Mục đích, yêu cầu và ý nghĩa của đề tài 1.2.1 Mục đích của đề tài - Đánh giá hiện trạng ô nhiễm môi trường nước mặt sông Phó Đáy - Dự báo sự biến động của chất lượng nước sông Phó Đáy
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
PHÙNG DUY VĂN
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG NƯỚC SÔNG PHÓ ĐÁY ĐOẠN CHẢY TỪ XÃ QUANG SƠN, HUYỆN LẬP THẠCH ĐẾN
XÃ VIỆT XUÂN, HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Giảng viên hướng dẫn : TS Trần Thị Phả
Thái Nguyên, 2014
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của các thầy cô, các anh chị và các bạn Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin được bày tỏ lới cảm ơn chân thành tới:
Ban giám hiệu, Phòng đào tạo, Khoa môi trường - trường Đại Học Nông Lâm Trái Nguyên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Tiến sĩ Trần Thị Phả, cô giáo kính mến đã hết lòng giúp đỡ, dạy
bảo, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Anh Phùng Thế Tài, Phó trưởng phòng PT&QTMT, cùng toàn thể
các cán bộ, nhân viên trong Trung tâm tài nguyên và bảo vệ môi trường đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành tốt đợt thực tập đã qua
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong hội đồng chấm luận văn đã cho tôi những đóng góp quý báu để hoàn chỉnh luận văn này Xin gửi lới cảm ơn tới bạn bè, các anh chị em trong lớp K9 - KHMT đã động viên và giúp đỡ tôi trong những lúc tôi gặp khó khăn
Xin chân thành cảm ơn bố mẹ anh chị em yêu quý đã luôn ở bên cạnh động viên và giúp đỡ tôi học tập làm việc và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Thái Nguyên, ngày 26 tháng 08 năm 2014
Sinh viên
Phùng Duy Văn
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích, yêu cầu và ý nghĩa của đề tài 2
1.2.1 Mục đích của đề tài 2
1.2.2 Yêu câu của đề tài 2
1.2.3 Ý nghĩa của đề tài 2
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở lý luận của chuyên đề 4
2.1.1 Các khái niệm liên quan 4
2.1.2 Cơ sở pháp lý 5
2.2 Cơ sở thực tiễn 6
2.2.1 Giới thiệu chung về nước 6
2.2.2 Thực trạng khai thác và sử dụng nước trên thế giới và Việt Nam 8
2.2.2.1 Hiện trạng khai thác và sử dụng nước trên thế giới 8
2.2.2.2 Hiện trạng khai thác và sử dụng nước ở Việt Nam 11
2.3 Hậu quả của việc khan hiếm và ô nhiễm nguồn nước 18
2.4 Vai trò của nước đối với đời sống và sản xuất 21
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
3.1 Đối tượng và phậm vi nghiên cứu 24
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 24
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 24
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 24
3.2.1 Địa điểm 24
3.2.2 Thời gian tiến hành công tác quan trắc 24
3.3 Nội dung nghiên cứu 24
Trang 43.4 Phương pháp nghiên cứu 24
3.4.1 Phương pháp thu thập tài liệu 24
3.4.2 Phương pháp thực nghiệm 24
3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 27
PHẦN 4 KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM VÀ THỎA LUẬN 28
4.1.Điều tra, đánh giá về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 28
4.1.1 Vị trí địa lý 28
4.1.2 Đặc điểm địa hình- địa mạo 30
4.1.3 Đặc điểm khí tượng, thuỷ văn 31
4.1.2 Điều kiện Kinh tế -Xã hội 33
4.1.2.1 Sản xuất Công nghiệp – Xây dựng 33
4.1.3 Dân số 35
4.1.3 Tài nguyên thiên nhiên 36
4.2 Kết quả phân tích và nhận xét chất lượng nước sông Phó Đáy đoạn chảy từ Quang Sơn- Lập Thạch đến Việt Xuân- Vĩnh Tường 38
4.2.1 Kết quả các chỉ tiêu đo nhanh trong nước mặt sông Phó Đáy 38
4.3.2 Kết quả xác định nhu cầu oxy sinh hóa (BOD 5 ) 39
4.3.3 Kết quả xác định nhu cầu oxy hóa học (COD) 40
4.5.4 Kết quả xác định tổng chất rắn lơ lửng (TSS) 41
4.3.5 Kết quả xác định Amoni (NH 4 + ) 42
4.3.6 Kết quả xác định hàm lượng Nitrit (NO 2 - ) 43
4.3.7 Kết quả xác định Tổng Coliform 44
4.5.8 Kết quả xác định Dầu mỡ 45
4.2.9 Kết quả xác định hàm lượng sắt 46
4.3 Đề xuất một số giải pháp tổng hợp nhằm quản lý bảo vệ nguồn nước mặt sông Phó Đáy 47
4.3.1 Biện pháp giảm thiểu ô nhiễm nước thải 47
4.3.2 Thu phí nước thải 49
Trang 55
4.3.3 Xử phạt vi phạm 50
4.3.4 Tuyên truyền, giáo dục và xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường 50
PHẦN 5 KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ 51
5.1 Kết luận 51
5.2 Kiến nghị 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO 53
Trang 66
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
Trang 77
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Vị trí, tọa độ điểm lấy mẫu 26
Bảng 3.2: Tổng hợp phương pháp phân tích các thông số trong phòng thí nghiệm 26
Bảng 4.1: Chế độ thời tiết, khí hậu của các huyện Lập Thạch, Tam Dương, Vĩnh Tường năm 2013 31
Bảng 4.2 : Những ao hồ, khu chứa nước chính trong tỉnh 32
Bảng 4.3: Dân số tỉnh Vĩnh Phúc năm 2013 36
Bảng 4.4: Kế quả phân tích các chỉ tiêu nước sông Phó Dáy 38
Trang 88
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1: Bản đồ vị trí các điểm quan trắc sông Phó Đáy 25
Hình 4.1: Bản đồ hành chính tỉnh Vĩnh Phúc 29
Hình 4.2: Biểu đồ tăng trưởng kinh tế tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2001-2010 35
Hình 4.3: Giá trị đo nhanh tại các điểm quan trắc nước sông Phó Đáy 39
Hình 4.4: Giá trị BOD5 tại các điểm quan trắc nước sông Phó Đáy 40
Hình 4.5: Giá trị COD tại các điểm quan trắc nước sông Phó Đáy 41
Hình 4.6: Giá trị TSS tại các điểm quan mặt sông trắc nước Phó Đáy 42
Hình 4.7: Giá trị NH4 + tại các điểm quan trắc nước mặt sông Phó Đáy 43
Hình 4.8: Giá trị NO2 tại các điểm quan trắc nước sông Phó Đáy 43
Hình 4.9: Giá trị tổng Coliform tại các điểm quan trắc nước sông Phó Đáy 44
Hình 4.10: Giá trị nồng độ dầu mỡ tại các điểm quan trắc sông Phó Đáy 45
Hình 4.11: Giá trị nồng độ sắt tại các điểm quan trắc sông Phó Đáy 46
Hình 4.12: Giá trị nồng độ chì tại các điểm quan trắc sông Phó Đáy 47
