn liền với một ý nghĩa tư tưởng,cảm xúc nhất định, xuất phát từ lí tưởng thẩm mỹ của nghệ sĩ

 Mỗi hình tượng là một tế bào góp phần làm nên tác phẩm nghệ thuật, trong đó chứađựng nội dung cuộc sống những thông tin về đời sống, những quan niệm, tư tưởng, cảmxúc của tác giảHình tượng nghệ thuật chính là sự biểu hiện những quan niệm khái quát

về cuộc sống dưới hình thức cụ thể, cảm tính như cảm hình thức của bản thân đời sống

• Khái niệm hình tượng nghệ thuật nói chung

 hình tượng nghệ thuật là một khách thể tinh thần được thù bởi nó tồn tại độc lập với ýthức chủ quan của nhà văn, độc lập với ý muốn của người đọc, nhằm thỏa mãn nhu cầutinht hần của con người Hình tượng nghệ thuật gợi ra một thực thể toàn vẹn, sống độngnhư thật, có diện mạo riêng, cá biệt, đặc thù, không giống nhau Hơn thế nữa, hình tượngnghệ thuạt là một quan hệ xã hội thẩm mĩ với tính tạo hình và biểu hiện tính nghệ thuật

 Tìm hiểu về hình tượng nghệ thuật, trước hết phải hiểu hình tượng nghệ thật bắt nguồn

từ một loại tư duy đặc biết: tư duy hình tượng – một trong ba loại tư duy : tư duy hànhđộng – trực quan: tư duy khái niệm – logic và tư duy hình tượng – cảm tính

• Khái niệm hình tượng nghệ thuật nói chung

 Tư duy hình tượng – cảm tính: nảy sinh trên cơ sở tiếp xúc trực tiếp với đối tượng Nótái hiện đối tượng một cách toàn vẹn nhưng không thoát li đối tượng mà gắn liền vớinhững đặc điểm cụ thể, cá biệt, sinh động về đối tượng để qua đó mà bộc lộ cái kháiquát Loại tư duy này bao hàm cả thái độ đánh giá chủ quan của chủ thế Nghệ thuật táihiện và khái quát cuộc sống dựa trên cơ sở của loại tư duy này

 Nói một cách cụ thể, nghệ sĩ xây dựng nên hình tượng nghệ thuật dựa trên cơ sở các loại

tư duy hình tượng – cảm tính, và hình tượng nghệ thuật chính là sự biểu hiện nhữngquan niệm khái quát về cuộc sống dưới hình thức cụ thể, cảm tính như cảm hình thứccủa bản thân đời sống

Trang 16

• Khái niệm hình tượng nghệ thuật trong mĩ học

 Nghĩa rộng: chỉ đặc điểm chung về phương thức phản ánh đời sống của tất cả các loại

hình nghệ thuật, để phân biệt nghệ thuật với khoa học và các hình thức xã hội khác

 Nghĩa hẹp: Khái niệm hình tượng được dùng trong phạm vi tác phẩm Chủ yếu là hình

tượng cụ thể về một con người: một tập thể người: một con vật, đồ vật hay một cảnh sắcthiên nhiên, một cảnh sinh hoạt lao động thường ngày,… Tất cả mọi thứ dù tầm thườngnhất khi đi vào nghệ thuật đều có thể trở thành hình tượng một khi nó mang trong mìnhnhững quan niệm sống, những trải nghiệm cuộc đời, những triết lý nhân sinh sâu sắc

hình tượng nghệ thuật

a Hình tượng nghệ thuật gắn liền với đời sống

 Nghệ thuật luôn gần gũi với cuộc đời, sống trong cuộc đời, phát triển theo nhịp sốngcủa cuộc đời như một người bạn đồng hành tận tụy, một người thư kí trung thành củathời đại

 Hình tượng nghệ thuật tái hiện cuộc sống nhưng lại không đơn thuần là sao chép ynguyên những hiện tượng có thật mà tái hiện một cách có chọn lọc, sáng tạo thông quatài năng và trí tưởng tượng của nghệ sĩ, bằng sự khéo léo và tinh tế của mình, họ biếnnhững sự vật dù tầm thường nhất cũng có thể trở thành những hình tượng đẹp có sứctruyền cảm mạnh mẽ, mang những ấn tượng sâu sắc đến với người cảm thụ

