ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM VI THỊ HUYỀN THƯƠNG Tên đề tài: ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG NƯỚC THẢI CỦA BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH LẠNG SƠN KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
VI THỊ HUYỀN THƯƠNG
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG NƯỚC THẢI CỦA BỆNH VIỆN
ĐA KHOA TỈNH LẠNG SƠN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Địa chính Môi trường Khoa : Quản lý Tài nguyên Khoá học : 2011 - 2015
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
VI THỊ HUYỀN THƯƠNG
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG NƯỚC THẢI CỦA BỆNH VIỆN
ĐA KHOA TỈNH LẠNG SƠN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Địa chính Môi trường
Khoa : Quản lý Tài nguyên Khoá học : 2011 - 2015
Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS Đỗ Thị Lan
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 3i
LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian về địa phương thực tập và nghiên cứu đề tài Có được kết quả này, trước hết em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Quản Lý Tài Nguyên, các thầy cô giáo trong trường đã truyền đạt cho em những kiến thức quý báu trong suốt thời gian em thực tập và rèn luyện tại trường
Em xin chân thành cảm ơn toàn thể các cô, chú, các anh chị đang công tác tại Trung tâm Quan trắc Môi trường tỉnh Lạng Sơn và Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn đã giúp đỡ em rất nhiều trong quá trình nghiên cứu đề tài
Em xin bày tỏ lòng sâu sắc tới cô giáo PGS.TS Đỗ Thị Lan đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn em trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài
Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, tập thể lớp
43A-ĐCMT đã động viên, giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu đề tài
Trong suốt thời gian thực tập em đã cố gắng hết sức mình, do kinh nghiệm
và kiến thức còn hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót và khuyết điểm Em rất mong được các thầy cô và các bạn sinh viên đóng góp ý kiến, bổ sung để khóa luận của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái nguyên, ngày 16 tháng 12 năm 2014
Sinh viên
Vi Thị Huyền Thương
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Mức độ ô nhiễm một số sông lớn tại Việt Nam 12 Bảng 4.1 Lượng rác thải rắn của bệnh viện Đa khoa trung tâm tỉnh Lạng Sơn 41 Bảng 4.2: Tiêu chuẩn cấp nước và lượng nước thải của bệnh viện 41 Bảng 4.3: Các nguồn phát sinh nước thải của bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn 47 Bảng 4.4: Kết quả phân tích một số chỉ tiêu hóa học trong nước thải trước và sau khi xử lý của bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn 49 Bảng 4.5: Kết quả phân tích một số chỉ tiêu vật lý, sinh học trong nước thải trước và sau khi xử lý của bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn 50 Bảng 4.6 Kết quả phân tích một số chỉ tiêu nước mặt tại vị trí tiếp nhận nước thải của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn 51 Bảng 4.7 Kết quả phân tích một số chỉ tiêu trong nước thải trước và sau khi xử lý của bệnh viện 52 Bảng 4.8 Kết quả phân tích một số chỉ tiêu nước mặt tại vị trí tiếp nhận nước thải của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn 54
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1: Sơ đồ công nghệ nhóm 1 20
Hình 2.2: Sơ đồ công nghệ của nhóm 2 21
Hình 2.3: Sơ đồ công nghệ của nhóm 3 22
Hình 2.4: Sơ đồ công nghệ của nhóm 4 22
Hình 4.1: Bản đồ tỉnh Lạng Sơn 31
Hình 4.2: Sơ đồ tổ chức của bệnh viện 39
Hình 4.3: Sơ đồ nguyên tắc phân luồng xử lý nước thải trong bệnh viện 42
Hình 4.4: Sơ đồ hệ thống xử lý cục bộ nước thải từ các labo xét nghiệm 44
Hình 4.5: Biểu đồ so sánh kết quả phân tích chỉ tiêu hóa học trước và sau khi xử lý của nước thải bệnh viện qua số liệu thứ cấp 49
Hình 4.6 Biểu đồ so sánh kết quả phân tích một số chỉ tiêu trước và sau khi xử lý của nước thải bệnh viện qua số liệu sơ cấp 53
Trang 6QĐ : Quyết định TDS : Tổng hàm lượng chất rắn hòa tan TSS : Tổng hàm lượng chất rắn lơ lửng QCVN : Quy chuẩn Việt Nam
QĐ : Quyết định UBND : Uỷ ban nhân dân UNESCO : Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa
của Liên hiệp quốc TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam
TT : Thông tư
Zn : Kẽm
Trang 7MỤC LỤC
Trang
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 2
1.3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
1.4 Yêu cầu của đề tài 2
1.5 Ý nghĩa của đề tài 2
1.5.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 2
1.5.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 3
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
2.1.1 Cơ sở pháp lý 4
2.1.2 Cơ sở khoa học 6
2.2 Tình hình ô nhiễm nước trên thế giới và Việt Nam 9
2.2.1 Tình hình ô nhiễm nước trên thế giới 9
2.2.2 Tình hình ô nhiễm nước tại Việt Nam 10
2.2.3 Tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn 13
2.3 Cơ sở thực tiễn 15
2.3.1 Nguy cơ dịch bệnh do ô nhiễm nguồn nước bởi nước thải bệnh viện 15
2.3.2 Hiện trạng xả và xử lý nước thải tại một số bệnh viện ở Việt Nam 18
2.3.3 Hiện trạng xả và xử lý nước thải của bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn 23
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 24
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 24
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 24
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 24
3.2.1 Địa điểm 24
3.2.2 Thời gian 24
Trang 83.3 Nội dung nghiên cứu 24
3.3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Lạng Sơn 24
3.3.2 Tổng quan về bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn 24
3.3.3 Tình hình sử dụng nước của bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn 24
3.3.4 Đánh giá chất lượng nước thải của bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn 24
3.3.5 Đề xuất giải pháp xử lý, giảm thiểu ô nhiễm nước thải của bệnh viện 25
3.4 Phương pháp nghiên cứu 25
3.4.1 Nghiên cứu các văn bản pháp luật 25
3.4.2 Phương pháp kế thừa 25
3.4.3 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 25
3.4.4 Phương pháp lấy mẫu nước thải 25
3.4.5 Phương pháp phân tích tại phòng thí nghiệm 26
3.5.6 Phương pháp đánh giá tổng hợp 29
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Lạng Sơn 31
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 31
4.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội tỉnh Lạng Sơn 35
4.2 Tổng quan về bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn 37
4.2.1 Giới thiệu về bệnh viện Đa khoa Trung tâm tỉnh Lạng Sơn 37
4.2.2 Các công tác xử lý vệ sinh môi trường của bệnh viện 40
4.2.3 Hệ thống và quy trình xử lý nước thải của bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn 41
4.3 Đánh giá chất lượng nước thải của bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn 47
4.3.1 Lượng nước thải phát sinh của bênh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn 47
4.3.2 Đánh giá chất lượng nước thải của bệnh viện Đa khoa Tỉnh Lạng Sơn 48
4.3.3 Kết quả đánh giá nước thải bệnh viện qua số liệu sơ cấp 52
4.4 Đề xuất một số giải pháp giảm thiểu ô nhiễm nước thải bệnh viện 55
4.4.1 Biện pháp quản lý 55
4.4.2 Một số biện pháp xử lý nước thải bệnh viện 56
PHẦN 5:KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 62
Trang 95.1 Kết luận 62
5.2 Kiến Nghị 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
I Tiếng Việt 64
II Tài liệu trích dẫn từ INTERNET 64
Trang 101
PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Ngày nay cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, khoa học – kĩ thuật và trong quá trình thực hiện công nghệp hóa hiện đại hóa đất nước, thì vấn đề môi trường sức khỏe của cộng đồng là nền tảng và là động lực để phát triển và tham gia hội nhập của mọi quốc gia Cùng với sự gia tăng dân số thì nhu cầu về giáo dục, kinh tế văn hóa xã hội, đặc biệt là nhu cầu khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế, các bệnh viện ngày càng gia tăng, đây được coi là vấn đề quan trọng và cấp thiết Theo số liệu thống kê của Bộ Y tế năm 2014 thì ở Việt Nam có khoảng 1356 bệnh viện với công suất hơn 260.058 giường bệnh.[2] Hoạt động của bệnh viện ngoài mang lại phúc lợi cho xã hội và con người thì quá trình hoạt động cũng tác động tiêu cực tới môi trường đặc biệt là ô nhiễm do nước thải y tế gây ra Từ năm 1997 các văn bản về quản lý chất thải bệnh viện được ban hành Nhưng hầu hết các bệnh viện ở nước ta vẫn chưa được trang bị các phương pháp xử lý đạt tiêu chuẩn, nhiều cơ sở còn tình trạng xả thẳng ra ngoài môi trường mà chưa qua quy trình xử lý nào, hoặc chưa đạt tiêu chuẩn theo quy định Với tính chất độc hại, nước thải bệnh viện có sự lan truyền rất mạnh các vi khuẩn gây bệnh nhất là nước thải được thải ra từ các phòng khoa, bệnh viện lây nhiễm Ngoài ra các chất kháng sinh và thuốc sát trùng xuất hiện cùng với dòng nước thải sẽ tiêu diệt các vi khuẩn có lợi và có hại gây mất cân bằng sinh thái trong hệ các vi khuẩn tự nhiên của môi trường nước thải, làm mất khả năng xử lý nước thải của vi sinh vật, nếu không quản lý tốt có thể gây ra những nguy hại cho con người và môi trường
Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn ra đời từ những năm đầu của thế kỷ XX, trải qua quá trình hình thành và phát triển lâu dài giờ đây Bệnh viện đã trở thành một trung tâm khám chữa bệnh lớn nhất tỉnh Lạng Sơn Bệnh viện đã và đang tiếp tục phát triển để ngày càng đáp ứng tốt hơn sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho người dân Hiện nay Bệnh viện đa khoa tỉnh Lạng Sơn là Bệnh viện hạng II, với tổng số giường bệnh 663 (70 giường xã hội hóa) với tổng số 34 khoa phòng, các
Trang 11công trình phụ trợ Hằng năm phục vụ khám chữa một số lượng lớn bệnh nhân và cùng với đó, bệnh viện thải ra môi trường một lượng lớn nước thải chứa nhiều thành phần độc hại gây ảnh hưởng tới sức khỏe người dân xung quanh
Xuất phát từ những vấn đề trên và nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề nước thải ảnh hưởng tới môi trường, được sự đồng ý và giúp đỡ của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Quản lý Tài Nguyên, cùng với sự giúp đỡ của Trung tâm Quan trắc Môi trường tỉnh Lạng sơn, Bệnh viện Đa khoa Trung tâm tỉnh Lạng Sơn Đặc biệt dưới sự hướng dẫn trực tiếp của cô giáo PGS.TS Đỗ Thị Lan,
em tiến hành nghiên cứu đề tài:“Đánh giá hiện trạng chất lượng nước thải của bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn”
1.2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Tìm hiểu hệ thống xử lý nước thải của bệnh viện
- Đánh giá hiệu quả xử lý nước thải của bệnh viện
- Đề xuất các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước của bệnh viện
Đa khoa tỉnh Lạng Sơn
1.3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu sơ lược về Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn
- Xác định tổng lượng nước thải và hệ thống xử lý nước thải của bệnh viện
- Đánh giá hiện trạng chất lượng nước thải của bệnh viện
- Đề xuất một số biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước thải của bệnh viện
1.4 Yêu cầu của đề tài
- Số liệu thu thập phải trung thực, khách quan
- Kết quả phân tích phải chính xác
- Những kiến nghị đưa ra phải phù hợp với tình hình thực tế của địa phương
1.5 Ý nghĩa của đề tài
1.5.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Giúp cho người học tập nghiên cứu củng cố lại những kiến thức đã học, biết cách thực hiện một đề tài khoa học và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Trang 12- Nâng cao kiến thức, kỹ năng tổng hợp, phân tích số liệu và rút ra những kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này
- Là nguồn tài liệu cho học tập và nghiên cứu khoa học
1.5.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
- Đánh giá được lượng nước thải phát sinh, tình hình thu gom và xử lý nước thải của bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn
- Cảnh cáo nguy cơ ô nhiễm nước thải y tế nếu không được thu gom và xử lý theo quy định
- Đề xuất một số biện pháp khả thi giúp cho công tác thu gom và xử lý nước thải y tế một cách phù hợp và khoa học với điều kiện của bệnh viện nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường
Trang 13PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1 Cơ sở pháp lý
- Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 24/6/2014 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2015
- Luật tài nguyên nước năm 2012 được Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa VIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 21/06/2012 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2013
- Nghị định số 117/2009/NĐ-CP ngày 31 thánh 12 năm 2009 của Chính phủ
về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
- Nghị định số 149/2004/NĐ-CP của Chính phủ ngày 27 tháng 07 năm 2004 của chính phủ quy định về việc cấp phép thăm dò, khai thác sử dụng tài nguyên nước, xả thải vào nguồn nước
- Nghị định 142/2013/NĐ-CP ngày 24 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản
- Thông tư số 02/2005/TT-BTNMT ngày 24 tháng 05 năm 2005 của bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc thi hành Nghị định 149/2004/NĐ-CP ngày
27 tháng 07 năm 2004 của Chính phủ quy định về việc cấp phép thăm dò, khai thác,
sử dụng tài nguyên nước, xả thải vào nguốn nước
- Thông tư số 57/2013/TT-BTNMT ngày 31 tháng 12 năm 2013 của Bộ Tài
nguyên và Môi trường Ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường
- Nghị định số 80/2014/NĐ-CP ngày 06 tháng 08 năm 2014 của chính phủ về thoát nước và xử lý nước thải
- Thông tư số 12/2014/TT-BTNMT ngày 17 tháng 2 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về quy định kỹ thuật điều tra, đánh giá tài nguyên nước mặt
- Quyết định của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành quy chế quản lý chất thải y tế ( số 43/2007/QĐ-BYT) ( Bộ Tài nguyên và Môi trường, năm 2005)
Trang 14- Quyết định 153/2006/QĐ-TTg ngày 30/06/2006 của Thủ tướng chính phủ
về phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống Y tế Việt Nam giai đoạn đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020
- Quyết định 81/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ phê duyệt chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2020
- QCVN 28:2010/BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường về quy chuẩn
kỹ thuật quốc gia về nước thải y tế
- Nghị định 179/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2013 về xử phạt hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
Một số TCVN, QCVN liên quan tới chất lượng nước:
- TCVN 6663-1:2011 ( ISO 5667-3:20006) - Chất lượng nước – Phần 1 Hướng dân lập chương trình lấy mẫu và kỹ thuật lấy mẫu
- TCVN 6663-3:2008 ( ISO 5667-3:2006) – Chất lượng nước – Lấy mẫu Hướng dẫn bảo quản mẫu và xử lý mẫu
- TCVN 5999:1995 ( ISO 5667-10:1992) – Chất lượng nước – lấy mẫu Hướng dẫn lấy mẫu nước thải
- TCVN 5945:2005: Nước thải công nghiệp – Tiêu chuẩn thải
- TCVN 5499:1995: Chất lượng nước – Phương pháp uyncle (winkler) xác
định oxy hòa tan
- TCVN 6001-1:2008 Chất lượng nước – xác định nhu cầu oxy sinh hóa sau
n ngày (BODn)
- TCVN 4565-88 Nước thải – phương pháp xác định oxy hóa
-TCVN 6492 : 2011: Chất lượng nước – xác định pH
- TCVN 4557 : 1998: chất lượng nước – phương pháp xác định nhiệu độ
- TCVN 6177 : 1996 Chất lượng nước – phương pháp xác định sắt bằng phương pháp trắc phổ dùng thuốc thử 1.10-Phenantrolin
- TCVN 6185 : 2008 Chất lượng nước – kiểm tra và xác định độ màu
- QCVN 08 : 2008/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt
Trang 15- QCVN 09 : 2008/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ngầm
- QCVN 14 : 2008/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước thải sinh hoạt
- QCVN 40 : 2008/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước thải công nghiệp
2.1.2 Cơ sở khoa học
* Khái niệm về môi trường
Theo điều 3 khoản 1, Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam năm 2014: “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật.”
* Khái niệm về ô nhiễm môi trường
Theo Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam: “Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường
và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật”
Ô nhiễm môi trường làm thay đổi trực tiếp hoặc gián tiếp các thành phần và
đặc tính vật lý, hóa học, nhiệt độ, sinh học, chất hòa tan, chất phóng xạ… ở bất kỳ
thành phần nào của môi trường hay toàn bộ môi trường vượt quá mức cho phép đã
được xác định
Chất gây ô nhiễm là những nhân tố làm cho môi trường trở thành độc hại, gây tổn hại hoặc có tiềm năng gây tổn hại đến sức khỏe, sự an toàn hay sự phát triển của con người và sinh vật trong môi trường đó Chất gây ô nhiễm có thể là chất rắn (như rác) hay chất lỏng (các dung dịch hóa học, chất thải của dệt nhuộm, rượu, chế biến thực phẩm), hoặc chất khí (SO2 trong núi lửa phun, NO2trong khói xe, CO từ khói đun …), các kim loại nặng như chì, đồng … cũng có khi nó vừa ở thể hơi vừa
ở thể rắn như thăng hoa hay ở dạng trung gian.[5]
* Khái niệm về ô nhiễm môi trường nước
Ô nhiễm nước là sự thay đổi thành phần và chất lượng nước không đáp ứng cho các mục đích sử dụng khác nhau, vượt quá tiêu chuẩn cho phép và có ảnh hưởng đến đời sống con người và sinh vật
Trang 16Hiến chương châu Âu về nước, định nghĩa: “Ô nhiễm nước là sự biến đổi nói chung do con người đối với chất lượng nước, làm nhiễm bẩn nước và gây nguy hiểm cho con người, cho công nghiệp, nông nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi, giải trí, cho
động vật nuôi và các loài hoang dã”
Ô nhiễm nước có nguồn gốc tự nhiên: Do mưa, tuyết tan, gió bão, lũ lụt đưa vào môi trường nước chất thải bẩn, các sinh vật và vi sinh vật có hại, kể cả xác chết của chúng
Ô nhiễm nước có nguồn gốc nhân tạo: Quá trình thải các chất độc hại chủ yếu dưới dạng lỏng như các chất thải sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vào môi trường nước
Theo bản chất các tác nhân gây ô nhiễm, người ta phân ra các loại ô nhiễm nước: ô nhiễm vô cơ, hữu cơ, ô nhiễm hóa chất, ô nhiễm sinh học, ô nhiễm bởi các tác nhân vật lý.[6]
* Khái niệm và phân loại về nước thải
- Khái niệm về nước thải:
Theo Tiêu chuẩn Việt Nam 5980-1995 và ISO 6107/1-1980: Nước thải là nước đã được thải ra sau khi đã sử dụng hoặc được tạo ra trong một quá trình công nghệ và không còn giá trị trực tiếp đối với quá trình đó
Người ta còn định nghĩa nước thải là chất lỏng được thải ra sau quá trình sử dụng của con người và đã bị thay đổi tính chất ban đầu của chúng Thông thường nước thải được phân loại theo nguồn gốc phát sinh ra chúng Đó cũng là cơ sở trong việc lựa chọn các biện pháp giải quyết hoặc công nghệ xử lý
* Nước thải sinh hoạt: là nước thải từ các khu dân cư, khu vực hoạt động thương mại, khu vực công sở, trường học và các cơ sở tương tự khác
* Nước thải công nghiệp (hay còn gọi là nước thải sản xuất): là nước thải từ các nhà máy đang hoạt động hoặc trong đó nước thải công nghiệp là chủ yếu
* Nước thấm qua: là lượng nước thấm vào hệ thống ống bằng nhiều cách khác nhau, qua các khớp nối, các ống có khuyết tật hoặc thành hố ga hay hố xí
Trang 17* Nước thải tự nhiên: nước mưa được xem như nước thải tự nhiên ở những thành phố hiện đại, chúng được thu gom theo hệ thống riêng
* Nước thải đô thị: nước thải đô thị là một thuật ngữ chung chỉ chất lỏng trong hệ thống cống thoát của một thành phố, thị xã; đó là hỗn hợp của các loại nước thải trên.[11]
* Khái niệm phát triển bền vững:
Phát triển bền vững là một khái niệm mới nảy sinh từ sau cuộc khủng hoảng môi trường, do đó cho đến nay chưa có một định nghĩa nào đầy đủ và thống nhất
Theo luật Bảo vệ môi trường Việt Nam năm 2014 thì “Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng
đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa
giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường.”
Theo hội đồng thế giới về môi trường và phát triển (World Comission and Environment and Development, WCED) thì “phát triển bền vững là sự phát triển
đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng các nhu
cầu của các thế hệ tương lai”
Theo Tổ chức ngân hàng phát triển châu Á (ADB): “phát triển bền vững là một loại hình phát triển mới, lồng ghép quá trình sản xuất với bảo tồn tài nguyên và nâng cao chất lượng môi trường Phát triển bền vững cần phải đáp ứng các nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không phương hại đến khả năng của chúng ta đáp ứng các nhu cầu của thế hệ trong tương lai”
* Khái niệm tiêu chuẩn môi trường:
Tiêu chuẩn môi trường là các giới hạn cho phép của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, hàm lượng chất ô nhiễm trong chất thải, được cơ quan có thẩm quyền quy định, làm căn cứ và bảo vệ môi trường
Theo luật bảo vệ môi trường của Việt Nam: “Tiêu chuẩn môi trường là mức
giới hạn của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, hàm lượng của các chất gây ô nhiễm có trong chất thải, các yêu cầu kỹ thuật và quản lý được các cơ quan nhà nước và các tổ chức công bố dưới dạng văn bản tự nguyện áp dụng để bảo
Trang 18vệ môi trường.” (kiểm tra kiểm soát môi trường, xử lý các vi phạm môi trường và
đánh giá tác động môi trường…)[6]
2.2 Tình hình ô nhiễm nước trên thế giới và Việt Nam
2.2.1 Tình hình ô nhiễm nước trên thế giới
Trên hành tinh chúng ta nước tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau: trên mặt
đất, trong biển và đại dương, dưới đất và trong không khí dưới các dạng: lỏng (nước
sông suối, ao hồ, biển), khí (hơi nước), và rắn (băng, tuyết)
Tài nguyên nước trên thế giới theo tính toán hiện nay là 1,39 tỷ km3, tập trung trong thủy quyển theo UNESCO công bố là 1386.106 km3 Trong đó nước ngọt là 35.106 km3 chiếm 2,5%, nước mặn là 1351.106 km3 chiếm 97,5% tổng lượng nước trong thủy quyển
Trong thành phần nước ngọt thì dạng rắn chiếm 24,3.106km3 (69,4%), dạng lỏng là 10,7.106km3 (30,6%) Trong thành phần nước lỏng 10,7.106km3 (100%) thì nước ngầm chiếm đại bộ phận 10,5.106km3 (98,3%); khí quyển 0,020.106km3(0,19%) và sinh quyển 0,011.106km3 (0,10%) Lượng nước ngọt con người sử dụng xuất phát từ nước mưa (lượng mưa trên trái đất 105.000km3/năm Lượng nước con người sử dụng trong một năm khoảng 35.000km3, trong đó 8% cho sinh hoạt, 23% cho công nghiệp và 63% cho hoạt động nông nghiệp)
Con người ngày càng khai thác và sử dụng nhiều hơn tài nguyên nước Lượng nước ngầm khai thác trên thế giới năm 1990 gấp 30 lần năm 1960 dẫn đến nguy cơ suy giảm trữ lượng nước sạch, gây ra các thay đổi lớn về cân bằng nước
Nguồn nước đang bị ô nhiễm bởi các hoạt động của con người Ô nhiễm nước mặt, nước ngầm, nước biển bởi các tác nhân như NO3, P, thuốc trừ sâu và hóa chất, kim loại nặng, các chất hữu cơ, các vi sinh vật gây bệnh v.v [9]
Ngày 24/03/2014 ngày “Nước thế giới” những con số đáng lo ngại được nêu
ra trên toàn thế giới đó là: 780 triệu người không được tiếp cận với nguồn nước sạch
an toàn, ước tính khoảng 3,5 triệu người không được đáp ứng về quyền sử dụng nước và 2,5 tỷ người sử dụng nước không đáp ứng tiêu chuẩn vệ sinh Cuối những năm 1980 đến nay, tổng lượng nước sạch khai thác hàng năm tăng 1% mỗi năm
Trang 19Theo ước tính đến năm 2050, nhu cầu khai thác nước được dự đoán sẽ tăng khoảng 44% do sự gia tăng về nhu cầu sử dụng nước của các ngành sản xuất và chế tạo, nhiệt điện (phần lớn do việc mở rộng các nhà máy sản xuất điện sử dụng than và gas), nông nghiệp và nước sinh hoạt
Mức độ khai thác nước dưới đất cũng gia tăng từ 1% đến 2% mỗi năm, tạo thêm sức ép về nước cho một số khu vực Các bằng chứng gần đây cho thấy nguồn cung nước dưới đất đang bị suy thoái và cạn kiệt Các số liệu cũng chỉ ra khoảng 20% tầng chứa nước trên toàn thế giới bị khai thác quá mức Ước tính khoảng 80% lượng nước thải trên toàn cầu và 90% lượng nước thải của các nước đang phát triển không được thu thập và xử lý trước khi thải ra môi trường, đe dọa sức khỏe con người và môi trường.[15]
2.2.2 Tình hình ô nhiễm nước tại Việt Nam
Việt Nam nằm trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương nơi được coi là phát triển năng động nhất thế giới Tuy nhiên, những thuận lợi về phát triển kinh tế thì lại
đặt ra bài toán lớn về vấn đề môi trường, và ô nhiễm môi trường đã và đang trở nên
ngày càng nghiêm trọng ở nước ta
Là một nước đang phát triển, Việt Nam cũng như nhiều nước khác trên toàn cầu phải đối mặt với những thách thức to lớn Tốc độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và sự gia tăng dân số gây áp lực ngày càng nặng nề đối với tài nguyên thiên nhiên, môi trường ở nhiều đô thị, khu công nghiệp và làng nghề càng bị ô nhiễm bởi nước thải, khí thải và chất thải rắn Ở các thành phố lớn, hàng trăm cơ sở sản xuất công nghiệp và làng nghề càng bị ô nhiễm môi trường
do không có công trình xử lý nước thải
Cùng với sự ô nhiễm môi trường nói chung thì vấn đề ô nhiễm môi trường nước đang ngày càng trở nên nghiêm trọng trên toàn thế giới, đặc biệt là các lưu vực sông và các sông nhỏ, kênh rạch trong các thành phố lớn gần các khu công nghiệp Nguồn nước ngầm cũng như nước mặt đang bị suy thoái nghiêm trọng
Trang 20Hiện nay ở Việt Nam, mặc dù các cấp các ngành đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiện chính sách và pháp luật bảo vệ môi trường nhưng tình trạng ô nhiễm nước là vấn đề rất đáng lo ngại
* Nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước ở nước ta
Ô nhiễm nguồn nước xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau Do tiếp nhận nhiều loại nguồn thải, môi trường nước mặt đang ở tình trạng ô nhiễm tại nhiều nơi, tùy theo đặc trưng của từng khu vực khác nhau Các nguồn thải chính tác
động đến môi trường nước mặt ở nước ta: nước thải nông nghiệp, công nghiệp, sinh
hoạt và y tế Mức độ gia tăng các nguồn nước thải hiện nay ngày càng lớn với quy
mô rộng ở hầu hết các vùng miền trong cả nước Nước thải sinh hoạt chiếm trên 30% tổng lượng thải trực tiếp ra các sông hồ, hay kênh rạch dẫn ra sông Theo số liệu tính toán, Đông Nam bộ và đồng bằng sông Hồng là 2 vùng tập trung nhiều lượng nước thải sinh hoạt nhất cả nước Trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhiều ngành công nghiệp được mở rộng quy mô sản xuất, cũng như phạm vi phân bố Cùng với đó là sự gia tăng lượng nước thải lớn, nhưng mức đầu tư cho hệ thống xử lý nước thải chưa đáp ứng yêu cầu Vùng Đông Nam
bộ, với toàn bộ các tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, nơi tập trung các KCN lớn, là vùng có lượng phát sinh nước thải công nghiệp lớn nhất cả nước Số lượng KCN có hệ thống xử lý nước thải vẫn đang ở mức trung bình (50-60%), hơn nữa 50% trong số đó vẫn chưa hoạt động hiệu quả
Bên cạnh những nguồn thải nêu trên, nước thải nông nghiệp cũng là vấn đề
đáng quan tâm hiện nay Đó là nguyên nhân chính gây ảnh hưởng đến nguồn nước
tại những địa phương có nền kinh tế nông nghiệp phát triển mạnh như vùng đồng bằng sông Cửu Long Nước thải từ hoạt động nông nghiệp có chứa hóa chất bảo vệ thực vật, hay thuốc trừ sâu, là thành phần độc hại cho môi trường và sức khỏe con người Đặc biệt, các khu vực này, đời sống dân cư vẫn gắn với nguồn nước sông, dùng làm nước sinh hoạt hay sử dụng để nuôi trồng thủy sản
Nước thải y tế được xem là nguồn thải độc hại nếu không được xử lý trước khi thải ra môi trường Do thành phần nước thải y tế chứa nhiều hóa chất độc hại
Trang 21với nồng độ cao và chứa nhiều vi trùng, vi khuẩn lây lan bệnh truyền nhiễm Mức
độ gia tăng lượng nước thải y tế năm 2011 so với năm 2000 là hơn 20% Hầu hết
các bệnh viện do Bộ Y tế quản lý đã được đầu tư hệ thống xử lý nước thải tập trung Tuy nhiên, tại các bệnh viện thuộc Sở y tế địa phương quản lý hay các bệnh viện thuộc ngành khác quản lý, cũng như các cơ sở khám chữa bệnh tư nhân nằm rải rác, phần lớn chưa có hệ thống xử lý nước thải Theo Cục Quản lý môi trường y tế thuộc
Bộ Y tế, năm 2014 nước ta có hơn 13.640 cơ sở y tế, khám chữa bệnh Mỗi ngày, các đơn vị này thải ra khoảng 150.000 m3 nước thải Y tế, trong khi đó chỉ có 56% trong tổng số bệnh viện có hệ thống xử lý nước thải y tế và 70% hệ thống xử lý nước thải hiện không đạt yêu cầu Trong đó, một số lượng lớn các chất độc hại trong nước thải y tế không thể xử lý được bằng phương pháp xử lý nước thải thông thường.[10]
* Hiện trạng ô nhiễm một số sông lớn ở nước ta
Sau hơn 20 năm mở cửa và đẩy mạnh phát triển kinh tế với hàng trăm khu chế xuất, khu công nghiệp cùng với đó là hàng ngàn cơ sở hóa chất và chế biến trên toàn quốc Vấn đề chất thải, đặc biệt là chất thải lỏng đã và đang trở thành một vấn nạn lớn cho các quốc gia vì chúng được thải thẳng ra các sòng sông mà không qua
xử lý Qua thời gian nguy cơ ô nhiễm ngày càng tăng dần, và cho đến hiện nay tình trạng ô nhiễm trên những dòng sông ở Việt Nam đã tăng với cường độ kinh khủng
và gần như không có biện pháp cứu hồi
Do ô nhiễm nên chất lượng nước các con sông đã suy giảm mạnh, nhiều chỉ tiêu quan trọng như BOD, COD, DO, NH4, P, pH,… vượt quá mức cho phép nhiều lần
Bảng 2.1: Mức độ ô nhiễm một số sông lớn tại Việt Nam
S Cầu ( Đoạn nhà máy giấy
Hoàng Văn Thụ đến cầu Gia Bẩy)
0,4 – 1,5 > 1000
(Nguồn: Phạm Tuyên, 2010)[4]
Trang 22Các lưu vực sông bị ô nhiễm nghiêm trọng xếp thứ tự là lưu vực đồng bằng sông Cửu Long, sông Hồng – sông Thái Bình, sông Đồng Nai, sông Vu Gia – sông Thu Bồn và lưu vực sông Cả Các lưu vựu sông bị ô nhiễm nghiêm trọng có nhiều
điểm nóng là sông Đồng Nai – Thị Vải, sông Trà Khúc và sông Hồng Tại Hội nghị
triển khai Đề án bảo vệ môi trường lưu vực hệ thống sông Đồng Nai ngày 26/2/2008, các cơ quan chuyên môn đều có chung đánh giá: nguồn nước thuộc lưu vực sông Sài Gòn - Đồng Nai hiện đang bị ô nhiễm nặng, không đạt chất lượng mặt nước dùng làm nguồn cấp nước sinh hoạt Theo số liệu khảo sát do Chi cục Bảo vệ môi trường phối hợp với Công ty Cấp nước Sài Gòn thực hiện năm 2008 cho thấy, lượng NH3 (amoniac), chất rắn lơ lửng, ô nhiễm hữu cơ (đặc biệt là ô nhiễm dầu và
vi sinh) tăng cao tại hầu hết các rạch, cống và các điểm xả Có khu vực, hàm lượng nồng độ NH3 trong nước vượt gấp 30 lần tiêu chuẩn cho phép (như cửa sông Thị Tính); hàm lượng chì trong nước vượt tiêu chuẩn quy định nhiều lần; chất rắn lơ lửng vượt tiêu chuẩn từ 3 - 9 lần
Theo một kết quả nghiên cứu mới công bố năm 2008 của Ngân hàng thế giới (WB), trên 10 tỉnh thành phố Việt Nam, xếp theo thứ hạng về ô nhiễm đất, nước, không khí, thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội là những địa bàn ô nhiễm đất nặng nhất
2.2.3 Tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn
2.2.3.1 Tổng quan về tài nguyên nước tỉnh Lạng Sơn
Lạng Sơn là một vùng núi thuộc Đông Bắc Bộ nước ta, địa hình khá phức tạp
là nơi khởi nguồn của mạng lưới sông, suối chảy theo nhiều hướng Tuy vậy theo kết quả điều tra, Lạng Sơn được đánh giá là một tỉnh nghèo nước nhất so với các tỉnh thuộc trung du miền núi Bắc Bộ Nguy cơ thiếu nước nhất là nước sạch là vấn
đề được quan tâm hàng đầu Việc nâng cao ý thức bảo vệ nuồn tài nguyên nước một
cách bền vững là hết sức cần thiết
Một số con sông chính chảy trên địa bàn tỉnh Lạng sơn:
Sông Kỳ Cùng là con sông chính ở tỉnh Lạng Sơn, chảy sang Trung Quốc và là một chi lưu của sông Tây Giang Bắt nguồn từ vùng núi Bắc Xa cao 1.166 m thuộc
Trang 23huyện Đình Lập tỉnh Lạng Sơn Việt Nam, sông này thuộc lưu vực sông Tây Giang (Trung Quốc) Dòng sông chảy theo hướng đông nam - tây bắc qua thành phố Lạng Sơn Cách thành phố này khoảng 22 km về phía tây bắc Đoạn chảy trên đất Việt Nam dài khoảng 243 km, diện tích lưu vực: 6.660 km² Đây là con sông duy nhất ở miền Bắc Việt Nam chảy theo hướng đông nam - tây bắc sang Trung Quốc Sông Kỳ Cùng
có ba chi lưu chính là sông Bắc Giang và sông Bắc Khê, cả hai sông này đều hợp lưu gần Thất Khê, còn sông Ba Thín hợp lưu gần thị trấn Lộc Bình
Sông Thương là sông lớn thứ hai của Lạng Sơn, bắt nguồn từ dãy núi Na Pa Phước (huyện Chi Lăng) chảy trong máng trũng Mai Sao - Chi Lăng và chảy vào
địa phận tỉnh Bắc Giang, Độ dài: 157 km, Diện tích lưu vực: 6640 km²
Sông Bản Thí, phụ lưu của sông Kỳ Cùng.Độ dài: 52 km, Diện tích lưu vực:
320 km², bắt nguồn từ vùng núi cao thuộc Quảng Tây (Trung Quốc) đổ vào bờ phải sông Kỳ Cùngở xã Khuất Xá huyện Lộc Bình
Sông Bắc Giang, phụ lưu của sông Kỳ Cùng.Độ dài: 114 km, Diện tích lưu vực: 2670 km², Sông Bắc Khê, phụ lưu của sông Kỳ Cùng, Độ dài: 54 km, Diện tích lưu vực: 801 km²
Sông Hoá có độ dài là 47 km với diện tích lưu vực là 385 km²
Sông Trung có độ dài là 35 km với diện tích lưu vực là 1270 km²
2.2.3.2 Thực trạng nguồn nước trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn
Chế độ thủy văn các con sông ở Lạng Sơn phụ thuộc chủ yếu vào chế độ mưa và khả năng điều tiết của lưu vực Chế độ thủy văn trên các con sông thay đổi theo hai mùa rõ rệt, mùa lũ và mùa cạn Mùa lũ trên các con sông ở Lạng Sơn tương
đối đồng nhất về thời gian, thường từ tháng 6 và kết thúc vào tháng 10 Mùa cạn
trên các con sông bắt đầu từ tháng 11, và kết thúc vào tháng 4, có năm kết thúc vào tháng 5,6 năm sau
Hiện trên địa bàn tỉnh có 39 đơn vị đang hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước, với tổng lượng khai thác trên 150 triệu
m3 Hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước trên địa bàn chủ yếu dưới 4 loại hình thức là: khai thác sử dụng nước mặt phục vụ sản xuất nông nghiệp, khai thác
Trang 24sử dụng nước cấp cho sinh hoạt đô thị, khai thác sử dụng nước cấp cho sinh hoạt nông thôn tập trung, khai thác sử dụng nước nhỏ lẻ hộ gia đình cá nhân
Tài nguyên nước trong lòng đất chủ yếu được khai thác phục vụ cho mục đích sinh hoạt Tính đến nay, Lạng Sơn có khoảng 37.730 công trình cấp nước sinh hoạt, trong đó bao gồm cả giếng đào, giếng khoan, bể chứa nước tập trung, đường ống dẫn nước tự chảy; 689.798 người được cấp nước sinh hoạt, chiếm trên 91% dân số Tổng lượng nước đang
được khai thác, sử dụng cho sinh hoạt khoảng 24.500 m3/ngày đêm
Mặc dù theo đánh giá của cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên nước, nhìn chung chất lượng nước mặt của Lạng Sơn tương đối tốt, đáp ứng nhu cầu phục
vụ cho các mục đích phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Tuy niên, chất lượng nước tại các sông suối, ao hồ trên địa bàn tỉnh nhưng năm gần đây đã suy giảm và đang
có dấu hiệu bị ô nhiễm các chỉ tiêu như: TSS, BOD5, COD, Coliform, hóa chất bảo
vệ thực vật, … có thể vượt quá giới hạn cho phép theo QCVN 08:2008/BTNMT
Nguồn nước thải y tế phát sinh với khối lượng không lớn và không tập trung nhưng tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm rất cao Hiện nay trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn lượng nước thải y tế ở các cơ sở y tế huyện và tỉnh đã được xử lý trước khi thải ra môi trường nhưng các cơ sở y tế cấp xã, phường hầu như không được xử lý mà thải trực tiếp ra ngoài môi trường [6]
2.3 Cơ sở thực tiễn
2.3.1 Nguy cơ dịch bệnh do ô nhiễm nguồn nước bởi nước thải bệnh viện
2.3.1.1 Thành phần, tính chất của nước thải bệnh viện
Các thành phần chính gây ô nhiễm môi trường do nước thải bệnh viện gây ra gồm có:
Trang 25- Các loại hóa chất độc hại từ cơ thể và chế phẩm điều trị, thậm chí cả chất phóng xạ
- Các chất thải trong nước ở dạng vật lý: các chất rắn không tan có kích thước và tỷ trọng lớn, nhỏ
Tính chất vật lý của nước thải được xác định dựa trên các chỉ tiêu: màu sắc, mùi, nhiệt độ và lưu lượng
Thông thường để đánh giá độ nhiểm bẩn chất hữu cơ trong nước thải người
ta thường lấy trị số BOD Các chất dinh dưỡng N,P gây ra hiện tượng phú dưỡng nguồn tiếp nhận dòng thải ảnh hưởng tới sinh vật sống trong môi trường thủy sinh; các chất rắn lơ lửng gây ra độ đục của nước, tạo sự lắng đọng cặn làm tắc nghẽn cống và đường ống, máng dẫn Nước thải bệnh viện rất nguy hiểm vì chúng là nguồn chứa đựng vi trùng, vi khuẩn gây bệnh, nhất là các bệnh truyền nhiễm như thương hàn, tả lỵ… làm ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng
Theo phân loại của Tổ chức Môi trường thế giới, nước thải bệnh viện gây ô nhiễm mạnh có chỉ số nồng độ chất rắn tổng cộng 1200mg/l, trong đó chất rắn lơ lửng là 350mg/l; tổng lượng cacbon hữu cơ 290mg/l; tổng photpho tính theo (P) là 15mg/l va tổng nito 85mg/l; lượng vi khuẩn coliform từ 108 đến 109
Ở nước ta, tiêu chuẩn nước thải bệnh viện sau xử lý phải đạt QCVN
28:2010/BTNMT mới được phép đổ vào hệ thống thoát nước theo quy định
2.3.1.2 Độc tính của một số chất có trong nước thải bệnh viện tới môi trường và con người
Theo kết quả phân tích của cơ quan chức năng, 80% nước thải bệnh viện là nước thải bình thường (tương tự nước thải sinh hoạt) chỉ có 20% là những chất thải nguy hại bao gồm các chât thải nhiễm khuẩn từ các bệnh nhân, các sản phẩm của máu, các mẫu chẩn đoán bị hủy, hóa chất phát sinh từ trong quá trình giải phẫu, lọc máu, hút máu, bảo quản mẫu xét nghiệm, khử khuẩn Với 20% chất thải nguy hại này cũng đủ để các vi trùng gây bệnh lây lan ra với môi trường xung quanh Đặc biệt, nếu các loại thuốc điều trị ung thư hoặc các sản phẩm chuyển hóa của chúng…
Trang 26không được xử lý đúng mà đã thải ra ngoài có khả năng gây quái thai, ung thư cho những người tiếp xúc với chúng
* Tác động của BOD tới môi trường và con người:
Nhu cầu oxy sinh học BOD (Biochemical ( hay Biologica) Oxygen Demand),
là một chỉ số và đồng thời là một thủ tục được sử dụng để xác định xem các vi sinh vật sử dụng hết oxy trong nước nhanh hay chậm như thế nào Nó được sử dụng trong quản lý và khảo sát chất lượng nước cũng như trong sinh thái học hay khoa học môi trường BOD không là một thử nghiệm chính xác về mặt định lượng, mặc dù nó có thể coi như là một chỉ thị về chất lượng của nguồn nước BOD xác định khối lượng các chất ô nhiễm hữu cơ tìm thấy trong nước Nếu hàm lượng BOD quá cao sẽ làm suy giảm chất lượng nước ảnh hưởng tới sức khỏe của con người và sinh vật
* Tác động của COD tới môi trường và con người:
Trong hóa học môi trường, chỉ tiêu và thử nghiệm nhu cầu oxy hóa học COD (chemical oxygen demand) được sử dụng rộng rãi để đo gián tiếp khối lượng các hợp chất hữu cơ có trong nước Phần lớn các ứng dụng của COD xác định khối lượng của các chất ô nhiễm hữu cơ tìm thấy trong nước bề mặt (ví dụ trong các con sông hay hồ), làm cho BOD là một phép đo hữu ích về chất lượng nước
COD được biểu diễn theo đơn vị đo là miligam trên lít (mg/l), chỉ ra khối lượng oxy cần tiêu hao trên một lít dung dịch Các nguồn tài liệu cũ biểu diễn nó dưới dạng các đơn vị đo khác nhau như phần triệu (ppm) Khi có nhu cầu oxy hóa học cao thì lượng oxy cần thiết để oxy hóa các chất lớn, nhu cầu này vượt quá chỉ tiêu cho phép thì khả năng tự làm sạch của nước không đáp ứng được Trong thời gian dài sẽ làm giảm chất lượng nước
* Tác động của coliform tới môi trường và con người:
Coliform là các vi khuẩn hình que gram âm có khả năng lên men lactose để sinh ra ga ở nhiệt độ 35 ± 0.5 0C, coliform có khả năng sống ngoài đường ruột của
động vật (tự nhiên), đặc biệt trong môi trường khí hậu nóng Nhóm vi khuẩn
coliform chủ yếu bao gồm các giống như Citrobacter, Enterobacrer, Eschrichia,
Trang 27Klesbsiella và cả Fecal coliform (trong đó E.Coli là loài thường dùng để chỉ định việc ô nhiễm nguồn nước bởi phân) Chỉ tiêu tổng coliform không thích hợp để làm chỉ tiêu chỉ thị cho việc nhiễm bẫn nởi nước phân Tuy nhiên việc xác định số lượng Fecal coliform có thể sai lệnh do có một số vi sinh vật (không có nguồn gốc từ phân)
có thể phát triển ở nhiệt độ 44 0C Do đó số lượng E.coli được coi là chỉ tiêu thích hợp nhất cho việc quản lý nguồn nước
* Tác động của chất phóng xạ tới con người:
Nếu hoạt động xả thải của con người vô ý thức sẽ gây ra hậu quả khó lường
đó là làm chậm quá trình phân chia tế bào khiến thai nhi không phát triển đầy đủ,
làm quái thai dị dạng, hoại tử khi chiếu xạ liều cao có thể gây chết, nếu bị chiếu xạ liều nhỏ nhưng kéo dài, có thể gây giảm hồng cầu, chảy máu nội tạng, nhiễm trùng, làm rối loạn sinh sản, đột biến di truyền, gây ra các bệnh ung
* Tác động của Salmonella tới con người:
Samonella là trực khuẩn gram âm chủ yếu sống ở đường tiêu hóa của người Khi cơ thể bị nhiễm Samonella sẽ gây sốt thương hàn và viêm ruột
- Sốt thương hàn dẫn tới cơ thể sẽ sốt cao, ớn lạnh Cơ thể bệnh nhân suy nhược nhanh chóng, ăn không ngon, mệt mỏi, gan lá lách to dần, xuất hiện xuất huyết ngoài da, lượng bạch cầu giảm
- Viên ruột khiến bệnh nhân cảm thấy nhức đầu, sốt nhẹ, ói và tiêu chảy
* Tác động của Shigela tới con người:
Shigela là vi khuẩn gram âm, hô hấp kị khí tùy tiện Shigela tạo ra hai dạng
độc tố Nội độc tố là những lipopoly saccharit có ở thàng tế bào gây kích thích
thành ruột Ngoại độc tố tác động lên thành ruột, gây tiêu chảy, ức chế hấp thụ
đường và axit amin ở ruột non Nếu chúng tác động lên thần kinh thì có thể gây ra
tử vong.[11]
2.3.2 Hiện trạng xả và xử lý nước thải tại một số bệnh viện ở Việt Nam
Tính đến năm 2014, Việt Nam có 1.356 bệnh viện (bao gồm bệnh viện trung
ương, tỉnh, huyện, bệnh viện ngành và bệnh viện tư nhân) với 260.058 giường Và
hơn 13.500 cơ sở y tế do vậy nguồn chất thải rắn từ hệ thống bệnh viện này lên tới
Trang 28350 - 400 tấn/ngày, trong đó 40 tấn chất thải nguy hại Với nước thải, mỗi ngày các bệnh viện xả ra khoảng 150 nghìn m3 Loại nước thải y tế này ô nhiễm nặng về mặt hữu cơ và hàm lượng vi sinh cao gấp 100-1000 lần tiêu chuẩn cho phép Nếu không
được xử lý tốt, những thành phần nguy hại trong chất thải y tế như vi sinh vật gây
bệnh, chất gây độc, gây ung thư có thể tạo ra nguy cơ đáng kể đối với sức khỏe cộng đồng và môi trường
Tuy nhiên, hiện có tới 56% số bệnh viện trên toàn quốc chưa có hệ thống xử
lý nước thải và 70% số hệ thống xử lý nước thải hiện có không đạt tiêu chuẩn cho phép; chỉ có khoảng 50% số bệnh viện phân loại, thu gom chất thải rắn y tế đạt yêu cầu theo Quy chế quản lý chất thải y tế Ở cấp độ vĩ mô, hệ thống chính sách, quy chuẩn, tiêu chuẩn công nghệ xử lý chất thải phù hợp còn chưa được xây dựng đầy
đủ và triển khai có hệ thống Nước thải từ các cơ sở y tế gồm phát sinh từ hoạt động
chăm sóc và sinh hoạt trong bệnh viện.[2] Nó có thể chứa vi sinh vật, kim loại nặng, hóa chất độc, đồng vị phóng xạ Lo ngại chủ yếu tập từ nguồn nước thải bệnh viện tập trung vào vi sinh vật gây bệnh đường ruột dễ dàng lây truyền qua nước
Vi sinh vật gây bệnh trong chất thải lây nhiễm có thể xâm nhập vào cơ thể người Sự xuất hiện của các loại vi khuẩn kháng sinh và kháng hóa chất khử khuẩn có thể liên quan đến thực trạng quản lý chất thải y tế không an toàn Tại TP.HCM, hầu hết các bệnh viện, cơ sở y tế không trang bị hệ thống xử lý nước thải hoặc hệ thống không
đảm bảo tiêu chuẩn Tại buổi làm việc cùng Ban Văn hóa - Xã hội HĐND TP.HCM,
báo cáo của ông Trần Nguyên Hiền - Trưởng phòng Quản lý môi trường (Sở Tài nguyên - Môi trường TP.HCM) về tình trạng xử lý nước thải, chất thải ở các bệnh viện trên địa bàn TP.HCM khiến mọi người giật mình Theo đó, trong số 19 cơ sở y tế trực thuộc Trung Ương đóng trên địa bàn TP.HCM có đến 11 cơ sở không có hệ thống xử
lý nước thải, trong đó có nhiều cơ sở rất lớn như: bệnh viện Chợ Rẫy (phẫu thuật hơn
100 bệnh nhân/ngày), bệnh viện 30/4, bệnh viện Răng - hàm - mặt Trung Ương, Viện Pasteur TP.HCM, Trung tâm Chấn thương chỉnh hình phục hồi chức năng 8 cơ sở còn lại có hệ thống xử lý nước thải thì có 3 không đạt tiêu chuẩn
Trang 29Theo thống kê của Sở Tài nguyên - Môi trường TP.HCM, trong số 62 bệnh viện và trung tâm y tế công lập của TP.HCM hiện chỉ có 1/3 cơ sở có hệ thống xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn, 21 cơ sở không có hệ thống xử lý nước thải và 20 cơ sở hệ thống không đạt tiêu chuẩn
Như vậy, theo thống kê chưa đầy đủ, trong số hơn 100 cơ sở y tế công, tư thuộc Trung ương và địa phương tại TP.HCM, có đến 34 không có hệ thống xử lý nước thải, 34 có nhưng không đạt tiêu chuẩn và chỉ có 37 cơ sở mà hệ thống xử lý nước thải đạt chuẩn Đó là chưa kể hơn 300 trạm y tế của các phường, xã trên địa bàn TP.HCM không nơi nào có hệ thống xử lý nước thải
Hà Nội là địa phương có số lượng bệnh viện thứ nhì sau TP.HCM Theo sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội: hiện có 42 bệnh viện và cơ sở khám chữa bệnh cần phải có hệ thống xử lý nước thải Tuy nhiên đến thời điểm này, mới 12 bệnh viện (cả công và tư) có hệ thống xử lý nước thải theo yêu cầu Bên cạnh 7 bệnh viện công lớn đã có hệ thống xử lý nước thải (Bạch Mai, 108, Việt - Xô, Nhi Thụy Điển, 19/8, Thanh Nhàn, Xanh – Pôn), còn 5 bệnh viện lớn khác đã được cơ quan chức năng yêu cầu có hệ thống xử lý vào năm 2007, nhưng đến nay chưa hoàn thành ( dù quyết định này được đưa ra từ năm 2003 ) gồm bệnh viện Việt – Đức, bệnh viện K, phụ sản Trung ương, phụ sản Hà Nội, Đống Đa.[13]
* Các công nghệ xử lý nước thải hiện đang áp dụng trong các bệnh viện ở Việt Nam
Các công nghệ xử lý nước thải hiện đang áp trong bệnh viện của Việt Nam
có thể chia làm 4 nhóm phương án
- Nhóm 1:
Đối với nhóm công nghệ thứ nhất, nước thải bệnh viện được xử lý sơ bộ
trong bể tự hoại, bể lắng và sau đó được khử khuẩn hoặc xử lý trong hồ sinh học hay bãi lọc ngầm nước
Hình 2.1: Sơ đồ công nghệ nhóm 1
Nước thải Bể tự hoại Bể lắng
Hồ sinh học hoặc bãi lọc ngập nước
Thải ra
Trang 30- Nhóm 2:
Trong nhóm công nghệ thứ hai, nước thải bệnh viện lần lượt trải qua các quá trình xử lý sơ bộ (trong bể tự hoại hoặc bể lắng), xử lý sinh học trong điều kiện nhân tạo (trong bể lọc sinh học hoặc bùn hoạt tính) và khử khuẩn Các bệnh viện ở Việt Nam đã áp dụng nhóm công nghệ này từ năm 1975 Cho đến nay, đây vẫn là một nhóm công nghệ phổ biến nhất ở nước ta
Hình 2.2: Sơ đồ công nghệ của nhóm 2
- Nhóm 3:
Trong nhóm công nghệ thứ ba, nước thải được xử lý sơ bộ trong công trình hợp khối, xử lý tiếp theo trong mo-dun thiết bị xử lý sinh học và được khử khuẩn trước khi xả thải ra môi trường Các công trình xử lý nước thải sử dụng phương án hợp khối và theo mo-dun như CN2000, V69 đã được xây dựng ở Việt Nam từ năm 1998
song chắn rác
Công trình xử
lý sinh học
Bể lắng thứ cấp Khử trùng
Xả thải
Trang 31Hình 2.3: Sơ đồ công nghệ của nhóm 3
- Nhóm 4:
Nhóm công nghệ thứ tư bao gồm các công nghệ mới nhập vào Việt Nam trong những năm gần đây ví dụ như Xử lý gián đoạn theo mẻ hay công nghệ có tên AAO (Yếm khí - thiếu khí – hiếu khí)
Hình 2.4: Sơ đồ công nghệ của nhóm 4
Hệ thống hợp khối
Hồ bơm và các bơm chìm
Ngăn bùn
Bể điều hòa và xử
lý sơ bộ
Ngăn thu nước thải
Song chắn rác
Nước
thả i
Thiết bị xử lý aerolift-aeroten với vật liệu lọc sinh học cao tải
Bể xử lý thứ cấp
Thiết bị khử trùng
Xử lý sinh học gián đoạn theo
mẻ
Khử trùng bằng Ozon
Xả thải
Trang 322.3.3 Hiện trạng xả và xử lý nước thải của bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn
Theo kết quả điều tra cho thấy, trung bình mỗi ngày bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn thải ra khoảng 185 m3/ngày đêm Toàn bộ lượng nước thải của khu bệnh viện được chia làm 3 luồng chính gồm: nước thải từ các phòng khám, nước thải từ sinh hoạt, nước mưa chảy tràn Nước thải chảy tràn không qua hệ thống xử lý mà thải trực tiếp ra sông gần khu vực bệnh viện Nước thải sinh hoạt được xử lý qua hệ thống bể tự hoại nằm dưới các nhà vệ sinh Nước thải y tế theo hệ thống đường ống nằm phía dưới các dãy nhà và
được đưa về trạm xử lý nước thải của bệnh viện đáp ứng cho nhu cầu xử lý nước của
bệnh viện Trong tương lai với nhu cầu khám chữa bệnh càng tăng lên thì quy mô của bệnh viện có thể nâng cấp thêm số gường bệnh, lượng nước thải hàng ngày sẽ tăng lên cao Tuy nhiên do công suất của trạm xử lý nước thải lớn do đó vẫn sẽ đáp ứng được cho nhu cầu xử lý nước thải của bệnh viện
Trang 33PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu nước thải của bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn
3.3 Nội dung nghiên cứu
3.3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Lạng Sơn
Sử dụng phương pháp kế thừa và thu thập số liệu thứ cấp để thu tập các tài liệu liên quan đến các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Lạng Sơn
3.3.2 Tổng quan về bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn
- Quy mô của bệnh viện
- Công tác xử lý vệ sinh môi trường của bệnh viện
- Hệ thống và quy trình xử lý nước thải của bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn
3.3.3 Tình hình sử dụng nước của bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn
- Nhu cầu
- Nguồn nước sử dụng
Dựa trên báo cáo tổng kết của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn
3.3.4 Đánh giá chất lượng nước thải của bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn
- Lượng nước thải phát sinh của bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn
- Đánh giá chất lượng nước thải của bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn
Trang 34Để đánh giá được chất lượng nước thải của bệnh viện ta sử dụng phương
pháp đánh giá tổng hợp dựa trên các kết quả phân tích các mẫu nước thải đã được lấy tại bệnh viện và số liệu thu thập được
3.3.5 Đề xuất giải pháp xử lý, giảm thiểu ô nhiễm nước thải của bệnh viện
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Nghiên cứu các văn bản pháp luật
Quá trình nghiên cứu các văn bản pháp luật, văn bản dưới luật và các quy
định có liên quan là cơ sở pháp lý tạo tiền đề cho quá trình làm khóa luận, giúp cho
quá trình thực hiện khóa luận đúng theo quy định
Đây là phương pháp thu thập số liêu truyền thống, nhanh và có hiệu quả
Chúng ta có thể thu thập được nhiều kiến thức từ phương pháp này, các tài liệu thu thập được giúp chúng ta khái quát các vấn đề cần nghiên cứu
3.4.3 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
- Thu thập các số liệu về tổ chức hoạt động (quy mô, diện tích, cơ cấu tổ chức, công nghệ thiết bị sử dụng…) của bệnh viện
- Thu thập các số liệu ở các văn bản, báo chí của tỉnh và trên internet
3.4.4 Phương pháp lấy mẫu nước thải
- Địa điểm lấy mẫu : Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn
- Thời gian lấy mẫu: 09/11/2014
- Thời gian phân tích: 09/11/2014 đến 19/11/2014
- Số lượng mẫu: 02 mẫu
- Địa điểm phân tích: phòng thí nghiệm trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên
Trang 35- Chỉ tiêu phân tích: lựa chọn các chỉ tiêu đặc trưng cho nước thải bệnh viện theo QCVN 28:2010/BTNMT về chất lượng nước thải bệnh viện gồm COD, BOD5, TSS, DO, NO3-, PO43-, pH,…
* Vị trí lấy mẫu
Bảng 3.1: vị trí, số lượng lấy mẫu
Nước thải bệnh viện 2 NT1 – hố ga chứa nước thải trước khi xử lý
NT2 - tại hồ nước điều hòa sau khi xử lý
Nước mặt nơi tiếp nhận
nước thải của bệnh viện 2
NM1 - Nước sông Kỳ Cùng cách điểm tiếp nhận nước thải của dự án 50 m về phía thượng nguồn
NM2 - Tại sông Kỳ Cùng cách điểm tiếp nhận nước thải của dự án 150 m về phía hạ nguồn
* Cách lấy mẫu nước
Tiến hành theo tiêu chuẩn 5999 : 1995
+ Dụng cụ hóa chất
Chai nhựa polytylen, dung tích 500ml; 1000ml
Tất cả các chai lọ lấy mẫu cần phải rửa sạch bằng nước xà phòng, sau đó rửa
kỹ bằng nước sạch, tráng bằng nước cất, trước khi lấy mẫu ít nhất phải tráng 1 lần bằng chính nước thải cần lấy mẫu rồi mới lấy mẫu đó
+ Tiến hành lấy mẫu
* Bảo quản và vận chuyển mẫu : Theo tiêu chuẩn 5999 : 1995
- Thời gian vận chuyển mẫu từ nơi lấy mẫu đến phòng thí nghiệm càng ngắn càng tốt, tránh để mẫu thay đổi tính chất và thành phần phân tích, đặc biệt với mẫu nước thải bệnh viện chứa nhiều vi sinh vật dễ bị thay đổi tính chất
- Các điều kiện bảo quản tùy thuộc vào từng chỉ tiêu phân tích
3.4.5 Phương pháp phân tích tại phòng thí nghiệm
Các mẫu được lấy và bảo quản, phân tích theo đúng tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN 5999:1995) và các phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm
Trang 36Phương pháp phân tích mẫu nước thải bệnh viện có thể được tiến hành như sau:
* Cách xác định pH, nhiệt độ: Đo bằng máy đo pH cầm tay theo TCVN
6492:1997 (ISO 10532:1994)
* Phương pháp xác định coliform: Xác định theo tiêu chuẩn TCVN
6187-1:2000 (ISO 9380 – 2000)
* Cách xác định màu của nước: Xác định bằng phương pháp so màu thông
qua máy quang phổ tử ngoại
* Cách xác định COD trong nước:
- Bước 1: Dùng bút xóa đánh dấu 2 bình tam giác
+ Mẫu trắng: Ký hiệu B1
+ Mẫu thực: Ký hiệu B2
- Bước 2: dùng pipet hút 100ml nước cất cho vào bình B1 (mẫu trắng)
- Bước 3: Mẫu thực: Vì mẫu cần đem phân tích là mẫu nước thải nên chúng
ta phải tiến hành pha loãng với tỉ lệ từ 10-50 lần
- Bước 4: Bổ sung hóa chất vào 2 bình B1,B2
Dùng pipet hút 2ml axit sunfuric H2SO4 đặc
10ml kali pemaganat KMnO4 0,1N vào 2 bình B1, B2
- Bước 5: Dùng giấy bạc bịt kín 2 miệng bình rồi tiến hành đun sôi dung dịch trên bếp điện
- Bước 6: Đặt 2 bình lên máy khuấy từ (hoặc lắc đều)
Chuẩn độ bằng kali pemanganat KMnO4 0,1N đến khi màu của dung dịch chớm có màu hồng tím Ghi thể tích kali pemanganat đã dùng (a)
Làm song song một mẫu trắng như đã làm với mẫu thực, ghi thể tích kali pemanganat KMnO4 dùng cho mẫu trắng (b)
Trang 37a- Lượng kali pemanganat dùng chuẩn độ mẫu nước trắng
b- Lượng kali pemanganat dùng chuẩn độ mẫu nước thực
* Cách xác định BOD 5 trong nước
- Bước 1: Dùng bút xóa đánh dấu 2 bình tam giác
Mẫu trắng: Ký hiệu B1
Mẫu thực: Ký hiệu B2
- Bước 2: Đong 1000ml nước cất cho vào bình tam giác B1 cắm sục để ở
T0=200C trong tủ BOD 1 tiếng
- Bước 3: Bỏ bình B1 ra ngoài nhưng vẫn tiến hành sục khí để ổn định oxy Sau đó bổ sung các dung dịnh đệm:
- Bước 4: Xử lý mẫu nước cần phân tích BOD (mẫu thực)
+ Lắc đều mẫu nước cần phân tích
+ Tiến hành pha loãng dung dịch với tỷ lệ 10-50 lần
- Bước 5: Chuẩn máy đo DO, chuẩn máy đạt bão hòa DO=100
- Bước 6: Cho mẫu ở bước 4 vào bình B2 Đổ men theo thành bình đến khi tràn ra ngoài Cắm đầu đo DO vào đo trực tiếp ta thu được giá trị DO1
- Bước 7: Đổ thêm mẫu B2 vào cho đầy bình đậy nút lại cho vào tủ ấm BOD trong 5 ngày ở To=200C Sau đó đem ra đo DO ta thu được DO5
Trang 38- Bước 10: Tính kết quả
0
0515
V
V V DO DO
(DO trắng 1 –DO trắng 5) × HSPL
* Cách xác định TSS: Phương pháp khối lượng sau khi lọc, sấy mẫu ở nhiệt
độ 1050C đến khối lượng không đổi theo TCVN 4560:1988
- Nội dung: sấy mẫu ở nhiệt độ 1050C cho đến khi lượng không khí thay đổi
và xác định sự thay đổi khối lượng này trong quá trình sấy
- Dụng cụ:
Cần phân tích với độ chính xác đến ±0,001 gam
Tủ sấy điều chỉnh được nhiệt độ ±10C
1000)
(
ml V