Trang 9PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Môi trường có vai trò rất quan trọng đối với sự sống trên trái đất, con người đã tác động vào môi trường với nhiều hình thức khác nhau nhằm mục đích phục vụ cho sự sống và phát triển của mình Ngày nay với sự phát triển kinh tế, xã hội, tốc độ đô thị hoá ngày càng tăng và sự phát triển mạnh mẽ của các ngành: Công nghiệp, Dịch vụ, Du lịch… thì các yếu tố môi trường bị ảnh hưởng ngày một nhiều Song song với sự phát triển đó đã làm nảy sinh những vấn đề mới, nan giải cho toàn xã hội trong đó ô nhiễm môi trường là vấn đề gây bức xúc cho cả cộng đồng Ô nhiễm môi trường với nhiều nguyên nhân khác nhau từ các hoạt đông sinh hoạt sản xuất của con người: Nông nghiệp, công nghiệp, thương mại và dịch vụ Các chất thải từ các hoạt động trên đã gây tác động rất lớn tới các dòng sông của chúng ta
Vĩnh Phúc cũng là tỉnh đang xảy ra hiện tượng như vậy Sau hơn 10 năm tái lập tỉnh, với sự quyết tâm, nỗ lực phấn đấu của Đảng bộ, chính quyền
và nhân dân, tỉnh Vĩnh Phúc đã và đang dần trở thành tỉnh công nghiệp Với những lợi thế về nhiều mặt, cùng với những chính sách khuyến khích và thu hút đầu tư phù hợp, kinh tế của tỉnh Vĩnh Phúc có những bước tăng trưởng vượt bậc, trở thành một trong những địa phương có tốc độ tăng trưởng lớn nhất cả nước Tình hình kinh tế trên địa bàn tỉnh phát triển với tốc độ cao đã tạo điều kiện thuận lợi để Vĩnh Phúc đẩy mạnh phát triển các lĩnh vực xã hội, đời sống nhân dân ngày một nâng cao, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, quốc phòng ngày càng được củng cố vững chắc Tuy nhiên, cùng với quá trình tăng trưởng kinh tế và sự phát triển của đời sống xã hội, Vĩnh Phúc cũng đang phải đối mặt với sự suy giảm của chất lượng môi trường sống; sự gia tăng, biến đổi phức tạp của các hiện tượng thời tiết bất thường; môi trường bị suy thoái, nhiều hệ sinh thái và sinh cảnh tự nhiên đang
có nguy cơ bị phá huỷ, đa dạng sinh học có chiều hướng suy giảm do hoạt động của con người Hiện nay, hệ thống cấp và thoát nước của tỉnh còn đơn giản, chưa được xây dựng quy mô, đồng bộ do vậy lượng nước thải sinh hoạt của các hộ dân, các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ, các làng nghề nằm xen kẽ trong khu
Trang 10dân cư trên địa bàn tỉnh đều xả thải trực tiếp vào môi trường làm cho mức độ
ô nhiễm môi trường nước ngày càng tăng lên Chất lượng môi trường nước sông Phó Đáy cũng đang bị ảnh hưởng xấu, qua kết quả quan trắc chất lượng nước sông một số năm gần đây cho thấy một số chỉ tiêu của nước sông vượt quy chuẩn cho phép
Ta cần tiến hành nghiên cứu, điều tra, phân tích và đánh giá cụ thể hiện trạng chất lượng nước mặt trên hệ thống sông Phó Đáy nói chung và lưu vực sông Phó Đáy đoạn chảy qua địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc từ xã Quang Sơn, Huyện
Lập Thạch đến xã Việt Xuân, huyện Vĩnh Tường nói riêng Từ đó đề xuất, lựa
chọn ra một số giải pháp khai thác và sử dụng nguồn nước sông Phó Đáy nhằm phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và công tác bảo vê môi trường của tỉnh Vĩnh Phúc trong tương lai Xuất phát từ tính cấp thiết của vấn đề nêu trên, được sự đồng ý của Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban Chủ
nhiệm Khoa Tài Nguyên và Môi trường, dưới sự hướng dẫn của cô giáo TS
Trần Thị Phả giảng viên khoa Môi trường - trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên Tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiện trạng chất lượng
nước sông Phó Đáy đoạn chảy từ xã Quang Sơn, huyện Lập Thạch đến xã Việt Xuân, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc”
1.2 Mục đích, yêu cầu và ý nghĩa của đề tài
1.2.1 Mục đích của đề tài
- Đánh giá hiện trạng ô nhiễm môi trường nước mặt sông Phó Đáy
- Dự báo sự biến động của chất lượng nước sông Phó Đáy trong những năm tiếp thoe
- Đề xuất các giải pháp phòng ngừa hoặc khắc phục ô nhiễm
1.2.2 Yêu câu của đề tài
- Các số liệu, thông tin đưa ra phải đảm bảo độ tin cậy, chính xác, đầy
đủ, chi tiết
- Đánh giá công tác thực hiện phải chính xác
- Những giải pháp đề xuất phải có tính khả thi phù hợp với điều kiện của tỉnh
1.2.3 Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học:
Trang 11+ Vận dụng và phát huy được các kiến thức đã được học và nghiên cứu + Bổ sung tư liệu, nâng cao nhận thức, kỹ năng và rút kinh nghiệp thực
tế phục vụ cho công tác sau này
+ Củng cố lý thuyết, kiến thức đã được trang bị trong quá trình học tập + Đúc rút thêm kinh nghiệm làm việc thực tiễn, các thao tác phân tích các thông số, cách viết báo cáo, cách xử lý số liệu, ……
Trang 12PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở lý luận của chuyên đề
2.1.1 Các khái niệm liên quan
- Môi trường là bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên (Theo Ðiều 1, Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam) [1]
- Quan trắc môi trường là việc theo dõi thường xuyên chất lượng môi trường với các trọng tâm, trọng điểm hợp lý nhằm phục vụ các hoạt động bảo
vệ môi trường và phát triển bền vững
- Ô nhiễm môi trường là sự làm thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm Tiêu chuẩn môi trường [1]
Nước tham gia vào rất nhiều phản ứng hóa học ở nhiệt độ bình thường nước không màu, không mùi, không vị
- Ô nhiễm nguồn nước: Là sự thay đổi tính chất vật lý, tính chất hóa học, thành phần sinh học của nước vi phạm tiêu chuẩn cho phép
Ô nhiễm nước là sự thay đổi theo chiều xấu đi của các tính chất vật lý - hóa học - sinh học của nước, với sự xuất hiện các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho nguồn nước trở nên độc hại với con người và sinh vật Làm giảm độ đa dạng sinh học trong nước Xét về tốc độ lan truyền và quy mô ảnh hưởng thì ô nhiễm nước là vấn đề đáng lo ngại hơn ô nhiễm đất [14]
- Suy thoái kạn kiện nguồn nước: Là sự suy giảm về chất lượng và số lượng của nguồn nước
- Phát triển tài nguyên nước: Là biện pháp nhằm nâng cao khả năng khai thác sử dụng bền vững tài nguyên nước và nâng cao giá trị tài nguyên nước
- Bảo vệ tài nguyên nước: Là biện pháp nhằm phòng chống suy thoái, cạn kiện nguồn nước, bảo đảm an toàn nguồn nước và bảo vệ khả năng phát triển tài nguyên nước
Trang 13- Khái niệm về ô nhiễm môi trường: là sự làm thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm tiêu chuẩn môi trường
