Hiragana: Hiragana ひらがな、平仮名、ヒラガナ平仮名、平仮名、ヒラガナヒラガナ là một dạng văn tự biểu âm truyềnthống của tiếng Nhật, một thành phần của hệ thống chữ viết Nhật Bản.. Từ “katakana”
Trang 1Trường Đại học Hà NộiKhoa tiếng Nhật
TIỂU LUẬN MÔN PHƯƠNG PHÁP HỌC TẬP & NGHIÊN CỨU KHOA
HỌC
Tên đề tài: Phương pháp học tập tiếng Nhật
Nhóm Sinh viên: 1 Lê Thị Lan Hương
2 Nguyễn Đình Nam
3 Trần Phương Nhung
4 Cao Thị Duyên
5 Nguyễn Thị Phương
6 Lương Phương Hoàng Anh
7 Nguyễn Thùy Linh
Lớp:4NB-15
Giảng viên hướng dẫn:TS Hoàng Thị Liên
Hà Nội 2015
Trang 2MỤC LỤC
I ĐẶT VẤN ĐỀ:
1 Bối cảnh nghiên cứu
2 Tính cấp thiết của đề tài
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4 Đối tượng nghiên cứu
5 Phương pháp nghiên cứu
6 Ý nghĩa đề tài,đóng góp của tiểu luận
7 Kết cấu của bài tiểu luận
II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1 Nhập môn và ngữ pháp( trình độ cơ bản)
a 2 bảng chữ cái Hiragana và Katakana
a Vai trò của từ vựng
b Giới thiệu khái quát về từ vựng trong tiếng Nhật
c Thực trạng
d Nguyên nhân
e Giải pháp
f Tiểu kết
3 Thực hành các kĩ năng
A Kĩ năng Nghe
a Giới thiệu khái quát về kĩ năng
b Tầm quan trọng của kĩ năng
c Thực trạng của kĩ năng
d Nguyên nhân khó khăn
e Giải pháp
B Kĩ năng Nói
a Giới thiệu khái quát về kĩ năng
b Tầm quan trọng của kĩ năng
c Thực trạng của kĩ năng
d Nguyên nhân khó khăn
e Giải pháp
f Tiểu kết
Trang 3C Kĩ năng Đọc
a Giới thiệu khái quát về kĩ năng
b Tầm quan trọng của kĩ năng
c Thực trạng của kĩ năng
d Nguyên nhân khó khăn
e Giải pháp
f Tiểu kết
D Kĩ năng Viết
a Giới thiệu khái quát và tầm quan trọng của kĩ năng
b Thực trạng của kĩ năng
c Nguyên nhân khó khăn
d Giải pháp
e Tiểu kết
E Mối liên hệ giữa các kĩ năng
III KẾT LUẬN
IV TÀI LIỆU THAM KHẢO
V PHỤ LỤC
Trang 4I.ĐẶT VẤN ĐỀ:
1 Bối cảnh nghiên cứu:
Toàn cầu hóa đang là xu thế lớn tác động một cách trực tiếp sâu rộng tới cáclĩnh vực đời sống xã hội của các quốc gia Về bản chất, đây là quá trình tăng lên mạnh
mẽ của những mối liên hệ, những ảnh hưởng tác động lẫn nhau, phụ thuộc nhau của tấtcả các khu vực, các quốc gia, các dân tộc trên thế giới Quan hệ thương mại quốc tếnhanh chóng phát triển Các quốc gia đều ra sức điều chỉnh chiến lược phát triển chiếnlược phát triển và lấy kinh tế làm trọng điểm, cùng sự tăng cường hợp tác và tham giacác liên minh kinh tế khu vực và quốc tế Từ đó, có sự giao lưu văn hóa , đời sống vàđặc biệt là kinh tế giữa các nước trong khu vực và trên thế giới Với Việt Nam, đây làmột cơ hội lớn khi thu hút được nhiều cường quốc đầu tư cho nền kinh tế của nướcnhà.Một trong số đó là Nhật Bản
2 Tính cấp thiết của đề tài:
Trong sự nghiệp công nghiệp hóa-hiện đại hóa của đất nước ta hiện nay và trongthời đại bùng nổ thông tin trong bối cảnh toàn cầu Làm thế nào để có thể đi tắt, đónđầu, để con người Việt Nam có thể vươn lên tầm cao trí tuệ thế giới? Phải đầu tư, pháttriển giáo dục, phải biết ngoại ngữ.Ngoại ngữ có vai trò và vị trí quan trọng trong sựnghiệp giáo dục đào tạo và trong sự phát triển của đất nước Nói chung, không nhữngvì biết ngoại ngữ là yêu cầu tất yếu của lao động có kỹ thuật cao nhằm đáp ứng các quytrình công nghệ thường xuyên được đổi mới, mà biết ngoại ngữ còn là một năng lựccần thiết đối với người Việt Nam hiện đại.Để có thể tiếp cận tri thức thế giới, trước hếtlà phải giỏi ngoại ngữ nhằm nuôi dưỡng hiểu biết ngang tầm thời đại, mỗi người cầnphải thông thạo ít nhất là một ngoại ngữ, thành thạo chứ không phải hiểu biết sơ sài,chủ yếu chỉ nhằm ứng phó, lấy điểm trung bình để“qua ải” tại các kỳ thi như trình độcủa đa phần sinh viên tốt nghiệp đại học hoặc của một số viên chức nhằm hợp thứchóa bằng cấp tại Việt Nam.Có cầu thì hẳn sẽ có cung: khi người Nhật đến trao đổi,buôn bán , đàm phán với các công ti Việt, thậm chí hình thành các công ti liên minhViệt –Nhật, xã hội cần những người có vốn tiếng Nhật cao chuyên sâu đủ để cung cấpnguồn nhân lực cho hợp tác và phát triển Biết tiếng Nhật, bạn sẽ có khả năng làmphiên dịch, đi du lịch, tìm hiểu văn hóa và con người nơi đây hay có cơ hội đi duhọc.Trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin và sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóngnhư hiện nay ở nước ta, việc học ngoại ngữ thực sự trở nên cần thiết Nó không chỉ chophép chúng ta có nhiều cơ hội tìm kiếm việc làm hơn mà còn giúp ta bổ sung thêm vốnkiến thức văn hóa nhân loại, đóng góp quan trọng vào nhu cầu hội nhập, hợp tác giữanước ta với thế giới
