1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Đánh giá thực trạng chất lượng nước thải bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Kạn năm 2012 - 2013, sau 2014.

70 476 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 568,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoạt động của bệnh viện ngoài mang lại phúc lợi cho xã hội và con người thì trong quá trình hoạt động cũng gây các tác động tiêu cực tới môi trường đặc biệt là ô nhiễm do nước thải y tế

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

DƯƠNG THỊ THƠ

Tên đề tài:

“ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG NƯỚC

THẢI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH BẮC KẠN 2013”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Khoa học môi trường

Khoá học : 2010 – 2014

Giáo viên hướng dẫn : TS Dư Ngọc Thành

Thái Nguyên, năm 2014

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Thực tập tốt nghiệp là nội dung quan trọng đối với mỗi sinh viên trước lúc ra trường Giai đoạn này vừa giúp cho sinh viên kiểm tra, hệ thống lại những kiến thức, lý thuyết và làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, cũng như vận dụng những kiến thức đó vào thực tiễn

Để đạt được mục tiêu đó, đồng thời đáp ứng được những nhu cầu khắt khe của nhà tuyển dụng sau khi ra trường Được sự nhất trí của nhà trường và ban chủ nhiệm khoa Môi trường, em đã tiến hành thực tập tốt nghiệp với tên

đề tài “Đánh giá thực trạng chất lượng nước thải bệnh viện Đa khoa tỉnh

Bắc Kạn năm 2012 - 2013, sau 2014”

Hoàn thành bài khóa luận này, trước hết em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo - TS Dư Ngọc Thành, người đã trực tiếp hướng dẫn và giúp

đỡ em trong suốt thời gian thực hiện đề tài

Nhân dịp này em xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô giáo khoa Môi trường, Ban lãnh đạo Chi cục Bảo vệ môi trường tỉnh Bắc Kạn

Trông suốt quá trình thực tập, mặc dù em đã hết sức cố gắng nhưng do thời gian thực tập, kinh nghiệm cũng như trình độ của bản thân còn hạn chế nên bản khóa luận này không tránh khỏi những khiếm khuyết và thiếu sót Vậy em rất mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của các thầy cô giáo và toàn thể các bạn để bài khóa luận này được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 29 tháng 5 năm 2014

Sinh viên

Dương Thị Thơ

Trang 3

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Hiện trạng sử dụng nước và xử lý nước thải bệnh viện trên địa bàn các

tỉnh 23

Bảng 2.2 Một số các công nghệ xử lý nước thải hiện đang áp dụng trong bệnh viện tại Việt Nam 24

Bảng 3.1 Vị trí, số lượng và phương pháp lấy mẫu 27

Bảng 4.1 Quy mô một số khoa của Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Kạn 39

Bảng 4.2 Lượng rác thải rắn của Bệnh viện Đa Khoa Bắc Kạn 2013 42

Bảng 4.3 Phân loại chất thải rắn bệnh viện theo mức độ độc hại 42

Bảng 4.4 Các nguồn phát sinh nước thải của Bệnh viện Đa khoa 44

tỉnh Bắc Kạn 44

Bảng 4.5 Ký hiệu vị trí lấy mẫu 51

Bảng 4.6 Kết quả phân tích một số chỉ tiêu hóa học nước thải trước xử lý của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Kạn (NT1) 52

Bảng 4.7 Kết quả phân tích một đố số chỉ tiêu vật lý, sinh học nước thải trước xử lý của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Kạn(NT1) 53

Bảng 4.8 Kết quả phân tích chỉ tiêu vật lý, sinh học của nước thải sau quá trình xử lý của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Kạn (NT2) 54

Bảng 4.9 Kết quả phân tích chỉ tiêu hóa học của nước thải sau quá trình xử lý của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Kạn (NT2) 54

Bảng 4.10 So sánh kết quả phân tích chỉ tiêu nước thải bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Kạn 55

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT

BOD : Nhu cầu oxi sinh học

BVMT : Bảo vệ môi trường

COD : Nhu cầu oxi hóa học

Trang 5

MỤC LỤC

Phần 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích của đề tài 2

1.3 Yêu cầu của đề tài 2

1.4 Ý nghĩa của đề tài 2

1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và trong nghiên cứu khoa học 2

1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 2

Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4

2.1.1 Cơ sở pháp lý 4

2.2 Cơ sở lý luận 5

2.2.1 Khái quát về môi trường và ô nhiễm môi trường 5

2.3 Tổng quan về tài nguyên nước trên Thế giới và Việt Nam 7

2.3.1 Tài nguyên nước trên Thế giới 8

2.3.2 Tài nguyên nước tại Việt Nam 8

2.3.3 Nước thải bệnh viện thành phần và tính chất 15

2.3.4 Chỉ tiêu đánh giá ô nhiễm nước thải bệnh viện 16

2.3.5 Độc tính của một số chất trong nước thải bệnh viện tới môi trường và con người 17

2.4 Cơ sở thực tiễn 20

2.4.1 Nguy cơ dịch bệnh do ô nhiễm nguồn nước bởi nước thải bệnh viện trên Thế giới 20

2.4.2 Hiện trạng xử lý và xả nước thải ở một số bệnh viện tuyến TW tại Việt Nam 21

2.4.3 Hiện trạng xử lý và xả nước thải tại một số bệnh viện trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn 25

Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26

3.1 Đối tượng, thời gian nghiên cứu 26

3.1.1 Công tác xử lý vệ sinh môi trường của bệnh viện Đa Khoa tỉnh Bắc Kạn 26

3.1.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 26

3.2 Nội dung nghiên cứu 26

3.2.1 Tổng quan về bệnh viện Đa Khoa tỉnh Bắc Kạn 26

3.2.2 Tình hình sử dụng nước của bệnh viện Đa Khoa tỉnh Bắc Kạn 26

3.2.3 Đánh giá hiện trạng nước thải bệnh viện Đa Khoa tỉnh Bắc Kạ 26

3.2.4 Đề xuất giải pháp quản lý và giảm thiểu ô nhiễm nước thải bệnh viện 26

3.3 Phương pháp nghiên cứu 27

Trang 6

3.3.1 Nghiên cứu các văn bản pháp luật 27

3.3.2 Phương pháp kế thừa 27

3.3.3 Phương pháp điều tra thực địa 27

3.3.4 Phương pháp lấy mẫu nước thải 27

3.3.5 Phương pháp đánh giá tổng hợp 27

3.3.6 Nghiên cứu các văn bản luật, các văn bản dưới luật và các quy định có liên quan đến tài nguyên nước 28

3.3.7 Phương pháp thực nghiệm và phân tích tại phòng thí nghiệm 28

Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 31

4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Kạn 31

4.1.1 Điều kiện tự nhiên 31

4.2 Tổng quan về bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Kạn 38

4.2.1 Giới thiệu về Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Kạn 38

4.2.2 Công tác xử lý vệ sinh môi trường của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Kạn 41

4.2 3.Tình hình sử dụng nước của bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Kạn 43

4.3 Đánh giá thực trạng nước thải của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Kạn 44

4.3.1 Lượng nước thải phát sinh của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Kạn 44

4.3.2 Hệ thống và quy trình xử lý nước thải của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Kạn 45

4.3.3 Đánh giá chất lượng nước thải của bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Kạn 51

4.3.4 Môi trường nước thải y tế 52

4.4 Đề xuất một số biện pháp giảm thiểu ô nhiễm nước thải bệnh viên 56

4.4.1.Biện pháp quản lý 56

4.4.2 Biện pháp lý hóa học 56

4.4.3 Biện pháp sinh học 57

4.5 Một số biện pháp xử lý nước thải bệnh viện 57

4.5.1 Công nghệ xử lý nước thải Bệnh viện theo nguyên lý hợp khối 60

4.5.2 Công nghệ xử lý nước thải Bệnh viện theo mô hình DEWATS 60

Phần 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 62

5.1 Kết luận 62

5.2 Đề nghị 62

TÀI LIỆU THAM KHẢO 64

Trang 7

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Môi trường rất cần thiết cho sự tồn tại sinh trưởng và phát triển của con người cũng như tất cả các loài sinh vật trên trái đất, môi trường có nhiều chức năng quan trọng khác nhau đối với sự sống trên Trái đất Song song với tiến trình phát triển kinh tế xã hội, thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, thì vấn đề về môi trường, sức khoẻ của cộng đồng là nền tảng và là động lực để phát triển đất nước và tham gia hội nhập quốc tế Với sự tăng về dân số cùng với sự phát triển của các khu đô thị thì việc phát triển về vấn đề giáo dục, kinh tế - văn hóa- xã hội đặc biệt là phát triển y tế nhằm đảm bảo sức khoẻ cho nguồn lực lao động được coi là vấn đề quan trọng và cấp thiết Năm 2010, Việt Nam có khoảng 1186 bệnh viện với công suất là 187843 giường Hoạt động của bệnh viện ngoài mang lại phúc lợi cho xã hội và con người thì trong quá trình hoạt động cũng gây các tác động tiêu cực tới môi trường đặc biệt là ô nhiễm do nước thải y tế gây ra Trên cả nước có khoảng 70% bệnh viện chưa có các biện pháp xử lý nước thải Với tính chất độc hại, nước thải bệnh viện có sự lan truyền rất mạnh các vi khuẩn gây bệnh nhất là nước thải được thải ra từ các phòng khoa, bệnh viện lây nhiễm Ngoài ra, các chất kháng sinh và thuốc sát trùng xuất hiện cùng với dòng nước thải sẽ tiêu diệt các vi khuẩn có lợi và có hại gây ra sự phá vỡ hệ cân bằng sinh thái trong

hệ các vi khuẩn tự nhiên của môi trường nước thải, làm mất khả năng xử lý nước thải của vi sinh vật, nếu không quản lý tốt có thể gây ra những nguy cơ đáng kể cho con người và môi trường

Xuất phát từ thực trạng trên, được sự nhất trí của Ban chủ nhiệm khoa Môi trường, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và sự hướng dẫn trực

tiếp của thầy giáo Tiến sĩ Dư Ngọc Thành, em tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Đánh giá thực trạng chất lượng nước thải Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Kạn năm 2013”

Với mục tiêu xem xét chất lượng nước thải, và đưa ra những giải pháp quản lý, các biện pháp xử lý tình trạng ô nhiễm môi trường nước thông qua đó

