1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chẩn đoán phân tử trong chẩn đoán Lao

32 512 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 603,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chẩn đoán bệnh lao bằng các kỹ thuật sinh học phân tử như PCR, ELISA, REALTIME PCR, RTPCR. Bằng các kỹ thuật sinh học phân tử, chúng ta có thể chẩn đoán một cách chính xác nhất các bệnh lao và liên quan đến lao như lao xương, lao hạch, lao tủy. Tài liệu được áp dụng cho sinh viên chuyên ngành y dược, sinh học phân tử.

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ KHOA VẬT LÝ KỸ THUẬT & CÔNG NGHỆ NANO

Trang 3

MỤC LỤC

I MỞ ĐẦU

II TỔNG QUAN

1 Lịch sử về bệnh lao

2 Giới thiệu chi tiết về bệnh

3 Tác nhân và cơ chế gây bệnh

3.1 Giới thiệu về vi khuẩn Mycobacterium tuberculosis

3.2 Cơ chế gây bệnh

3.3 Lao kháng thuốc

4 Cấu trúc phân tử (gene) và các gen có ý nghĩa trong chẩn đoán

5 Vắc xin BCG và các công trình nghiên cứu

Trang 4

I MỞ ĐẦU

Lao là tình trạng nhiễm vi khuẩn Mycobacterium tuberculosis, thường

gặp nhất ở phổi nhưng cũng có thể ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương (lao màng não), hệ bạch huyết, hệ tuần hoàn (lao kê), hệ niệu dục, xương và khớp

Hiện nay lao là bệnh nhiễm khuẩn chính và thường gặp nhất, ảnh hưởng đến 2 tỉ người tức 1/3 dân số, với 9 triệu ca mới mỗi năm, gây 2 triệu người tử vong, hầu hết ở các nước đang phát triển

Hầu hết (90%) các trường hợp nhiễm khuẩn lao là tiềm ẩn không triệu chứng 10% những người này trong cuộc đời họ sẽ tiến triển thành bệnh lao có triệu chứng, và nếu không điều trị, nó sẽ giết 50% số nạn nhân Lao là một trong

3 bệnh truyền nhiễm gây tử vong cao nhất trên thế giới: HIV/AIDS giết 3 triệu người mỗi năm, lao giết 2 triệu, và sốt rét giết 1 triệu

Sự sao lãng trong các chương trình kiểm soát lao, sự bùng phát của đại dịch HIV/AIDS và việc di dân đã khiến lao trỗi dậy Các chủng lao kháng đa thuốc (MDR, multiple drug resistant) đang tăng Năm 1993, Tổ chức Y tế Thế giới tuyên bố tình trạng khẩn cấp toàn cầu đối với lao

Do đó, việc phát hiện và điều trị kịp thời đối với bệnh lao rất quan trọng Hiện nay, vi khuẩn lao được phát hiện bằng nhiều phương pháp khác nhau như xét nghiệm đờm (nhuộm Ziehl-Neelsen), xét nghiệm hình ảnh (X-quang), phản ứng tuberculin hay soi phế quản Tuy nhiên, những phương pháp này vẫn tồn tại một số mặt hạn chế của nó như tốn nhiều thời gian để chẩn đoán, cho kết quả có

độ chính xác không cao,… Ngày nay, với sự phát triển của các kỹ thuật sinh học phân tử sẽ giúp cho quá trình chẩn đoán vi khuẩn lao nhanh chóng và hiệu quả hơn Trong bài tiểu luận này tôi xin đề cập đến một số phương pháp chẩn đoán bệnh lao đang được sử dụng trong và ngoài nước

Trang 5

II TỔNG QUAN

1 Lịch sử bệnh Lao

Năm 1819, một người Pháp tên là René Laennec (1781-1826) phát minh

ra ống nghe, đăng lần đầu tiên trên báo chuyên luận về ống nghe bệnh Ông áp dụng phương pháp của mình cho căn bịnh đang gặm mòn ông để rồi 7 năm sau ông mất, lúc 45 tuổi: đó là bệnh lao Bịnh này do ông lỡ cắt trúng tay khi giải phẫu tử thi người chết vì bịnh lao để khám nghiệm