- Khái niệm ô nhiễm môi trường nước: Là sự thay đổi tính chất vật lý, tính chất hóa học, thành phần sinh học của nước vi phạm tiêu chuẩn cho phép
- Khái niệm bảo vệ môi trường là những hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp, cải thiện môi trường, đảm bảo cân bằng sinh thái, ngăn chặn, khắc phục các hậu quả xấu do con người và thiên nhiên gây ra cho môi trường, khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên
- Khái niệm quan trắc môi trường ( QTMT) là quá trình đo đạc thương xuyên một hoặc nhiều chỉ tiêu về tinh chất vật lý, hóa học va sinh học của các thành phần môi trường, theo một kế hoạch lập sẵn về thời gian, không gian, phương pháp và quy trình đo lường, để cung cấp các thông tin cơ bản có độ tin cậy, độ chính xác cao và có thể đánh giá được diễn biến chất lượng môi trường
- Nước thải là nước đã được thai ra sau khi sử dụng hoặc tạo ra trong quá trình công nghệ và không cón giá trị trực tiếp đối với quá tình đó (Theo TCVN 5980-1995 và ISO 6107/1-1980)
- Nước thải sinh hoạt là nước thải từ các khu dân cư, khu vực hoạt động thương mại, công sở, trường học và các cơ sở tương tự khác
- Nước thải công nghiệp (hay còn gọi là nước thải sản xuất): là nước thải
từ các nhà máy đang hoạt động hoặc trong đó nước thải công nghiệp là chủ yếu
- Nước thải tự nhiên : nước mưa được xem như nước thải tự nhiên
2.1.2 Cơ sở pháp lý
- Luật Bảo vệ môi trường 2005 ngày 29/11/2005;
- Nghị định số 80/2006 /NĐ-CP ngày 09/08/2006 của Chính phủ về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật Bảo vệ môi trường;
- Nghị định số 21/2008/NĐ-CP ngày 28/12/2008 của Chính phủ về sửa đổi bổ xung một số điều của Nghị định số 80/2006 /NĐ-CP ngày 09/08/2006 của Chính phủ về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật Bảo vệ môi trường;
- Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ máy Chính trị về BVMT trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước;
- QCVN 08 : 2008/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng
Trang 14nước mặt
- TCVN 5996-1995 Phương pháp lấy mẫu nước sông, suối
- TCVN 5992:1995 Thiết bị, dụng cụ lấy mẫu nước
- TCVN 5993: 1995 Bảo quản mẫu nước
- Các TCVN về các phương pháp phân tích các chỉ tiêu trong nươc
Và rất nhiều văn bản luật, dưới luật, các TCVN có liên quan khác,…
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Giới thiệu chung về nước
Nước là yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của môi trường sống Nước là một loại tài nguyên thiên nhiên quý giá và có hạn, là động lực chủ yếu chi phối mọi hoạt động dân sinh kinh tế của con người Nước được
sử dụng rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp, thủy điện, giao thông vận tải, chăn nuôi, thuỷ sản v.v
Nước là loại tài nguyên có thể tái tạo được và cần phải sử dụng một cách hợp lý để duy trì khả năng tái tạo của nó
Trên hành tinh chúng ta nước tồn tại dưới những dạng khác nhau: Nước trên trái đất, ngoài đại dương, ở các sông suối, hồ ao, các hồ chứa nhân tạo, nước ngầm, trong không khí, băng tuyết và các dạng liên kết khác
Tổng lượng nước trên trái đất vào khoảng 1.386 triệu km3 trong đó nước trong đại dương (nước mặn) vào khoảng 1.338 triệu km3 chiếm 96,5% Nước ngọt trên trái đất chiếm tỷ lệ rất nhỏ, chỉ vào kho ảng 2,5% Và trong tổng lượng nước ngọt trên trái đất thì 68% là băng và sông băng; 30% là nước ngầm; nguồn nước mặt như nước trong các sông hồ, chỉ chiếm khoảng 93.100
km3, bằng 1/150 của 1% của tổng lượng nước trên trái đất
Nước trên trái đất tồn tại trong một khoảng không gian gọi là thuỷ quyển Nước vận động trong thuỷ quyển qua những con đường vô cùng phức tạp cấu tạo thành vòng tuần hoàn nước còn g ọi là chu trình thuỷ văn Vòng tuần hoàn nước không có điểm bắt đầu nhưng chúng ta có thể bắt đầu từ các đại dương Nước bốc hơi từ các đại dương và lục địa trở thành một bộ phận của khí quyển Hơi nước được vận chuyển vào bầu không khí, bốc lên cao cho đến khi chúng ngưng tụ và rơi trở lại mặt đất hoặc mặt biển
Trang 15Lượng nước rơi xuống mặt đất một phần bị giữ lại bởi cây cối, chảy tràn trên mặt đất, thấm xuống đất, chảy trong đất và chảy vào các dòng sông Phần lớn lượng nước bị giữ lại bởi thảm phủ thực vật và dòng chảy mặt sẽ quay trở lại bầu khí quyển qua con đường bốc hơi Lượng nước ngấm trong đất có thể thấm sâu hơn xuống những lớp đất bên dưới để cấp nước cho các tầng nước ngầm và sau đó thành các dòng suối hoặc chảy dần vào sông ngòi thành dòng chảy mặt và cuối cùng đổ ra biển hoặc bốc hơi vào khí quyển
Sự phân bố lượng nước theo không gian và thời gian không đồng đều Trên trái đất có vùng lượng mưa khá phong phú, nhưng lại có những vùng rất khô hạn Có những mùa rất nóng và có những mùa rất lạnh Trữ lượng nước hàng năm không phải là vô tận, sự biến đổi của nó nằm trong giới hạn nào đó
và không phụ thuộc vào mong muốn của con người
Như vậy, tuy nguồn nước trên thế giới là rất lớn, nhưng nước ngọt - nước cần cho hoạt động dân sinh kinh tế của con người lại có trữ lượng nhỏ Khi sự phát triển dân sinh kinh tế còn ở mức thấp, nước chỉ mới được coi là môi trường cần thiết cho sự sống của con người Trong quá trình phát triển, càng ngày càng có sự mất cân đối giữa nhu cầu dùng nước và nguồn nước Dưới tác động của các hoạt động kinh tế xã hội, nguồn nước ngày càng có nguy cơ bị suy thoái và cạn kiệt trong khi đó nước là một loại tài nguyên quý cần được bảo vệ và quản lý Các luật nước ra đời và cùng với nó ở mỗi quốc gia đều có một tổ chức để quản lý nghiêm ngặt loại tài nguyên này [3]
Nước mặt là nước trong sông, hồ hoặc nước ngọt trong vùng đất ngập nước Nước mặt được bổ sung một cách tự nhiên bởi giáng thủy và chúng mất
đi khi chảy vào đại dương, bốc hơi và thấm xuống đất
Lượng giáng thủy này được thu hồi bởi các lưu vực, tổng lượng nước trong hệ thống này tại một thời điểm cũng tùy thuộc vào một số yếu tố khác Các yếu tố này như khả năng chứa của các hồ, vùng đất ngập nước và các hồ chứa nhân tạo, độ thấm của đất bên dưới các thể chứa nước này, các đặc điểm của dòng chảy mặt trong lưu vực, thời lượng giáng thủy và tốc độ bốc hơi địa phương Tất cả các yếu tố này đều ảnh hưởng đến tỷ lệ mất nước
