Trong những tháng đầu năm, nền kinh tế phải đối mặt với tình trạng lạm phát leo thang, thâm hụt thương mại gia tăng, thị trường ngoại tệ biến động mạnh, thanh khoản ngân hàng gặp khó khă
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI NÓI ĐẦU 2
I Chính sách lạm phát, lãi suất, tỷ giá năm 2011 2
1.Chính sách lạm phát 3
2.Chính sách lãi suất 5
3.Chính sách tỷ giá 10
II Dự báo lạm phát, lãi suất, tỷ giá năm 2012 15
1.Lạm phát 15
2.Lãi suất 16
3.Tỷ giá 16
KẾT LUẬN 18
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Năm 2011 được xem là một năm đầy khó khăn cả trên phương diện kinh tế vĩ mô và góc
độ vi mô ngành, doanh nghiệp Trong những tháng đầu năm, nền kinh tế phải đối mặt với tình trạng lạm phát leo thang, thâm hụt thương mại gia tăng, thị trường ngoại tệ biến động mạnh, thanh khoản ngân hàng gặp khó khăn và mặt bằng lãi suất tăng cao Trước tình hình đó, Chính phủ ban hành Nghị quyết 11 với những giải pháp quyết liệt kết hợp
cả chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ tập trung ổn định kinh tế vĩ mô Chính sách
ưu tiên chống lạm phát, ổn định vĩ mô trong khuôn khổ của một chiến lược dài hạn, một
sự chuẩn bị cần thiết cho quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ phát triển theo chiều rộng, phân bổ nguồn lực chưa hợp lý sang ưu tiên mục tiêu hiệu quả Chính sách tiền tệ thắt chặt cũng vào cuộc mạnh mẽ nhất quán với mục tiêu kiềm chế lạm phát và không đặt nặng mục tiêu tăng trưởng: Hạn chế tăng trưởng tín dụng dưới 20%, hạn chế tăng trưởng tín dụng phi sản xuất cuối năm ở mức 16%, tăng các lãi suất chủ chốt, kiểm soát chặt chẽ các hệ số an toàn ngân hàng (Nghị quyết 11/NĐ-CP) Tuy nhiên, ổn định vĩ
mô là một lộ trình dài và sự khởi đầu có lẽ không tránh khỏi những khó khăn, bất cập Cái giá phải trả trong ngắn hạn đang được bộc lộ rõ bởi những rủi ro vĩ mô thường trực
áp lực lạm phát lớn, lãi suất và diễn biến thị trường tiền tệ vẫn còn diễn biến bất thường, thanh khoản ngân hàng suy giảm, doanh nghiệp khó khăn, sự vận động của hầu hết các thành phần kinh tế bị tác động không thuận chiều Ba cụm từ được nhắc đến nhiều nhất là lạm phát, lãi suất và tỷ giá với những diễn biến bất thường và gây sốc
I Chính sách lạm phát, lãi suất, tỷ giá năm 2011
Trang 31 Chính sách lạm phát
Lạm phát được xem là biến số vĩ mô được giới đầu tư đặc biệt quan tâm bởi những diễn biến phức tạp của nó trong năm 2011 Lạm phát cao đã ảnh hưởng tiêu cực đến nhiều lĩnh vực khác nhau trong nền kinh tế, không chỉ các doanh nghiệp sản xuất phải chịu lãi suất cao, người tiêu dùng cảm thấy túi tiền bị co hẹp trước tốc độ tăng giá chóng mặt, lạm phát cao còn ảnh hưởng tới sự ổn định của môi trường kinh tế và do đó ảnh hưởng tới dòng vốn đầu tư cả trong nước và nước ngoài
Trong năm 2011, mục tiêu kiểm soát CPI tăng dưới 7% của Chính phủ ngay từ đầu năm