Trang 53 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
a Mục đích:
- Tìm hiểu tình hình tự học của sinh viên khoa Ngôn ngữ Nhật Bản
- Tìm hiểu về những khó khăn trong học tập mà sinh viên năm gặp phải trongquá trình học
- Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao kết quả học tiếng Nhật đối với sinhviên
b Nhiệm vụ:
Làm rõ tầm quan trọng của tiếng Nhật trong thời kì hội nhập
4 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu trong bài là các phương pháp học tiếng Nhật dễ dàng và hiệuquả
5 Phương pháp nghiên cứu:
Để hiểu được các vấn đề , tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu như:
Lấy phương pháp duy vật biện chứng làm phương pháp chủ đạo
Phương pháp khảo sát thực tiễn
Phương pháp thống kê
Phương pháp so sánh đối chiếu
Phương pháp tổng hợp phân tích
6 Ý nghĩa đề tài, đóng góp của tiểu luận:
Đem lại cái nhìn khách quan và tổng hợp toàn diện về việc học Nhật ngữ, từ đógiúp các bạn sinh viên dễ dàng nhận ra các khó khăn trong việc học, và tìm được mộtphương pháp học phù hợp
7 Kết cấu của bài tiểu luận:
P1.Đặt vấn đề : Trong thời kì hội nhập, việc học tiếng Nhật là một điều cần thiết vàmang lại lợi ích to lớn
P2.Giải quyết vấn đề: Nêu ra những khó khăn về việc học tiếng Nhật và đưa ra giảipháp thiết thực về các vấn đề sau:
- Ngữ pháp
- Từ vựng
- Thực hành kĩ năng: Nghe, Nói, Đọc, Viết
P3.Kết thúc vấn đề: Học tập luôn là một việc khó khăn, vậy nên cần có một phươngpháp học đúng đắn để giúp ta tiết kiệm thời gian và sức lực
II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
Trang 61 NHẬP MÔN VÀ NGỮ PHÁP (TRÌNH ĐỘ CƠ BẢN)
a) 2 bảng chữ cái Hiragana và Katakana:
Khi bắt đầu với ngôn ngữ Nhật, điều đầu tiên bạn phải làm đó chính là học bảngchữ cái Tiếng Nhật áp dụng 3 bảng chữ cái đó là: Hiragana (Chữ mềm), Katakana(Chữ cứng) và Kanji (Hán tự) Ngoài ra còn có Romanji là chữ viết theo hệ Latinhđược phiên âm từ cách đọc của người Nhật
Hiragana:
Hiragana (ひらがな、平仮名、ヒラガナ平仮名、平仮名、ヒラガナヒラガナ) là một dạng văn tự biểu âm truyềnthống của tiếng Nhật, một thành phần của hệ thống chữ viết Nhật Bản Hiragana sửdụng hệ thống kana, có đặc điểm là mỗi ký tự biểu diễn một âm tiết Người Nhậtthường dạy bảng chữ cái này cho trẻ em đầu tiên và đây là bảng chữ cái được sử dụngkhá thông dụng Chủ yếu được sử dụng khi:là tiếp vị ngữ của động từ, hình dung từ,hình dung động từ; từ mô tả sự vật từ lâu, không có chữ Hán tương ứng Hiragana gồm
106 chữ cái, trong đó có 46 chữ cái chính, 25 chữ cái thêm dấu ‵‵ và ˚, 33 chữ kép và 2chữ cái đã được lược bỏ đó là wi (ゐ) và we (ゑ)
Katakana:
Katakana (カタカナ、平仮名、ヒラガナ片仮名、平仮名、ヒラガナかたかな) là một thành phần trong hệ thốngchữ viết truyền thống của Nhật Bản Từ “katakana” có nghĩa là “kana chắp vá”, do chữKatakana được hợp thành từ nhiều thành phần phức tạp của Kanji Katakana chủ yếuđược sử dụng để:phiên âm những từ có nguồn gốc ngoại lai;viết các từ tượngthanh;những từ ngữ trong khoa học - kỹ thuật;đôi khi được sử dụng để viết tên cáccông ty ở Nhật; biểu diễn cách đọc on’yomi của một từ kanji;dùng để viết những từkanji khó đọc
Phương pháp học thuộc 2 bảng chữ cái Hiragana và Katakana hiệu quả:
Nên học theo thứ tự sau: nhận dạng mặt chữ cách phát âm từng chữ cách viếtchữ ghép chữ thành từ để đọc Nên chăm chỉ học theo từng bước để có thể học nhanh,nhớ lâu
Học bảng chữ cái thông qua Flashcard: bốc ngẫu nhiên các lá để tự kiểm tra trínhớ của mình, xếp riêng các lá chưa thuộc và lại làm lại quy trình trên một lần nữa.Đây là một cách học thông dụng và hiệu quả có thể học cả Kanji Để trau dồi khả năngviết thì nên vừa học qua flashcard vừa viết chữ ra giấy
Viết đi viết lại nhiều lần:nhưng chỉ tốt trong việc viết và nhớ mặt chữ chứ khônggiúp người học nhớ lâu và nhanh, đồng thời khá tốn thời gian và công sức Để phươngpháp này hiệu quả hơn, người học nên tập viết một số từ dễ nhớ, vừa là phương phápđể nhớ được mặt chữ, vừa học được từ mới Đồng thời nên kết hợp nhiều giác quan:mắt nhìn, tay viết, miệng đọc, tai nghe để nhớ được lâu hơn
Trang 7 Học bảng chữ cái thông qua bài hát: khiến người học thích thú bằng cách tìmnhững bài hát tiếng Nhật dễ thuộc, sau đó hãy hát chúng bằng cách nhìn lời tiếng Nhậtvà tra cứu ở phần lời bài hát Không chỉ mang đến sự hứng khởi trong học tập, đồngthời luyện cả kỹ năng nghe và nói, phương pháp này còn giúp bạn đọc tốt hơn, tiếp thutừ mới nhanh hơn và hát hay hơn nữa đấy!