Các hoạt động của con người có thể tác động lớn hoặc đôi khi phá vỡ các yếu tố này Con người thường tăng khả năng trữ nước bằng cách xây
Trang 16dựng các bể chứa và giảm trữ nước bằng cách tháo khô các vùng đất ngập nước Con người cũng làm tăng lưu lượng và vận tốc của dòng chảy mặt ở các khu vực lát đường và dẫn nước bằng các kênh
Tổng lượng nước tại một thời điểm là vấn đề cần quan tâm Một số đối tượng sử dụng nước có nhu cầu nước theo vụ Ví dụ, trong mùa hè cần rất nhiều nước để phục vụ cho nông nghiệp hoặc phát điện nhưng trong mùa mưa thì không cần nước, vì vậy để cung cấp nước tốt cho mùa hè thì cần một hệ thống trữ nước trong suốt năm và xả nước trong một khoảng thời gian ngắn Các đối tượng sử dụng nước khác có nhu cầu dùng nước thường xuyên như nhà máy điện cần nguồn nước để làm lạnh Để cung cấp nước cho các nhà máy điện, hệ thống nước mặt chỉ cần đủ trong các bể chứa khi dòng chảy trung bình nhỏ hơn nhu cầu nước của nhà máy
Nước mặt tự nhiên có thể được tăng cường thông qua việc cung cấp từ các nguồn nước mặt khác bởi các kênh hoặcđường ống dẫn nước Cũng có thể
bổ cấp nhân tạo từ các nguồn khác được liệt kê ở đây, tuy nhiên, số lượng không đáng kể Con người có thể làm cho nguồn nước cạn kiệt (với nghĩa không thể sử dụng) bởi ô nhiễm
Brasil được đánh giá là quốc gia có nguồn cung cấp nước ngọt lớn nhất thế giới, sau đó là Nga và Canada [19]
2.2.2 Thực trạng khai thác và sử dụng nước trên thế giới và Việt Nam
Tài nguyên nước là nguồn tài nguyên thiên nhiên có thể tái tạo nhưng cũng có thể bị cạn kiệt tùy vào tốc độ khai thác của con người và khả năng tái tạo của môi trường Ngày nay, sử dụng nước cho mọi hoạt động đã trở nên phổ biến Tuy nhiên, việc sử dụng khai thác nguồn tài nguyên này gây ra những hậu quả ảnh hưởng nghiêm trọng tới nguồn tài nguyên nước
2.2.2.1 Hiện trạng khai thác và sử dụng nước trên thế giới
Khi con người bắt đầu trồng trọt và chăn nuôi thì đồng ruộng dần dần phát triển ở miền đồng bằng màu mỡ, kề bên lưu vực các con sông lớn Lúc đầu cư dân còn ít và nước thì đầy ắp trên các sông hồ, đồng ruộng, cho dù có gặp thời gian khô hạn kéo dài thì cũng chỉ cần chuyển cư không xa lắm là tìm được nơi ở mới tốt đẹp hơn Vì vậy, nước được xem là nguồn tài nguyên vô tận và cứ như thế qua một thời gian dài, vấn đề nước chưa có gì là quan trọng [2]
Trang 17Tình hình thay đổi nhanh chóng khi cuộc cách mạng công nghiệp xuất hiện và càng ngày càng phát triển như vũ bão Hấp dẫn bởi nền công nghiệp mới ra đời, từng dòng người từ nông thôn đổ xô vào các thành phố và khuynh hướng này vẫn còn tiếp tục cho đến ngày nay Ðô thị trở thành những nơi tập trung dân cư quá đông đúc, tình trạng này tác động trực tiếp đến vấn đề về nước càng ngày càng trở nên nan giải
Nhu cầu nước càng ngày càng tăng theo đà phát triển của nền công nghiệp, nông nghiệp và sự nâng cao mức sống của con người Theo sự ước tính, bình quân trên toàn thế giới có chừng khoảng 40% lượng nước cung cấp được sử dụng cho công nghiệp, 50% cho nông nghiệp và 10% cho sinh hoạt Tuy nhiên, nhu cầu nước sử dụng lại thay đổi tùy thuộc vào sự phát triển của mỗi quốc gia Ở Hoa Kỳ, khoảng 44% nước được sử dụng cho công nghiệp, 47% sử dụng cho nông nghiệp và 9% cho sinh hoạt và giải trí (Chiras, 1991)
Ở Trung Quốc thì 7% nước được dùng cho công nghiệp, 87% cho công nghiệp, 6% sử dụng cho sinh hoạt và giải trí
Nhu cầu về nước trong công nghiệp: Sự phát triển càng ngày càng cao của nền công nghiệp trên toàn thế giới càng làm tăng nhu cầu về nước, đặc biệt đối với một số ngành sản xuất như chế biến thực phẩm, dầu mỏ, giấy, luyện kim, hóa chất , chỉ 5 ngành sản xuất này đã tiêu thụ ngót 90% tổng lượng nước sử dụng cho công nghiệp Theo đà phát triển của nền công nghiệp hiện nay trên thế giới có thể dự đoán đến năm 2020 nhu cầu nước sử dụng cho công nghiệp tăng 1.900 km3/năm có nghĩa là tăng hơn 60 lần so với năm
2000 Phần nước tiêu hao không hoàn lại do sản xuất công nghiệp chiếm khoảng từ 1 - 2% tổng lượng nước tiêu hao không hoàn lại và lượng nước còn lại sau khi đã sử dụng được quay về sông hồ dưới dạng nước thải chứa đầy những chất gây ô nhiễm
Trang 18Nhu cầu về nước trong nông nghiệp: Sự phát triển trong sản xuất nông nghiệp như sự thâm canh tăng vụ và mở rộng diện tích đất canh tác cũng đòi hỏi một lượng nước ngày càng cao Theo M.I.Lvovits, trong tương lai do thâm canh nông nghiệp mà dòng chảy cả năm của các con sông trên toàn thế giới có thể giảm đi khoảng 700 km3 /năm Phần lớn nhu cầu về nước được thỏa mãn nhờ mưa ở vùng có khí hậu ẩm, nhưng cũng thường được bổ sung bởi nước sông hoặc nước ngầm bằng biện pháp thủy lợi nhất là vào mùa khô Người ta ước tính được mối quan hệ giữa lượng nước sử dụng với lượng sản phẩm thu được trong quá trình canh tác như sau: để sản xuất 1 tấn lúa mì cần đến 1.500 tấn nước, 1 tấn gạo cần đến 4.000 tấn nước và 1 tấn bông vải cần đến 10.000 tấn nước Sở dĩ cần số lượng lớn nước như vậy chủ yếu là do sự đòi hỏi của quá trình thoát hơi nước của cây, sự bốc hơi nước của lớp nước mặt trên đồng ruộng, sự trực di của nước xuống các lớp đất bên dưới và phần nhỏ tích tụ lại trong các sản phẩm nông nghiệp Dự báo nhu cầu về nước trong nông nghiệp đến năm 2020 sẽ lên tới 3.400 km3/năm, chiếm 58% tổng nhu cầu về nước trên toàn thế giới
Nhu cầu về nước Sinh hoạt và giải trí: Theo sự ước tính thì các cư dân sinh sống kiểu nguyên thủy chỉ cần 5-10 lít nước/ người/ ngày Ngày nay, do
sự phát triển của xã hội loài người ngày càng cao nên nhu cầu về nước sinh hoạt và giải trí ngày cũng càng tăng theo nhất là ở các thị trấn và ở các đô thị lớn, nước sinh hoạt tăng gấp hàng chục đến hàng trăm lần nhiều hơn Theo sự ước tính đó thì đến năm 2020, nhu cầu về nước sinh hoạt và giải trí sẽ tăng gần 20 lần so với năm 2020, tức là chiếm 7% tổng nhu cầu nước trên thế giới Ngoài ra, còn rất nhiều nhu cầu khác về nước trong các hoạt động khác của con người như giao thông vận tải, giải trí ở ngoài trời như đua thuyền, trượt ván, bơi lội nhu cầu này cũng ngày càng tăng theo sự phát triển của xã hội