đã có nguy cơ khó thực hiện khi chỉ sau quý 1 mức tăng đã là 6,12% trong đó Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) các tháng 1, 2 và 3 có mức tăng phần trăm theo tháng lần lượt là 1,74% 2,09% và 2,17% Sở dĩ quý I, lạm phát tăng cao như vậy là do ảnh hưởng từ những tháng cuối năm 2010 chi đầu tư ngân sách và mức tăng trưởng tín dụng cao làm lượng tiền lưu thông lớn gây áp lực lạm phát lên đầu năm 2011 Ngày 11/2, NHNN quyết định điều chỉnh giảm giá đồng Việt Nam thêm 9,3% đã làm tăng giá nguyên, nhiên vật liệu nhập khẩu trong điều kiện nước ta còn phụ thuộc quá nhiều vào nhập khẩu nguyên nhiên vật liệu từ nước ngoài để sản xuất hàng xuất khẩu và tiêu dùng trong nước Việc tăng giá các mặt hàng đầu vào cơ bản cũng là một trong những nguyên nhân gây lạm phát cao trong quý 1: giá xăng A92 đã tăng 2900 đồng tương đương 17,68%, các loại xăng dầu khác cũng tăng mạnh từ 17%-24% ngày 24/2, từ ngày 01/03/2011, giá điện đã được điều chỉnh tăng 15,28%, tăng lên 1.220 đồng/kWh từ mức 1.058 đồng/kWh Việc tăng giá xăng dầu, giá điện vào cuối tháng 2 đầu tháng 3 đã tác động trực tiếp tới nhóm điện nước, chất đốt
và nhóm giao thông Có thể thấy mức tăng đột biến của 2 nhóm này trong tháng 3 Không những thế, giá xăng điện tăng còn tác động tới chi phí đầu vào của nhiều loại hàng hóa dịch vụ khác trong nền kinh tế Thêm vào đó là ảnh hưởng của Tết Âm lịch (từ khoảng cuối tháng 1 đến đầu tháng 2) Theo đặc tính chu kỳ giá cả lương thực thực phẩm
và dịch vụ ăn uống nói riêng cũng như các mặt hàng khác nói chung sẽ tăng cao trước và sau đợt nghỉ Tết do nhu cầu ăn uống và mua sắm của người dân đều tăng cùng yếu tố tâm
lý (cả người tiêu dùng và người bán lẻ) từ việc nhà nước điều chỉnh tăng tiền lương tối thiểu cho khu vực doanh nghiệp nhà nước và khu vực hành chính sự nghiệp từ 1/1 Với trọng số xấp xỉ 40% giỏ hàng tính CPI, giá lương thực, thực phẩm tăng cao đã tác động rất lớn tới toàn bộ chỉ số CPI của quý I Tháng 4 là tháng có tỷ lệ tăng CPI lớn nhất trong
cả năm với mức tăng 3,32% do tác động của một loạt chính sách tăng giá từ tháng 2, tháng 3 và việc tăng giá xăng dầu thêm 10,36% vào cuối tháng 3
Trước mức gia tăng lạm phát lớn như vậy, NHNN đã phải sử dụng chính sách tiền tệ thắt chặt một cách mạnh mẽ (nghị định 11) để kiềm chế lạm phát trong năm 2011 bao gồm
Trang 4các biện pháp: tăng lãi suất tái cấp vốn và chiết khấu lên mức 12%, hạn chế tăng trưởng tín dụng năm 2011 dưới 20%, tăng trưởng cung tiền M2 duy trì mức 15-16%, giảm đầu
tư công 10%, áp dụng các biện pháp nhằm xóa bỏ tình trạng hai tỷ giá cũng như xóa bỏ việc giao dịch vàng miếng trên thị trường
Với những biện pháp mạnh mẽ của chính phủ, lạm phát vẫn tiếp tục tăng nhưng với tốc
độ chậm lại và duy trì trong 2 tháng liên tiếp Sau khi tăng 2,21% trong tháng 5, chỉ số CPI của cả nước trong tháng 6 đã tăng chậm lại, chỉ còn 1,09% Tuy vậy, lạm phát tính theo năm vào thời điểm cuối tháng 6 đã lên mức rất cao, đạt 20,82% và lạm phát tích lũy
6 tháng đầu năm (so với thời điểm cuối năm 2010) cũng đã lên ngưỡng 13,29% Trong tháng 6, nhìn chung không có thêm yếu tố đột biến nào tác động quá lớn đến giá cả tiêu dùng khi giá điện vẫn được giữ nguyên sau ngày 1/6; giá xăng không thay đổi, thậm chí còn có lúc được kỳ vọng giảm khi giá dầu thế giới trải qua một đợt điều chỉnh khá sâu (khoảng 10%; từ mức 100 USD/thùng về sát 90-91 USD/thùng) Tuy vậy, sự bất thường