Trang 8

từng bước nâng cao chất lượng môi trường, góp phần phát triển kinh tế - xã hội và môi trường bền vững

1.2 Mục đích của đề tài

Tìm hiểu hệ thống xử lý nước thải của Bệnh viện đa khoa thành phố Bắc Kạn

- Đánh giá hiệu quả xử lý nước thải của Bệnh viện

- Đề xuất giải pháp giảm thiểu gây ô nhiễm môi trường nước của Bệnh

viện trên địa bàn thành phố Bắc Kạn

- Nghiên cứu sơ lược về bệnh viện Đa khoa thành phố Bắc Kạn

- Xác định nhu cầu sử dụng nước cho từng hoạt động và tổng lượng nước thải y tế của Bệnh viện đa khoa thành phố Bắc Kạn

- Đánh giá hiện trạng chất lượng nước thải của Bệnh viện

- Đề xuất một số biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước thải Bệnh viện

1.3 Yêu cầu của đề tài

- Số liệu thu thập phải phản ánh trung thực, khách quan

- Đánh giá đầy đủ chính xác chất lượng nước thải y tế của Bệnh viện

- Kết quả phân tích phải chính xác

- Những kiến nghị đưa ra phải phù hợp với tình hình thực tế của địa phương

1.4 Ý nghĩa của đề tài

1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và trong nghiên cứu khoa học

- Giúp vận dụng kiến thức đã học vào rèn luyện kỹ năng điều tra tổng hợp và phân tích số liệu, tiếp thu và học hỏi những kinh nghiệm từ thực tế

- Tạo cho sinh viên cơ hội vận dụng lý thuyết vào thực tiễn

- Củng cố kiến thức cơ sở cũng như kiến thức chuyên ngành, tạo điều kiện tốt hơn để phục vụ công tắc bảo vệ môi trường

- Là nguồn tài liệu cho học tập và nghiên cứu khoa học

- Sự thành công của đề tài là cơ sở để nâng cao phương pháp làm việc

có khoa học, giúp bố trí được thời gian và công việc một cách hợp lý

1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn

- Đánh giá được lượng nước thải phát sinh, tình hình thu gom và xử lý nước thải Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Kạn

Trang 9

- Cảnh báo nguy cơ ô nhiễm nước thải y tế nếu không được thu gom và

xử lý theo quy định

Đề xuất một số biện pháp khả thi giúp cho công tác thu gom và xử lý nước thải y tế một các phù hợp và khoa học với điều kiện của Bệnh viện nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường

Trang 10

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học của đề tài

2.1.1 Cơ sở pháp lý

Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005 và

có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2006

- Luật số 17/2012/QH13 của Quốc Hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam về tài nguyên nước

- Nghị định số 149/2004/NĐ - CP của Chính phủ ngày 27 tháng 07 năm

2004 của Chính phủ quy định về việc cấp phép thăm dò, khai thác sử dụng tài nguyên nước, xả thải vào nguồn nước

- Nghị định 34/2005/NĐ - CP ngày 17 tháng 02 năm 2005 của Chính phủ quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước

- Thông tư số 02/2005/TT - BTNMT ngày 24 tháng 05 năm 2005 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc thực hiện Nghị đinh 149/2004/NĐ -

CP ngày 27 tháng 07 năm 2004 của Chính phủ quy định về việc cấp phép thăm

dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả thải vào nguồn nước

- Quyết định của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành quy chế quản lý chất thải y tế (Số 43/2007/QĐ - BYT) (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2005)

- Quyết định 153/2006/QĐ- TTg ngày 30/06/2006 của thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống Y tế Việt Nam giai đoạn đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020

- Quyết định 81/2006/QĐ - TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2020

- QCVN 28: 2010/BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường về quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải y tế

Trang 11

2.2 Cơ sở lý luận

2.2.1 Khái quát về môi trường và ô nhiễm môi trường

a Khái niệm về môi trường và ô nhiễm môi trường

* Khái niệm về môi trường

- Môi trường theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người, như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội

- Môi trường theo nghĩa hẹp không xét tới tài nguyên thiên nhiên, mà chỉ bao gồm các nhân tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống con người Ví dụ: môi trường của học sinh gồm nhà trường với thầy giáo, bạn bè, nội quy của trường, lớp học, sân chơi, phòng thí nghiệm, vườn trường, tổ chức xã hội như Đoàn, Đội với các điều lệ hay gia đình, họ tộc, làng xóm với những quy định không thành văn, chỉ truyền miệng nhưng vẫn được công nhận, thi hành và các cơ quan hành chính các cấp với luật pháp, nghị định, thông tư, quy định

- Theo Điều 1, Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam năm 2005

“Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên”

Tóm lại, môi trường là tất cả những gì có xung quanh ta, cho ta cơ sở

để sống và phát triển

* Khái niệm về ô nhiễm môi trường

- Theo Điều 3, Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam năm 2005

“Ô nhiễm môi trường là sự làm thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm Tiêu chuẩn môi trường”

- Ô nhiễm môi trường là khái niệm để chỉ sự xuất hiện của một chất lạ trong môi trường tự nhiên hoặc làm biến đổi thành phần, tỷ lệ về hàm lượng của các yếu tố có sẵn, gây độc hại cho cơ thể sinh vật và con người nếu như hàm lượng của các chất đó vượt khỏi giới hạn thích nghi tiềm tàng của cơ thể

- Sự ô nhiễm môi trường có thể là hậu quả của các hoạt động tự nhiên, như hoạt động núi lửa, thiên tai lũ lụt, bão,… hoặc các hoạt động do con người thực

Trang 12

hiện trong công nghiệp, giao thông, chiến tranh và công nghệ quốc phòng, trong sinh hoạt, trong đó công nghiệp được xem là nguyên nhân lớn nhất

- Chất gây ô nhiễm môi trường rất đa dạng về nguồn gốc và chủng loại, tuy vậy chúng được phân chia thành 3 nhóm lớn: chất thải rắn, chất thải lỏng và chất thải khí Mỗi dạng có thể chứa đựng nhiều chất, từ các hóa chất, các kim loại nặng, đến chất phóng xạ và vi trùng Nhiệt cũng là tác nhân trực tiếp hay gián tiếp gây nên sự ô nhiễm môi trường Tuy nhiên, môi trường chỉ được coi là

bị ô nhiễm nếu trong đó hàm lượng, nồng độ hoặc cường độ các tác nhân trên đạt đến mức có khả năng tác động xấu đến con người, sinh vật và vật liệu

* Khái niệm về ô nhiễm môi trường nước

Ô nhiễm nước là sự thay đổi thành phần và chất lượng nước không đáp ứng cho các mục đích sử dụng khác nhau, vượt quá tiêu chuẩn cho phép và có ảnh hưởng xấu đến đời sống con người và sinh vật

Ô nhiễm nước là hiện tượng các vùng nước như sông, hồ, biển, nước ngầm bị các hoạt động của con người làm nhiễm các chất có thể gây hại cho con người và cuộc sống các sinh vật trong tự nhiên

Nước trong tự nhiên tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau: nước ngầm, nước ở các sông hồ, tồn tại ở thể hơi trong không khí Nước bị ô nhiễm nghĩa là thành phần của nó tồn tại các chất khác, mà các chất này có thể gây hại cho con người và cuộc sống các sinh vật trong tự nhiên Nước ô nhiễm thường là khó khắc phục mà phải phòng tránh từ đầu

+ Ô nhiễm nước có nguồn gốc tự nhiên: do mưa, tuyết tan, gió bão, lũ lụt đưa vào môi trường nước các chất thải bẩn, các sinh vật có hại kể cả xác chết của chúng

+ Ô nhiễm nước có nguồn gốc nhân tạo: quá trình thải các chất độc hại chủ yếu dưới dạng lỏng như các chất thải sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vào môi trường nước

+ Theo bản chất các tác nhân gây ô nhiễm, người ta phân ra các loại ô nhiễm nước: ô nhiễm vô cơ, hữu cơ, ô nhiễm hóa chất, ô nhiễm sinh học, ô nhiễm bởi các tác nhân vật lý

+ Ô nhiễm nước mặt, ô nhiễm nước ngầm và biển

Trang 13

b, Khái niệm về nước thải và phân loại nước thải

Khái niệm về nước thải

- Theo Tiêu chuẩn Việt Nam 5980 - 1995 và ISO 6170/1 - 1980 Nước thải là nước được thải ra sau khi đã sử dụng hoặc được tạo ra trong một quá trình công nghệ và không còn giá trị trực tiếp đối với qúa trình đó

Người ta còn định nghĩa nước thải là chất lỏng được thải ra sau quá trình sử dụng của con người và đã bị thay đổi tính chất ban đầu của chúng [14]

- Nước thải là nước đã dùng trong sinh hoạt, sản xuất hoặc chảy qua vùng đất ô nhiễm Phụ thuộc vào điều kiện hình thành mà nước thải được chia thành: nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp, nước thải tự nhiên và nước thải đô thị

+ Nước thải sinh hoạt là: nước thải ra từ khu dân cư, khu vực hoạt động thương mại, công sở, trường học hay các cơ sở khác Chúng chứa khoảng 58% chất hữu cơ và 42% chất khoáng Đặc điểm cơ bản cuả nước thải sinh hoạt là hàm lượng cao các chất hữu cơ không bền sinh học (như cacbonhydrat, protein, mỡ), chất dinh dưỡng (photpho, nitơ), vi trùng, chất rắn và mùi

+ Nước thải công nghiệp (hay nước thải sản xuất) là: nước thải từ các nhà máy đang hoạt động sản xuất

+ Nước thải tự nhiên là: Nước mưa được xem là nước thải tự nhiên ở những thành phố hiện đại, nước mưa được thu gom bằng hệ thống riêng

+ Nước thải đô thị là: chỉ chất lỏng trong hệ thống cống thoát cuả một thành phố Đó là các hỗn hợp các chất thải kể trên.[14]

2.3 Tổng quan về tài nguyên nước trên Thế giới và Việt Nam

Nước là tài nguyên vật liệu quan trọng nhất của loài người và sinh vật trên trái đất Con người mỗi ngày cần 250 lít nước cho sinh hoạt, 1.500 lít nước cho hoạt động công nghiệp và 2.000 lít cho hoạt động nông nghiệp Nước chiếm 99% trọng lượng sinh vật sống trong môi trường nước và 44% trọng lượng cơ thể con người Ðể sản xuất 1 tấn giấy cần 250 tấn nước, 1 tấn đạm cần 600 tấn nước và 1 tấn chất bột cần 1.000 tấn nước