Bệnh lao được biết từ thời thượng cổ, có tên là "phtisie" (tiếng Hy Lạp phtio nghĩa là "tôi giết") Bệnh nổ ra tại Anh quốc giữa thế kỷ thứ 18, rồi lan tràn khắp Âu châu Đó là căn bệnh nghiêm trọng nhất của thế kỷ 19 đã ám ảnh các nhà văn và y sĩ Bệnh này thường thấy ở thanh niên, làm họ chết sau 18 tháng đến 2 năm Sự tác hại của nó rất lớn: mặc dù điều kiện sống có tốt hơn nghĩa là con người có sức chống bệnh cao hơn, nhưng năm 1900 nó là nguyên nhân của 12% số người chết ở nước Pháp

Cho dù bệnh lao có thể tấn công tất cả mọi cơ quan, từ màng não cho tới ruột non đi qua xương, thận, tử cung, thì bệnh lao phổi chiếm đến 80% Laennec

đã chứng minh tính riêng biệt của bệnh ở những giai đoạn khác nhau và phân biệt dạng lao phổi khác với những sự nhiễm trùng phổi khác

Những tác giả ở thế kỷ thứ 19 đã diễn tả chu kỳ của bệnh này: bệnh nhân

ốm yếu dần, thỉnh thoảng ho khan, khạc đờm, đổ mồ hôi rất nhiều về đêm, cảm thấy đau giữa vai và lồng ngực, rối loạn tiêu hóa và thân nhiệt lên ban đêm Khi khám phổi, y sĩ nghe thấy tiếng khô và ráp, tiếng ran nổ nhẹ, tiếng rắc Vài tháng sau, bắt đầu ho thường xuyên và đau Đờm màu xanh với những mảnh đặc trắng Bệnh nhân ói mửa, ăn mất ngon, sốt Tiêu chảy làm bệnh nhân càng yếu hơn Ống nghe bệnh bằng một dụng cụ quí báu mới phát minh, nghe phổi truyền tiếng òng ọc như từ "bình bị rạn nứt" hay tiếng ồ ồ từ "đáy hang" (theo lời của Laennec)

Trang 6

Trong pha đầu, khi khám nghiệm tử thi, ông thấy thấy những hột nửa trong nửa đục nhỏ bằng hột kê cho tới lớn bằng hột đậu tràn lan trong phổi Sau

đó những hột nào trở thành mềm thì đổi ra màu trăng trắng, như "một viên phó mát bị ngón tay đè nát" Chính thứ này bắt bệnh nhân khạc một cách khó nhọc Bên cạnh các hột này là những lỗ hổng lớn cỡ hột hạnh nhân có khi to bằng nắm tay có chứa hoặc không chứa một chất lỏng Phổi bị tàn phá, không thể chứa đầy không khí

Trong suốt một thế kỷ, gánh nặng này qui tụ quanh nó nhiều ảo giác Vào năm 1840, đó là căn bệnh lãng mạn, yếu ớt nhưng tỉnh táo Sau đó đến triều đại Napoléon, người ta tưởng rằng đó là bệnh của những tinh hoa, từ Aiglon, con trai của Napoléon đệ nhất cho tới Chopin và nhất là bệnh của bà Beaumont do Chateaubriand miêu tả cho tới bà Marie Duplessis, mẫu đàn bà Trà hoa nữ

(Dame aux Camélias) của Alexandre Dumas fils (1824-1895) và Traviata của Juiseppe Verdi (1813-1901)

Vào cuối thế kỷ thì họ khám phá ra rằng chính những người nghèo mới bị lao nhiều nhất Những nhà đạo đức học cho rằng bệnh này xảy ra cho những người nghiện rượu hoặc có cuộc sống thác loạn Họ cho rằng thành phố là nơi gom tụ những sự xấu xa nên đã sinh ra căn bệnh ác hại này Nhưng nó không chừa ngay cả tận cùng thôn quê

Từ năm 1865 người ta mới biết bệnh lao truyền nhiễm Giới trưởng giả hốt hoảng, đuổi ngay người hầu khi thấy họ bắt đầu ho

Các nghiệp đoàn khám phá rằng gánh nặng này do cảnh nghèo và sự bóc lột: năm 1901, Ferdinand Pelloutier nhấn mạnh là bệnh phtisie giết gấp 4 lần những người ở quận 15, lúc đó là quận nghèo, hơn là khu Opéra

Mặc dù có những tiến bộ thực tiễn về hiểu biết ăn bệnh, nhưng các y sĩ vẫn chưa có khí giới Để chữa trị , họ chữa trị người giàu có bằng cách khuyên

họ ăn uống tẩm bổ, nghỉ ngơi, hít thở gió biển, tới Madère, Naples hay đến miền Nam nước Pháp

Trang 7

Đến giữa thế kỷ, Hermann Brehmer và Peter Dettweiler chế ra

sanatorium, kéo người bệnh ra khỏi thế giới trong kéo dài cho tới hàng năm và gây cảm hứng sáng tác văn chương nơi đó có quyển tiểu thuyết của Thomas Mann La montagne magique (Núi thần diệu)

Năm 1884, hy vọng lớn lao đã đến khi nhà khoa học Đức Robert Koch (1843-1910) khám phá ra trực khuẩn bệnh lao Tuy nhiên phải đợi dến năm

1921 hai nhà bác học Albert Calmette (1863-1933) và Camille Guérin 1961) cô lập được trực khuẩn vô hại, nghĩa là sự chủng ngừa, thuốc chủng

(1872-B.C.G (Baccillus Calmette Guérin)

Lúc đầu người ta chỉ chủng ngừa bệnh, sau đó phổ biến rộng rãi và cuối cùng hầu hết một nước đều bắt buộc phải chủng ngừa bệnh lao Tuy nhiên

những người đã bịnh vẫn chưa có thuốc chữa cho đến thời kỳ Thế giới Chiến tranh lần thứ Hai, các loại thuốc trị được chế tạo có hiệu nghiệm như

streptomycine, isoniazide hay rimifon

Trong những năm 50, bệnh lao đã được đẩy lùi trong những nước kỹ nghệ hóa Các nhà điều dưỡng vắng dần Con người đã quên đi sự sợ hãi khi nghe tên bệnh Tuy nhiên bệnh lao vẫn tiếp tục hoành hành nhất là tại các nước thuộc thế giới thứ ba mà mỗi năm giết khoảng 2-3 triệu người

2 Giới thiệu chi tiết về bệnh Lao

Lao là tình trạng nhiễm vi khuẩn Mycobacterium tuberculosis, thường

gặp nhất ở phổi nhưng cũng có thể ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương (lao màng não), hệ bạch huyết, hệ tuần hoàn (lao kê), hệ niệu dục, xương và khớp

Hiện nay lao là bệnh nhiễm khuẩn chính và thường gặp nhất, ảnh hưởng đến 2 tỉ người tức 1/3 dân số, với 9 triệu ca mới mỗi năm, gây 2 triệu người tử vong, hầu hết ở các nước đang phát triển

Hầu hết (90%) các trường hợp nhiễm khuẩn lao là tiềm ẩn không triệu chứng 10% những người này trong cuộc đời họ sẽ tiến triển thành bệnh lao có

Trang 8

triệu chứng, và nếu không điều trị, nó sẽ giết 50% số nạn nhân Lao là một trong

3 bệnh truyền nhiễm gây tử vong cao nhất trên thế giới: HIV/AIDS giết 3 triệu người mỗi năm, lao giết 2 triệu, và sốt rét giết 1 triệu

Lao lan truyền qua các giọt nước trong không khí từ chất tiết khi ho, nhảy mũi, nói chuyện hay khạc nhổ của người nhiễm vi khuẩn hoạt động Tiếp xúc gần gũi (kéo dài, thường xuyên, thân mật) là nguy cơ nhiễm bệnh cao nhất

(khoảng 22%, nhưng có thể đến 100%) Người mắc lao hoạt động không điều trị

có thể lây sang 20 người khác mỗi năm Các nguy cơ khác bao gồm ra đời ở vùng lao phổ biến, bệnh nhân rối loạn miễn dịch (như HIV/AIDS), cư dân hoặc làm việc ở nơi đông người nguy cơ cao, nhân viên chăm sóc sức khoẻ phục vụ đối tượng có nguy cơ cao, nơi thu nhập kém, thiếu vắng dịch vụ y tế, dân thiểu

số nguy cơ cao, trẻ em phơi nhiễm với người lớn thuộc nhóm nguy cơ cao, người tiêm chích ma tuý

Lây truyền chỉ xảy ra ở người mắc bệnh lao hoạt động (không phải lao tiềm ẩn) Khả năng lây truyền phụ thuộc vào mức độ nhiễm khuẩn của người mắc lao (số lượng tống xuất), môi trường phơi nhiễm, thời gian phơi nhiễm

và độc lực của vi khuẩn

Đờm của người bệnh là nguồn lây quan trọng nhất Người bệnh ho, nói, khạc, tạo ra những hạt nước bọt rất nhỏ chứa đầy vi khuẩn lao bay lơ lửng trong không khí (Nói : 200, Ho : 3.500, Hắt xì hơi : 4.500 – 1.000.000) Người ta có thể hít phải những hạt này vào phổi và mắc bệnh Những bệnh nhân trong đờm

có vi trùng lao lây nhiều hơn Vi trùng lao có thể gây bệnh ở tất cả các bộ phận trong cơ thể Người nhiễm lao có thể trở thành bệnh lao, tỷ lệ từ nhiễm lao

chuyển thành mắc lao là 10% trong đời người, cao nhất trong 24 tháng.( HIV+ 10% năm) Những người sống gần bệnh nhân, nguy cơ lây bệnh càng cao

Chuỗi lây truyền có thể được chấm dứt bằng cách cách ly người bệnh ở giai đoạn bệnh hoạt động và áp dụng biện pháp điều trị kháng lao hữu hiệu

Trang 9

Mycobacteria lây nhiễm lên nhiều động vật khác, bao gồm cả chim, động vật gặm nhấm, và bò sát. Phân loài của loài Mycobacterium tuberculosis, dường

như hiếm khi có mặt trên các loài động vật hoang dã Một nỗ lực để diệt trừ

bệnh lao bò do Mycobacterium bovis trên các đàn gia súc và nai của New

Zealand đã tương đối thành công Những nỗ lực như thế ở Anh thì ít thành công hơn

3 Tác nhân và cơ chế gây bệnh

3.1 Tác nhân gây bệnh

3.1.1 Vi khuẩn M Tuberculosis

Tác nhân gây bệnh lao, Mycobacterium tuberculosis (MTB), là vi

khuẩn hiếu khí Vi khuẩn này phân chia mỗi 16 đến 20 giờ, rất chậm so với thời gian phân chia tính bằng phút của các vi khuẩn khác (trong số các vi khuẩn phân

chia nhanh nhất là một chủng E coli, có thể phân chia mỗi 20 phút) MTB

không được phân loại Gram dương hay Gram âm vì chúng không có đặc tính hoá học này, mặc dù thành tế bào có chứa peptidoglycan Trên mẫu nhuộm Gram, nó nhuộm Gram dương rất yếu hoặc là không biểu hiện gì cả Trực khuẩn lao có hình dạng giống que nhỏ, có thể chịu đựng được chất sát khuẩn yếu và sống sót trong trạng thái khô trong nhiều tuần nhưng, trong điều kiện tự nhiên,

chỉ có thể phát triển trong sinh vật ký chủ (cấy M tuberculosis in vitro cần thời

gian dài để lấy có kết quả, nhưng ngày nay là công việc bình thường ở phòng xét nghiệm)

Trực khuẩn lao được xác định dưới kính hiển vi bằng đặc tính nhuộm của nó: nó vẫn giữ màu nhuộm sau khi bị xử lý với dung dịch acid, vì vậy nó được

phân loại là "trực khuẩn kháng acid" (acid-fast bacillus, viết tắt là AFB) Với kỹ

thuật nhuộm thông thường nhất là nhuộm Ziehl-Neelsen, AFB có màu đỏ tươi nổi bật trên nền xanh Trực khuẩn kháng acid cũng có thể được xem bằng kính hiển vi huỳnh quang và phép nhuộm auramine-rhodamine

Trang 10

Phức hợp M tuberculosis gồm 3 loài mycobacterium khác có khả năng gây lao: M bovis, M africanum và M microti Hai loài đầu rất hiếm gây bệnh

và loài thứ 3 không gây bệnh ở người.

Hình 1 : Vi khuẩn M tuberculosis (Nguồn : benhlao.net)

3.1.2 Cấu tạo vi khuẩn M Tuberculosis

Trực khuẩn lao gồm có các thành phần:

 Lipit ( lớp sáp): Chiếm 40% trọng lượng khô, các chất lipit có mối liên hệ chặt chẽ với cấu trúc vách tế bào làm cho vi khuẩn có tính kháng acid Đây là đặc điểm cấu tạo của trực khuẩn lao khác với các vi khuẩn khác Lớp sáp đã được phân tích có nhiều yếu tố, có yếu tố gây bệnh tích, có yếu tố chỉ mang tính kháng nguyên

 Các thành phần khác như protein, polysaccharide Vi khuẩn có nhiều yếu

tố sợi ở vách và chất nguyên sinh gây bệnh.Trên thân vi khuẩn lao có những hạt nhiễm sắc không đều, những hạt đó có tên là hạt Much Trước

Trang 11

đây người ta cho rằng những hạt Much có vai trò trong việc sinh sản ra các vi khuẩn mới Sau đó hạt Much đã được xác định chỉ là những điểm nguyên sinh chất có cấu tạo khác nhau nên bắt màu khác nhau mà không

có vai trò trong sinh sản

Hình 2 : Cấu trúc vách tế bào vi khuẩn

(1) Lớp lipid bên ngoài

mannoside(8) Lớp khung vách tế bào

Cấu trúc vách tế bào và acide mycolic đem lại nhiều chức năng cho vi khuẩn lao, giúp vi khuẩn có sức chịu đựng cao, làm tăng kháng thuốc do làm hư hại các hoá chất, khử nước và ngăn chặn hiệu quả hoạt động của kháng sinh Nó

Trang 12

làm cho vi khuẩn phát triển được bên trong đại thực bào và ẩn tránh hệ thống miễn dịch của chủ thể Và đặc biệt làm cho sức đề kháng của chúng rất mạnh đối với môi trường bên ngoài khi chúng ra ngoại cảnh.

3.2 Cơ chế gây bệnh

3.2.1 Cơ chế sinh bệnh lao tiêt phát

Trong lao tiên phát, cơ thể đáp ứng với trực khuẩn lao qua 2 quá trình:

 Quá trình đáp ứng không đặc hiệu

 Quá trình đáp ứng đặc hiệu

Đặc điểm lao tiên phát

 Mẫn cảm tổ chức cao

 Hay có tổn thương ở hạch rốn phổi, hạch trung thất

 Xăng sơ nhiễm thường ở 2/3 dưới phổi

 Tổn thương là viêm xuất tiết và hoại tử bã đậu, rất hiếm có nhuyễn hoá thành hang

 Lan tràn chủ yếu theo đường máu và bạch huyết

 Ít dấu hiệu lâm sàng

 Đa số tiến triển tốt và khỏi, khi khỏi để lại vôi hoá

3.2.1.1 Quá trình đáp ứng không đặc hiệu

Còn gọi là thời kỳ tiền dị ứng Thời kỳ này kéo dài 2-8 tuần Trực khuẩn lao vào cơ thể qua các nhân nước bọt, đến phế nang gây nên phản ứng viêm xuất tiết fibrin, bạch cầu Lúc này cơ thể chưa có dị ứng với lao, do đó đáp ứng của

cơ thể là một phản ứng viêm không đặc hiệu Đám viêm phế nang này gọi là xăng sơ nhiễm Đại thực bào nuốt trực khuẩn lao nhưng không tiêu diệt được chúng nên trực khuẩn lao vẫn tiếp tục sinh sản Đại thực bào di chuyển theo đường bạch huyết về hạch rốn phổi, đem cả trực khuẩn lao về hạch rốn phổi, gây

Trang 13

viêm hạch rốn phổi cùng bên Đường bạch huyết cũng bị viêm theo cơ chế như vậy 3 yếu tố: xăng sơ nhiễm, viêm đường bạch huyết, và việm hạch rốn phổi cùng bên, tạo thành phức bộ sơ nhiễm

Khi di chuyển theo đường bạch huyết, một số trực khuẩn lao lọt vào dòng máu, đa số chúng bị tiêu diệt, chỉ một số ít sống sót được nằm lại ở những nơi có phân áp Oxy cao (đỉnh phổi , khớp, thận) Lúc này nếu sức đề kháng của cơ thể giảm, trực khuẩn gây bệnh và tạo nên những huyệt lao lan tràn Sự lan tràn trực khuẩn lao thời kỳ này, gọi là lan tràn sớm (lan tràn tiền dị ứng) Phản ứng

Mantoux âm tính

3.2.1.2 Quá trình đáp ứng đặc hiệu

Sau 2-8 tuần lễ, cơ thể bắt đầu sản xuất ra kháng thể và các tế bào miễn dịch (Lympho bào T, DTH) hình thành miễn dịch và dị ứng lao Phản ứng

Mantoux dương tính Miễn dịch xuất hiện Nếu sức đề kháng tốt sẽ làm ngừng

sự lan tràn của trực khuẩn lao và gây hoại tử bã đậu, tạo nên môi trường có hại cho trực khuẩn lao, đa số chúng bị chết Sau đó tổn thương hấp thu đi, chỗ hoại

tử lắng đọng canxi và hình thành vôi hoá Nếu sức đề kháng không tốt, trực khuẩn lan tràn và chuyển thành lao hậu tiên phát Nếu sức đề kháng không diệt được hết trực khuẩn, một số chúng không hoạt động gọi là trực khuẩn lao “ngủ“, sau này gặp điều kiện thuận lợi sẽ "thức dậy" hoạt động và thành lao hậu tiên phát

Đáp ứng miễn dịch của cơ thể đối với trực khuẩn lao là CMI (miễn dịch qua trung gian tế bào) còn miễn dịch dịch thể chỉ có vai trò phụ CMI diệt chúng nhờ Lympho Th1 và đại thực bào, thông qua điều hoà miễn dịch Đại thực bào được hoạt hoá bởi IFN g (Inles feron g) và các Cytokin khác để diệt trực khuẩn lao LymphoT CD4 giữ vai trò nhạc trưởng trong đáp ứng miễn dịch tế bào Tăng cảm muộn (DTH) là biểu hiện do sự tương tác giữa CMI và trực khuẩn lao xác định bằng test Tuberculin (phản ứng Mantoux)

Trang 14

3.2.2 Cơ chế lao hậu tiên phát

Đặc điểm lao hậu tiên phát

 Đã có miễn dịch chống lao một phần, phản ứng Mantoux dương tính từ trước

 Tổn thương xuất tiết tăng sinh Nhiều xơ hoá, hay có hoại tử bã đậu hiếm viêm hạch rốn phổi

 Nhiều triệu chứng lâm sàng

 Thường khu trú ở thuỳ trên và phân thuỳ 6 của thuỳ dưới

3.2.2.1 Lao tiên phát tiến thẳng sang lao hậu tiên phát

Do sức đề kháng của cơ thể giảm, trực khuẩn lao tiếp tục sinh sản, lan tràn và phát triển thành lao hậu tiên phát ngay trong thời kỳ lao hậu tiên phát Cơ chế này hay gặp ở người đồng nhiễm lao / AIDS, do LymphoT CD4 giảm nhiều

3.2.2.2 Tái hoạt động nội tại

Là cơ chế chủ yếu, BK nằm “ngủ" từ những tổn thương sơ nhiễm cũ, nay

do điều kiện thuận lợi, sức đề kháng cơ thể giảm, trự khuẩn lao “thức dậy" hoạt động, sinh sản, phát triển thành lao hậu tiên phát Thời gian tái hoạt động nội lai,

có thể từ vài tháng đến vài chục năm

3.2.2.3 Tái nhiễm ngoại lai

Là mắc lao mới, sau khi lao sơ nhiễm đã khỏi, trực khuẩn lao mới xâm nhập vào cơ thể và gây bệnh, làm xuất hiện tổn thương lao mới Bằng kỹ thuật

Trang 15

RLFP (Restriction Rength Fragment Polymorphism: sự đa dạng chiều dài các mảnh DNA bằng men hạn chế) người ta xác định được vào khoảng 30% mắc lao theo cơ chế này.

3.3 Lao kháng thuốc

3.3.1 Khái niệm

Kháng thuốc là khả năng sống sót và sinh sản của các chủng vi khuẩn lao sau khi đã tiếp xúc với thuốc ở nồng độ có thể tiêu diệt hoặc ức chế vi khuẩn, chúng sinh sản và chuyển tiếp được đặc tính đó cho thế hệ sau

Bệnh lao kháng thuốc lần đầu tiên được xác định trong năm 2006 Bệnh được phát hiện ở 57 quốc gia và gây khó khăn điều trị Bệnh lao kháng thuốc phổ biến ở Đông Âu , Liên Xô cũ, Trung Quốc và Ấn Độ và đang tăng lên ở Châu Phi

Bệnh lao kháng thuốc là trường hợp bệnh nhân lao phổi mang vi khuẩn lao kháng với một hoặc nhiều loại thuốc chống lao

 Kháng thuốc tiên phát (primary resistance): là những chủng M

tuberculosis kháng thuốc xuất hiện ở bệnh nhân không có tiền sử điều trị

thuốc lao (hoặc thời gian điều trị ít hơn một tháng)

 Kháng thuốc mắc phải (acquired resistance): là những chủng M

tuberculosis kháng thuốc xuất hiện ở bệnh nhân có tiền sử đã điều trị

thuốc lao với thời gian từ một tháng hoặc hơn

 Kháng đa thuốc (multidrug resistance): Là hiện tượng vi khuẩn lao kháng đồng thời tối thiểu hai thuốc INH và RMP Đây là 2 thuốc có hiệu lực tiêu diệt vi khuẩn lao mạnh nhất trong số các thuốc chống lao hiện nay

 Kháng đa thuốc mở rộng (Extensively drug resistance - KĐTMR): là các trường hợp BLKĐT có kháng với bất kỳ thuốc fluoroquinolone nào (dạng thuốc tiêm hay uống) và kháng ít nhất một trong 3 thuốc hàng hai có thể tiêm được (capreomycin, kanamycin, và amikacin)

Trang 16

3.3.2 Cơ chế kháng thuốc của vi khuẩn lao

Kháng thuốc có thể là một đặc tính của một loài nguyên vẹn hoặc do đột biến gen mắc phải hoặc do vận chuyển gen Gen kháng thuốc nằm trên nhiễm sắc thể của vi khuẩn và di truyền cho thế hệ sau Hiện nay người ta đã xác định được bản đồ gen và nhiều mã gen kháng thuốc của vi khuẩn lao Gen kháng thuốc mã hoá thông tin từ đó vi sinh vật sử dụng để chống lại hiệu lực ức chế đặc hiệu của kháng sinh theo các cơ chế sau đây

 Làm giảm tính thấm của màng nguyên tương

4 Cấu trúc phân tử (gene) và gene có ý nghĩa trong chẩn đoán

Bộ gen của vi khuẩn lao đã được giải trình tự vào năm 1998, có chiều dài

4411522 bp trong đó có 3924 bp trình tự được dự đoán mã hóa cho protein, tỉ lệ G+C chiếm đến 65,6% Bộ gen của của vi khuẩn lao có tới 90,8% trình tự mã hóa protein và chỉ có 6 gen giả

Ngày đăng: 12/01/2016, 16:19

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1 : Vi khuẩn M. tuberculosis (Nguồn : benhlao.net) - Chẩn đoán phân tử trong chẩn đoán Lao
Hình 1 Vi khuẩn M. tuberculosis (Nguồn : benhlao.net) (Trang 10)
Hình 2 : Cấu trúc vách tế bào vi khuẩn - Chẩn đoán phân tử trong chẩn đoán Lao
Hình 2 Cấu trúc vách tế bào vi khuẩn (Trang 11)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w