về thời tiết cũng như mất cân đối tại một số mặt hàng thực phẩm (đặc biệt là thịt lợn) vẫn khiến nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng tới 1,79% và là tác nhân chủ yếu kéo lạm phát tăng trong tháng 6; 10 nhóm hàng hóa còn lại đều có mức tăng dưới 1%; cá biệt nhóm hàng bưu chính viễn thông còn giảm nhẹ (0,01%) so với tháng 5
Sau khi cân nhắc tới tình hình giá cả các mặt hàng trong 6 tháng đầu năm, Chính phủ đã nới mục tiêu kiểm soát lạm phát cho cả năm 2011 lên mức 17% Sau khi lạm phát hình thành xu thế giảm tốc trong 2 tháng cuối quý 2, xu thế này bị bẻ gãy trong tháng 7 Nhưng nếu so với mức tăng mạnh 3,32% của CPI tháng 4, chỉ số giá tiêu dùng đã giảm
tốc Lạm phát trong 3 tháng của quý 3 tiếp đà giảm tốc từ tháng 5 và tháng 6 sau những
nỗ lực ổn định hóa quyết liệt của Chính phủ Tuy nhiên, do sự thiếu hụt nguồn cung thực phẩm tạm thời trong tháng 7 và tháng 8, cùng ảnh hưởng của yếu tố thời vụ tựu trường trong tháng 9 nên tốc độ tăng của chỉ số giá tiêu dùng (CPI) hàng tháng trong quý vẫn ở mức cao Tính đến hết tháng 9, CPI đã tăng 22,42% so với cùng kỳ năm trước, và đã lên tới 16,63% so với cuối năm 2010
Sang quý 4, Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) theo tháng hạ nhiệt nhanh nhưng lạm phát vẫn cao Diễn biến lạm phát vẫn còn ẩn chứa nhiều rủi ro Sau khi chính thức đạt đỉnh vào 8/2011, lạm phát đã có trong xu thế hạ nhiệt Mức tăng CPI tháng 10/2011 giảm mạnh từ mức tăng 0.82% của tháng 9/2011 xuống còn 0.36% Đây là tháng thứ ba liên tiếp mức tăng chỉ số CPI dưới 1% Nguyên nhân khiến chỉ số giá CPI tháng 10 sụt giảm là do mặt hàng thực phẩm chỉ tăng nhẹ 0.06% Trong khi đó, giá của ba ngành vật liệu xây dựng, viễn thông và vận tải sụt giảm so với tháng trước khiến chỉ số CPI giảm mạnh Trong tháng 11/2011, CPI tăng nhẹ từ mức 0,36% của tháng 10 lên 0,39% và vẫn duy trì ở mức
Trang 5thấp dưới 1% trong 4 tháng liên tiếp Như vậy, lạm phát theo năm tính đến tháng 11 tiến
về mức 18%, khi tăng 19,83% so với cùng năm 2010 và tăng 17,5% so với đầu năm CPI tháng 12 tăng 0,53%, cao hơn hai tháng trước đó chủ yếu do yếu tố mùa vụ khi giá cả hàng hóa có xu hướng tăng vào cuối năm Đóng góp nhiều nhất vào đà tăng CPI tháng 12
là nhóm lương thực, thực phẩm, chiếm 52% tổng mức tăng CPI của tháng này Tuy nhiên, điểm tích cực là tháng 12 vẫn là tháng thứ tư có mức tăng CPI dưới 1%
Lạm phát giảm tốc nhanh sau khi đạt đỉnh vào tháng 8/2011 chủ yếu do sự dồn ép của chính sách thắt chặt tiền tệ kéo dài từ cuối năm 2010 Lượng tiền cung ứng được điều hành chặt chẽ từ đầu năm, qua đó kiểm soát tăng trưởng tín dụng và tổng phương tiện thanh toán ở mức thấp Cả năm 2011, tổng phương tiện thanh toán tăng khoảng 10%, tín dụng tăng khoảng 12%, góp phần đưa lạm phát tăng chậm lại đồng thời góp phần giảm mạnh nhập siêu, cải thiện đáng kể cán cân thanh toán quốc tế
2 Chính sách lãi suất
Như đã trình bày ở trên, năm 2011 là một năm khó khăn với nền kinh tế Việt Nam Lạm phát ở mức cao buộc chính phủ phải thực hiện thắt chặt tiền tệ để kiềm chế lạm phát, ổn định vĩ mô Một trong nhữngcông cụ của chính sách tiền tệ đó chính là lãi suất Để thực hiện được mục tiêu của chính sách tiền tệ, ngay ngày 17/2, NHNN đã ban hành Quyết định số 271/QĐ-NHNN, nâng lãi suất tái cấp vốn và một số lãi suất chủ chốt khác lên 11% cùng với việc quy định trần lãi suất huy động 14% theo