Ngoài chức năng tham gia vào chu trình sống trên, nước còn là chất mang năng lượng (hải triều, thuỷ năng), chất mang vật liệu và tác nhân điều hoà khí hậu, thực hiện các chu trình tuần hoàn vật chất trong tự nhiên Có thể nói sự sống của con người và mọi sinh vật trên trái đất phụ thuộc vào nước

Trang 14

2.3.1 Tài nguyên nước trên Thế giới

Tài nguyên nước ở trên thế giới theo tính toán hiện nay là 1,39 tỷ km3, tập trung trong thuỷ quyển 97,2% (1,35 tỷ km3), còn lại trong khí quyển và thạch quyển 94% lượng nước là nước mặn, 2% là nước ngọt tập trung trong băng ở hai cực, 0,6% là nước ngầm, còn lại là nước sông và hồ Lượng nước trong khí quyển khoảng 0,001%, trong sinh quyển 0,002%, trong sông suối 0,00007% tổng lượng nước trên Trái đất Lượng nước ngọt con người sử dụng xuất phát từ nước mưa (lượng mưa trên trái đất 105.000km3/năm Lượng nước con người sử dụng trong một năm khoảng 35.000 km3, trong đó 8% cho sinh hoạt, 23% cho công nghiệp và 63% cho hoạt động nông nghiệp) [9]

Nước phân bố không đều trên bề mặt trái đất Lượng mưa ở sa mạc dưới 100mm/năm, trong khi ở nhiều vùng nhiệt đới (Ấn Độ) có thể đạt 5000mm/ năm Do vậy, có nơi thiếu nước, hạn hán, trong khi nhiều vùng mưa lụt thường xuyên Nhiều nước Trung Ðông phải xây dựng nhà máy để cất nước ngọt hoặc mua nước ngọt từ quốc gia khác Các biến đổi khí hậu do con người gây ra đang làm trầm trọng thêm sự phân bố không đều tài nguyên nước trên trái đất

Con người ngày càng khai thác và sử dụng nhiều hơn tài nguyên nước Lượng nước ngầm khai thác trên thế giới năm 1990 gấp 30 lần năm 1960 dẫn đến nguy cơ suy giảm trữ lượng nước sạch, gây ra các thay đổi lớn về cân bằng nước

Nguồn nước đang bị ô nhiễm bởi các hoạt động của con người Ô nhiễm nước mặt, nước ngầm, nước biển bởi các tác nhân như NO3, P, thuốc trừ sâu và hoá chất, kim loại nặng, các chất hữu cơ, các vi sinh vật gây bệnh v.v Do vậy, vấn đề đảm bảo nguồn nước sạch cho dân cư các vùng trên thế giới đang là nhiệm vụ hàng đầu của các tổ chức môi trường thế giới

2.3.2 Tài nguyên nước tại Việt Nam

Tài nguyên nước của Việt Nam nhìn chung khá phong phú Việt Nam

là nước có lượng mưa trung bình vào loại cao, khoảng 2000 mm/năm, gấp 2,6 lượng mưa trung bình của vùng lục địa trên Thế giới Tổng lượng mưa trên toàn bộ lãnh thổ là 650 km3/năm, tạo ra dòng chảy mặt trong vùng nội địa là 324km3/năm Vùng có lượng mưa cao là Bắc Quang 4.000-5.000mm/năm, tiếp đó là vùng núi cao Hoàng Liên Sơn, Tiên Yên, Móng Cái, Hoành Sơn,

Trang 15

Ðèo Cả, Bảo Lộc, Phú Quốc 3.000-4.000 mm/năm Vùng mưa ít nhất là Ninh Thuận và Bình Thuận, vào khoảng 600-700 mm/năm

Ngoài dòng chảy phát sinh trong vùng nội địa, hàng năm lãnh thổ Việt Nam nhận thêm lưu lượng từ Nam Trung Quốc và Lào, với số lượng khoảng

550 km3 Do vậy, tài nguyên nước mặt và nước ngầm có thể khai thác và sử dụng ở Việt Nam rất phong phú, khoảng 150 km3 nước mặt một năm và 10 triệu m3 nước ngầm một ngày Tuy nhiên, do mật độ dân số vào loại cao, nên bình quân lượng nước sinh trong lãnh thổ trên đầu người là 4200m3/người, vào loại trung bình thấp trên Thế giới

Nguồn tài nguyên nước của Việt Nam không quá dồi dào mà lại còn mang tính cực đoan Điều này thể hiện qua sự phân bố rất không đều theo thời gian: mùa khô và mùa mưa - mùa khô thì hạn hán, mùa mưa thì ngập úng, và theo không gian - trong một thời điểm có vùng đang chịu lũ lụt lại có vùng đang thiếu nước trầm trọng Bên cạnh đó nguồn nước Việt Nam có xu thế suy thoái do tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu Nhiệt độ không khí có xu thế ngày một tăng lên và kịch bản có thể chấp nhận là đến năm 2070, nhiệt độ ở các vùng ven biển có khả năng tăng thêm +1,50C, vùng nội địa tăng +2,0°C Việc này kéo theo lượng hơi nước bốc lên khoảng 7,7% - 8,4%, nhu cầu tưới tăng lên, lượng dòng chảy nước mặt sẽ giảm đi tương ứng khi lượng mưa không đổi Còn hiện tượng

El Nino gắn liền với việc gây hạn hán rất nặng nề ở nước ta [9]

Tình trạng thiếu nước mùa khô và lũ lụt mùa mưa đang xảy ra ở nhiều địa phương với mức độ ngày càng nghiêm trọng Ví dụ, giảm trữ lượng nước ở các

hồ thuỷ điện lớn (Thác Bà, Trị An, Hoà Bình) hoặc lũ quét ở các tỉnh Sơn La, Tuyên Quang, Nghệ An v.v Nguyên nhân chủ yếu là nạn chặt phá rừng

Tình trạng cạn kiệt nguồn nước ngầm, ô nhiễm nước ngầm, mặn hoá các thấu kính nước ngầm đang xảy ra ở các đô thị lớn và các tỉnh đồng bằng Nước ngầm ở các khu dân cư tập trung đang bị ô nhiễm bởi nước thải không xử lý Các thấu kính nước ngầm đồng bằng Nam bộ đang bị mặn hoá do khai thác quá mức

Ô nhiễm nước mặt (sông, hồ, đất ngập nước) do các nguồn thải công nghiệp và hoá chất nông nghiệp Mức độ phú dưỡng các hồ nội địa gia tăng Một số vùng cửa sông đang bị ô nhiễm dầu, kim loại nặng, thuốc trừ sâu

Trang 16

Hiện nay tình trạng ô nhiễm và suy thoái nguồn nước (nước mặt và nước ngầm) đang xảy ra phổ biến ở nhiều nơi, đặc biệt là ở các khu đô thị và các thành phố công nghiệp Chẳng hạn như nước ngầm đang được khai thác ở một số nhà máy nước thành phố Hà Nội cũng đã bị ô nhiễm như Pháp Vân, Mai Động hoặc như ở thành phố Hồ Chí Minh nước ngầm bắt đầu bị nhiễm mặn và suy giảm khả năng khai thác

Sinh vật có mặt trong môi trường nước ở nhiều dạng khác nhau Bên cạnh các sinh vật có ích có nhiều nhóm sinh vật gây bệnh hoặc truyền bệnh cho người và sinh vật Trong số này, đáng chú ý là các loại vi khuẩn, siêu vi khuẩn và ký sinh trùng gây bệnh như các loại ký sinh trùng bệnh tả, lỵ, thương hàn, sốt rét, siêu vi khuẩn viêm gan B, siêu vi khuẩn viêm não Nhật bản, giun đỏ, trứng giun v.v

Nguồn gây ô nhiễm sinh học cho môi trường nước chủ yếu là phân rác, nước thải sinh hoạt, xác chết sinh vật, nước thải các bệnh viện v.v Ðể đánh giá chất lượng nước dưới góc độ ô nhiễm tác nhân sinh học, người ta thường dùng chỉ số coliform Ðây là chỉ số phản ánh số lượng trong nước vi khuẩn coliform, thường không gây bệnh cho người và sinh vật, nhưng biểu hiện sự ô nhiễm nước bởi các tác nhân sinh học Ðể xác định chỉ số coliform người ta nuôi cấy mẫu trong các dung dịch đặc biệt và đếm số lượng chúng sau một thời gian nhất định

Ô nhiễm nước được xác định theo các giá trị tiêu chuẩn môi trường

Ðể giải quyết các vấn đề môi trường trên cần phải có kế hoạch nghiên cứu tổng thể và quy hoạch sử dụng tài nguyên nước một cách hợp

lý Trong đó, cần quan tâm đúng mức các vấn đề xử lý nước thải, quy hoạch các công trình thuỷ điện, thuỷ nông một cách hợp lý, bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng

a, Tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn

Nước là nguồn tài nguyên quý, tuy nhiên trong những năm qua, phần lớn người dân và các tổ chức chưa nhận thức được trách nhiệm bảo vệ và sử dụng tiết kiệm nguồn tài nguyên này Theo kết quả điều tra, Bắc Kạn còn là một tỉnh nghèo Nguy cơ thiếu nước, nhất là nước sạch là vấn đề được quan tâm Vì vậy, việc nâng cao ý thức bảo vệ nguồn tài nguyên nước một cách bền vững là hết sức cần thiết

Trang 17

Do đặc điểm địa hình là miền núi cao, vì thế Bắc Kạn là nơi khởi nguồn của nhiều sông, suối mạng lưới khá dày đặc và chảy theo những hướng khác nhau Bắc Kan có 5 hệ thống sông chính, các sông chảy theo hướng nam vào châu thổ Bắc Bộ gồm: sông Cầu, sông Năng (nhánh sông Gâm), sông Phó Đáy, hệ thống sông Bắc Giang và sông Na Rì, hệ thống sông Bằng Giang