Hãy chăm chỉ học mọi lúc mọi nơi! Hãy giành tất cả thời gian để học tập bảngchữ cái VD: trong lúc nấu ăn, làm việc nhà, hay thậm chí là đang ngồi trên xe bus, Trong những lúc như vậy, các bạn hãy nghĩ về những chữ cái mà mình đã học, hìnhdung ra cách viết chúng như thế nào Hãy luôn luôn có bảng chữ cái trong tay! Đây làmột cách học tập vô cùng hiệu quả và hữu ích
b) Kanji: Kanji (漢字, かんじ) là chữ Hán dùng trong tiếng Nhật Kanji là một
trong 5 bộ kí tự được dùng trong hệ thống chữ viết tiếng Nhật hiện nay
Phân loại theo lịch sử, Kanji có thể được chia thành:
国字 (Kokuji - Quốc tự):
Trong khi một số chữ Hán trong tiếng Nhật và trong tiếng Trung có thể đọc qualại lẫn nhau, một số từ chữ kanji của tiếng Nhật không có chữ Hán tương đương trongtiếng Trung Ngoài những từ được dùng với nghĩa khác, những từ có cùng nghĩa nhưngviết khác, cũng có những từ riêng của tiếng Nhật được gọi là Kokuji (国 字 ) hoặcWasei Kanji (和製漢字), tức Kanji được chế ra tại Nhật VD: 畑 (hatake - cánh đồng),
辻 (tsuji - ngã tư đường), v.v
国訓 (Kokkun - Quốc huấn):
Là những chữ kanji có nghĩa trong tiếng Nhật khác với nghĩa nguyên thủy trongtiếng Trung VD: 沖 (oki - ngoài khơi, tiếng Trung: chōng - rửa), v.v
旧字体 (Kyuujitai) và 新字体 (Shinjitai):
Một số chữ Kanji trong tiếng Nhật có thể được viết theo 2 cách khác nhau: cáchviết cũ “Kyuujitai” (旧字体) và cách viết mới “Shinjitai” (新字体) VD: 國 và 国 (kuni
- quốc trong “quốc gia”), 號 và 号 (gō - hào, nghĩa là số, dấu hiệu), v.v
Âm đọc của Kanji được chia ra làm 2 nhánh chính đó là âm kun’yomi (âm đọc khi từ Kanji đứng một mình, thường do người Nhật sáng tạo ra) và âm on’yomi (âm đọc
khi từ Kanji kết hợp với các từ khác, được sáng tạo dựa theo âm tiếng Hán)
VD: Chữ 日(Nhật) có âm kun’yomi là “hi/bi” và âm on’yomi là “nichi/jitsu” nhưtrong 日曜日日曜日(nichiyōbi - ngày Chủ nhật),
Phương pháp học Kanji hiệu quả
Trang 8Kanji là một bảng chữ khá khó đối với người học tiếng Nhật ở mọi cấp độ Khôngchỉ khó viết do có nhiều nét, khó nhớ mặt chữ, Kanji còn có nhiều từ đồng âm - nhiều
âm đọc khác nhau cho một chữ và nhiều chữ có chung cách phát âm - gây bối rối chongười học Nhưng đừng vì vậy mà nản chí! Sau đây chúng tôi xin được gợi ý một sốphương pháp giúp người học Kanji tiếp thu tốt hơn:
Học Kanji theo thứ tự: luyện viết để nhớ cách viết của chữ Đặt chữ Kanji cầnhọc vào những từ, những câu ngắn để hiểu rõ cách sử dụng, âm kun’yomi và âmon’yomi của chữ
“Biến” Kanji thành những hình ảnh thân thuộc, gần gũi trong đời sống
Kanji là chữ tượng thanh tượng hình xuất phát từ cái nhìn thực tế về sự việc hiệntượng trong đời sống sau đó được viết lại thông qua trí tưởng tượng của họ Vì vậy hãytưởng tượng, so sánh, liên tưởng chữ Kanji với hình ảnh trong cuộc sống Sau khi thửcách này xong các bạn sẽ thấy trí tưởng tượng của bản thân mình và những người xaxưa ở Nhật Bản “bay cao bay xa” như thế nào
VD: Từ 月- Nguyệt (trăng) có thể được tưởng tượng như thế này:
Bằng cách này, việc ghi nhớ các chữ Kanji sẽ trở nên dễ dàng hơn rất nhiều!
Học thông qua flashcard
Tận dụng vốn hiểu biết về âm Hán Việt vào việc học Kanji
Bạn chắc chắn đã không còn xa lạ gì với những từ Hán Việt được sử dụng trong đờisống hàng ngày bởi Việt Nam đã có một bề dày lịch sử sử dụng chữ Hán Vậy sao lạikhông tận dụng vốn hiểu biết về từ vựng rất tự nhiên ấy nhỉ? Tận dụng được điều này,việc hiểu cách sử dụng của các chữ kanji sẽ trở nên dễ dàng hơn rất nhiều đấy!
VD: 品質 Hin Shitsu = Phẩm chất (trong đó có 品 (phẩm) và 質 (chất))
Học các bộ thủ chữ Hán:
Kanji hay chữ Hán là những chữ được ghép lại từ nhiều bộ phận Thuộc được cácbộ phận ấy, việc nhớ cách viết của chữ Hán sẽ dễ dàng và thú vị hơn rất nhiều Việcthuộc các bộ thủ trong chữ Hán rồi ghép chúng lại cũng dễ dàng hơn việc ghi nhớnhững chữ kanji nhiều nét một cách vô tổ chức và còn giúp người học hiểu hơn về ýnghĩa của chữ
VD1: Một số bộ
竹 trúc 米 mễ = gạo 糸 mịch = sợi chỉ 缶 phẫu = đồ đựng
羊 dương = con dê 羽 vũ = lông vũ 老 lão = già 而 nhĩ = "mà"
Trang 9耳 nhĩ = tai 肉 nhục = thịt 臣 thần = bề tôi 自 tự 至 chí = đến
舌 thiệt = lưỡi 舟 thuyền 色 sắc 虫 trùng = côntrùng 血 huyết = máu
行 hành = đi 衣 y = y phục
VD2: Tưởng想 = 相 tương + 心 tâm = 木 mộc + 目 mục + 心 tâm
Vọng望 = 亡 vong + 月 nguyệt + 王 vương
Xuân春 = 三 tam +人 nhân +日 nhật
Hãy học những chữ kanji thông dụng nhất
Không cần phải bắt đầu với những từ khó nhằn mà chẳng bao giờ dùng tới, hãy họcngay những chữ mà bạn có thể dễ dàng bắt gặp phải ở mọi nơi xung quanh bạn! Đây làmột phương pháp giúp bạn học kanji cực kì hiệu quả bởi khi bạn đã quen với những từ
ở quanh mình, việc ghép chúng với những từ khác khó hơn trở nên dễ hiểu hơn rấtnhiều
VD: 自 Tự (tự bản thân)
政 Chính (chính trị)
時 Thời (thời gian, lúc)
業 Nghiệp (sự nghiệp, công nghiệp)
Tự lập cho mình một bảng tra cứu
Khối lượng chữ, từ mới lớn, độ khó cao có thể khiến bạn quên đi những chữ cũ màbạn đã học qua Để tránh điều này, hãy trang bị cho mình một bảng tra cứu bằng giấy.Việc này sẽ giúp bạn có thể học kanji ở mọi lúc mọi nơi mà không cần đến công cụ hỗtrợ như máy tính, smartphone, Quan trọng hơn, bạn có thể học một cách trực quan và
so sánh được các chữ kanji với nhau
Học giải nghĩa chữ Kanji
Học chữ kanji không những không khó, mà còn thú vị Các chữ kanji đều có mộttriết lý riêng của nó Hãy tìm ra triết lý của chữ đó, hoặc nghĩ ra cách giải nghĩa riêngđể có thể nhớ được một cách dễ dàng
(Nguồn: Nhật ngữ Cú Mèo - SAROMA LANG (saromalang.com) & AKIRA
(akira.edu.vn) & duhoc.thanhgiang.com.vn)
c) Trợ từ: Tiếng Nhật phức tạp một phần chính là bởi hệ thống trợ từ phức tạp và
dày đặc Nếu câu văn tiếng Nhật là một bộ khung thì những trợ từ chính là những phầnliên kết bộ khung ấy lại với nhau Ví dụ như:
Trang 10Trợ từ nghĩa / Chức năng Đi với / Mang Câu ví dụ Dịch
Trang 11で
Gốc từ: dùng như liên từ của da De có thể dùng như "ở, tại" hay
"bằng" Dùng thay cho da/desu khi nối vế câu.
+ Phương tiện
Jitensha
de ikimashō.
自転車でで行きましょう。
I want to rest here.
Tôi muốn nghỉ ở đây.
I wrote the letter in Japanese.Tôi viết thư bằng tiếng Nhật
+ Liên từ dạng te
ni
に
Nghĩa: "tới, đến, ở, tại, vào lúc"
Chỉ phương hướng hành động, chỉ phương hướng
Làm trạng từ bằng cách theo sau tính từ đuôi na
+ Danh từ / Địađiểm
Gakkō ni iru.