• b Hình tượng nghệ thuật là sự thống nhất giữa hai mặt chủ quan và khách quan

 Nghệ thuật phản ánh thế giới khách quan qua cái nhìn chủ quan của người nghệ sĩ.Nghệ thuật là hình ảnh của cuộc sống khách quan được phản chiếu qua đôi mắt chủ quancủa cuộc đời nghệ sĩ đa cảm, tinh tế, sâu sắc Trong nghệ thuật, yếu tố chủ quan chi phốiđến cả quá trình sáng tạo của tác giả, hơn thế tính chất chủ quan còn in dấu rõ nét trênmỗi tác phẩm nghệ thuật, và chính đó làm nên phong cách riêng của người nghệ sĩ

 Như vậy, trong quá trình sáng tạo nghệ thuật, người nghệ sĩ đặt tình cảm chủ quancủa bản thân vào trong chính hình tượng mình xây dựng hình tượng nghệ thuật do đókhông chỉ phản ánh hiện thực mà còn biểu hiện thái độ chủ quan của người nghệ sĩ đốivới hiện thực ấy đó chính là điểm làm nên sự khác biết giữa nghệ thuật và khoa học

• c Hình tượng nghệ thuật là sự thống nhất giữa lí trí và tình cảm

 Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí trí và tình cảm là nhân tố đưa các tác phẩm nghệ thuậttrở thành những kiệt tác trường tồn cùng thời gian Một tác phẩm càng chứa đựng nhiềucung bậc cảm xúc thì càng đễ đi vào lòng người vì vậy mà càng dễ chiến thắng cái khắcnghiệt của không gian và thoát khỏi quy luật bào mòn của thời gian

 Lí trí là những nhận thức đúng đắn, sáng suốt về cuộc sống, về thực tại Lí trí là địnhhướng cho con người nghệ sĩ, giúp họ không đi trệch khỏi quỹ đạo “nghệ thuật gắn liềnvới đời sống” trong quá trình sáng tạo của mình Tình cảm dù có mãnh liệt đến đâu cũng

sẽ không đem lại giá trị cho hình tượng nếu nó không được đặt dưới sự kiểm soát của lítrí, không đi theo sự chỉ dẫn của lí trí Sự chi phối của yếu tố lí trí bộc lộ năng lực ở nắmbắt, phát hiện bản chất của cuộc sống ở tầm khái quát, thể hiện trong việc lựa chọnnhững chi tiết quan trọng và chủ yếu để xây dựng hình tượng Hơn nữa nó còn chi phối

cả hoạt động hư cấu và tưởng tượng của người nghệ sĩ

• d Hình tượng nghệ thuật là sự thống nhất của cái cụ thể, cá biệt, cảm tính với cái

khái quát

Trang 17

 Mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan đều tồn tại ở dạng riêng biệt, là một cáthể độc lập, cụ thể Ngay chính bản thân con người cũng tồn tại là những cá nhân cụ thể,độc đáo, không lặp lại Song không phải vì thế mà chũng sống tách rời, riêng rẽ, mọi sựvật hiện tượng chỉ có tồn tại được khi chũng được đặt trong mối quan hệ với sự vật, hiệntượng khác xung quanh, nó mang những dấu hiệu cụ thể, cá biệt, không lặp lại ở nhữnghiện tượng khác, lại vừa mang những đặc điểm bản chất đại diện cho những hiện tượngcùng loại, điển hình cho loại của mình.

 Một người nghệ sĩ xuất sắc hay một nhà bác học tài năng cũng đều phải biết nắm bắtnhững gì chủ yếu thuộc về bản chất của sự vật, hiện tượng, để biết tập trung sự chú ý củamình vào những sự kiên, những quá trình của sự vật, hiện tượng mà trong đó bộc lộ đầy

đủ nhất ý nghĩa cảu đối tượng mình khám phá và nghiên cứu Cảm giác này thể hiện rõhơn trong những loại hình nghệ thuật mà hình tượng giàu tính tạo hình, có khả năng tácđộng trực tiếp vào giác quan người thưởng thức: hội hoại, điêu khắc, sân khấu, điện ảnh

• e Hình tượng nghệ thuật mang tính ước lệ

 Bằng hình tượng nghệ thuật mang tính ước lệ, người nghệ sĩ có thể thỏa sức sáng tạo