Sông Cầu bắt nguồn từ phía đông dãy núi Văn Ôn địa phận xã Phương Viên, huyện Chợ Đồn, chảy qua các tỉnh Bắc Kạn, Thái Nguyên, Hà Nội, Bắc Giang, Bắc Ninh rồi hợp lưu với sông Đuống, sông Thương, sông Lục Nam tại Phả Lại Sông Cầu có phụ lưu là sông Chu, sông Đu, sông Công, sông Nghinh Tường, sông Mỏ Linh Thác Giềng ở phía hạ lưu Bắc Kạn, thác Bưởi

ở hạ lưu làng Hít và thác Huống cách thành phố Thái Nguyên khoảng 4km Diện tích lưu vực 6 030km2, chiều dài 290km, độ cao bình quân lưu vực 190m, độ dốc bình quân 16,1%, chiều rộng lưu vực 31km, hệ số uốn khúc 2,02 Lưu lượng sông Cầu từ 1500mm/năm đến 2700mm/năm Lưu lượng hàng năm 4,2 tỷ m3 Sông Cầu chảy qua địa phận tỉnh Bắc Kạn có chiều dài 100km, ứng với lưu vực 1 660km2

Tổng lượng dòng chảy trung bình năm của lưu vực sông Cầu như sau:

- Trên sông Cầu (đến cửa sông): 4,50 km3/năm, trong đó đóng góp của sông Công là 0,8992 km3/năm (19,8%), sông Cà Lồ là 0,8800 km3/năm (19,5%)

- Mức bảo đảm nước trung bình năm của toàn lưu vực sông Cầu vào khoảng 116.103 m3/km2 và 2.250 m3/người Giá trị này thấp hơn nhiều so với mức bảo đảm nước trung bình của toàn lãnh thổ Việt Nam (2.500.103 m3/km2

và 10.800 m3/người)

Lưu lượng dòng chảy trung bình các tháng trong năm chênh lệch nhau khá lớn, có thể tới 5 - 6m Trong những năm gần đây do rừng đầu nguồn bị chặt phá nên dòng chảy sông suối có xu thế cạn kiệt

Chế độ thuỷ văn sông Cầu (tại trạm thác Giềng) có sự phân bố dòng chảy cà lưu lượng như sau:

- Lưu lượng mùa mưa: 30 m3/s72,3% toàn năm

- Lưu lượng mùa cạn: 8,3 m3/s27,7% toàn năm

Do tính chất thượng nguồn và địa hình vùi dốc nên sông Cầu có độ dốc lớn chảy qua thị xã Bên cạnh đó do các hoạt động xây dựng và sinh hoạt người dân

Trang 18

trong thị xã nên dòng chảy của sông Cầu bị thu hẹp, mức nước dâng cao đã gây lụt 2 bên sông, suối và các vùng trũng trong khu vực trung tâm thị xã

Lưu vực sông Năng là phụ lưu của lưu vực sông Gâm, bắt nguồn từ huyện Nguyên Bình tỉnh Cao Bằng Sông chảy qua huyện Pác Nặm theo hướng tây bắc

- đông nam Đoạn chảy qua thị trấn Chợ Rã và các xã Cao Trĩ, Cao Thượng, Nam Mẫu huyện Ba Bể, đến xã Bành Trạch thì đổi theo hướng đông nam - tây bắc Chiều dài toàn bộ sông chảy qua tỉnh Bắc Kạn là 70km, diện tích lưu vực tính đến Thác Đầu Đẳng là 890km2, lưu lượng bình quân 42,1 m3/giây

Sông Phó Đáy bắt nguồn từ vùng tây nam núi Tam Tao, huyện Chợ Đồn chảy theo hướng tây bắc - đông nam, qua các xã Đồng Lạc, Ngọc Phái sang tỉnh Tuyên Quang, Vĩnh Phúc nhập vào sông Lô tại ngã ba Việt Trì với chiều dài 190km, diện tích lưu vực 1610km2 Đoạn sông Phó Đáy chảy qua địa phận tỉnh Bắc Kạn có chiều dài 60km, diện tích lưu vực là 390km2

, lưu lượng bình quân là 9,7m3/s Mùa mưa sông Phó Đáy thường hay có lũ quét và

lũ ống gây nhiều thiệt hại về tài sản cho dân

Sông Bắc Giang gồm lưu vực sông Na Rì và sông Bắc Giang Sông Na

Rì bắt nguồn từ xã Liêm Thuý chảy theo hướng đông bắc - tây nam về tới Pác Cáp thì đổi dòng chảy theo hướng tây sang đông chảy qua đất Lạng Sơn rồi

đổ vào sông Bắc Giang, chiều dài chảy qua tỉnh là 35km, diện tích lưu vực 1200km2 Lưu lượng dòng chảy bình quân năm 24,2m3/s, có năm vào mùa lũ lưu lượng lên tới 2100m3/s (năm 1979) Ngoài ra còn có 2 phụ lưu sông Tà Cáy, Khao Poòng thuộc hệ thống sông Bằng Giang [16]

Ngoài ra trên địa bàn tỉnh còn nhiều sông nhỏ phân bố đều khắp tạo

ra nước mặt khá phong phú, phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt cho nhân dân trong tỉnh

Nguồn nước mặt trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn chủ yếu dùng hình thức trạm bơm, khai thác nước mặt cho sản xuất nông nghiệp chủ yếu dùng hình thức công trình khai thác là các hồ chứa và trạm bơm thủy lợi Các công trình thuỷ điện có song với số lượng ít Toàn tỉnh có khoảng 767 công trình thuỷ lợi, trong đó có khoảng 39 hồ chứa, 26 trạm bơm, 488 kênh mương phục vụ tưới tiêu cho 5980ha lúa vụ xuân và 7930ha lúa vụ mùa Đã có 32 công trình xuống cấp về chất lượng, một số công trình đã hư hỏng nặng

Trang 19

b, Thực trạng sử dụng nước trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn

Hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước trên địa bàn chủ yếu dưới 4 loại hình là: khai thác sử dụng nước mặt phục vụ sản xuất nông nghiệp, công nghiệp; khai thác sử dụng nước cấp cho sinh hoạt đô thị; khai thác sử dụng nước cấp cho sinh hoạt nông thôn tập trung; khai thác sử dụng nước nhỏ lẻ hộ gia đình cá nhân

Tuy vậy, việc đánh giá hiệu quả khai thác, sử dụng tài nguyên nước trên các công trình thủy lợi là rất khó khăn và rất ít công trình được cấp phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước

Theo đánh giá của cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên nước, nhìn chung chất lượng nước mặt của Bắc Kạn tương đối tốt, đáp ứng nhu cầu phục

vụ cho các mục đích phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Tuy nhiên, trong các con sông chính thì sông Bắc Giang là dòng sông bị ô nhiễm nhiều nhất, các chỉ tiêu bị ô nhiễm là: BOD5, COD, TSS (nồng độ các chỉ tiêu này đã vượt qua giới hạn cho phép của QCVN 08:2008/BTNMT) Nguyên nhân chính làm

ô nhiễm nước sông Bắc Giang là do hiện tượng khai thác cát, sỏi và vàng sa khoáng tại dòng sông và các phụ lưu của sông đó gây ra Tài nguyên nước trong lòng đất chủ yếu được khai thác phục vụ cho mục đích sinh hoạt Tính đến nay, Bắc Kạn có khoảng 37.730 công trình cấp nước sinh hoạt Trong đó bao gồm cả giếng đào, giếng khoan, bể chứa nước tập trung, đường ống dẫn nước tự chảy, 301.000 người được cấp nước sinh hoạt, chiếm trên 91% dân

số Tổng lượng nước đang được khai thác, sử dụng cho sinh hoạt khoảng 11.399 m3/ ngày đêm

Qua tiến hành thanh kiểm tra 20 đơn vị hoạt động trong lĩnh vực tài nguyên nước cho thấy vẫn còn một số tổ chức, cá nhân thiếu ý thức, không chấp hành các quy định của pháp luật về tài nguyên nước Có 13 đơn vị hoạt động xả nước thải vào nguồn nước và hơn 7đơn vị xả nước thải ra môi trường

Trên thực tế, việc quy hoạch khai thác và sử dụng nước phần lớn là do từng đơn vị thực hiện, chưa quan tâm tới việc đảm bảo nhu cầu nước cho môi trường Một số cơ sở sản xuất kinh doanh vẫn cố tình vi phạm việc xả nước thải chưa qua xử lý ra môi trường, người dân tự tiện đổ rác xuống sông, suối…

Trang 20

Mặt khác, nếu xét riêng từng vùng và theo từng tháng trong năm thì một số tháng trong mùa khô xảy ra tình trạng thiếu nước mức bảo đảm chỉ đạt 60-70% Tình trạng chặt phá rừng bừa bãi, lấn chiếm bờ hồ, bờ sông không có quy hoạch làm giảm khả năng tự làm sạch của dòng chảy mặt Việc khai thác khoáng sản và các hoạt động khác ở ven sông không hợp lý, thiếu quy hoạch cũng làm ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nước Như vậy, tài nguyên nước đang gánh chịu nguy cơ suy giảm cả về chất và lượng Do vậy, không có gì bất ngờ khi chất lượng nước mặt tại khu vực nội thị thành phố hiện đang bị ô nhiễm hữu cơ, dinh dưỡng nặng Nếu diễn biến chất lượng nguồn nước mặt như vậy thì hiện trạng khai thác, sử dụng tài nguyên nước dưới đất còn đáng lo ngại hơn Tình trạng hành nghề khoan, khai thác nước dưới đất tùy tiện đã làm

hạ thấp mực nước ngầm quá mức dẫn đến ô nhiễm, suy thoái và cạn kiệt nguồn nước, có nguy cơ gây sụt lún mặt đất, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế, xã hội, đời sống sinh hoạt của nhân dân Việc phát sinh số lượng giếng hư hỏng không

sử dụng gia tăng, không được trám lấp, trám lấp không đúng quy trình kỹ thuật, dẫn đến giảm số lượng, chất lượng nước dưới đất

Nguồn nước thải ra môi trường gây ô nhiễm chủ yếu là nước sinh hoạt ở

đô thị, nông thôn

Với dân số khoảng 39,983 người với mật độ dân số khoảng 274,71 người/km2 Theo định mức phát thải khoảng 100 lít/người/ngày đêm thì khi đó nguồn nước thải vàomôi trường trung bình gần 4.00 m3 Thị xã Bắc Kạn có ba suối Nông Thượng, suối Đức Xuân và suối Minh Khai tiếp nhận toàn bộ nước thải đô thị sau đó chảy vào sông Cầu