学校ににいる。 Tôi đang ở trường học I'm at/in school.
+ Danh từ /Phương hướng
Gakkō ni iku.
学校ににいく。 Tôi đi tới trường I'm going to school.
+ Danh từ /Phương hướng hành
động
Ore ni kaese.
俺にに返せ。せ。 Give it back to me. Trả lại cho tao.
+ Danh từ / Chủ
thể bị động
I'm going to see a movie.
Tôi đi xem phim
Tạo trạng từ tính teinei, teinei polite, politely
Trang 12từ đuôi na 丁寧、平仮名、ヒラガナ 丁寧にni lịch sự, một cách lịch sự
no
の
Chỉ sở hữu, nối danh từ, đánh dấu chủ đề ở vế phụ, danh từ hóa
Khi danh từ hóa toàn bộ vế câu, no có thể có chức năng như một sự nhấn mạnh hay một câu hỏi tùy theo cách lên xuống giọng No thường được
phụ nữ dùng cuối câu
+ Danh từ / Sởhữu
sensei
no kuruma
先生のの車で
the teacher's car
xe của cô giáo
bài tập của bạn
+ Danh từ / Nối
The cake that he made was
This is the cheap[er] one.
Cái rẻ tiền là cái này
+ Động từ / Danhtừ hóa
Taberu no ga
daisuki.
食べるのべるのが大好きき。
I love eating.
Tôi rất thích việc ăn.
+ Mệnh đề /Danh từ hóa
Mō, tabeta no?
もう、平仮名、ヒラガナ食べるのべたの?
Have you eaten yet?
Anh đã ăn rồi à?
Trang 13(Nguồn: Nhật ngữ Cú Mèo SAROMA LANG (saromalang.com) & Wikipedia Japanese Articles (en.wikipedia.org/wiki/Japanese_particles))
-d) Bổ ngữ
Bổ ngữ (修飾語で shuushokugo, kanji: tu sức ngữ) là từ ngữ dùng để bổ nghĩa (làmrõ nghĩa) cho một từ ngữ khác, tiếng Anh gọi là modifier
(Nguồn: Nhật ngữ Cú Mèo - SAROMALANG (saromalang.com))
e) Cách kết thúc câu trong tiếng Nhật :
Trang 14(Nguồn: Nhật ngữ Cú Mèo - SAROMA LANG (saromalang.com))
f) Tiểu kết
Sau khi hoàn thành phần Nhập môn và Ngữ pháp (Trình độ cơ bản) phía trên,chúng tôi mong rằng đã phần nào giúp được các bạn trong việc lựa chọn những phươngpháp học tập ngữ pháp tiếng Nhật hiệu quả nhất cho bản thân
Tiếng Nhật là một ngôn ngữ khó, bởi vậy, người học cần phải chăm chỉ ngay từnhững bước đầu tiên Nhiều bạn cảm thấy u sầu về khả năng tiếng Nhật của mình vàdành phần lớn thời gian để u sầu thay vì nâng cao nền tảng tiếng Nhật của mình Đó làvì các bạn nghĩ giỏi tiếng Nhật nghĩa là giao tiếp nhanh như gió và hiểu mọi thứ ngườiNhật nói Các bạn muốn ngay lập tức mình giao tiếp tốt tiếng Nhật mà không muốnmất thời gian để xây dựng nền móng tiếng Nhật cho riêng mình Bằng cách này, cácbạn không có nền tảng và mong muốn giỏi tiếng Nhật trong vô vọng
Hãy chăm chỉ học tập, kiên trì vượt qua những thử thách để nhận ra tiếng Nhật làmột ngôn ngữ tuy khó nhưng lại thú vị và đẹp vô cùng, giống như bản thân đất nước vàcon người Nhật Bản vậy
2.TỪ VỰNG TRONG TIẾNG NHẬT
Trang 15a) Vai trò của từ vựng:
Trong bất kỳ một ngôn ngữ nào, vai trò của từ vựng cũng hết sức quan trọng Cóthể thấy một ngôn ngữ là một tập hợp của các từ vựng Không thể hiểu ngôn ngữ màkhông hiểu biết từ vựng, hoặc qua các đơn vị từ vựng Nhưng điều đó không đồngnghĩa với việc chỉ hiểu các đơn vị từ vựng riêng lẻ, độc lập với nhau, mà chỉ có thểnắm vững được ngôn ngữ thông qua mối quan hệ biện chứng giữa các đơn vị từ vựng.Như vậy việc học từ vựng và rèn luyện kĩ năng sử dụng từ vựng là yếu tố hàng đầutrong việc truyền thụ và tiếp thu một ngôn ngữ nói chung và tiếng Nhật nói riêng
Không chỉ là trở ngại với riêng những người học tiếng Nhật, từ vựng luôn là vật cảnvới bất kì ai học ngôn ngữ Kiến thức từ vựng là công cụ giúp người học có khả năngthiết lập và thành công trong giao tiếp Đây cũng chính là mục tiêu chính của việc họcvà dạy ngoại ngữ Có câu nói rằng: “Không có ngữ pháp, rất ít thông tin có thể đượctruyền đạt Không có từ vựng, không một thông tin nào có thể được truyền đạt cả” Vìthế trong việc học một ngoại ngữ, thì từ vựng có thể xem như các tế bào nhỏ hìnhthành nên khả năng sử dụng ngoại ngữ của người học Nếu bạn không biết ngữ pháp,bạn vẫn có thể giải thích cho người khác hiểu ý mình đang muốn nói Tuy nhiên, nếukhông có từ vựng, bạn sẽ không thể truyền đạt bất cứ thứ gì.Vì vậy, để có thể nắm bắtđược ngôn ngữ Nhật, học từ vựng hàng ngày luôn là điều cần thiết, đặc biệt với nhữngngười bắt đầu học
Ai trong chúng ta hẳn đã gặp phải những lúc muốn diễn dạt một vấn đề nhưng lạicảm thấy bế tắc vì lượng từ vựng của bạn thân còn hạn hẹp Hay có những lúc khôngthể hiểu người đối thoại với mình, hoặc cũng có thể cảm thấy sợ khi đọc những trangtài liệu dài mà toàn những từ mới ta chưa biết Để tránh khỏi những điều trên, đòi hỏimỗi người cần sự nỗ lực và kiêm trì trong việc học từ mới
b) Giới thiệu khái quát về từ vựng trong tiếng Nhật:
Tiếng Nhật là một ngôn ngữ có một vốn từ vựng rất lớn và vô cùng phong phú Cáccuộc nghiên cứu của Nhật Bản được tiến hành nhằm mục đích so sánh tiếng Nhật ngônngữ của một số nước trên thế giới để tìm hiểu xem người ta biết bao nhiêu từ của mộtngôn ngữ nào đó thì có thể hiểu nhau khi giao tiếp Những chỉ số đưa ra từ cuốn sách
“Tiếng Nhật hiện đại” cho thấy: tiếng Pháp, nếu biết được khoảng 1000 từ thì khi hộithoại có thể hiểu được 83,5% Nhưng ở tiếng Nhật, nếu biết 1000 từ thì chỉ hiểu được60% hội thoại Ngoài ra, trong tiếng Nhật còn có rất nhiều từ xuất hiện trong thơ ca,tiểu thuyết và những từ này lại chưa được thống kê ngay cả trong cuốn Đại từ điểntiếng Nhật Cuốn “Đại từ điển” của nhà xuất bản Heibonsha được coi là lớn nhất hiệnnay có tới hơn 720.000 từ
Từ vựng Nhật chịu ảnh hưởng lớn bởi những từ mượn từ các ngôn ngữ khác Từ xaxưa, người Nhật đã sớm có sự tiếp xúc và tiếp thu những ảnh hưởng của văn minhTrung Hoa và điều này đã in dấu ấn ngay trong ngôn ngữ Nhật Bản Lớp từ gốc Hánđến ngày nay chiếm số lượng khổng lồ vốn từ vựng tiếng Nhật (chiếm 60%), tiếngNhật đã mượn một lượng từ vựng đáng kể từ hệ ngôn ngữ Ấn-Âu, chủ yếu là tiếng
Trang 16Anh Trong đó có cả tiếng Hà Lan cũng có ảnh hưởng, với những từ như bīru (từ bier;
"bia") và kōhī (từ koffie; "cà phê").