 Nghệ thuật tái hiện cuộc sống một cách có chọn lọc, có sáng tạo bằng hoạt động hư cấuthông qua trí tưởng tưởng của nghệ sĩ Kết quả của quá trình đó là những hình tượngnghệ thuật mang tính ước lệ Người nghệ sĩ thực sự tài năng là người có thể mang cả cáihơi thở phập phồng của sự sống vạn vật vào trong tác phẩm của mình Xuất hiện khánhiều và trở thành nét điển hình không thể thiếu, tính ước lệ của hình tượng nghệ thuậttrở thành một được điểm nổi bật trong văn học cổ Việt Nam Người xưa thường dùnghình ảnh phong, hoa, tuyết, nguyệt, cây,cỏ,… để diễn tả ngoại hình, dáng vẻ, cốt cách,phẩm giá của con người

 Nhờ tính ước lệ mà hình tượng nghệt thuật mang tính hàm xúc cao, nó có thể truyền đạtđược những nội dung cuộc sống phong phú trong một bức tranh, một pho tượng, một vởkịch, một bản nhạc, một bộ phim, hay chỉ trong một câu chuyện ngắn,…

• f Hình tượng nghệ thuật mang tính đa nghĩa

 Một hình tượng nghệ thuật có thể đem đến cho người thưởng thức những cách nhìnnhiều chiều, những cách lí giải ở nhiều góc độ khác nhau Đó chính là tính đa nghĩa củahình tượng nghệ thuật Tính đa nghĩa cũng là một tronh những đặc điểm nổi bật làm nêntính khác biệt giửa hình tường nghệ thuật với các khái niệm khoa học

 Theo thời gian, hình tượng có thể cũ mì nhưng ý nghĩa của nó thì luôn phát triển theonhịp sống và ngày càng trở nên phong phú, mới mẻ hơn Điều đó lý giải vì sao có nhữngtác phẩm nghệ thuật cứ trường tồn mãi cùng thời gian mà vẫn không đánh mất đi cái giátrị lớn lao của mình

• Bài thơ “Tre Việt Nam” – Nguyễn Duy

Tre xanh xanh tự bao giờ?

Trang 18

Rễ siêng không ngại đất nghèo

Cây kham khổ vẫn hát ru lá cành

• Tre Việt Nam

 Việt nam là xứ nhiệt đới gió mùa nên “xanh muôn ngàn cây lá khác nhau” (Thép Mới)

Từ núi cao cực Bắc tới sông nước Cà Mau, mỗi vùng sinh thái đều tươi xanh những loàithảo mộc, hoa trái đặc trưng Nhưng thân thương xiết bao, khi đâu đâu cũng bốn mùaxanh những lũy tre tươi tốt Từ Bắc chí Nam, trên núi trên đồi bạt ngàn tre nứa giangvầu… Đồng bằng thì làng quên nào cũng lũy tre bao bọc, bờ đê nào cũng tre xanh chắnsóng và ngăn lũ, nên sông quê “nước gương trong soi tóc những hàng tre” (Tế Hanh)

 Chọn hình tượng cây tre Việt Nam làm đối tượng phản ánh, qua đó khái quát nên nhữngphẩm chất tốt đẹp, quí báu của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam được chắt lọc, kếttinh trong suốt chiều dài lịch sử là một phát hiện độc đáo Trong thế giới tự nhiên bao la

có muôn vàn loài cây, nhưng có lẽ chỉ có cây tre là gần gũi, thân thuộc nhất đối với conngười Tre gắn bó, hữu ích và trở thành hình ảnh thiêng liêng trong tâm thức Việt Nam

tự bao đời Không kiêu hãnh cô độc như tùng bách, không kiêu sa như các loài hoahương sắc, không thấp thỏi, khiêm nhường như cỏ, loài tre mộc mạc

• Tre Việt Nam

 Tre là bạn đồng hành thủy chung, thân thiết của người từ thuở xa xưa gian lao suốt nhiềuthế kỷ khai hoang mở đất để rồi dựng nước Những làng xã định cư với lũy tre xanh baobọc ngăn gió bão, từ ấy không chỉ là đặc trưng sinh tồn của làng, mà còn là đặc trưngvăn hóa – thẩm mỹ riêng của làng quê Việt Nam ta

 Trong sâu xa tâm thức con người Việt từ thuở ấy, đã bình yên và xanh mát bóng tre Tre