Hiện nay, vấn đề giả quyết cho nước sạch cho đô thị và nông thôn ở Bắc Kạn đang được các ngành ,các cấp đẩy mạnh, quan tâm Người dân trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn, ngoài số dân tập trung ở khu vực một số thị trấn, thị tứ được sử dụng nước sạch từ các tổ chức, cá nhân kinh doanh nước sinh hoạt, còn lại phần lớn người dân ở các xóm, xã, thôn, bản thuộc các xã vùng cao trong tỉnh khai thác nước phục vụ cho sinh hoạt chủ yếu lợi dụng thế năng nước từ các khe núi và nước mạch lộ, nước tại các mó nước tự nhiên để xây dựng công trình khai thác hoặc điểm khai thác nước tự chảy Theo thống kê của Trung tâm nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn, giai đoạn 2006 - 2013,

Trang 21

Chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường, các nguồn vốn khác đã đầu tư hơn 210 tỷ đồng để xây dựng 430 công trình cấp nước sạch tập trung trên địa bàn tỉnh Bình quân, kinh phí để đưa được nước sạch tới một hộ dân là khoảng 15 triệu đồng Cho đến nay trên địa bàn tỉnh đã

có khoảng 80% dân số nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh, tỉnh phấn đấu đến năm 2015 có 95% số dân ở nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh, trong đó 40% được sử dụng nước sạch đạt chuẩn của Bộ Y tế, 75% số hộ nông dân có nhà tiêu hợp vệ sinh, 65% số hộ nông thôn có chuồng trại hợp vệ sinh, 60% số xã thu gom rác thải sinh hoạt [16]

Nguồn nước thải từ các hoạt động sinh hoạt của con người, gia súc gia cầm là một nguồn ô nhiễm lớn đổ ra môi trường Những hoạt động sinh hoạt như tắm rửa, giặt giũ, tẩy rửa đã thải vào môi trường một lượng lớn hóa chất độc hại có thời gian tồn dư cao trong môi trường, ngoài ra các hoạt động vệ sinh khác của con người và gia súc cũng thải vào môi trường làm ô nhiễm chất hữu cơ, gây mùi khó chịu và có thể tạo nên dịch bệnh

2.3.3 Nước thải bệnh viện thành phần và tính chất

Nước thải bệnh viện gồm có:

- Các chất thải giống như nước thải sinh hoạt

- Các vi sinh vật, vi khuẩn, virut được thải ra từ bệnh nhân có thể dẫn đến lây lan

- Các chất kháng sinh và các dược chất, kể cả các chất phóng xạ (dùng trong chẩn đoán và điều trị)

Nước sau khi sử dụng vào mục đích sinh hoạt hay sản xuất, nước mưa chảy trên các mái nhà, mặt đường, sân vườn… chứa nhiều các hợp chất vô cơ hay hữu

cơ dễ bị phân hủy hay thối rữa và chứa nhiều vi trùng gây bệnh, truyền bệnh rất nguy hiểm cho người và động vật Nếu loại nước thải này thải ra môi trường một cách bừa bãi thì đây là nguyên nhân lớn gây ô nhiễm môi trường, nảy sinh và lan truyền các thứ bệnh hiểm nghèo, ảnh hưởng tới điều kiện vệ sinh, sức khỏe của nhân dân Nước thải từ bệnh viện thường mang chất nguy hại do trong nước thải thường lẫn các hóa chất độc hại như chì, thủy ngân, Cadmi, Arsen, Xianua… và dung dịch máu từ quá trình tẩy rửa vết thương của bệnh nhân

Trang 22

Nước thải bệnh viện là nguồn ô nhiễm động, phát triển dây chuyền, gồm rất nhiều thành phần sống,các chất, hợp chất vô cơ, hữu cơ, các thành phần các chất đó liên tục tương tác với nhau nảy sinh thêm các thành phần mới, chất mới với những nguy cơ mới

Nước thải bệnh viện chứa vô số loại vi trùng, virút và các mầm bệnh sinh học khác nhau trong máu mủ, dịch, đờm, phân của người bệnh, các loại hoá chất độc hại từ cơ thể và phế phẩm điều trị, các chất dùng trong quá trình khử trùng, các đồng vị phóng xạ Do đó, nó được xếp vào danh mục chất thải nguy hại Những nghiên cứu mới đây cho thấy sự có mặt của một vài chất trong số đó dẫn đến giảm hiệu quả xử lý nước thải

Theo kết quả phân tích của cơ quan chức năng, loại nước thải này ô nhiễm nặng nề về mặt hữu cơ và vi sinh Hàm lượng vi sinh cao gấp 100-1000 lần tiêu chuẩn cho phép, với nhiều vi khuẩn như Salmonella, tụ cầu, liên cầu, virut đường tiêu hoá, bại liệt, các loại kí sinh trùng, amip, nấm Hàm lượng chất rắn lơ lửng cao gấp 2-3 lần tiêu chuẩn cho phép Sau khi hoà tan vào hệ thông thoát nước thải sinh hoạt, những mầm bệnh này chu du khắp nơi, xâm nhập vào các loại thuỷ sản, vật nuôi, cây trồng, nhất là rau thuỷ canh và trở lại với con người

2.3.4 Chỉ tiêu đánh giá ô nhiễm nước thải bệnh viện

Các thành phần chính gây ô nhiễm môi trường do nước thải bệnh viện gây ra là các chất hữu cơ, các chất dinh dưỡng của nitơ(N), phốppho (P), các chất rắn lơ lửng và các vi trùng, vi khuẩn gây bệnh Các chất hữu cơ có trong nước thải làm giảm hàm lượng oxi hoà tan trong nước, ảnh hưởng tới đời sống của động, thực vật thuỷ sinh Song các chất hữu cơ trong nước thải dễ bị phân huỷ sinh học, hàm lượng chất hữu cơ phân huỷ được xác định gián tiếp thông nhu cầu ôxi sinh học (BOD) của nước thải Thông thường, để đánh giá

độ nhiễm bẩn chất hữu có trong nước thải, người ta thường lấy trị số BOD

Các chất dinh dưỡng của N, P gây ra hiên tượng phú dưỡng nguồn tiếp nhân dòng thải, ảnh hưởng tới sinh vật sống trong môi trường thuỷ sinh; các chất rắn lơ lửng gây ra độ đục của nước, tạo sự lắng đọng cặn làm tắc nghẽn cống và đường ống, máng dẫn Nước thải bệnh viện rất nguy hiểm vì chúng là nguồn chứa các vi trùng, vi khuẩn gây bệnh, nhất là các bệnh truyền nhiễm như thương hàn, tả, lỵ làm ảnh hưởng tới sức khoẻ cộng động Song các chất

Trang 23

hữu cơ trong nước thải dễ bị phân hủy sinh học, hàm lượng chất hữu cơ phân hủy được xác định gián tiếp thông qua nhu cầu oxi sinh hóa (BOD) của nước thải Thông thường, để đánh giá độ nhiễm bẩn chất hữu cơ có trong nước thải, người ta thường lấy trị số BOD Các chất dinh dưỡng của N, P gây ra hiện tượng phú dưỡng nguồn tiếp nhận dòng thải,ảnh hưởng tới sinh vật sống trong môi trường thủy sinh Các chất rắn lơ lửng gây ra độ đục của nước, tạo sự lắng đọng cặn làm tắc nghẽn cống và đường ống, máng dẫn Như vậy chỉ tiêu đặc trưng để đánh giá nước thải bệnh viện là: E.coli, COD, BOD, Chất rắn lơ lửng, N, P [12]

2.3.5 Độc tính của một số chất trong nước thải bệnh viện tới môi trường và con người

Các thành phần chính gây ô nhiễm môi trườngdo nước thải bệnh viện gây ra là các chất hữu cơ, các chất dinh dưỡng của ni-tơ (N), phốt-pho (P), các chất rắn lơ lửng và các vi trùng, vi khuẩn gây bệnh Các chất hữu cơ có trong nước thải làm giảm lượng ô-xy hòa tan trong nước, ảnh hưởng tới đời sống của động, thực vật thủy sinh Song các chất hữu cơ trong nước thải dễ bị phân hủy sinh học, hàm lượng chất hữu cơ phân hủy được xác định gián tiếp thông qua nhu cầu oxy sinh hóa (BOD) của nước thải

* Tác động của coliform tới môi trường và con người

Các bệnh truyền nhiễm gây ra vi khuẩn, virut, động vật nguyên sinh hoặc kí sinh là nguy cơ rộng khắp gây hại đối với sức khoả cộng đồng Nguy

cơ này có liên quan đên nguồn nước là nước thải và nước sinh hoạt

Coliform là các vi khuẩn hình que gram âm có khả năng lên men latose để sinh ra ở nhiệt độ 350C Colifrom có khả năng sống ngoài đường ruột của động vật, đặc biệt trong môi trường khí hậu nóng Nhóm vi khuẩn coliform chủ yếu bao gồm các giống như Citrobacte Entrobacte, Escherichia, Klebesiella và cả Fecal coliform (trong đó có E.coli là loài thường dùng để chỉ định việc ô nhiễm nguồn nước bởi phân) Chỉ tiêu tổng số Colifrom không thích hợp dùng để làm chỉ tiêu chỉ thị cho việc nhiễm bẩn nguồn nước bởi phân Tuy nhiên việc xác định số lượng Fecal coliform có thể sai lệch do có một số vi sinh vật (không có nguồn gốc từ phân) có thể phát triển ở nhiệt độ 44oC Do đó số lượng E.coli được coi là chỉ tiêu thích hợp nhất cho việc quản lý nguồn nước

Trang 24

*Tác động của COD tới môi trường và con người

Trong hóa học môi trường, chỉ tiêu và thử nghiệm nhu cầu oxi hóa học (COD viết tắt tiếng Anh: Chemical oxygen demand) được sử dụng rộng rãi để

đo gián tiếp khối lượng các hợp chất hữu cơ có trong nước

Nền tảng cho thử nghiệm COD là gần như mọi trường hợp hữu cơ đều

có thể bị oxy hóa đầy đủ để tạo thành Đioxitcacbon bằng các chất oxy hóa mạnh trong điều kiện môi trường axit Khối lượng oxi hóa cần thiết để oxi hóa một hợp chất hữu cơ thành đioxitcacbon , ammoniac và nước