Từ vựng tiếng Nhật là kết hợp các từ với nhau để tạo ra từ mới là rất lớn Ví dụ từ
“xe” trong tiếng Nhật là “shya” (từ gốc Hán), nếu ghép với các từ gốc Hán khác sẽ tạo
ra được rất nhiều từ có nghĩa khác nhau Sự đặc biệt của tiếng Nhật là trường âm và âmngắt Còn có những từ khi phát âm phải đọc kéo dài hơn bình thường (khoảng 1 nhịp) -gọi là trường âm và những từ phải ghép thêm với chữ tsu nhỏ (っ)để đọc gọi là âmngắt Nếu thiếu đi thì có thể người nghe sẽ hiểu sang một từ khác
ví dụ: お ば さ ん -obasan : cô, dì (không có trường âm) おばあさん-obaasan: bà (trường âm cột a - đọc kéo dài chữ ba)hay お じ さ ん -ojisan : chú, bác (không có trường âm) 、平仮名、ヒラガナ おじいさん-ojiisan:ông(trường âm cột i-đọc kéo dài chữ ji)
c) Thực trạng:
Phần lớn các sinh viên được hỏi không rõ mình giành thời gian thế nào cho việchọc Điều này có nghĩa là họ đã không dành đủ sự quan tâm tới việc học từ vựng, trongkhi từ vựng là 1 thành tố rất quan trọng của ngôn ngữ, cần được bồi dưỡng hàngngày.Phần lớn các sinh viên được hỏi nói rằng họ không hài lòng với phương pháp họctừ vựng hiện tại của mình và đang gặp nhiều khó khăn với việc này.Các sinh viên đềuđánh giá rất cao tầm quan trọng của từ vựng tới các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết Nếukhông có từ vựng tốt, họ không thể nào tận dụng được tốt những kỹ năng ấy được.Hầuhết mọi sinh viên được hỏi đều cho rằng những phương pháp họ đang sử dụng đã lỗithời và không hiệu quả Họ mong muốn có được sự cách tân trong việc học từ vựng.Cách học được các sinh viên sử dụng phổ biến nhất viết tất cả những từ mới thành mộtdanh sách rồi học thuộc Phương pháp học từ vựng không những nhàm chán mà cònkém hiệu quả
Trong cuộc khảo sát nhỏ mà nhóm tôi thực hiện với các bạn sinh viên khoa Nhậttrường đại học Hà Nội với các sinh viên năm 1,2,3 và năm cuối Có đến 90 % tổng sốphiếu khảo sát cho rằng việc học từ vựng rất khó nhớ và có 100/120 người cho rằng họthường rất hay quên sau khi đã học Nhiều người có khả năng nhớ nhưng vẫn mắc phảicác lỗi như thiếu trường âm, âm ngắt trong từ vựng
d) Nguyên nhân:
Chủ quan:
Cũng như theo các nhà tâm lý học người Đức nghiên cứu thì trí não con người saukhi tiếp nhận thông tin sẽ bắt đầu quá trình quên lãng Quá trình quên lãng này bắt đầutừ phút thứ 10 trở đi sau khi học, sau 20 phút não người chỉ nhớ 58% lượng thông tinvừa học, sau 1 tiếng nhớ 44%, 9 tiếng nhớ 36%, sau 1 ngày nhớ 33%, sau 2 ngày nhớ28% và cuối cùng sau 1 tháng chỉ nhớ khoảng 20%
Trang 17Bên cạnh việc học không thực sự “sâu” cũng sẽ làm cho người học nhanh quênMột nguyên nhân nữa khiến vốn từ vựng của người học không đa dạng là việc lườigiao tiếp bằng tiếng Nhật Có thể trong thời gian học tiếp nhận được nhiều từ vựng,nhưng nếu không thường xuyên ôn tập lại thì sẽ bị quên mất Giao tiếp giúp chúng tasử dụng từ vựng nhiều hơn trong nhiều trường hợp cụ thể Nó còn giảm đi sự bỡ ngỡkhi giao tiếp với người khác, giúp người nói tự tin hơn Với những người Việt Namhọc ngoại ngữ, phần lớn họ rất thích giao tiếp, nhưng lại ngại sai, ngại bị bỡ ngỡ haychỉ đơn giản là sợ bị cười Tiếng Nhật chưa được vận dụng một cách tối đa.