Trang 192.2.2.2 Hiện trạng khai thác và sử dụng nước ở Việt Nam
Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới ẩm có lượng mưa tương đối lớn trung bình từ 1.800mm - 2.000mm, nhưng lại phân bố không đồng đều mà tập trung chủ yếu vào mùa mưa từ tháng 4-5 đến tháng 10, riêng vùng duyên hải Trung bộ thì mùa mưa bắt đầu và kết thúc chậm hơn vài ba tháng [2]
Sự phân bố không đồng đều lượng mưa và dao động phức tạp theo thời gian là nguyên nhân gây nên nạn lũ lụt và hạn hán thất thường gây nhiều thiệt hại lớn đến mùa màng và tài sản ảnh hưởng đến nền kinh tế quốc gia
Theo sự ước tính thì lượng nước mưa hằng năm trên toàn lãnh thổ khoảng 640 km3, tạo ra một lượng dòng chảy của các sông hồ khoảng 313
km3 Nếu tính cả lượng nước từ bên ngoài chảy vào lãnh thổ nước ta qua hai con sông lớn là sông Cửu long (550 km3) và sông Hồng (50 km3) thì tổng lượng nước mưa nhận được hằng năm khoảng 1.240 km3 và lượng nước mà các con sông đổ ra biển hằng năm khoảng 900 km3 Như vậy so với nhiều nước, Việt nam có nguồn nước ngọt khá dồi dào lượng nước bình quân cho mỗi đầu người đạt tới 17.000 m3/người/năm Do nền kinh tế nước ta chưa phát triển nên nhu cầu về lượng nước sử dụng chưa cao, hiện nay mới chỉ khai thác được 500 m3/người/năm nghĩa là chỉ khai thác được 3% lượng nước được tự nhiên cung cấp và chủ yếu là chỉ khai thác lớp nước mặt của các dòng sông và phần lớn tập trung cho sản xuất nông nghiệp
Việt Nam có 708 đô thị bao gồm 5 thành phố trực thuộc Trung ương,
86 thành phố và thị xã thuộc tỉnh, 617 thị trấn với 21,59 triệu người (chiếm 26,3% dân số toàn quốc) Hiện có trên 240 nhà máy cấp nước đô thị với tổng công suất thiết kế là 3,42 triệu m3/ngày Trong đó 92 nhà máy sử dụng nguồn nước mặt với tổng công suất khaỏng 1,95 triệu m3/ngày và 148 nhà máy sử dụng nguồn nước dưới đất với tổng công suất khoảng 1,47 triệu m3/ngày Một
số địa phương khai thác 100% nước dưới đất để cung cấp cho sinh hoạt sản
Trang 20xuất như Hà Nội, Hà Tây, Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Quảng Ngãi, Bình Định, Sóc Trăng, Phú Yên, Bạch Liêu , các tỉnh thành Hải Phòng, Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Kon Tum, Gia Lai khai thác 100%
từ nguồn nước mặt; nhiều địa phương sử dụng cả 2 nguồn nước mặt và nước dưới đất Tổng công suất hiện có của các nhà máy cấp nước đảm bảo cho mỗi người dân đô thị khoảng 150 lít nước sạch mỗi ngày Tuy nhiên do cơ sở hạ tầng hệ thống cấp nước tại nhiều khu đô thị lạc hậu, thiếu đồng bộ nên hệ thống cấp nước khu đô thị chưa phát huy hết công suất, tỉ lệ thất thoát nước sạch khác cao (có nơi tỉ lệ thất thoát tới 40%) Chính vì vậy trên thực tế nhiều
đô thị cung cấp nước chỉ đạt khoảng 40-50 lít/người/ngày
Đối với khu vực nông thôn Việt Nam có khoảng 36,7 triệu người dân được cấp nước sạch (trên tổng số người dân 60,44 triệu) Có 7.257 công trình cấp nước tập trung cấp nước sinh hoạt cho 6,13 triệu người và trên 2,6 triệu công trình cấp nước nhỏ lẻ khác Tỉ lệ dân số nông thôn được cấp nước sinh hoạt lớn nhất ở vùng Nam Bộ chiếm 66,7%, đồng bằng sông Hồng 65,1%, đồng bằng sông Cửu Long 62,1%
Tại thành phố Hà Nội, tổng lượng nước dưới đất được khai thác là 1.100.000m3/ngày đêm, trong đó, phía Nam sông Hồng khai thác với lưu lượng 700.000m3/ngày đêm Trên địa bàn Hà Nội hiện nay khoảng trên 100.000 giếng khoan khai thác nước kiểu UNICEF của các hộ gia đình, hơn
200 giếng khoan của công ty nước sạch thành phố quản lý và 500 giếng khoan khai thác nước của các trạm cấp nước sạch nông thôn
Các tỉnh ven biển miền Tây nam Bộ như Kiên Giang, Trà Vinh, Bến Tre, Long An do nguồn nước ngọt trên các sông rạch, ao hồ không đủ phục
vụ cho nhu cầu của đời sống và sản xuất vì vậy nguồn nước cung cấp chủ yếu được khai thác từ nguồn nước dưới đất Khoảng 80% dân số ở 4 tỉnh Trà
Trang 21Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau đang sử dụng nước ngầm mỗi ngày Tại tỉnh Trà Vinh hiện có khoảng 41.512 giếng khoan, TP Cà Mau hơn 90% người dân trong xã đã khoan và sử dụng nước ngầm Việc khai thác nước ngầm qúa mức đã làm tầng nước ngầm tụt giảm từ 12 đến 15m khu vực này,
“giúp” cho tỉnh Trà Vinh gần hơn với mặt nước biển khoảng 2-2,5m [13] Hiện nay ở Việt Nam, mặc dù các cấp, các ngành đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiện chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường, nhưng tình trạng ô nhiễm nước là vấn đề rất đáng lo ngại
Tốc độ công nghiệp hoá và đô thị hoá khá nhanh và sự gia tăng dân số gây áp lực ngày càng nặng nề dối với tài nguyên nước trong vùng lãnh thổ Môi trường nước ở nhiều đô thị, khu công nghiệp và làng nghề ngày càng bị ô nhiễm bởi nước thải, khí thải và chất thải rắn ở các thành phố lớn, hàng trăm
cơ sở sản xuất công nghiệp đang gây ô nhiễm môi trường nước do không có công trình và thiết bị xử lý chất thải Ô nhiễm nước do sản xuất công nghiệp là rất nặng Ví dụ: ở ngành công nghiệp dệt may, ngành công nghiệp giấy và bột giấy, nước thải thường có độ pH trung bình từ 9-11; chỉ số nhu cầu ô xy sinh hoá (BOD), nhu cầu ôxy hoá học (COD) có thể lên đến 700mg/1 và 2.500mg/1; hàm lượng chất rắn lơ lửng cao gấp nhiều lần giới hạn cho phép
Hàm lượng nước thải của các ngành này có chứa xyanua (CN-) vượt đến 84 lần, H2S vượt 4,2 lần, hàm lượng NH3 vượt 84 lần tiêu chuẩn cho phép nên đã gây ô nhiễm nặng nề các nguồn nước mặt trong vùng dân cư Mức độ ô nhiễm nước ở các khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp tập trung là rất lớn
Tại cụm công nghiệp Tham Lương, thành phố Hồ Chí Minh, nguồn nước bị nhiễm bẩn bởi nước thải công nghiệp với tổng lượng nước thải ước tính 500.000 m3/ngày từ các nhà máy giấy, bột giặt, nhuộm, dệt ở thành phố Thái Nguyên, nước thải công nghiệp thải ra từ các cơ sở sản xuất giấy, luyện