chỉ thị 02/CT-NHNN Ngày 9/3, NHNN đã quyết định tăng lãi suất chiết khấu lên 12% Việc tăng lãi suất tái chiết khấu lên mức 12% đã hạn chế cơ chế nguồn vốn giá rẻ, một lợi thế riêng với các ngân hàng lớn có nguồn Trái phiếu Chính phủ (TPCP) khi các ngân hàng này có thể mua TPCP và mang cầm cố tại NHNN và chỉ phải chịu mức lãi suất chiết khấu thấp Rõ ràng, một lượng tiền lớn cung ứng ra từ NHNN được sử dụng để mua TPCP thay vì tăng nguồn tín dụng cho doanh nghiệp Do vậy với việc để lãi suất chiết khấu thấp, NHNN có thể đã tạo sự ưu ái đặc biệt đối với nguồn vốn cho các dự án đầu tư công của chính phủ, lấn át đầu tư của doanh nghiệp Khi đã có sự ưu ái này, các NHTM lớn còn có thể tận dụng TPCP cầm cố tại NHNN và dùng nguốn vốn này để cho vay trên thị trường liên ngân hàng Trong khi đó, các NHTM nhỏ, nắm giữ ít trái phiếu chính phủ muốn cải thiện tình trạng thanh khoản phải thu hút tiền gửi dân cư bằng việc tăng lãi suất tiết kiệm, lãi suất cho vay vì thế cũng bị đẩy lên, mặt bằng lãi suất cao dần một phẩn không nhỏ do sự tồn tại của cơ chế vốn đầu vào giá rẻ Vì thế, cung tiền tăng mà doanh nghiệp không tiếp cận được vốn ngân hàng Với lãi suất tái chiết khấu tăng lên mức 12% kết hợp với lãi suất thị trường mở 12%, kênh tái chiết khấu giá rẻ hay sự ưu ái nguồn vốn đầu vào đã chính thức được NHNN đóng lại Cơ hội tìm kiếm và thu hút khách hàng để huy động vốn và cho
Trang 6vay được chia đều giữa các NHTM lớn và NHTM nhỏ, cơ hội để tiếp cận vốn ngân hàng của các doanh nghiệp cũng kỳ vọng sẽ được mở rộng hơn, theo đó lãi suất sẽ dần ổn định Chất lượng của cung tiền bơm ra đối với nền kinh tế sẽ được cải thiện Hơn nữa, tăng các lãi suất chủ chốt sẽ phát tín hiệu về sự đồng thuận các chính sách kiềm chế lạm phát Động thái tăng lãi suất tái chiết khấu đã thể hiện tính thống nhất và đồng thuận cao, nằm trong gói giải pháp chung nhằm thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát ổn định kinh
tế vĩ mô của Chính phủ (Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/02/2011) Có lẽ, sự trễ trong việc tăng lãi suất tái chiết khấu so với các lãi suất còn lại có thể được hiểu là để Chính phủ có thời gian giải quyết những vấn đề còn tồn đọng với nguồn của đầu tư công là TPCP Sau khi các vấn đề này được giải quyết, việc tăng lãi suất chiết khấu là một tất yếu trong chủ trương chống lạm phát ổn định kinh tế vĩ mô Sự đồng thuận chính sách này có tác dụng tích cực trong việc lấy lại niềm tin của người dân về khả năng ổn định nền kinh
tế vĩ mô trong nước nhất là đối với quan sát của nhà đầu tư nước ngoài
Cùng với việc tăng lãi suất, NHNN cũng hạn chế tăng trưởng tín dụng dưới 20%, hạn chế cung tiền M2 từ 15-16% Trước yêu cầu đó, tình trạng thanh khoản của ngân hàng trở
nên rất khó khăn Trong hơn 10 năm từ 2000 - 2011, tăng trưởng tín dụng trung bình của
hệ thống là 29,4%/năm, còn trong 5 năm qua là 33,5%/năm, nhưng năm 2011 tăng trưởng tín dụng chỉ ở mức khoảng 12% - 13% Bên cạnh tỷ lệ tăng trưởng tín dụng ở mức thấp, tín dụng các lĩnh vực phi sản xuất (chứng khoán, tiêu dùng, bất động sản) còn giảm sút mạnh do có sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ Ngày 1/3/2011, Ngân hàng Nhà nước ban hành Chỉ thị 01/CTNHNN về thực hiện giải pháp tiền tệ và hoạt động ngân hàng, trong đó yêu cầu các tổ chức tín dụng giảm tỷ trọng tín dụng phi sản xuất trong tổng dư nợ: xuống còn 20% vào 30/6/2011 và tiếp tục rút xuống còn 16% vào 31/12/2011 Những