Khách quan:
Cơ sở vật chất của đất nước ta chưa đủ hiện đại và phát triển để cho sinh viên luyệntập đầy đủ và thường xuyên Đồng thời môi trường học tập chưa thật sự đủ tốt khi màngười Nhật còn quá ít để các bạn sinh viên vận dụng được vốn học của mình vào giaotiếp
e) Giải pháp:
Từ những hạn chế ở trên, ta có thể thấy cách học từ vựng tiếng Nhật hiệu quả nhấtvẫn luôn là chăm chỉ luyện tập và ứng dụng thực từ vựng trong thực tế thật nhiều Tuynhiên, nếu bạn biết cách học tập khoa học nhất, kho từ vựng tiếng Nhật đồ sộ sẽ khônggây cho bạn quá vất vả và khó khăn
Học những từ vựng theo chủ đề yêu thích Việc thích một thứ gì đó sẽ được
coi là động lực lớn trong quá trình học ngôn ngữ, việc học từ vựng cũng vậy Giả sử,nếu bạn thích chủ đề âm nhạc, những từ như “âm nhạc” hay “bài hát” sẽ giúp bạn dễ
dàng hơn trong việc tìm kiếm những bài hát Hoặc ta cũng có thể học những từ liên quan đến nhau
Ôn luyện từ vựng theo phim ảnh, truyện tranh hay phim hoạt hình Nhật Bản Tưởng chừng như là một công cụ giải trí, nhưng đây lại là một cách hay và đơn giản nhất khi học từ vựng Hoặc Dán từ vựng tương ứng với đồ vật trong nhà như bàn
học, giường, tủ, TV, xe đạp… và hàng ngày bạn tiếp xúc với chúng, nhìn thấy chúngthì không lí nào lại không thể học thuộc chúng một cách nhanh chóng được
Tận dụng tối đa mọi giác quan trong quá trình học từ vựng Ngoài việc đọc
thầm còn cần sử dụng thêm các tranh minh họa (hài hước, dễ thương,…) hay những đồvật cụ thể Để nhớ từ mới được nhanh, khi học bạn cũng nên đọc to, chú ý phát âm thậtchuẩn theo người bản xứ (khi học ở nhà,các bạn có thể bật CD nghe và đọc theo) Bêncạnh đó, chúng ta có thể làm flashcard (những thẻ nhỏ) ghi từ mới một mặt bằng tiếngNhật và nghĩa của chúng mặt sau
Các bước làm flashcard:
Bước 1: Soạn danh sách từ vựng
Bộ sách này rất nổi tiếng đối với người học tiếng Nhật, thậm chí còn được dùng đểgiảng dạy Một điểm cộng nữa mà mình yêu thích đối với bộ sách này chính là danh
Trang 18sách từ vựng được soạn sẵn ở mỗi bài, kèm theo tập tin nghe từ vựng với giọng nữ rấtdễ nghe Khi bạn học từ trên thẻ Flashcard, có thể vừa cầm thẻ từ vựng và nghe theogiọng đọc từ, giúp chúng ta vừa nhớ rõ từ đồng thời thuộc cách phát âm chính xác.Đối với các bạn đang học Hán tự Kanji thì có thể theo giáo trình Basic Kanji Bookvới 2 cuốn là 45 bài học Mỗi bài học có từ 10 đến 12 chữ Hán, được sắp xếp theo chủ
đề rất dễ học Ngoài ra sau khi học bằng thẻ, các bạn có thể làm bài tập từ cuốn sách,giúp bạn nhớ lâu hơn Hoàn tất giáo trình này, các bạn có thể nắm cho mình khoảnchừng 450 đến 540 chữ Hán Sau đó, chúng ta có thể nâng cấp lên giáo trình trung cấpvới nhiều chữ phức tạp hơn
Bước 2: cắt thẻ
Bước 3: điền từ vào ảnh, vẽ hình minh họa ( nếu cảm thấy cần thiết)
Bạn sẽ xem từ ở mặt trước của thẻ và nhớ xem từ có nghĩa gì Sau đó tự mình kiểmtra bằng cách lật mặt sau của thẻ Việc học sẽ rất hiệu quả nếu các bạn luôn nhớ nhữngnguyên tắc sau đây: Ngắn gọn, chữ to, rõ ràng và thường xuyên ôn luyện
Sử dụng trí tưởng tượng cũng góp phần làm cho từ mới trở nên đơn giản hơn.
Mỗi người có sự tưởng tượng khác nhau, do vậy, điều này tùy vào tính sáng tạo riêngcủa mỗi người Ví dụ, từ “Keppu” ( Vé), hãy nhớ câu “KEEP your TICKETS, don’tlose them” Từ “karimasu” (mượn) thì dùng câu “You CAn’t REturn what you didn’tnot BORROW” Các câu ở đây vừa bao hàm được cách đọc cũng như nghĩa của từ.Ngoài tiếng Việt, hãy tận dụng vốn tiếng Anh của bản thân để làm từ vựng trở nên đơngiản hơn
Sử dụng từ vựng ngay sau khi học ngữ pháp và đặt từ vựng vào trong các tình huống cụ thể Làm việc này nhiều lần giúp chúng ta quen với từ mới, tăng khả năng
ghi nhớ từ vựng Giả sử, tự đặt ra cho bản thân tình huống đến siêu thị mua đồ, nhữngtừ mới, lạ về các dụng cụ nhà bếp hay thực phẩm được thêm vào trong các lời thoại sẽgiúp chúng ta ôn tập đồng thời cả ngữ pháp và từ vựng
Thời gian học, nghỉ ngơi và số lượng từ mới cho một buổi học cũng rất quan
trọng Một số nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng thời điểm “Vàng” để ghi nhớ là khi chúng
ta vừa mới thức dậy vào buổi sáng và trước khi đi ngủ vào buổi tối Vào thời điểmnày, chúng ta sẽ ghi nhớ kiến thức sâu hơn Do vậy, nên dành ra 10 phút trước khi đingủ và sau khi thức dậy mỗi sáng đọc lại từ mới Ngoài ra, việc duy trì thói quen họctập đều đặn mỗi ngày sẽ ảnh hưởng không ít đến kết quả học tập của các bạn Tần suấthọc cũng được đánh giá là cần thiết để có thể học tiếng Nhật một cách hiệu quả Khihọc, không nên nhồi nhét quá nhiều từ mới trong một khoảng thời gian Có thể ở thờiđiểm ban đầu việc ghi nhớ sẽ rất dễ dàng, nhưng chỉ sau vài tiếng đồng hồ, khả năngghi nhớ sẽ giảm và rồi lại tốn thêm thời gian để học hơn nữa Do đó, cứ sau khi họcđược 30 phút đến 45 phút, các bạn hãy nghỉ giải lao khoảng 5-10 phút Thời gian nàybộ não của chúng ta sẽ được nghỉ ngơi và củng cố lại những gì vừa mới học Cho nên,chúng ta hãy sắp xếp thời gian học và nghỉ ngơi một cách khoa học
Trang 19 Học từ vựng trong nhiều giáo trình Với trình độ sơ cấp, có rất nhiều loại giáo
trình, nhưng trong đó phổ biến hơn cả là Minna No Nihongo Bên cạnh đó bạn có thểtham khảo thêm các giáo trình khác như Genki Dù số lượng từ vựng trong Genki íthơn nhưng ở mỗi chủ đề đều được phân ra chi tiết và đầy đủ
Biết chọn lọc sách và sử dụng từ điển một cách thông minh Trên thị trường
có vô vàn cuốn sách cũng như các loại từ điển Cần phải chọn lọc sao cho phù hợp vớitrình độ, khả năng của bản thân Bắt đầu từ cơ bản đến phức tạp, từ những từ phổ biếnhơn sẽ giúp cho người học có hứng thú
Bên cạnh đó, tận dụng những chiếc điện thoại thông minh đem lại hiệu quả
rất cao trong việc học từ Nó cung cấp rất nhiều công cụ hỗ trợ trong việc học ngoạingữ nói chung và từ vựng tiếng Nhật nói riêng Có rất nhiều phần mềm miễn phí,nhưng ở đây tôi sẽ giới thiệu một phần mềm phổ biến có tên Memrise
Phần mềm cung cấp nhiều giáo trình tiếng Nhật cho người dùng Trong mỗi giáotrình được chia ra thành nhiều chủ đề nhỏ với lượng từ vựng tương ứng Với mỗi từmới, bạn phải làm đủ 2 kĩ năng: viết, nghe và chon đáp án đúng
Bên cạnh đó, hằng ngày phần mềm sẽ nhắc bạn xem lại những từ đã học Đặt ramục tiêu mà bạn muốn Mỗi người sẽ có một tài khoản riêng với số điểm tích trữ màbạn đạt được khi hoàn thành mỗi chủ đề
Lợi ích của việc học từ vựng bằng Memrise là bạn không mất công học theo kiểu