Quá trình chuyển hóa ammoniac thành nitrate được gọi là quá trình nitrat hóa Dưới đây là phương trình chính tắc để oxi hóa ammoniac thành nitrat

Phương trình thứ hai này nên được áp dụng sau phương trình tạo thành đioxitcacbon , ammoniac và nước để gộp hai quá trình oxi hóa trong sự nitrat hóa nếu như nhu cầu oxi từ việc nitrat hóa phải được biết đến Dicromac không oxi hóa ammoniac thành nitrat, vì thế quá trình nitrat hóa này có thể bỏ qua một cách an toàn trong thử nghiệm nhu cầu oxi hóa học tiêu chuẩn

Phần lớn các ứng dụng của COD xác định khối lượng các chất ô nhiễm hữu cơ tìn thấy trong nước thải bề mặt, làm cho COD là một phép đo hữu ích

về chất lượng nước Nó cần tiêu hiệu trên một lít dung dịch.Các nguồn tài liệu

cũ còn biểu hiện nó dưới dạng các đơn vị đo khác nhau như phần triệu (ppm) Khi nhu cầu oxi hóa (vượt chỉ tiêu cho phép) thì khả năng tự làm sạch của nước không đáp ứng được Trong một thời gian dài sẽ gây ô nhiễm chất hữu

cơ trong nước, làm suy giảm chất lượng nước Khi sử dụng nước này cho hoạt đông tưới tiêu trong nông nghiệp có thể gây độc với các loại cây trồng

* Tác động của BOD tới môi trường và con người

Nhu cầu oxi hóa sinh học hay nhu cầu oxi sinh học (ký hiệu: BOD,từ viết tắt Tiếng anh của Biochemical hay Biological oxy gen Demand), là một chỉ số và đồng thời là một thủ tục được cử dụng để xác định xem các sinh vật

sử dụng hết oxi trong nước nhanh hay chậm như thế nào Nó được sử dụng trong quản lý và khảo sát chất lượng cũng như trong sinh thái học hay khoa học môi trường BOD không là một thử nghiệm chính xác về mặt định lượng mặc dù nó có thể coi như là một chỉ thị về chất lượng nguồn nước Nhu cầu oxi sinh học là khối lượng oxi cần thiết để oxi hóa các chất hữu co theo con

Trang 25

đường sinh học BOD xác định khối lượng của các chất ô nhiễm hữu cơ tìm thấy trong nước Lượng BOD và COD thường theo một tỉ lệ nhất định và mỗi nguồn nước khác nhau Nếu hàm lượng BOD và COD quá cao sẽ làm suy giảm chất lượng nước gây ảnh hưởng tớ sức khỏe con người và sinh vât [11]

* Tác động của chất phóng xạ tới môi trường

Các chất phóng xạ luôn có mặt trong tự nhiên: Đất đá, nước, tia vũ trụ,

cơ thể sinh vật Con người có thể thích nghi với nền phóng xạ tự nhiên, trừ những chỗ có nồng độ quá cao, phóng xạ có hai dạng: Bức xạ hạt (các hạt a,

b, proton, notron, notrion) và các bức xạ điện tử, chất phóng xạ thường tập trung trong các mỏ phóng xạ và đất đá tự nhiên chứa chất phóng xạ, trong chất thải hạt nhân, vũ khí phóng xạ, thanh nhiên liệu trong lò phản ứng hạt nhân của các viện nghiên cứu, máy trị xạ trong bênh viện… Nếu hoạt động xả thải của con người vô ý thức sẽ gây ra hậu quả khó lường đó là làm chậm quá trình phân chia tế bào khiến thai nhi không phát triển đây đủ, làm đứt các sợi dây nhiễm sắc thể, các đoạn đứt không được nối lại hoặc nối nhầm gây lệch lạc di truyền quái thai dị dạng, da bị chiếu xạ có thể bị viêm tấy, hoại tử Khi chiếu xạ liều cao có thể gây chết, nếu bị chiếu xạ liều nhỏ nhưng kéo dài, có thể gây bệnh phóng xạ mãn tính như huỷ hoại hệ thông tạo huyết giảm hồng cầu, chảy máu nội tạng, giảm sức khoẻ đề kháng hay bị nhiễm trùng, phoáng

xạ đặc biệt gây tác hại đến cơ quan sinh sản làm rối loạn sinh sản, đột biến di truyền, gây ra các bệnh ung thư máu, ung thư tuyên giáp, vú, dạ dày, gan, tuyến nước bọt, trẻ em và phụ nữ có thai rất nhạy cảm với chất phóng xạ

* Tác động của Clo tới môi trường và sức khỏe con người

Clo có mùi hăng nồng dễ nhận biết, clo là thành phần không thể thiếu của các chất khử trùng, tẩy trắng vải, dụng cụ y tế, bể chứa nước bệnh viện…Khi trong nước có các chất hữu cơ, Cloramin có thể kết hợp tạo thành các hợp chất độc, khí Clo gây ngạt thở, đau rát xương ức, ho, ngứa mắt và miệng, chảy nước mắt, tiết nhiều nước bọt, nếu bị nhiễm năng có thể đau đầu, đau thượng vị, viêm da, thậm chí phù nề phổi [10]

Trang 26

* Tác động của Nitơ tới môi trường và sức khoẻ con người

Trong các phương pháp xử lý nitơ, thì xử lý nitơ bằng phương pháp sinh học cho hiệu suất khử nitơ cao từ 70-95% lượng nitơ trong nước thải Quá trình xử lý ổn định, đáng tin cậy Các công trình sử dụng cũng dễ vận hành và quản lý, diện tích đất yêu cầu nhỏ, chi phí đầu tư hợp lý

Bên cạnh quá trình khử nitơ bằng phương pháp thông thường là nitrat hóa và phản nitrat thì quá trình Anammox (Anaerobic Ammonia Oxidation) cho hiệu suất xử lý cao hơn với nhiều ưu điểm nổi trội nhất là giảm được lượng bùn xử lý và lượng oxi cung cấp cho quá trình xử lý

Với những tác hại do nitơ trong nước thải đem đến cho sức khỏe con người và cho môi trường, việc tìm ra các biện pháp xử lý cho hiệu quả cao, ít tốn kém đồng thời đảm bảo sự phát triển bền vững, dùng chính những yếu tố sinh thái trong tự nhiên để xử lý là vô cùng cần thiết Chúng ta cần nghiên cứu để phát triển và hoàn thiện hơn nữa các quá trình xử lý này

2.4 Cơ sở thực tiễn

Hiện nay tất cả các dự án hoặc các cơ sở bệnh viện lớn đã và đang đi vào hoạt động đã có báo cáo về hệ thống xử lý nước thải y tế riêng, hoặc có cam kết bảo vệ môi trường

2.4.1 Nguy cơ dịch bệnh do ô nhiễm nguồn nước bởi nước thải bệnh viện trên Thế giới

Ở những điều kiện dịch tễ thuận lợi có thể qua con đường nước mà lan truyền các bệnh truyền nhiễm đường ruột như: Thương hàn, tả, phó thương hàn, Tulare, Brucella…Các số liệu công bố đã khẳng định khả năng bằng con đường nước bệnh Brucella đã thấy ở hơn 70 quốc gia trong đó: có mô tả kĩ ở Pháp, Thuỵ Điển, Mỹ Cũng những thông báo về nười bị bệnh lao bằng con đường nước

Dịch bệnh thương hàn quan sát được năm 1926 ở thành phố Ropxtop trên sông Đông Trên một đoạn cống thoát nước người ta sử dụng để đổ nước thải của một khu vực có các bệnh viện dần dần xảy ra tắc và đường cống nước thải bệnh viện bị vỡ, nước tràn vào đất Cách chỗ vỡ 10-20m là công trình ngầm của

hệ thống cấp nước Nước thải bệnh viện đi vào hệ thống cấp nước đã xảy ra bùng nổ dịch bệnh và sau đó người ta tìm ra nguyên nhân rồi khắc phục

Trang 27

Ở một thị trấn của Ukraina quan sát được sự bùng phát bệnh thương hàn bằng 60,6 các ca mắc bệnh cả năm (tính trung bình) của thị trấn

Vấn đề về sự nguy hiểm thực tế hay tiềm năng lan truyền bệnh lao do xả vào nguồn nước thải chưa được làm sạch hoàn thiện vẫn còn gây tranh cãi Phần lớn các tác giả cho rằng do tính bền vững đáng kể của người và động vật đối với bệnh lao và do nước thải đã được pha loãng trong sông, hồ có chứa nước mà sự có mặt của vi khuẩn bệnh lao trong nguồn nước không gây nguy hiểm Tuy nhiên những số liệu khác quan cho thấy con người bị mắc bệnh lao qua đường nước là có thực Nhà ngiên cứu V.Gostead đã mô tả trường hợp bị bênh lao của 3 đứa trẻ sau khi ngã xuống sông bị nhiễm bẩn bởi nước thải Trong nhiều tài liệu khác cũng có mô tả những trường khác tương tự

Như vậy, những ví dụ trên đã khẳng định các trường hợp mắc bệnh ở người và động vật do nước thải bệnh viện, đặc biệt là các bệnh viện truyền nhiễm chưa được xử lý và khử trùng triệt để

2.4.2 Hiện trạng xử lý và xả nước thải ở một số bệnh viện tuyến TW tại Việt Nam

Quản lý nước thải và dịch thải lỏng phát sinh tại các Bệnh viện được ưu tiên hàng đầu trong kiếm soát dịch bệnh và an toàn vệ sinh nghề nghiệp Tuy vậy, thực hành quản lý dịch thải và nước thải bệnh viện tại Việt Nam chưa có các hướng dẫn chi tiết, tập huấn, thực hành để phân tách và xử lý các dòng thải lỏng nguy hại ngay tại nguồn phát sinh Bên cạnh đó, thực trạng đầu tư và hoạt động của các hệ xử lý nước thải cần được cải thiện về công nghệ, nguồn kinh phí duy tu vận hành và đào tạo cán bộ vận hành Theo số liệu thống kê của Bộ Y tế, hiện cả nước có 13.511 cơ sở y tế các loại bao gồm: 1.361 cơ sở khám, chữa bệnh thuộc các tuyến Trung ương, tỉnh, huyện, bệnh viện ngành

và bệnh viện tư nhân; 789 cơ sở thuộc hệ dự phòng tuyến Trung ương, tỉnh và huyện; 77 cơ sở đào tạo y dược tuyến Trung ương, tỉnh; 180 cơ sở sản xuất thuốc và 11.104 trạm y tế xã Tổng lượng nước thải y tế phát sinh tại các cơ

sở khám, chữa bệnh cần xử lý khoảng 125.000 m3/ngày chưa kể lượng nước thải của các cơ sở y tế thuộc hệ dự phòng, các cơ sở đào tạo y dược, sản xuất thuốc và cơ sở y tế Bộ, ngành Theo số liệu thống kê cho thấy, có 773 bệnh viện cần được xây dựng và trang bị mới hoặc sửa chữa nâng cấp hệ thống xử

Trang 28

lý nước thải, trong đó khoảng gần 563 bệnh viện chưa có hệ thống xử lý nước thải (chủ yếu là ở tuyến huyện và tỉnh) Hiện có khoảng 54,4% các bệnh viện

có hệ thống xử lý nước thải (73,5% các bệnh viện tuyến Trung ương, 60,3% các Bệnh viện tuyến tỉnh và 45,3% các bệnh viện tuyến huyện) Tuy vậy, hệ thống xử lý chất thải ở nhiều Bệnh viện đã xuống cấp, cần được sửa chữa, nâng cấp cho phù hợp với quy mô phát triển, nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho nhân dân và đảm bảo quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường

Theo thống kê báo cáo, tính đến hết tháng 6/2012, đã có 45/84 cơ sở (chiếm 53,6%) đã được Sở TN&MT các tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương chứng nhận hoàn thành xử lý ô nhiễm môi trường triệt để, 27/84 cơ sở (chiếm 32,1%) đã hoàn thành các biện pháp xử lý ô nhiễm môi trường triệt để nhưng chưa được Sở TN&MT các tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương chứng nhận hoàn thành, 12/84 cơ sở còn lại (chiếm 14,3%) đang tiến hành các biện pháp xử lý ô nhiễm môi trường triệt để

Đối với 6 Bệnh viện do Bộ Y tế trực tiếp quản lý đã có 5/6 bệnh viện (chiếm 83,3%) được chứng nhận hoàn thành xử lý ô nhiễm môi trường triệt

để, bao gồm: Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, Bệnh viện 74 Trung ương, Bệnh viện Phụ sản Trung ương, Bệnh viện K và Bệnh viện C Đà Nẵng Riêng Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên hiện đang tiến hành các biện pháp xử

lý ô nhiễm môi trường triệt để

Tiến hành tham gia khảo sát quản lý nước thải bệnh viện và công nghệ

xử lý nước thải Bệnh viện được thực hiện với sự giúp đỡ của các Sở Y tế địa phương và hợp tác của các BV trong việc điền phiếu điều tra và đánh giá thực hành Thời gian khảo sát từ tháng 5 đến tháng 10/2010 Có 172/205 BV của 5 TP: Hà Nội (61 BV), Hải Phòng (17 BV), Huế (23BV), Đà Nẵng (20 BV),

TP Hồ Chí Minh (51 BV) tham gia điều tra Kết quả điều tra như sau:

Nước thải bệnh viện chứa vi khuẩn lây bệnh, nhưng không phải Bệnh viện nào cũng xử lý theo QCVN 28:2010/ BTNMT ngày 16/12/2010 Bộ TN&MT hay tiêu chuẩn trước đó

- Hải Phòng có: 3/17 số bệnh viện có hệ thống xử lý nước thải và 3/17

số bệnh viện có hệ xử lý không hoạt động, 11/17 Bệnh viện không có xử lý nước thải

Trang 29

- Hà Nội có: 36/61 bệnh viện không có hệ thống xử lý nước thải, 22 bệnh viên có hệ thống xử lý nước thải, 3 hệ thống xử lý không hoạt động

- TP Hồ Chí Minh có: 5 bệnh viện không có hệ thống xử lý nước thải;

40 hệ thống xử lý nước thải ; 6 hệ thống không hoạt động/ không đạt yêu cầu

- Đà Nẵng: 4 Bệnh viện không có hệ thống xử lý nước thải , 16 hệ thống xử lý nước thải đang hoạt động

- Huế có: 14 Bệnh viện không có hệ thống xử lý nước thải

Tất cả 52,3% (90/172) bệnh viện có hệ thống xử lý nước thải, còn lại 40,7% không có hệ thống xử lý nước thải, 7,0% bệnh viện có hệ thống xử lý nước thải không hoạt động Nhiều hệ thống xử lý nước thải đang hoạt động quá tải Nước sử dụng và lưu lượng nước thải được thể hiện ở bảng sau:

Bảng 2.1 Hiện trạng sử dụng nước và xử lý nước thải bệnh viện trên địa

Nước thải Bệnh viện có các chỉ số đặc trưng BOD: 180-280mg/l, COD: 250-500mg/l, SS: 150 - 300mg/l, H2S: 6-8mg/l, T-N: 50-90mg/l, T-P: 3-12(mg/l), Coliform: 106-109 MNP/100ml Công nghệ bùn hoạt tính, bể lọc sinh học, tiếp xúc sinh học, màng sinh học (MBR), bể phản ứng theo mẻ (SBR) là công nghệ phổ biến cho hệ thống xử lý nước thaỉ bệnh viện tại Việt Nam và phân thành các nhóm:

Nhóm 1: sục khí bùn hoạt tính và xử lý sinh học nhỏ giọt sau đó lọc Chiếm

ưu thế hơn (56,9%) do chi phí đầu tư thấp, ở TP HCM tỷ lệ này là 60,9%

Nhóm 2: CN2000 xử lý hữu cơ tải trọng cao (là loại màng sinh học cải tiến)

Xử lý sinh học cao tải (CN2000 mới đầu tư, có nhiều ở Đà Nẵng) và Hà Nội 10,8% (11/102) Tuy nhiên, nước thải bệnh viện Việt Đức (Hà Nội), bệnh viện E (Hà Nội)

Trang 30

không đáp ứng yêu cầu amoni theo QCVN 28-2010, mức 2 Nhóm 3: Sục khí tiếp xúc màng sinh học (MBR), lọc sinh học Bio-for, V69, FBR

Chiếm 9,8%, Hải Phòng có 5 bệnh viện (5,75%) trang bị loại công nghệ này với tên V69 Bên cạnh đó còn một số tên gọi thiết bị khác là BIOX1, BIO sinh học, FBR

Nhóm 4: xử lý sơ bộ + yếm khí/bể tự hoại Có 15,7% bệnh viện sử dụng công nghệ này vì nó đơn giản, đầu tư thấp

Nhóm 5: công nghệ AAO, SBR và khử trùng 03, uv 6,9% bệnh viện được đầu tư hệ xử lý công nghệ AAO, công nghệ SBR và một số khác với suất đầu tư cao hơn, (bảng 2.2)

Phương pháp khử trùng hiện các bệnh viện sử dụng là dùng Hypochlorite calcium (CaOCh), chloruamin B, ozone, tia cực tím Chưa có bệnh viện nào khử trùng công nghệ lọc màng ngăn các vi khuẩn, vi rút và không sử dụng hóa chất

Bảng 2.2 Một số các công nghệ xử lý nước thải hiện đang áp dụng trong

bệnh viện tại Việt Nam

Trang 31

Xử lý sục khí - Lắng - Lọc bằng cacbon hoạt tính

SBR công nghệ phản ứng theo mẻ

Các quy định nghiêm ngặt về xả chất lỏng, thậm chí vài ml máu trong phòng thí nghiệm, chất lỏng hoặc máu số lượng lớn phải được khử trùng theo quy định Thực trạng là thải chất thải lỏng nhiễm Bệnh hay chất thải lỏng nguy hại ở Việt Nam chưa có các hướng dẫn chuyên biệt theo tính chất nguy hại của từng loại dòng thải Hệ thống bể tự hoại và hệ thống xử lý nước thải nếu được thiết kế hợp lý và các chức năng đảm bảo thì đủ để bất hoạt và khử hoạt tính các tác nhân gây bệnh truyền nhiễm và tiền xử lý tại chỗ các chất lỏng ô nhiễm và vi khuẩn lây nhiễm trong nước thải Bệnh viện trước khi xử lý khâu cuối nhằm đảm bảo hệ thống xử lý nước thải đáp ứng yêu cầu xả thải theo quy định

2.4.3 Hiện trạng xử lý và xả nước thải tại một số bệnh viện trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn

Trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn có 48 cơ sở y tế: 4 bệnh viện, 44 trạm y tế Nhìn chung các cơ sở y tế xây dựng đã lâu năm, hệ thống thu gom và thoát nước ngày càng xuống cấp Thời điểm hiện tại đã có một số Bệnh viên được mở rộng và nâng cấp thêm Trên thực tế trong các cơ sở toàn tỉnh chỉ có một số bệnh viện tuyến tỉnh

có đầu tư hệ thống xử lý nước thải Còn lại các Bệnh viện tuyến dưới đều chưa đầu

tư hệ thống xử lý nước thải phù hợp mà chỉ được thu gom và xử lý sơ bộ bằng bể tự hoại sau đó thải trực tiếp ra môi trường

Trang 32

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng, thời gian nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: nước thải của bệnh viện Đa Khoa tỉnh Bắc Kạn

- Phạm vi nghiên cứu: Những vấn đề có liên quan đến nước thải trong quá trình hoạt động của bệnh viện Đa Khoa tỉnh Bắc Kạn

3.1.1 Công tác xử lý vệ sinh môi trường của Bệnh viện Đa Khoa tỉnh Bắc Kạn

- Các thủ tục hành chính trong xử lý, bảo vệ môi trường

- Đối với rác thải

+ Rác thải sinh hoạt

+ Rác thải y tế

- Đối với nước thải

3.1.2 Địa điểm và thời gian tiến hành

- Địa điểm:

+ Bệnh viện Đa Khoa tỉnh Bắc Kạn

Địa chỉ: Tổ 10 - Phường Minh Khai - TX Bắc Kạn - Tỉnh Bắc Kạn

- Thời gian: Từ tháng 1 năm 2014 đến tháng 4 năm 2014

3.2 Nội dung nghiên cứu

3.2.1 Tổng quan về bệnh viện Đa Khoa tỉnh Bắc Kạn

+ Lịch sử hình thành và phát triển

+ Quy mô của bệnh viện,hoạt động

3.2.2 Tình hình sử dụng nước của Bệnh viện Đa Khoa tỉnh Bắc Kạn

- Nhu cầu

- Nguồn nước sử dụng

3.2.3 Đánh giá thực trạng nước thải Bệnh viện Đa Khoa tỉnh Bắc Kạn

+ Lượng nước thải phát sinh của bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Kạn

+ Hệ thống và quy trình xử lý của bệnh viện Đa Khoa tỉnh Bắc Kạn

- Đánh giá chất lượng nước thải của bệnh viện Đa Khoa tỉnh Bắc Kạn

+ Chất lượng nước thải trước khi xử lý

+ Chất lượng nước thải sau quá trình xử lý

3.2.4 Đề xuất giải pháp quản lý và giảm thiểu ô nhiễm nước thải bệnh viện

Trang 33

- Biện pháp lý hoá học

- Biện pháp sinh học

- Biện pháp quản lý môi trường

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Nghiên cứu các văn bản pháp luật

3.3.3 Phương pháp điều tra thực địa

Là phương pháp không thể thiếu, là phương pháp thu thập các số liệu hiện có, liên quan tới việc làm khoá luận nhằn tiết kiệm thời gian và tăng thêm tính khoa học cho khoá luận

3.3.4 Phương pháp lấy mẫu nước thải

- Cách lấy mẫu nước

Bảng 3.1 Vị trí, số lượng và phương pháp lấy mẫu

Nước thải bệnh viện

trước khi xử lý 1

Cống thoát nước thải bệnh viện

Nước thải bệnh viện sau

Nước thải tập trung sau xử lý thải ra môi trường

(Nguồn: Chi cục Bảo vệ môi trường tỉnh Bắc Kan)

- Lựa chọn chỉ tiêu phân tích: lựa chọn các chỉ tiêu đặc trưng cho nước thải bệnh viện theo QCVN 28:2010/BTNMT về chất lượng nước thải Bệnh viện

3.3.5 Phương pháp đánh giá tổng hợp

Qua các số liệu thu thập được, các kết quả phân tích chúng tôi tiến hành đánh giá tổng hợp, so sánh đánh giá nhằm xác định được độ tin cậy của thông tin thu được So sánh với tiêu chuẩn của Việt Nam để đánh giá được chất lượng nước thải tại địa điểm lấy mẫu nước thải Từ đó có thể đưa ra các đánh

Trang 34

giá, kết luận sơ bộ về nguồn thải, mức độ ô nhiễm của nguồn thải, sự ảnh hưởng tới các nguồn tiếp nhận

3.3.6 Nghiên cứu các văn bản luật, các văn bản dưới luật và các quy định

có liên quan đến tài nguyên nước

Quá trình nghiên cứu các luật, văn bản dưới luật và các quy định có liên quan là cơ sở pháp lý tạo tiền đề cho quá trình làm khóa luận, giúp cho quá trình thực hiện khóa luận đúng theo các quy định

3.3.7 Phương pháp thực nghiệm và phân tích tại phòng thí nghiệm

Các mẫu nước được lấy và bảo quản, phân tích theo đúng tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN 5999: 1995) và theo phương pháp trong phòng thí nghiệm

Phương pháp lấy mẫu, vận chuyển, bảo quản và phân tích mẫu nước có thể được trình bày như sau:

* Cách lấy mẫu nước:

Tiến hành theo tiêu chuẩn 5999:1995

+ Dụng cụ hóa chất

Chai nhựa polytylen, dung tích 500; 1000ml

Tất cả các chai lọ lấy mẫu càn phải rửa sạch bằng nước xà phòng, sau

đó rửa kĩ bằng nước sạch, tráng bằng nước cất, trước khi lấy mẫu ít nhất phải tráng một lần bằng chính nước thải cần lấy mẫu rồi mới lấy mẫu đó

+ Tiến hành lấy mẫu

Do nước thải của bệnh viện sau khi xử lý thải ra hệ thống cống xả nhỏ nên mẫu được lấy tại cửa xả với lượng khoảng 5 mẫu , mỗi mẫu 1 lít

Mẫu được lấy khi hệ thống xử lý nước thải của bênh viện đang hoạt động Kèm theo mẫu phải có ghi rõ (ngày, giờ, tên mẫu, người lấy mẫu, điều kiện thời tiết, vị trí lấy mẫu… )

* Bảo quản và vân chuyển mẫu: Theo tiêu chuẩn 5999: 1995

Thời gian vận chuyển mẫu từ nơi lấy mẫu đến phòng thí nghiệm càng ngắn càng tốt, tránh để mẫu thay đổi tính chất và thành phần cần phân tích, đặc biết đối với mẫu của nước thải bệnh viện có chứa nhiều vi sinh vật dễ bị thay đổi về tính chất

Các điều kiện bảo quản tùy thuộc vào từng chỉ tiêu phân tích

Trang 35

Mẫu nước thải phải được công phá trước khi tiến hành phân tích, giai đoạn công phá giúp tách được các hợp chất hữu cơ không liên quan tới các chất phân tích trong quá trình này, giúp cho quá trình phân tích được chính xác hơn Quá trình công phá nươc thải được tiến hành trên máy công phá mẫu

705 (đặt ở nhiệt độ 90 độC trong thời gian 45phút)

* Cách xác định pH, nhiệt độ: Đo bằng máy đo pH cầm tay matter

* Phương pháp xác định Coliform Xác định theo tiêu chuẩn ISO 9308 - 2000

* Cách xác định màu của nước: Xác định bằng phương pháp so màu

thông qua máy quang phổ tử ngoại khả biến

* Cách xác định BOD: Có thể tính toán theo lượng oxi hoá thông qua

nhu cầu ôxi hoá học ở một số nguồn thải Khi thông số COD đánh giá nhu cầu oxi học để phân huỷ tất cả các chất hữu cơ, trong khi BOD5 chỉ có thể đánh giá thành phần các chất hữu cơ có khả năng phân huỷ sinh học Thông thường

tỷ lệ COD/BOD là 2,7

* Cách xác định COD: Xác đinh trên máy VARIO

+ Máy móc thiết bị:máy đo COD Vario, máy ổn nhiệt Al 38 Chuẩn 150mg/l, chuẩn 0-15000mg/l,

0-+ Phương pháp xác định: Phương pháp được tiến hành dựa trên nguyên

lý so mầu, đó là phương pháp đo cường độ màu của dung dịch, chủ yếu là Cr3+ ở 3 khoảng đo với 3 bước sóng khác nhau đã được cài sẵn trên máy,

+ Chuẩn bị mẫu và đo: Cho vào lít (lọ thủy tinh chuyên dùng để đo COD) mẫu trắng 2ml nước cất khử ion và các mẫu cần đo, mỗi kít 2ml nước mẫu rồi đậy nắp lại Đưa kít mẫu trắng và mẫu cần đo lên đun trên máy ASL

38 ở nhiệt độ là 1480C trong 2h và lấy ra để nguội ở nhiệt độ phòng

+ Cần phân tích với độ chính xác đến ± 0,001 gam

+ Tủ sấy điều chỉnh được nhiệt độ ± 10C

Ngày đăng: 01/09/2020, 12:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. Nước thải và phân loại nước thải - http://tailieu.vn/xem-tai-lieu/nuoc-thai-va-phan-loai-nuoc-thai.452223.html Link
15. Thành phần nước thải Bệnh viện - http://xulynuoc.org/Nuoc-thai-y-te-m2-287-292.html Link
1. Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Kạn (2013)- Báo cáo tổng kết quí I 2013 2. Bộ Tài nguyên và Môi trường - QCVN 28:2010/BTNMT về nước thải y tế 3. BacKan.gov.vn Khác
4. Chi cục Bảo vệ môi trường tỉnh Bắc Kạn - báo cáo ĐTM dự án đầu tư xây dựng công trình mở, nâng cấp Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc K ạn năm 2013 Khác
5. Dư Ngọc Thành (2009) - Bài giảng công nghệ môi trường Khác
9. Nguyễn Thanh Sơn (2005) - Đánh giá tài nguyên nước Việt Nam 2005 - 2010 - NXB Giáo dục Khác
10. Nguyễn Đình Hòe và cs, 2005, Quy hoạch và quản lý nguồn nước, NXB ĐH Quốc Gia Hà Nội Khác
11. Nguyễn Thanh Sơn (2005) - Đánh giá tài nguyên nước Việt Nam 2005 - 2010 - NXB Giáo dục Khác
12. Nguyễn Xuân Nguyên (2004), công nghệ xử lý rác thải và chất thải rắn Nxb Khoa học kỹ thuật Khác
13. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Luật bảo vệ môi trường 2005 Khác
16. Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn (2013) - Báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Bắc Kan giai đoạn 2005 - 2010 Khác
18. Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Kan (2013) - Đè án về tỉnh Bắc Kan năm 2013 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2. Một số các công nghệ xử lý nước thải hiện đang áp dụng trong - Đánh giá thực trạng chất lượng nước thải bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Kạn năm 2012 - 2013, sau 2014.
Bảng 2.2. Một số các công nghệ xử lý nước thải hiện đang áp dụng trong (Trang 30)
Hình 4.1. Sơ đồ hệ thống tổ chức của Bệnh Viện Đa khoa tỉnh Bắc Kạn. - Đánh giá thực trạng chất lượng nước thải bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Kạn năm 2012 - 2013, sau 2014.
Hình 4.1. Sơ đồ hệ thống tổ chức của Bệnh Viện Đa khoa tỉnh Bắc Kạn (Trang 46)
Bảng 4.8. Kết quả phân tích chỉ tiêu vật lý, sinh học của nước thải sau  quá trình xử lý của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Kạn (NT2) - Đánh giá thực trạng chất lượng nước thải bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Kạn năm 2012 - 2013, sau 2014.
Bảng 4.8. Kết quả phân tích chỉ tiêu vật lý, sinh học của nước thải sau quá trình xử lý của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Kạn (NT2) (Trang 60)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w