Trang 22gang thép, luyện kim màu, khai thác than; về mùa cạn tổng lượng nước thải khu vực thành phố Thái Nguyên chiếm khoảng 15% lưu lượng sông Cầu; nước thải từ sản xuất giấy có pH từ 8,4-9 và hàm lượng NH4 là 4mg/1, hàm lượng chất hữu cơ cao, nước thải có màu nâu, mùi khó chịu…
Khảo sát một số làng nghề sắt thép, đúc đồng, nhôm, chì, giấy, dệt nhuộm ở Bắc Ninh cho thấy có lượng nước thải hàng ngàn m3/ ngày không qua xử lý, gây ô nhiễm nguồn nước và môi trường trong khu vực
Tình trạng ô nhiễm nước ở các đô thị thấy rõ nhất là ở thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh ở các thành phố này, nước thải sinh hoạt không có hệ thống xử lý tập trung mà trực tiếp xả ra nguồn tiếp nhận (sông,
hồ, kênh, mương) Mặt khác, còn rất nhiều cơ sở sản xuất không xử lý nước thải, phần lớn các bệnh viện và cơ sở y tế lớn chưa có hệ thống xử lý nước thải; một lượng rác thải rắn lớn trong thành phố không thu gom hết được… là những nguồn quan trọng gây ra ô nhiễm nước Hiện nay, mức độ ô nhiễm trong các kênh, sông, hồ ở các thành phố lớn là rất nặng
Ở thành phố Hà Nội, tổng lượng nước thải của thành phố lên tới 300.000
- 400.000 m3/ngày; hiện mới chỉ có 5/31 bệnh viện có hệ thống xử lý nước thải, chiếm 25% lượng nước thải bệnh viện; 36/400 cơ sở sản xuất có xử lý nước thải; lượng rác thải sinh hoại chưa được thu gom khoảng 1.200m3/ngày đang xả vào các khu đất ven các hồ, kênh, mương trong nội thành; chỉ số BOD, oxy hoà tan, các chất NH4, NO2, NO3 ở các sông, hồ, mương nội thành đều vượt quá quy định cho phép ở thành phố Hồ Chí Minh thì lượng rác thải lên tới gần 4.000 tấn/ngày; chỉ có 24/142 cơ sở y tế lớn là có xử lý nước thải; khoảng 3.000 cơ sở sản xuất gây ô nhiễm thuộc diện phải di dời
Không chỉ ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh mà ở các đô thị khác như Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, Nam Định, Hải Dương… nước thải sinh hoạt cũng không được xử lý độ ô nhiễm nguồn nước nơi tiếp nhận nước thải đều vượt
Trang 23quá tiểu chuẩn cho phép (TCCP), các thông số chất lơ lửng (SS), BOD; COD;
Ô xy hoà tan (DO) đều vượt từ 5-10 lần, thậm chí 20 lần TCCP
Về tình trạng ô nhiễm nước ở nông thôn và khu vực sản xuất nông nghiệp, hiện nay Việt Nam có gần 76% dân số đang sinh sống ở nông thôn là nơi cơ
sở hạ tầng còn lạc hậu, phần lớn các chất thải của con người và gia súc không được xử lý nên thấm xuống đất hoặc bị rửa trôi, làm cho tình trạng ô nhiễm nguồn nước về mặt hữu cơ và vi sinh vật ngày càng cao Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, số vi khuẩn Feca coliform trung bình biến đổi từ 1.500-3.500MNP/100ml ở các vùng ven sông Tiền và sông Hậu, tăng lên tới 3800-12.500MNP/100ML ở các kênh tưới tiêu
Trong sản xuất nông nghiệp, do lạm dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật, các nguồn nước ở sông, hồ, kênh, mương bị ô nhiễm, ảnh hưởng lớn đến môi trường nước và sức khoẻ nhân dân
Theo thống kê của Bộ Thuỷ sản, tổng diện tích mặt nước sử dụng cho nuôi trồng thuỷ sản đến năm 2020 của cả nước là 751.999 ha Do nuôi trồng thuỷ sản ồ ạt, thiếu quy hoạch, không tuân theo quy trình kỹ thuật nên đã gây nhiều tác động tiêu cực tới môi trường nước Cùng với việc sử dụng nhiều và không đúng cách các loại hoá chất trong nuôi trồng thuỷ sản, thì các thức ăn
dư lắng xuống đáy ao, hồ, lòng sông làm cho môi trường nước bị ô nhiễm các chất hữu cơ, làm phát triển một số loài sinh vật gây bệnh và xuất hiện một số tảo độc; thậm chí đã có dấu hiệu xuất hiện thuỷ triều đỏ ở một số vùng ven biển Việt Nam
Có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường nước, như sự gia tăng dân số, mặt trái của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cơ sở hạ tầng yếu kém, lạc hậu: nhận thức của người dân về vấn đề môi trường còn chưa cao… Đáng chú ý là sự bất cập trong hoạt động quản lý, bảo vệ môi trường Nhận thức của nhiều cấp chính quyền, cơ
Trang 24quan quản lý, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm về nhiệm vụ bảo vệ môi trường nước chưa sâu sắc và đầy đủ; chưa thấy rõ ô nhiễm môi trường nước là loại ô nhiễm gây nguy hiểm trực tiếp, hàng ngày và khó khắc phục đối với đời sống con người cũng như sự phát triển bền vững của đất nước Các quy định
về quản lý và bảo vệ môi trường nước còn thiếu (chẳng hạn như chưa có các quy định và quy trình kỹ thuật phục vụ cho công tác quản lý và bảo vệ nguồn nước) Cơ chế phân công và phối hợp giữa các cơ quan, các ngành và địa phương chưa đồng bộ, còn chồng chéo, chưa quy định trách nhiệm rõ ràng Chưa có chiến lược, quy hoạch khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước theo lưu vực và các vùng lãnh thổ lớn Chưa có các quy định hợp lý trong việc đóng góp tài chính để quản lý và bảo vệ môi trường nước, gây nên tình trạng thiếu hụt tài chính, thu không đủ chi cho bảo vệ môi trường nước Ngân sách đầu tư cho bảo vệ môi trường nước còn rất thấp (một số nước ASEAN đã đầu tư ngân sách cho bảo vệ môi trường là 1% GDP, còn ở Việt Nam mới chỉ đạt 0,1%) Các chương trình giáo dục cộng đồng về môi trường nói chung và môi trường nước nói riêng còn quá ít Đội ngũ cán bộ quản lý môi trường nước còn thiếu về số lượng, yếu về chất lượng (Hiện nay
ở Việt Nam trung bình có khoảng 3 cán bộ quản lý môi trường/1 triệu dân, trong khi đó ở một số nước ASEAN trung bình là 70 người/1 triệu dân) [17]
2.2.2.3 Tài nguyên nước tỉnh Vĩnh Phúc
Vĩnh Phúc là một tỉnh nằm ở đỉnh tam giác vùng đồng bằng Bắc Bộ châu thổ sông Hồng, có nguồn tài nguyên nước tương đối dồi dào, nhưng có giới hạn Tài nguyên nước của tỉnh gồm nước mặt, nước dưới đất và nước mưa Tài nguyên nước mặt: Tỉnh ta có mạng sông suối, hồ đầm, ao khá đa dạng và phong phú Sông Hồng chảy qua điạ bàn tỉnh có chiều dài 45 km, lưu lượng bình quân dòng chảy lớn nhất 5.090 m3/s, lưu lượng bình quân dòng chảy nhỏ nhất 200-300 m3/s; sông Lô chảy qua địa bàn tỉnh ta với chiều dài
Trang 2532 km, lưu lượng dòng chảy bình quân lớn nhất 1.460 m3/s, lưu lượng bình quân dòng chảy nhỏ nhất 145 m3/s; sông Phó Đáy phần lớn nằm trên địa bàn tỉnh, lưu lượng bình quân dòng chảy lớn nhất 970 m3/s, lưu lượng bình quân dòng chảy nhỏ nhất 2,9 m3/s; hệ thống sông Phan và sông Cà Lồ nằm trên địa bàn tỉnh với chiều dài là 82 km, lưu lượng bình quân dòng chảy lớn nhất 220
m3/s, lưu lượng bình quân dòng chảy nhỏ nhất 0,64 m3/s Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh còn có khoảng 184 hồ chứa nước, tổng dung tích 79,12 triệu m3; các đầm pha hồ, ao tự nhiên, tổng dung tích khoảng 26,4 triệu m3
; và trữ lượng nước các sông, suối, khe lạch nhỏ khoảng 5,5 triệu m3
Tài nguyên nước dưới đất: Tài nguyên nước dưới đất ở tỉnh ta tương đối dồi dào nhưng phân bố không đều và có giới hạn Năm 2000, qua tổng hợp, tính toán từ các tài liệu điều tra tìm kiếm thăm dò, các nhà địa chất thuỷ văn đã đánh giá được trữ lượng tự nhiên (trữ lượng động và trữ lượng tĩnh) ở các huyện đồng bằng trên địa bàn tỉnh khoảng gần 85,8 triệu m3, trữ lượng động tự nhiên ở các huyện miền núi khoảng 238.282 m3
/ngày đêm, và trữ lượng động tự nhiên ở các huyện đồng bằng khoảng 276.910 m3/ngày đêm Tổng trữ lượng khai thác tiềm năng của toàn tỉnh khoảng 2,12 triệu m3/ngày đêm và có sự phân bố nguồn nước ngầm không đồng đều theo khu vực Đây
là nguồn tài nguyên rất quý cần phải được quản lý chặt chẽ, nhằm khai thác
sử dụng một cách hợp lý, có hiệu quả, chống suy thoái cạn kiệt và ô nhiễm nguồn nước dưới đất
Về tài nguyên nước mưa: Với lượng mưa trung bình 1.600 mm/năm thì hàng năm tỉnh ta có khoảng 21.936 ngàn m3 nước mưa; mưa phân bố không đồng đều, ở các xã trung du miền núi phía bắc của tỉnh có lượng mưa nhiều hơn ở các xã đồng bằng Đây cũng là một khối lượng nước khổng lồ, là nguồn lợi để phát triển nông nghiệp của tỉnh nhà Tuy nhiên, do mưa phân bố không đồng đều theo khu vực và theo mùa nên thường gây ra úng lụt cục bộ và trên
Trang 26diện rộng, gây ra không ít những tác hại đến năng suất cây trồng, vật nuôi và nhiều ngành kinh tế khác
Những hoạt động của đời sống con người đã tác động mạnh mẽ đến các quá trình trong chu trình thuỷ văn, gây nên những ảnh hưởng có lợi cũng như bất lợi tới số lượng và chất lượng tài nguyên nước Nhu cầu dùng nước ngày càng tăng cao trong sinh hoạt và phát triển kinh tế - xã hội, cùng với sự biến đổi thất thường của khí hậu toàn cầu đã làm cho tài nguyên nước ngày càng bị tác động theo chiều hướng xấu đi cả về chất và lượng Do đó, công tác quản
lý tài nguyên nước để đảm bảo an ninh về nước cho phát triển kinh tế - xã hội bền vững đang là một vấn đề nóng bỏng trên khắp thế giới cũng như ở nước
ta, tỉnh ta hiện nay [16]
2.3 Hậu quả của việc khan hiếm và ô nhiễm nguồn nước
Nguồn nước khan hiếm và ô nhiễm kéo theo hậu quả về bệnh tật: Theo giám đốc điều hành Unicef, bà AnnH, Veneman cho biết: “cứ 15 giây lại có một trẻ em, tử vong bởi các bệnh do nước không sạch, và nước không sạch là thủ phạm của hầu hết các bệnh và nạn suy dinh dưỡng trên toàn cầu”
Trẻ em là đối tượng phải trả giá cao nhất cho một thế giới vệ sinh, nơi
có 1 tỷ người phải vật lộn với cuộc sống không có nước sạch và cứ 3 người là
có 1 ngưòi là không có một nhà vệ sinh đơn giản để sử dụng Trẻ em dưới 5 tuổi dễ bị mắc bệnh tiêu chảy nhất và căn bệnh này đã gây tử vong cho 4.500 trẻ em mỗi ngày (tiêu chảy là nguyên nhân gây tử vong cao thứ hai ở trẻ dưới
5 tuổi) Và số trẻ em bị em nguy hiểm đến tính mạng do căn bệnh này lớn hơn gấp nhiều lần Theo báo cáo của WHO, hiện nay, nạn thiếu nước và ô nhiễm môi trường tác động đến hơn 1 tỷ người dân trên thế giới Mỗi năm hành tinh chúng ta có hơn 3 triệu người chết vì các căn bệnh liên quan đến nước.Tuy nhiên, WHO cho rằng ngay cả khi nước trở thành một vấn đề nóng bỏng ở một số nơi thì vẫn có nhiều quốc gia trên thế giới có rất nhiều nước Có điều,
Trang 27nước này thường không an toàn trong thực tế, 90% trường hợp tử vong do mắc các bệnh liên quan đến nước là xuất phát từ việc dùng nước ô nhiễm
Sự thiếu hụt nước ngày càng trầm trọng đã làm nảy sinh nhiều vấn đề đối với thế giới Về mặt địa lý, chính trị, nước là nguyên nhân chính dẫn đến các cuộc đối đầu giữa nhiều quốc gia, chẳng hạn giữa Thổ Nhĩ Kỳ Syria và Irac để tranh giành nguồn nước hai con sông Syrdaria và AmorDaria, giữa Isracerl, Palestine, Syria để tranh giành nguồn nước sông Jourdania, giữa Ai Cập và Soudan để tranh giành nguồn nước sông Nil… Về mặt sinh thái thì làm sao xử lý các nguồn nước bị nhiễm bẩn do chính con người tạo ra Việc phân chia nguồn nước không đồng đều cũng gây căng thẳng giữa nhiều quốc gia, Liên Hiệp Quốc đã cảnh báo có đến 300 điểm nóng trên thế giới có nguy
cơ xảy ra tranh chấp Quân sự liên quan đến việc phân chia nguồn nước Theo ông Janos Bogardi, người phụ trách các chương trình thủy lợi của Liên Hiệp Quốc, cuộc chiến tranh giành nguồn nước xảy ra cách đây 4.500 năm Nếu cộng đồng quốc tế mà đại diện là liên hợp quốc không sớm ban hành một quy định về quản lý và phân chia nguồn nước trong khi nhu cầu sử dụng ngày càng tăng và nạn thiếu nước trở nên trầm trọng hơn thì chắc hẳn trong tương lai gần sẽ xẩy ra nhiều cuộc chiến tranh liên quan đến tranh giành nguồn nước trên thế giới
Ở Việt Nam, có tài nguyên nước thuộc loại trung bình trên thế giới, song ẩn chứa nhiều yếu tố kém bền vững Nếu chỉ xét lượng nước trên lưu vực sông vào mùa khô thì nước ta thuộc vào vùng phải đối mặt với tình trạng thiếu nước, một số khu vực như Đông Nam Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên thuộc loại khan hiếm nước Tổng trữ lượng nước mặt của Việt Nam khoảng 830-840 tỷ m3, trong đó khoảng 63% lượng nước là từ nước ngoài chảy vào nước ta Tình trạng suy kiệt nguồn nước trong hệ thống sông, hạ lưu các hồ chứa trên cả nước và nước dưới đất ở nhiều vùng đang diễn ra ngày càng
Trang 28nghiêm trọng Ngoài nguyên nhân khách quan do diễn biến theo quy luật tự nhiên của tài nguyên nước, do điều kiện khí hậu, thủy văn, do tác động của biến đổi khí hậu, còn do tác động của con người, như khai thác quá mức, sử dụng lãng phí, gây ô nhiễm Nước sạch đang ngày một khan hiếm An ninh
về nước cho đời sống và phát triển kinh tế một cách bền vững và bảo vệ môi trường đã và đang không được bảo đảm ở nhiều nơi
Việc khai thác, sử dụng nước tại các quốc gia ở thượng nguồn các sông
đã có tác động lớn đến Việt Nam Gần đây, ở thượng nguồn các sông Đà, sông Thao, sông Lô phần lưu vực thuộc Trung Quốc, việc xây dựng nhiều hồ chứa thủy điện (7 hồ chứa trên thượng nguồn sông Đà, 8 hồ chứa trên sông Lô
- sông Gâm và một số hồ chứa lớn ở sông Thao) đã gây những biến động phi
tự nhiên, làm suy giảm, cạn kiệt nguồn nước, ảnh hưởng bất lợi tới nguồn nước chảy về Việt Nam Tình hình tương tự cũng đang diễn ra trên dòng chính sông Mêkông, gây những quan ngại lớn cho các nước ở hạ du
Để bảo đảm sự bền vững về tài nguyên nước, mức khai thác không được vượt ngưỡng 30% nguồn nước, nhưng ở hầu hết các lưu vực sông ở miền Trung, miền Đông Nam Bộ và Tây Nguyên đã và đang khai thác trên 30-50% lượng dòng chảy, ở Ninh Thuận còn khai thác tới 70-80% nguồn nước Việc khai thác quá mức nguồn nước, đặc biệt là việc xây dựng các công trình hồ chứa thủy lợi, nhất là thủy điện kiểu đường dẫn, kiểu các công trình đập chặn hoàn toàn dòng chảy sông với việc quy hoạch, xây dựng và quản lý vận hành bất hợp lý cũng là nguyên nhân làm suy giảm rõ rệt số lượng và chất lượng nước trên các lưu vực sông lớn như: sông Hồng, sông Đồng Nai - sông Sài Gòn, sông Vu Gia - sông Thu Bồn, sông Ba, sông Srepok… và trên nhiều sông vừa và nhỏ khác Do tập quán, thói quen sản xuất, canh tác nông nghiệp
sử dụng nhiều nước, lại thiếu các biện pháp hợp lý giữ, trữ nước trong mùa mưa lũ để dùng dần trong mùa khô nên thường xuyên phải đối phó với tình
Trang 29trạng thiếu nước vào mùa khô ở nhiều nơi, có khi trên phạm vi cả nước Việc
sử dụng nước thiếu quy hoạch, chưa hiệu quả, chưa hợp lý, chưa tiết kiệm trong khi nhu cầu dùng nước ngày một tăng nhanh do phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời với việc xả nước thải, chất thải gây ô nhiễm các nguồn nước càng làm giảm rõ rệt khả năng đáp ứng nhu cầu nước sạch vào mùa khô
Chưa bao giờ tài nguyên nước lại trở nên quý hiếm như mấy năm gần đây khi nhiều dòng sông bị suy thoái, nước trong các ao, hồ cạn kiệt vào mùa khô; nhiều con sông, đoạn sông đang “chết” dần vì ô nhiễm, cạn kiệt ở hạ lưu sông do các công trình thủy điện, thủy lợi trong khi nguồn nước ngầm ngày càng suy giảm do khai thác quá mức, buông lỏng quản lý
2.4 Vai trò của nước đối với đời sống và sản xuất
Nước là mội dạng tài nguyên đặc biệt, là một trong các nhân tố quyết định sự sống trên trái đất Nhà triết học Hy Lạp cổ đại Emepdocles(490 - 430 TCN) cho rằng có bốn yếu tố khởi nguyên cấu tạo nên mọi vật là khí trời, nước, lửa, và đất Các nền văn minh lớn của nhân loại cũng đều nảy nở trên các dòng sông lớn - Văn minh Lưỡng Hà ở Tây Á, văn minh Ai Cập ở hạ lưu sông Nil, văn minh sông Hằng ở Ấn Độ, văn minh Hoàng Hà ở Trung Quốc, văn minh sông Hồng ở Việt Nam vv…
Nước là tài nguyên vật liệu quan trọng nhất của loài người và sinh vật trên trái đất Con người mỗi ngày cần 250 lít nước cho sinh hoạt, 1.500 lít nước cho hoạt động công nghiệp và 2.000 lít cho hoạt động nông nghiệp Nước chiếm 99% trọng lượng sinh vật sống trong môi trường nước và khoảng 70% trọng lượng cơ thể con người Lượng nước con người sử dụng trong một năm khoảng 35.000 km3, trong đó 8% cho sinh hoạt, 23% cho công nghiệp và 63% cho hoạt động nông nghiệp [18]
Đối với sự sống của con người và thiên nhiên, Nước tham gia thường xuyên vào các quá trình sinh hóa trong cơ thể sống Phần lớn của các phản
Trang 30ứng hóa học liên quan đến sự trao đổi chất trong cơ thể đều có dung môi là nước Nhờ có tính chất này mà nước đã trở thành tác nhân mang sự sống đến cho trái đất Đối với cơ thể sống, thì thiếu nước là một hiểm họa, thiếu ăn con người có thể sống được vài tuần, còn thiếu nước thì con người không thể sống nổi trong vài ngày Nhu cầu sinh lý của con người 1 ngày cần ít nhất 1,83 lít nước vào cơ thể và có thể nhiều hơn tùy theo cường độ lao động và tính chất của môi trường xung quanh
Nước cho nhu cầu sản xuất công nghiệp rất lớn Ðể sản xuất 1 tấn giấy cần 250 tấn nước, 1 tấn đạm cần 600 tấn nước và 1 tấn chất bột cần 1.000 tấn nước Nước dùng để làm nguội các động cơ, làm quay các tubin, là dung môi làm tan các hóa chất màu và các phản ứng hóa học Mỗi ngành công nghiêp, mỗi loại hình sản xuất và mỗi công nghệ yêu cầu một lượng nước, loại nước khác nhau Nước góp phần làm động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế Nếu không có nước thì chắc chắn toàn bộ các hệ thống sản xuất công nghiệp, nông nghiệp…trên hành tinh này đều ngừng hoạt động và không tồn tại
Trong sản xuất nông nghiệp, dân gian ta có câu: “Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”, qua đó chúng ta có thể thấy được tầm quan trọng hàng đầu của nước trong nông nghiệp Theo FAO, tưới nước và phân bón là hai yếu tố quyết định hàng đầu là nhu cầu thiết yếu, đồng thời còn có vai trò điều tiết các chế độ nhiệt, ánh sáng, chất dinh dưỡng, vi sinh vât, đô thoáng khí trong đất, làm cho tốc độ tăng sản lượng lương thực vượt qua tốc độ tăng dân số thế giới [19]
Hoạt động du lịch, giao thông vận tải cũng gắn liền với nguồn nước Nước không những được dùng để cung cấp cho sinh hoạt, ăn, uống, tắm, giặt… mà còn là môi trường tốt để phát triển các loại hình du lịch Giao thông đường thủy có vị trí đặc biệt quan trọng trong vận tải hàng hóa Từ xa xưa,
Trang 31hoạt động thương mại phát triển đều gắn với sự sầm uất, tấp nập của các thương cảng
Ngoài chức năng tham gia trực tiếp vào đời sống và sản xuất, nước còn mang nhiều chức năng khác như: là môi trường sống của các loài sinh vật thủy sinh - đó là nguồn tài nguyên khổng lồ của con người, là chất mang vật liệu và tác nhân điều hoà khí hậu, thực hiện các chu trình tuần hoàn vật chất trong tự nhiên, duy trì cân bằng sinh thái, chức năng đệm và điều hòa các chất độc hại.v.v Có thể nói sự sống của con người và mọi sinh vật trên trái đất phụ thuộc vào nước [18]