“học thuộc lòng” Với Memrise bạn sẽ học theo quy tắc “gặp đi gặp lại” nhiều lần
Trang 20Ngoài ra, các khoảng cách lặp lại được sắp xếp ở những thời điểm tối ưu sao cho bạnnhớ được lâu nhất Ví dụ như thay vì lặp lại mỗi ngày, mỗi tuần một lần như thôngthường, Memrise sẽ lặp lại 1 ngày, 3 ngày, 1 tuần, 1 tháng, 3 tháng
f) Tiểu kết
Tóm lại, học từ vựng khó mà đơn giản nếu mỗi người tìm được phương pháp phùhợp với bản thân Cộng với sự chăm chỉ thì việc học từ vựng hẳn sẽ dễ dàng hơn Dovậy, ngay từ lúc bắt đầu học, ngay từ bây giờ, hãy xây dựng cho bản thân một kho từvựng cho mình nhé
3.THỰC HÀNH CÁC KĨ NĂNG:
A KĨ NĂNG NGHE:
a) Giới thiệu khái quát về kĩ năng :
Thực chất việc dạy-học ngoại ngữ là dạy-học kiến thức và đặc biệt là các kĩ năngthực hành tiếng:nghe, nói, đọc, viết để người học có thể nắm vững ngôn ngữ như mộtphương tiện giao tiếp nhằm để thỏa mãn nhu cầu bản thân cũng như nhu cầu xã hội vàcủa nghề nghiệp.Tất cả các kĩ năng đều có những mối quan hệ khăng khít gắn bó vớinhau Bởi vậy, ta không thể xem nhẹ kĩ năng này hay kĩ năng kia mà phải quan tâmđến các kĩ năng như nhau Tuy nhiên mỗi kĩ năng đều có những đặc điểm riêng biệt đòihỏi chúng ta phải chú ý nghiên cữu kĩ lưỡng để nâng cao hiệu quả học tập mỗi kĩ năng.Và với kĩ năng nghe cũng vậy Trong các kĩ năng thực hành, nghe hiểu là một kĩ nănglà giao tiếp thụ động , là quá trình mã hóa và giải mã Trong đó nghe thuộc phạm trùtiếp nhận ,mã hóa các tín hiệu ngôn ngữ dưới dạng âm thanh phát ra với tư cách là yếutố có nghĩa.Hiểu là quá trình giải mã các thông tin ngôn ngữ vừa được tiếp nhận Cómột sự liên kết chặt chẽ giữa việc nghe và hiểu đó là ghi nhớ và lưu trữ thông tin Cóthể nói nghe và hiểu là hai mặt biện chứng của một quá trình phức hợp chế định lẫnnhau Nghe là cơ sở quyết định hiểu, ngược lại hiểu lại có tính độc lập tương đối tácđộng trở lại bổ sung cho nghe.Ta có thể tóm tắt quá trình nghe-hiểu như sau :
Nghe gồm hai giai đoạn: cảm nhận và tri nhận các tín hiệu ngôn ngữ dưới dạng
âm thanh Giai đoạn cảm nhận đòi hỏi sự nhạy cảm của cơ quan thính giác và diễn ra rất nhanh chóng, song nó là cơ sở không thể thiếu được của tri nhận Tri nhận là giai
đoạn cơ bản nhất song cũng phức tạp nhất Mở đầu giai đoạn này là các thao tác khubiệt và ghi nhận các âm và các yếu tố cận ngôn đi kèm, rồi đến các thao tác phân tíchvà xử lí các âm thanh khu biệt nhằm mã hoá và lưu trữ các tín hiệu ngôn ngữ trên cơ sởnhững kiến thức về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, văn hoá văn minh đã tiếp thu được từ
trước Sau giai đoạn tri nhận, ghi nhớ đóng một vai trò rất quan trọng, nó cho phép các
tín hiệu ngôn ngữ dưới dạng âm thanh mã hoá được lưu trữ dưới dạng hình ảnh làm cơ
sở cho việc giải mã
Hiểu là quá trình giải mã hay xác lập nghĩa của các tín hiệu ngôn ngữ đã được
mã hoá và lưu trữ, tức là xác lập các mối liên hệ giữa vỏ âm thanh ghi nhận được với
Trang 21các yếu tố đã tiếp thu được từ trước đó liên quan tới việc xác lập nghĩa như: tri thức vềngữ âm, từ vựng, ngữ pháp trong ngữ cảnh, lôgic ngữ nghĩa, các yếu tố văn hoá‐vănminh, ngữ dụng, kiến thức chuyên ngành, nhằm đưa ra và kiểm định các giả định vềnghĩa Một khi hội tụ đủ các kiến thức cần thiết cho việc giải mã thì nghĩa của các tínhiệu ngôn ngữ mới được xác lập.
b) Tầm quan trọng của kĩ năng :
Nghe là một kĩ năng quan trọng và không thể thiếu đối với người học ngoại ngữ vàmuốn thành thạo ngôn ngữ nào đó Nghe để lấy thông tin,có nghe hiểu thì ta mới có thểtrò truyện, giao tiếp bằng ngôn ngữ ấy Không chỉ vậy việc nghe tốt còn hỗ trợ chúng
ta trong việc học các kĩ năng còn lại.Từ việc nghe tốt ta có thể nói bắt chước theo ngữđiệu, phát âm sẽ tốt hơn và khả năng nói sẽ tốt hơn
c) Thực trạng :
Trong thực tế hiện nay, việc học nghe nói riêng, do đặc thù môn học đã gây rakhông ít khó khăn cho mỗi sinh viên nên mặc dù người học đã tập trung và đầu tưkhông ít thời gian nhưng hiểu quả thì vẫn chưa thỏa mãn mong đợi Sinh viên rất ngạinếu không muốn nói là sợ học, thi, kiểm tra nghe.Qua việc khảo sát các bạn sinhviên(của tất cả các khóa)đang học khoa ngôn ngữ Nhật Bản trường đại học Hà Nội thìcó 60 trong tổng số 80 bạn sợ nghe.Sau đây là một số trở ngại trong quá trình nghehiểu tiếng nước ngoài nói chung và tiếng nhật nói riêng
Khi bắt đầu học ngoại ngữ thì mỗi chúng ta đều có rất nhiều năm sử dụng tiếng mẹ
đẻ, do vậy thói quen và kĩ năng sử dụng tiếng mẹ đẻ đã trở nên bền vững và có ảnhhưởng không tốt, gây trở ngại đến quá trình tiếp thu, rèn luyện các kĩ năng thực hànhmới của tiếng nước ngoài Trong quá trình nghe hiểu học sinh gặp rất nhiều khó khăntrong việc khu biệt nhằm mã hóa các tín hiệu ngôn ngữ mới do tiếng mẹ đẻ đã lấn át.Hơn nữa trong giai đoạn đầu học ngoại ngữ học sinh ít được chú trọng trong việc họcnghe, ít có cơ hội tiếp xúc với người bản xứ, có được học thì cũng chỉ là học nghe quabăng catset.Bên cạnh đó tâm lí chung của mỗi sinh viên khi học nghe là khi nghe phảinghe và nhớ được cả 100% thông tin và dịch ra được bằng tiếng việt nhưng lại khônghiểu được trọng tâm của đoạn phát ngôn, không hiểu được nội dung cốt lõi của đoạnhội thoại Điều này gây nên sự mệt mỏi và nỗi sợ trong việc học nghe.Về trang thiết bịgiảng dạy ở các trường học cũng có trang bị nhiều thiết bị tốt hữu ích song lại chưađược khai thác đúng cách, việc bảo trì còn kém nên hay gây gián đoạn Một số trangthiết bị còn chưa đồng bộ, phong phú( băng, đĩa, ) Ngoài những thực trạng trên,sinhviên còn gặp phải một số trở ngại khác.Sau đây ta sẽ điểm qua một số vấn đề gây nênđiều này:
Ngữ âm:
Trang 22Khi học một ngoại ngữ, chúng ta phải làm quen với một hệ thống âm mới, luyện tậpđể có thể quen với những âm mà không có trong hệ thống âm của thứ tiếng mình đãquen(tiếng mẹ đẻ).Trong hệ thống ngữ âm của tiếng nhật có những âm mà tiếng việtkhông có Việc này khiến học sinh cần phải luyện tập kĩ, phân biệt giữa các âm trongtiếng nhật, để từ đó có thể nhận diện các âm tạo nền tảng cho việc nghe.Mặt khác cácyếu tố như trọng âm, ngữ điệu, hiện tượng nuốt âm, đồng âm khác nghĩa hay giọngcủa người phát âm cũng gây không ít khó khăn cho không chỉ những người học cơ bảnmà còn cho cả những người học ở trình độ cao.Bởi vậy việc học nghe hiểu của học sinhcần sự siêng năng kiên trì bền bỉ của cả học sinh và giáo viên dạy.