biện pháp này đẩy lãi suất luôn duy trì ở mức cao Tiếp theo đó cùng với việc liên tiếp
hút về một lượng vốn lớn qua thị trường mở từ tháng 2 đến tháng 7 (tổng cộng trên 150 nghìn tỷ đồng), các lãi suất chủ chốt như tái chiết khấu, tái cấp vốn và qua đêm cũng được điều chỉnh tăng lên các mức lần lượt là 13%, 14% và 13%
Có thể nói những biện pháp mạnh này đã khiến cho nhiều ngân hàng gặp khó khăn về thanh khoản và cuộc đua lãi suất huy động vốn đã sớm xuất hiện từ tháng 1 tái diễn trên diện rộng dưới nhiều hình thức với mức thực tế từ 18% - 19% thậm chí lên tới 20% (ngay
cả lãi suất không kỳ hạn giai đoạn này cũng tăng lên 12%) Tình trạng trên chỉ lắng xuống sau khi NHNN tái lập mức trần 14% thông qua việc xử phạt nặng một số ngân hàng như HD Bank, Đông Á Bank Tuy nhiên cơn sốt thanh khoản lại chuyển sang thị trường liên ngân hàng khiến cho lãi suất tăng cao, trầm trọng hơn là nhiều ngân hàng đã
Trang 7không trả được nợ sau khi vay qua kênh này khiến cho các giao dịch trở nên thận trọng
và các ngân hàng cho vay thậm chí còn yêu cầu bên vay phải có tài sản đảm bảo
Xét trong tương quan chặt chẽ với lạm phát, khả năng ổn định lãi suất là rất khó khi khả năng đồng bộ hóa các công cụ chính sách tiền tệ chưa thể thực thi bởi rào cản về thanh khoản ngân hàng Trước hiện tượng tăng lãi suất “ngầm” trong hệ thống ngân hàng kéo dài từ tháng 11.2010 dưới các hình thức khuyến mại, tặng thưởng, huy động tiết kiệm lãi suất linh hoạt…ngày 10/3/2010, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã ban hành Thông tư số 04/2011/TT-NHNN quy định áp dụng lãi suất trong trường hợp tổ chức, cá nhân rút tiền gửi trước hạn tại các tổ chức tín dụng Theo đó, mức lãi suất áp dụng đối với các khoản tiền rút trước hạn sẽ tối đa bằng với mức lãi suất tiền gửi không kỳ hạn thấp nhất của tổ chức tín dụng theo từng đồng tiền.Với các NHTM duy trì hai mức lãi suất khác nhau áp dụng với tiền gửi không kỳ hạn thì theo thông tư 04, lãi suất cho các khoản tiền rút trước hạn sẽ được áp dụng ở mức lãi suất không kỳ hạn thấp hơn Việc áp dụng thông tư trên
đã khiến việc huy động vốn của các NHTM thêm khó khăn, các khoản tiền gửi rút gốc linh hoạt trước đây được chuyển thành các kỳ hạn 1 tuần, 2 tuần hoặc không kỳ hạn Theo đà cạnh tranh hút vốn, vô hình chung, lãi suất đã bị thay đổi khi lãi suất kỳ hạn ngắn và lãi suất kỳ hạn dài không có sự chênh lệch thậm chí lãi suất ngắn hạn còn cao hơn lãi suất dài hạn Đặc biệt, hiện tượng lãi suất không kỳ hạn VNĐ đã được đẩy lên cao bằng mức trần 14%/năm Lãi suất liên ngân hàng cũng liên tục duy trì mức cao cho vay qua đêm ở mức 16-17/năm, kỳ hạn một tuần 19-20%/năm và kỳ hạn tháng là 22-23%/năm Nguyên nhân chủ yếu vẫn bởi áp lực lạm phát song sự biến tướng của lãi suất
cho thấy sự bất cập về thanh khoản của các NHTM Các khó khăn trong việc cung ứng vốn của NHTM đã được tháo gỡ khi NHNN sửa đổi thông tư 13 cũng như lộ trình tăng
vốn lên 3000 tỷ đã được hoãn lại thêm 1 năm Rõ ràng lạm phát là một thách thức chính
yếu với lãi suất Lạm phát cao liên tục từ quý III/2010 và kéo dài đến 3 tháng đầu năm
2011 với con số gần 14% so với cùng kỳ năm 2010 Vì vậy, trước nhu cầu đảm bảo lãi suất thực dương của người gửi tiền, lãi suất không thể ở mức thấp hơn 14% - mức trần
quy định Lãi suất tín dụng vì thế cũng duy trì mức cao, khoảng19-23% và những khó
khăn với doanh nghiệp và thị trường chứng khoán Vòng xoáy lãi suất, những hiện tượng
tiêu cực của thị trường tiền tệ và sự thiếu hụt thanh khoản của hệ thống NHTM là những
lý do khiến cho lộ trình ổn định lãi suất đã mất một khoảng thời gian dài
Đến cuối quý 2, thanh khoản của NHTM đã được cải thiện khi lãi suất liên ngân hàng qua đêm và kỳ hạn 1 tuần, 2 tuần giảm , lãi suất huy động và cho vay có dấu hiệu giảm
nhẹ từ cuối tháng 5 Bước sáng tháng 6, trên thị trường liên ngân hàng, mặt bằng lãi suất
tiếp tục duy trì những diễn biến tích cực với sự ổn định ở mức thấp tại hầu hết các kỳ
Trang 8hạn Lãi suất qua đêm thỏa thuận phổ biến ở mức 11-12,5%/năm, lãi suất kỳ hạn 1 tuần dao động từ 12,7-13,5%/năm, lãi suất kỳ hạn 1 tháng từ 13,7-14%/năm Điều này cho
thấy thanh khoản của hệ thống ngân hàng đã từng bước được cải thiện Việc NHNN tiếp
tục cung ứng VND để mua vào USD nhằm tăng dự trữ ngoại hối (khoảng 1,2 tỷ USD đã
được NHNN mua vào trong tháng 6) cùng với việc thực hiện tái cấp vốn (khoảng 10.000
tỷ đồng) cho một số ngân hàng thương mạiđã tạm thời đáp ứng nhu cầu vốn của các NHTM, từ đó giúp lãi suất liên ngân hàng duy trì được sự ổn định Cùng với việc CPI
theo tháng giảm tốc, thanh khoản của hệ thống ngân hàng được cải thiện đáng kể, lãi suất huy động và lãi suất cho vay đã hạ nhiệt Một số ngân hàng đã giảm lãi suất huy động xuống dưới 14%/năm hoặc niêm yết lãi suất kỳ hạn dài ở mức thấp hơn so với trước đó Việc chạy đua lãi suất để huy động bằng mọi giá cũng có dấu hiệu bớt căng thằng Mặc
dù trên thực tế tình trạng huy động với lãi suất vượt trần cho những khoản tiền gửi có giá trị lớn (từ 500 triệu đồng trở lên) vẫn diễn ra; tuy nhiên lãi suất thỏa thuận đã giảm khoảng 1-1,5% xuống mức 16-18,5%/năm Cùng với xu hướng trên, lãi suất cho vay cũng giảm nhẹ từ 0,5% -1% dao động quanh mức 16-19% đối với cho vay sản xuất và trên 20% đối với cho vay phi sản xuất
Sang đến quý 3, lãi suất cho vay VND bình quân thực tế ổn định trong tháng 7 và tháng
8, và có xu hướng giảm nhẹ trong tháng 9 Cụ thể, lãi suất cho vay nông nghiệp, nông thôn và xuất khẩu khoảng 17-19%/năm, lãi suất cho vay lĩnh vực sản xuất-kinh doanh khác khoảng 17-21%/năm, lãi suất cho vay lĩnh vực phi sản xuất khoảng 22-25%/năm Trong khi đó, về mặt quy định, lãi suất huy động vốn tối đa bằng đồng Việt Nam của các
tổ chức tín dụng, theo Thông tư số 02/2011/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước ra ngày 03/03/2011, và sau đó được thay thế bằng Thông tư số 30/2011/TT-NHNN ra ngày 28/9/2011, vẫn được khống chế ở mức trần 14%/năm đối với tiền gửi có kì hạn từ 1 tháng trở lên, và 6%/năm đối với tiền gửi không kì hạn và có kì hạn dưới 1 tháng
Trên thị trường mở, lãi suất cho vay vẫn được duy trì ở mức 14%/năm trong suốt quý 3 Trong khi đó, trên thị trường liên ngân hàng, lãi suất cho vay qua đêm đã tăng từ mức 11,52%/năm lên 12,83%/năm trong tháng 7, giảm xuống mức 10,25% trong tháng 8, tiếp
đó tăng lên đến 13,52%/năm trong tuần đầu của tháng 9, và đến tháng 10 đã giảm về mức quanh 12%/năm Ngày 26/8, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã trủ trì cuộc họp với 12 NHTM hàng đầu Việt Nam về các giải pháp triển khai hoạt động ngân hàng trong những tháng cuối năm 2011 Tại cuộc họp, các ngân hàng cam kết thực hiện nghiêm túc trần lãi suất huy động 14%/năm; và đồng thuận giảm lãi suất cho vay đối với lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường xuống 17-19%/năm từ giữa tháng 9/2011 Ngày 30/08/2011, NHNN đã ban hành Thông tư số 22/2011/TT-NHNN về việc sửa đổi, bổ sung một số
Trang 9điều của TT13/2010/TT-NHNN của NHNN quy định về tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động tín dụng, đây là một trong những giải pháp thực hiện trong lộ trình nhằm giảm lãi suất của NHNN về mức 17-19%
Sau khi diễn biến khá ổn định trong quý 3, bước sang quý 4, lãi suất tiếp tục trở nên căng thẳng lại cho thấy thanh khoản của hệ thống ngân hàng có vấn đề Việc NHNN thắt chặt trong việc thực hiện nghiêm trần lãi suất huy động đang tạo nên sự căng thẳng thanh khoản trong hệ thống ngân hàng Bên cạnh đó, chính sách thắt chặt tiền tệ càng gây nên khó khăn khi NHNN hút ròng trên thị trường OMO 442 tỷ trong tháng 10 Sự yếu kém của một số ngân hàng đã tạo nên rủi ro thanh khoản trong hệ thống Vấn đề tái cấu trúc
hệ thống ngân hàng là vấn đề được bàn luận rất nhiều Lãi suất cho vay qua đêm của VND trong tháng 10 đã tăng lên đến 14%/năm Các kỳ hạn khác, lãi suất tăng mạnh Vào giữa tháng 10, lãi suất cho vay liên ngân hàng kỳ hạn 1 tháng tăng lên mức 30%-40%/năm Xu hướng căng thẳng về lãi suất tiếp tục được thể hiện trong tuần đầu tháng
11 Vào ngày 7.11.2011, lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn 12 tháng đã tăng vọt lên mức 36.58%/năm so với mức 16.18% so với ngày 3.11.2011 Thanh khoản tiền đồng trên thị trường liên ngân hàng đã khá nóng với diễn biến lãi suất liên ngân hàng tăng mạnhvào đầu tháng sau đó hạ nhiệt dần vào cuối tháng nhưng vẫn duy trì ở mức cao so với mức 9-10% vào tháng 12 năm 2010 Cụ thể, lãi suất qua đêm phổ biến ở mức 13-15%/năm (giảm 2,5-3,5% từ mức đỉnh 18,5%/năm vào ngày 4/11), kỳ hạn 1 tuần dao động quanh mức 15,5-16,5%/năm (giảm 1,5-2% so với đầu tháng), kỳ hạn 2 tuần trong khoảng 16-17,5%/năm và kỳ hạn 1 tháng được chào vay ở mức 18-20%/năm Đáng chú ý, lãi suất liên ngân hàng vào ngày 07/11 đã lên đến 36,5% đối với kỳ hạn 12 tháng (theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước) Lãi suất liên ngân hàng tiếp tục duy trì ở mức cao xuất phát từ việc huy động vốn trên thị trường 1 của một số ngân hàng tiếp tục khó khăn trong khi nhu cầu tiền thanh toán thường tăng vào dịp cuối năm khiến các ngân hàng phải tăng cường vay vốn trên thị trường liên ngân hàng, tình hình nợ xấu của các ngân hàng đang
có dấu hiệu gia tăng khiến các ngân hàng lớn thận trọng hơn trong việc cho vay Hơn nữa, cung tiền hạn chế hơn do các ngân hàng phải đảm bảo chỉ tiêu an toàn về vốn trong tháng cuối năm
Nhằm hỗ trợ thanh khoản cho hệ thống ngân hàng cũng như hạ nhiệt mặt bằng lãi suất trên thị trường liên ngân hàng, NHNN đã bơm ròng gần 14.500 tỷ đồng trong bốn tuần liên tiếp của tháng 11 qua thị trường OMO đồng thời yêu cầu các ngân hàng quốc doanh tiếp tục hỗ trợ kèm điều kiện cho các ngân hàng nhỏ Đây cũng chính là lý do giải thích cho việc lãi suất liên ngân hàng có xu hướng giảm nhẹ và ổn định hơn vào cuối tháng Trong khi đó, lãi suất huy động lại có dấu hiệu tăng Tình hình huy động khó khăn do
Trang 10việc tuân thủ quy định trần lãi suất 14%/năm dẫn đến nhiều ngân hàng rơi vào tình trạng thiếu hụt thanh khoản Bên cạnh đó, áp lực phải trả các khoản vay trên thị trường liên ngân hàng đúng hạn cùng với nhu cầu vốn tăng vào dịp cuối năm khiến một số ngân hàng
đã đẩy lãi suất huy động thực tế lên mức 17- 18%/năm trong những ngày cuối tháng 11 Tình trạng thanh khoản kém của hệ thống ngân hàng tiếp tục kéo dài, nợ xấu bắt đầu lây lan lên thị trường liên ngân hàng khi nhiều ngân hàng đang có dấu hiệu mất khả năng chi trả các khoản vay với các ngân hàng khác Đặc biệt càng gần dịp Tết, thanh khoản của hệ thống ngân hàng càng gặp khó khăn hơn khi nhu cầu vốn của doanh nghiệp dành cho sản xuất, kinh doanh vào dịp cuối năm tăng cao Diễn biến lãi suất liên ngân hàng vì vậy cũng ít có những biến động mạnh so với tháng trước Đáng chú ý là hai ngày cuối tháng
11, NHNN hút ròng mạnh hơn 8.400 tỷ đồng nhưng lãi suất liên ngân hàng giảm ở các kỳ hạn ngắn duới 1 tháng
Mặc dù lãi suất liên ngân hàng trong tháng 12 ổn định với lãi suất qua đêm giao dịch trong khoảng 12-15,5%/năm và lãi suất kỳ hạn 1 tuần giao dịch trong khoảng 13-16,5%/năm, nhưng một số ngân hàng yếu kém vẫn phải đi vay có tài sản thế chấp trên thị trường liên ngân hàng với lãi suất kỳ hạn một tuần là 19-21%/năm Trong những tuần cuối cùng của tháng 12, tình hình lãi suất VND, USD và vàng đều có xu hướng tăng Một
số ngân hàng nhỏ đã đưa ra lãi suất huy động đàm phán áp dụng cho khách hàng VIP lên tới 19-20% cho các kỳ hạn ngắn Hiện tượng vượt trần lãi suất không chỉ là trường hợp ngoại lệ ở các ngân hàng nhỏ Một số ngân hàng lớn cũng tăng lãi suất huy động lên 17-18%/năm Lãi suất huy động bằng ngoại tệ đàm phán tăng lên 5%/năm áp dụng với khách hàng VIP trong khi đó huy động vàng cũng tăng 4%/năm ở một số ngân hàng.Trong tháng 12, NHNN đã bơm ròng 17.000 tỷ đồng (800 triệu USD) thông qua kênh thị trường mở so với tháng 11 là 12.600 tỷ đồng (740 triệu USD)
3 Chính sách tỷ giá
Có thể nói, năm 2011 là năm thành công của NHNN trong việc điều hành tỷ giá So với làm phát và lãi suất thì tỷ giá năm 2011 diễn biến ổn định hơn rất nhiều
Tỷ giá USD/VND năm 2011 đã có nhiều biến động trong những tháng đầu năm và sau đó được duy trì khá ổn định trong suốt năm với mức điều chỉnh tăng giảm trong biên độ cho phép +/-1% Từ những tháng cuối năm 2010 tỷ giá USD/VND trên thị trường tự do tăng mạnh và vượt xa khỏi tỷ giá chính thức khoảng 10% và dao động xung quanh mức 21.000 – 21.500 VND/USD Trước sức ép giảm giá của VND, ngay sau Tết âm lịch, vào ngày 11.2.2011, NHNN đã ra thông báo tăng tỷ giá USD/VND bình quân liên ngân hàng lên mức 20.693 VND/USD và thu hẹp biên độ giao dịch từ +- 3% xuống +- 1% Đây là