“ăn ở với người, đời đời, kiếp kiếp”, “sống có nhau, chết có nhau chugn thủy” Tre “mộcmạc”, “nhũn nhặn” mà nhẫn nại không chê đất cằn sương gió Tre “ngay thẳng, thủychung, can đảm”, giàu lòng vị tha, bao dung, đùm bọc Tre “thanh cao, giản dị, chí khínhư người” “Tre xanh không đứng khuất mình bóng râm”

• Tre Việt Nam

 Có thể nói rằng cây tre là biểu tượng cho phẩm chất đặc sắc nhất của con người Việtnam ta: đoàn kết, thủy chung, thanh cao, bất khuất Là đức tính kiên cường ẩn sâu trongkhả năng thích ứng dẻo bền vô hạn trước mọi tai họa thiên nhiên cũng như mọi bão táp

và bi kịch của lịch sử Tre xanh hiên ngang, cứng cáp mà dẻo bền vô hạn xứng đáng làbiểu tượng của cốt cách và các phẩm chất đặc sắc của con người và văn hóa Việt Namta

 Trong các loại hình nghệ thuật, cây tre luôn được tôn vinh như một biểu tượng đẹp củadân tộc Việt Nam Chất liệu tre đã đi vào thơ ca, âm nhạc điêu khắc, hội họa như mộtbiểu tượng nghệ thuật độc đáo Dường như hình tượng cây tre là nguồn cảm hứng bấttận để giới nghệ sĩ gửi gắm tâm hồn và tư duy sáng tạo trong nghệ thuật

MÔN MỸ HỌC

Trang 19

Giới thiệu nghệ sĩ Yo – Yo Ma và bản nhạc Humoresque Op 101,

No 7 của A.Dvorak

• Sinh ngày 7 tháng mười 1955 tại Paris, Pháp - là một nhạc sĩ đàn violoncelle quốc tịch

Yo-Yo Ma sinh tại Pháp bởi cha mẹ người hoa kiều, Marina Lu ca sĩ và Hiao-Tsiun Manhạc sĩ, Yo-Yo Ma bắt đầu học chơi đàn violoncelle lúc 4 tuổi với người cha sau đó theohọc trường âm nhạc ở Saint Germain-en-Laye (Yvelines), ngoại ô Paris với bà LepinteBèche mà bà ta là học trò của thầy Paul Bazelaire

Yo-Yo Ma -馬友友

• Sau buổi trình diển âm nhạc đầu tiên ở Paris lúc 6 tuổi, Yo-Yo Ma theo cha mẹ đi định

cư ở New York, Hoa Kỳ - nơi anh ta theo học với Leonard Rose tại Juilliard School.Anh ta khởi đầu nghiệp nhạc sĩ violoncelle dưới sự điều khiển của Leonard Bernstein và

đã trở về Pháp làm việc một thời gian với dàn nhạc Orchestre National de France vàOrchestre de Paris dưới sự điều khiển của nhạc trưởng Myung-Whun-Chung

Năm 2004, Yo-Yo Ma đã ra mắt một album nhạc dành cho đàn violoncelle về những bàinhạc phim của Ennio Morricone dưới sự điều khiển của chính Ennio, người nhạc sĩ ýsáng tác rất nhiều nhạc đệm cho các bộ phim nổi tiếng

• Yo-Yo Ma trình diễn tại White House trước TT Ronald Reagan và phu nhân cùngHoàng Tử Nhật Bản Akihito và Công Chúa Michiko

• Yo-Yo Ma cũng mở rộng việc tìm kiếm và khám phá những dạng nhạc khác ngoàinhững hoà tấu khúc cổ điển, như Jazz và Tango cũng như các loại nhạc cổ truyền dântộc, đã có lần anh ta phối nhạc với nhóm bộ lạc Kalahari ở Phi Châu Anh cũng đã làmviệc và công tác nhiều lần với nhạc sĩ sáng tác nhạc cho phim ảnh John Williams (7 năm

ở Tibet, Ký ức của một Geisha - Seven Years in Tibet, Memoirs of a Geisha).Anh ta đã đở đầu trong những năm đầu tiên của dàn nhạc Do thái - Ả rập OrchestreDivan occidental-oriental dưới sự điều khiển của nhạc trưởng Daniel Barenboim (là

chồng của nhạc sĩ hồ cầm quá cố Jacqueline du Pré mà cây đàn Davidov Stradivarius bà

ta thường trình diễn ngày nay đã được Yo-Yo Ma sử dụng)

• Yo- Yo Ma đã gặt hái được rất nhiều thành công, với hơn 50 album và giành tới 15 giảiGrammy, ra mắt khán thính giả với trên 116 albums nhạc (cassettes, VHS, CD Music vàDVD ) Ông cũng đã từng biểu diễn cùng rất nhiều các nghệ sĩ tên tuổi khác trong dòngnhạc cổ điển

Trang 20

• Yo-Yo Ma có phong cách biểu diễn mang nhiều ấn tượng của sự tìm tòi, khám phá, thảhồn vào tác phẩm với sức biểu cảm rất cao

• Với Yo Yo Ma, âm nhạc cổ điển không phải là một nghệ thuật quá cao sang, xa xỉ màgiống như “một chuyến xe chuyển tải các ý tưởng, sự đa văn hoá khắp thế giới” tới tất cảcộng đồng Không nằm ngoài mục đích đó, Ma đã thành lập dự án Silk Road (Conđường tơ lụa) để xúc tiến việc nghiên cứu văn hoá, nghệ thuật truyền thống và trí tuệ củangười xưa, mang những kiến thức và tình yêu âm nhạc cổ điển đến với tất cả mọi người,đặc biệt là giới trẻ Với những cống hiến của mình, ông đã được quốc tế công nhận nhưmột vị đại sứ của âm nhạc cổ điển

• Giải thích thể loại Humoresque và giới thiệu bản Humoresque Op 101, No 7 củaA.Dvorak

• Humoresque là một trong những thể loại tiểu phẩm (có thể được viết lại cho

• nhiều loại nhạc cụ khác nhau) Với đề tài chính của tác phẩm là dựa trên chủ

• đề con người, với những quãng thời thơ ấu, tuổi trẻ, khi về già với những

• giai điệu biểu đạt khác nhau

• Theo đó, bản Humoresque Op 101, No 7 của Dvorak cũng bao gồm ba

phần chính Phần đầu giọng sol giáng trưởng với kỹ thuật ngắt đặc trưng tạo nên giai điệu vui tươi, tinh nghịch để miêu tả thời thơ ấu, trẻ thơ của cuộc đời.

Phần thứ ba giọng chuyển thành fa thăng thứ, mang âm hưởng hoài niệm dùng biểu thị

cho tuổi già, đoạn cao trào của phần này bản nhạc sẽ chơi cao hơn 1 quãng 8 để nối với phần hồi ức tiếp theo Hồi ức thực chất là sự lặp lại của phần 1, và phần 2 với một chút biến tấu để kết thúc Tuy nhiên, cách xử lý của người biểu diễn phải thay đổi để đoạn hồi

ức mang tính hoài niệm, nuối tiếc về quãng thời gian thơ ấu êm đềm và thời tuổi trẻ yêu đương hạnh phúc.

Phần thứ hai giai điệu chuyển sang mềm mại, trữ tình, dùng để biểu trưng cho thời tuổi

trẻ với tình yêu trong sáng của lứa đôi

Hoàng trung thành

Mssv: 380255

Sinh 21/3/1685 tại Eisenach, miền Thuringia nước Đức Ông là một nhạc sĩ organ xuất sắc,một bậc thầy về sáng tác âm nhạc, một người đứng đầu về bộ môn đối điểm của thời đại đó vàcũng là một nhà giáo dục âm nhạc có tài

J.S.Bach

không chỉ là một nhà giáo dục âm nhạc có tài mà còn là một tín đồ đạo Lutheran thuần thánh,

có cảm xúc tôn giáo biểu hiện rất rõ qua các sáng tác âm nhạc của mình

Phong cách âm nhẠc cỦa Bach lẬp nỀn trên kỸ năng cỦa ông trong sáng tẠo đỐi âm

và kiỂm soát nhẠc tỐ, sỰ tinh tẾ cỦa ông trong nhỮng đoẠn ngẪu hỨng, khẢ năng tiẾp cẬnvỚi âm nhẠc Pháp, Ý BẮc và Nam ĐỨc, cũng như niỀm đam mê tẬn hiẾn dành cho giáonghi Lutheran

Phong cách âm nhạc của Bach

NhỮng sáng tác cho đàn organ

Trang 21

Trong giai đoạn sáng tác đỉnh cao của mình (1708-14), Bach sáng tác những đôi prelude vàfugue cũng như toccata và fugue một tuyển tập chưa hoàn tất gồm 46 khúc dạo đầu ngắn thểhiện kỹ thuật sáng tác trên nền hòa âm hợp xướng.

Về sau, Bach dành nhiều thời gian cho việc tư vấn các đề án về organ, thử những chiếc đànorgan mới, và trình diễn đàn organ trong những buổi độc tấu

NhỮng sáng tác khác cho bỘ gõ

Bach có nhiều sáng tác cho đàn harpsichord, trong đó có một số có thể trình bày với đànclavichord Phần nhiều những sáng tác cho bộ gõ của ông là những hợp tuyển bao gồm toàn bộ

hệ thống lý thuyết theo phong cách bách khoa toàn thư

1,The Well-Tempered Clavier, Quyển 1 và 2 (BWV 864 – 893)

2,15 Invention và 15 Sinfonia (BWV 772-801)

3, Ba tuyển tập dance suites: English Suites (BWV 806-811), French Suites (BWV 812-817),

và Partiatas cho bộ gõ (BWV 825-830)

4, Những khúc biến tấu Goldberg (BWV 988) là một aria với 30 biến tấu

5, Những sáng tác đa dạng khác như Overture in the French Style (French Overture, BWV831), Chromatic Fantasia and Fugue (BWV 903), và Italian Concerto (BWV 971)

NhẠc Giao hưỞng và Thính phòng

Tác phẩm giao hưởng nổi tiếng nhất của Bach là Brandenburg Concertos

Những concerto khác của Bach còn lưu giữ đến ngày nay có hai concerto violin (BWV

1041 và BWV 1042), một Concerto cho hai Violin Rê thứ (BWV 1043) thường được gọi làconcerto “đôi” của Bach và những concerto cho từ một đến bốn đàn harpsichord

Bach cố gắng diễn tả cảm xúc của bản nhạc, cho rằng mục đích của âm nhạc là tạo nênmột thứ ảnh hưởng tác dụng

Air on the G string

Air on the G string là bản biến tấu cho đàn dây solo của August Wilhemlj từ nguyên bảnchương 2 tổ khúc cung rê trưởng cho dàn nhạc của Bach (đây là tổ khúc số 3, gồm 5 chương)

Bản nhạc có giọng gốc là rê trưởng nhưng được viết lại dưới giọng đô trưởng

Trang 22

TỔ KHÚC (SUITE)

Tác giả: Charles Camille Saint-Sặns

Charles Camille Saint-Sặns

• Sinh vào ngày 9/10/1835 và mất ở Paris tại "Rue du Jardin“

• Mất ngày 16/12/1921

• cậu bé Charles biết chơi piano từ khi mới lên 2 và khi ấy đã cho thấy thiên tư âm nhạcmạnh mẽ cũng như của Mozart và Mendelssohn

• lâu cậu học piano dưới sự hướng dẫn của Camille Stamaty và Alexandre Boëly, học hồ

âm do Pierre Malede dạy

• thời điểm 4 tuổi 7 tháng cậu bé Charles đã chơi được một phần trong Violin sonata củaBeethoven

Charles Camille Saint-Sặns

 năm tuổi thì sáng tác “Le Soir“

 năm lên 10 cậu bé đã cĩ thể chơi tất cả 32 sonata của Beethoven hồn tồn theo trí nhớ

 6/5/1864 giao hưởng đầu tiên được ra đời và giành giải "Societe Sainte Cecile"

Charles Camille Saint-Sặns

• Trong suốt cuộc đời:

• ơng đã viết tất cả 10 concerto

 2 Giới thiệu về tổ khúc Le Carnaval des Animaux (Ngày hội của muơng thú)

 Ra đời vào tháng 2 năm 1886 ở một làng nhỏ thuộc nước Áo, Camille

 Dành cho những bữa tiệc vui vẻ cuối tuần

 mơ tả các loại động vật rất sáng tạo song lại rõ đặc trưng, như những tiếng gần như khànkhàn, đục đục của những chú gà hay đinh tai the thé của những con lừa

 Le Carnaval des Animaux (Ngày hội của muơng thú)

 2 Giới thiệu về tổ khúc Le Carnaval des Animaux (Ngày hội của muơng thú)

 Đây là một tác phẩm vui nhộn, thỏa mãn được tính cách hĩm hỉnh tinh nghịch của nhàsoạn nhạc

 Le Carnaval des Animaux (Ngày hội của muơng thú)

Ngày đăng: 16/01/2016, 09:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w