Từ vựng:
Từ vựng tiếng việt và tiếng nhật khác nhau bởi tiếng việt thì có một âm tiết còntiếng nhật thì có nhiều âm tiết Trong khi nghe có những lúc học sinh có thể nghe đượcnhững âm tiết phát ra nhưng lại phải mất một thời gian ghép thì mới hiểu ý nghĩa củatừ đó.Vốn từ của sinh viên còn hạn chế cũng là một trở ngại trong việc học tiếngNhật.Trong khi nghe gặp một từ mới nào đó sinh viên lại dừng lại suy nghĩ xem nghĩacủa nó như thế nào Và kết quả là không thể tập trung nghe tiếp được đoạn tiếptheo.Tuy nhiên có những phát ngôn mà khi học sinh nghe hiểu được hết những từ trongđó rồi mà không hiểu được ý nghĩa phát ngôn đó bởi nó còn liên quan đến văn hóa vănminh của nước đó mà học sinh không biết.Khi sinh viên không có ý thức về văn hóa thì
sẽ rất dễ áp đặt văn hóa của đất nước mình dẫn đến việc giải mã nội dung thông tintrong bài học không đúng dắn, vì thế sẽ hiểu sai ý tưởng của nội dung cần truyền tải
Ví dụ khi nghe câu hỏi “がっこ 日曜日は 日曜日どちら 日曜日ですか 。”。 Học sinh có thể hiểu đó là
“ trường của bạn ở đâu?” nhưng đơn giản nó cũng là câu hỏi “bạn học trườngnào?”.Một trở ngại nữa trong việc nghe hiểu cần quan tâm khi học ở trình độ cao là sẽxuất hiện những thuật ngữ mà chúng ta khó có thể hiểu được nếu không học các từchuyên ngành
Về mặt ngữ pháp:
Đây là một trong những trở ngại cơ bản của quá trình giải mã các tín hiệu ngônngữ Giữa tiếng nhật và tiếng việt có rất nhiều sự khác nhau về ngữ pháp.Cách biểu đạtthời thế, trật tự sắp xếp của danh từ, động từ trong câu, hình thái cú pháp, trợ từ và mộtloạt các quy tắc ngữ pháp khác thực sự là thách thức đối với học sinh việt nam trongquá trình học tiếng nhật.Tuy nhiên trong quá trình học ngoại ngữ, sự tiếp thu các kiếnthức về ngữ âm, từ vựng ngữ pháp sẽ bổ trợ lẫn nhau để phát triển khả năng thực hànhnghe để có thể nhận biết , hiểu giải mã các phát ngôn, ngôn đoạn và ngôn bản
Các yếu tố ngữ dụng liên quan đến việc xác định ý nghĩa xác thực của ngôn bản chính là vấn đề khó nhất đặt ra cho giáo viên khi dạy nghe hiểu bởi lẽ chỉ khi đặt
phát ngôn cụ thể vào một ngữ cảnh giao tiếp- văn hóa của ngôn ngữ đích xác mới có
Trang 23thể xác định được ý nghĩa xác thực của ngôn bản, mới hiểu được ý đồ và thái độ củangười nói, tình cảm của người nói trong giao tiếp Thế nhưng khi nghe một đoạn hộithoại trong băng catset(phương tiện dạy nghe phổ biến hiện nay) chúng ta lại không cóđủ các yếu tố về ngữ cảnh, biểu cảm, Điều này thật sự gây ra khó khăn cho người họcnghe.
d, Các giải pháp khắc phục :
Do nghe hiểu là một kĩ năng thuộc dạng thụ động, nghe là yếu tố quyết định hiểu,các nhà giáo học ngoại ngữ đã đưa ra một mô hình nghe tích cực nhằm khắc phụcnhững hạn chế của tính thụ động của kĩ năng này, cải thiện khả năng nghe của ngườiđọc và nâng cao hiệu quả của việc dạy-học kĩ năng nghe hiểu.Cái cốt lõi của mô hìnhnày là người học tiếng nước ngoài phải tăng mức độ tập trung chú ý để nghe và hiểubằng tiếng nước ngoài, phải thay đổi cách thức, thói quen và quá trình mã hóa và giảimã
Mô hình nghe tích cực có thể được chia thành ba giai đoạn:
Giai đoạn 1:(GĐ 1): neo, bám có nghĩa là muốn hiểu một phát ngôn trước hết taphải nghe được một hoặc vài từ trong phát ngôn đó để làm chỗ dựa cho việc tìm hiểuvà xác lập nghĩa của phát ngôn
Giai đoạn 2 (GĐ 2) : xác lập nghĩa của phát ngôn Sau một hoặc nhiều lần nghe,học sinh nghe được một phần hoặc toàn bộ phát ngôn.Giai đoạn xác lập nghĩa của phátngôn được tiến hành thông qua việc lập ra và lựa chọn các giả định về nghĩa
Giai đoạn 3(GĐ 3): ấn định nghĩa của phát ngôn.Việc ấn định nghĩa của phátngôn diễn ra khi học sinh tự cho là mình đã nghe được toàn bộ phát ngôn Nếu thực tếlà đúng như vậy thì học sinh đã hiểu đúng nghĩa của phát ngôn.Nếu ngược lại, học sinhchỉ hiểu được một phần của phát ngôn đó Trong trường hợp này, qui trình phải quaytrở lại giai đoạn 2 hoặc thậm chí giai đoạn 1
Đề xuất cách tiến hành một bài luyện kĩ năng nghe hiểu: