Để giúp cho chúng ta hiểu hơn về các công ty tài chính và các công ty bảo hiểm, nhóm chúng tôi đã thực hiện tiểu luận về đề tài : “Các công ty tài chính và công ty bảo hiểm”. Tuy nhiên, với khả năng nghiên cứu còn hạn chế, nên tiểu luận của chúng tôi có thể có nhiều thiếu sót, mong cô và các bạn thông cảm. Nhóm chúng tôi cũng hy vọng nhận được nhiều ý kiến đóng góp từ phía cô và các bạn để bài tiểu luận có thể
Trang 1○ MỤC LỤC ○
1.CÔNG TY TÀI CHÍNH 4
1.1 CÔNG TY TÀI CHÍNH 4
1.1.1 Giới thiệu về công ty tài chính 4
1.1.2 Phân loại 5
1.1.3 Hoạt động của công ty tài chính 6
1.2 CÔNG TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH 9
1.2.1 Khái niệm: 9
1.2.2.Đặc điểm: 9
1.2.3 Phân loại cho thuê tài chính: 10
1.2.4.Hoạt động của công ty cho thuê tài chính: 10
1.3 CÔNG TY TÀI CHÍNH VÀ CHO THUÊ TÀI CHÍNH TRÊN THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM: 11
2 CÔNG TY BẢO HIỂM 13
2.1 KHÁI NIỆM CÔNG TY BẢO HIỂM 13
2.1.1 Khái niệm 13
2.1.2 Hoạt động của công ty bảo hiểm: 14
2.1.3 Phân loại công ty bảo hiểm: 14
2.1.4 Hoạt động đầu tư của công ty bảo hiểm 15
2.2 CÁC TÍNH CHẤT CƠ BẢN CỦA NGÀNH BẢO HIỂM: 16
2.2.1 Hợp đồng bảo hiểm: 16
2.2.2 Phí bảo hiểm: 17
2.3 CÁC NGUYÊN TẮC QUẢN TRỊ BẢO HIỂM 18
2.3.1 Sàng lọc: 18
2.3.2 Phí bảo hiểm rủi ro hợp lí: 19
Trang 22.3.3 Các điều khoản cam kết: 19
2.3.4 Phòng ngừa gian lận: 19
2.3.5 Hủy bỏ hợp đồng: 20
2.3.6 Khấu trừ: 20
2.3.7 Đồng bảo hiểm: 20
2.3.8 Giới hạn của số tiền thanh toán bảo hiểm: 20
2.4 VAI TRÒ CỦA CÔNG TY BẢO HIỂM 21
2.4.1 Về mặt Kinh tế - xã hội 21
2.4.2 Về mặt tài chính 21
2.5 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC CÔNG TY BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM 22
2.5.1 Trước năm 1986 22
2.5.2 Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng 23
2.5.3 Từ năm 1986 đến nay 24
2.6 CÁC SẢN PHẨM BẢO HIỂM ĐƯỢC QUY ĐỊNH TRONG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM 25
Trang 3Lời mở đầu
Trước đây, trong thời kỳ phát triển kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp, thị trường tài chính là một khái niệm chỉ bó hẹp ở việc điều chuyển tiền tệ giữa Nhà nước và các Doanh nghiệp nước ngoài và giữa các ngân hàng quốc doanh với nhau theo chỉ đạo chủ quan của các cơ quan quản lý nhà nước Từ khi nước ta chuyển sang phát triển kinh tế thị trường, khái niệm về thị trường tài chính dần trở nên quen thuộc hơn, các ngân hàng thương mại bắt đầu hình thành, phát triển mạnh mẽ và có vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam
Bên cạnh các tổ chức ngân hàng, còn có một bộ phận không kém phần quan trọng trong việc tạo ra dòng luân chuyển vốn từ người tiết kiệm – cho vay đến người chi tiêu – đi vay Đó là các tổ chức tài chính phi ngân hàng Các tổ chức tài chính phi ngân hàng ngày càng đóng vai trò quan trọng hơn trong hệ thống tài chính của các nước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Các tổ chức tài chính phi ngân hàng bao gồm công ty bảo hiểm, quỹ đầu tư chung, quỹ hưu trí, công ty tài chính, Mỗi tổ chức tài chính phi ngân hàng có đặc điểm, vai trò riêng Để giúp cho chúng ta hiểu hơn về các công ty tài chính và các công ty bảo hiểm, nhóm chúng tôi đã thực
hiện tiểu luận về đề tài : “Các công ty tài chính và công ty bảo hiểm”
Tuy nhiên, với khả năng nghiên cứu còn hạn chế, nên tiểu luận của chúng tôi có thể có nhiều thiếu sót, mong cô và các bạn thông cảm Nhóm chúng tôi cũng hy vọng nhận được nhiều ý kiến đóng góp từ phía cô và các bạn để bài tiểu luận có thể hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn
Nhóm thực hiện : Nhóm 2
Trang 41.CÔNG TY TÀI CHÍNH
1.1 CÔNG TY TÀI CHÍNH
1.1.1 Giới thiệu về công ty tài chính
Công ty tài chính Ngân hàng thương mại Bản chất
Và phạm vi
hoạt động
-Tổ chức tín dụng phi ngân hàng
-Sử dụng vốn tự có, vốn huy động
và các nguồn vốn khác
-Cho vay, đầu tư; cung ứng các dịch vụ tư vấn về tài chính, tiền tệ
và thực hiện một số dịch vụ khác
-Không được làm dịch vụ thanh toán, không được nhận tiền gửi dưới 1 năm
-Tổ chức tín dụng ngân hàng
- Sử dụng vốn huy động từ
công chúng
- Thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động có lien quan
-Nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung cấp các dịch vụ thanh toán
Mức vốn pháp
định
-Được cấp giấy phép thành lập và hoạt động trước ngày 31/12/2008 thì phải có mức vốn pháp định là
-Ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng chính sách, ngân hàng đầu tư, ngân hàng hợp tác.v.v
Thời hạn hoạt
động
-Tối đa 50 năm -Không giới hạn
Cơ hội cạnh
tranh
và lợi ích mang
lại
-Áp lực cạnh tranh ở mức độ thấp
-Rủi ro xảy ra rất ít ảnh hưởng tới cộng đồng
- Áp lực cạnh tranh ở mức độ cao hơn
-Rủi ro xảy ra ảnh hưởng lớn tới cộng đồng
Trang 51.1.2 Phân loại
Có 3 dạng Công ty Tài chính
o Công ty Tài chính bán hàng
o Công ty Tài chính tiêu dùng
o Công ty Tài chính doanh nghiệp
1.1.2.1 Công ty tài chính bán hàng
Do các công ty sản xuất và bán hàng làm chủ sở hữu và thực hiện các khoản cho vay tài trợ cho khách hàng mua các sản phẩm, hàng hóa dịch vụ của chính công ty Công ty tài chính bán hàng cạnh tranh trực tiếp với ngân hàng về các khoản cho vay tiêu dùng và có được nhiều khách hàng vì các khoản cho vay này thường thức hiện nhanh hơn và tiện lợi hơn tại các địa điểm mua hàng
Các công ty tài chính này gián tiếp cấp tin dụng cho người tiêu dùng để mua các món hàng từ một nhà bán lẻ hoặc từ một nhà sản xuất nào đó Tín dụng được cấp dưới hình thức: các doanh nghiệp bán hàng trả góp cho khách hàng theo hợp đồng mẫu do công ty tài chính này cung cấp, sau đó hợp đồng được bán lại cho công ty tài chính Như vậy khoản nợ của khách hàng với nhà sản xuất hoặc nhà bán lẻ đã chuyển thành khoản nợ của khách hàng với công ty tài chính Các công ty tài chính này thường do các công ty sản xuất hay các nhà phân phối bản lẻ thành lập nên nhằm hỗ trợ cho các hoạt động tiêu thụ hàng hóa của mình
1.1.2.2 Công ty tài chính tiêu dùng
Các công ty tài chính tiêu dùng này là các doanh nghiệp riêng biệt hay do các ngân hàng làm chủ sở hữu, các công ty này thường cho khách không có khả năng vay từ các nguồn khác và định lãi suất cao hơn
Công ty tài chính loại này cung cấp phần lớn nguồn vốn cho gia đình và cá nhân vay nhằm mục đích mua sắm hàng hóa tiêu dùng như các đồ đạc, nội thật và các đồ gia dụng Hầu hết các khoản cho vay đều được trả góp định kỳ Một cách cho vay khác là cấp thẻ tín dụng cho các ngân hàng để họ mua sắm ở các hệ thống cửa hàng bản lẻ Do các khoản vay của công ty tài chính tiêu dùng khá rủi ro nên công ty thường chỉ cho vay những khoản tiền nhỏ vởi lãi xuất cao hơn lãi xuất thị trường Các công ty tài chính loại này có thể do ngân hàng thành lập nên và hoạt động độc lập dưới hình thức các công ty cổ phần
Trang 61.1.2.3 Công ty tài chính doanh nghiệp
Cung cấp các hình thức ứng dụng chuyên biệt cho các doanh nghiệp bằng cách thực hiện các khoản cho vay và tài khoản mua bán với chiết khấu: Dạng tin dụng này được gợi là factoring Ngoài ra công ty tài chính doanh nghiệp chuyên môn hóa vào cho thuê trang thiết bị máy móc mà họ mua về và cho các doanh nghiệp khác vay trong một khoảng thời gian nào đó
1.1.3 Hoạt động của công ty tài chính
Các công ty tài chính có nhiều hoạt động, mỗi công ty có những nét giống và những nét đặc trưng riêng biệt của công ty mình Các hoạt động chủ yếu thường thấy ở công ty tài chính là: hợp tác đầu tư, hoạt động thu xếp vốn, huy động vốn, dịch vụ tài chính, dịch vụ ủy thác vốn đầu tư, tín dụng cá nhân và doanh nghiệp, kinh doanh ngoại hối, chiết khấu giấy tờ có giá,bao thanh toán, bão lãnh … Hoạt động trên nguyên tắc
“mua lớn – bán nhỏ”
1.1.3.1 Hoạt động huy động vốn
Vốn là yếu tố quan trọng, do vậy, việc huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau là rất cần thiết cho sự ổn định và phát triển của công ty
Các hoạt động huy động vốn của công ty tài chính:
o Nhận tiền gửi có kỳ hạn từ một năm trở lên của tổ chức, cá nhân theo quy định của ngân hàng nhà nước
o Phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi, và các loại giấy tờ có giá khác để huy động vốn của cá nhân trong và ngoài nước của pháp luật hiện hành
o Vay các tổ chức tín dụng, tài chính trong nước, ngoài nước và các tổ chức tài chính quốc tế
o Tiếp nhận vốn ủy thác của chính phủ, các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước
1.1.3.2 Hoạt động tín dụng
Hoạt động cho vay
Theo nghị định 79/2002/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của công ty tài chính ban hành ngày 04/10/2002, có hiệu lực ngày 19/10/2002: Công ty Tài chính được cho vay dưới các hình thức:
o Cho vay ngắn hạn, cho vay trung và dài hạn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước
Trang 7o Cho vay theo uỷ thác của Chính phủ, của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định hiện hành của Luật Các tổ chức tín dụng và hợp đồng uỷ thác
o Cho vay tiêu dùng bằng hình thức cho vay mua trả góp
Công ty tài chính có thể cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn trên cơ sở cân đối nguồn vốn trung và dài hạn, không sử dụng vốn vay ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn nhằm bảo đảm an toàn cho hệ thống
Hoạt động chiết khấu, tái chiết khấu, cầm cố thương phiếu, trái phiếu và các
Công ty tài chính được cấp tín dụng dưới hình thức chiết khấu, cầm cố thương phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác đối với các tổ chức và cá nhân
Công ty tài chính và các tổ chức tín dụng khác được tái chiết khấu, cầm cố thương phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác cho nhau
1.1.3.3 Hoạt động đầu tư
Theo khoản 2 điều 24 nghị định số 79/2002- CP về tổ chức và hoạt động của
công ty tài chính đã cho phép các công ty tài chính được phép tham gia vào hoạt động đầu tư, và các công ty tài chính ở Việt Nam được phép thực hiện các hoạt động đầu tư
và các dịch vụ có liên quan theo luật định Về hoạt động đầu tư, thì ở mỗi công ty tài chính có một cách làm khác nhau, cách phân chia khác nhau, và ở PVFC thì được chia làm bốn loại hình đầu tư lớn như sau
1.1.3.4 Hoạt động bảo lãnh
Theo NĐ79/2002/NĐ-CP tại điều 20 về bảo lãnh: “Công ty Tài chính được bảo lãnh bằng uy tín và khả năng tài chính của mình đối với người nhận bảo lãnh Việc bảo lãnh của Công ty Tài chính phải được thực hiện theo quy định tại Điều 58, Điều 59, Điều
60 Luật Các tổ chức tín dụng và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước.”
Trang 8Một số hoạt động bảo lãnh ở Việt Nam:
1 Bảo lãnh vay vốn
2 Bảo lãnh thanh toán
3 Bảo lãnh dự thầu
4 Bảo lãnh thực hiện hợp đồng
5 Bảo lãnh bảo đảm chất lượng sản phẩm
6 Bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước
7 Bảo lãnh đối ứng
8 Xác nhận bảo lãnh
1.1.3.5 Hoạt động khác
Các nghiệp vụ khác được thực hiện theo đúng quy luật của pháp luật hiện hành
o Góp vốn mua cổ phần cho các doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng khác
o Đầu tư cho các dự án theo hợp đồng
o Tham gia thị trường tiền tệ
o Thực hiện các dịch vụ kiều hối, kinh doanh vàng
o Làm đại lý phát hành trái phiếu, cổ phiếu và các loại giấy tờ có giá cho các doanh nghiệp
o Được quyền nhận ủy thác, làm đại lý cho các lĩnh vực liên quan đến tài chính ngân hàng, bảo hiểm và đầu tư kể cả việc quản lý tài sản, vốn đầu tư của các tổ chức,
cá nhân theo hợp đồng
o Cung ứng các dịch vụ tư vấn về ngân hàng, tài chính, tiền tệ, đầu tư cho khách hàng
o Cung ứng dịch vụ bảo quản hiện vật quý, giấy tờ có giá, cho thuê tủ két, cầm đồ
và các dịch vụ khác
Các nghiệp vụ phải được cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền cho phép
Hoạt động ngoại hối: Ngân hàng Nhà nước xem xét cấp phép cho Công ty Tài
chính được thực hiện một số hoạt động ngoại hối theo quy định hiện hành về quản lý ngoại hối
Hoạt động bao thanh toán: Ngân hàng Nhà nước có trách nhiệm ban hành quy
định hướng dẫn việc thực hiện hoạt động bao thanh toán và xem xét cho phép Công ty cho thuê tài chính có đủ điều kiện thực hiện hoạt động này
Trang 9Lưu ý: Công ty tài chính không được huy động vốn ngắn hạn và không được
phép làm dịch vụ thanh toán
1.2 CÔNG TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH
1.2.1 Khái niệm:
Cho thuê tài chính là một dạng cho thuê tài sản, nhưng khác về căn bản so với các loại cho thuê tài sản khác là có sự chuyển dịch về cơ bản các rủi ro và các lợi ích gắn liền với quyền sở hữu tài sản thuê
Xét dưới hình thức cấp vốn, cho thuê tài chính là hoạt động tín dụng trung hạn và dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc thiết bị, phương tiên vận chuyển và các động sản khác trên cơ sở hợp đồng cho thuê giữa bên cho thuê là các tổ chức tín dụng phi ngân hàng và bên thuê là khách hàng
1.2.2.Đặc điểm:
Công ty cho thuê tài chính giữ quyền sở hữu tài sản cho thuê, bên thuê có nghĩa
vụ nộp tiền thuê (tiền trích khấu hao tài sản cho thuê) cho công ty cho thuê tài chính Khi kết thúc thời hạn thuê, khách hàng mua lại hoặc tiếp tục cho thuê tài sản đó theo các thỏa thuận trong hợp đồng thuê Đặc biệt, bên thuê được quyền ưu tiên mua tài sản cho thuê theo giá danh nghĩa thấp hơn giá trị thực tế của tài sản cho thuê tại thời điểm mua lại
Bên cho thuê cam kết mua máy móc thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác theo yêu cầu của bên thuê và nắm quyền sở hữu đối với các tài sản thuê trong suốt quá trình thuê
Bên thuê được sử dụng tài sản thuê, thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã được hai bên thoả thuận Bên thuê chịu chi phí bảo trì, bảo hiểm và không được hủy bỏ hợp đồng thuê trước thời hạn
Quyền sở hữu tài sản thuê được tự động chuyển giao cho bên thuê khi thời hạn cho thuê kết thúc
Hợp đồng cho thuê có quy định bên thuê có quyền chọn mua tài sản khi thời hạn thuê kết thúc
Thời hạn cho thuê một tài sản phải ít nhất bằng 60% thời gian cần thiết để khấu hao tài sản cho thuê đó
Trang 10Tổng số tiền cho thuê một tài sản quy định tại hợp đồng cho thuê tài chính ít nhất bằng giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng
Cho thuê tài chính có những đặc trưng như: thời gian thuê chiếm phần lớn thời gian hữu dụng của tài sản; bên thuê chịu mọi chi phí vận hành, bảo trì, bảo hiểm,…
1.2.3 Phân loại cho thuê tài chính:
1.2.3.1 Cho thuê tài chính thuần:
Có 3 bên tham gia: bên cho thuê, nhà cung cấp và bên thuê Bên cho thuê mua tài sản, thiết bị từ nhà cung cấp theo yêu cầu của bên thuê
1.2.3.2 Cho thuê hợp tác:
Có 4 bên tham gia: bên cho thuê, nhà cung cấp, bên thuê, nhà cho vay Bên cho thuê đi vay để mua tài sản, thiết bị từ nhà cung cấp theo yêu cầu của bên thuê Người
co vay được hoàn trả tiền từ các khoảng tiền thuê
1.2.3.3 Cho thuê trực tiếp:
Chỉ có 2 bên tham gia: bên cho thuê và bên thuê Bên cho thuê sử dụng thiết bị của họ có sẵn trực tiếp cho người thuê thuê tài sản
Cho thuê liên kết: Bao gồm nhiều bên cho thuê cùng tài trợ cho một người thuê, còn gọi là đồng tài trợ cho thuê
Cho thuê giáp lưng: Đây là loại cho thuê được sự chấp nhận của hai bên cho thuê, bên thứ nhất cho bên thứ hai thuê lại tài sản mà họ đã thuê từ bên cho thuê
Cho thuê trả góp: Là hình thức kết hợp cho thuê và bán trả góp Người bán chuyển giao tài sản và giữ lại sỡ hữu tài sản đó trong một khoảng thời gian nhất định
Bán và tái thuê: Bên thuê giữ lại quyền sử dụng tài sản và chuyển giao quyền sỡ hữu pháp lý cho bên cho thuê, đồng thời nhận được tiền bán tài sản.Bên thuê sử dụng tiền bán tài sản vào mục đích kinh doanh và thanh toán tiền thuê định kỳ cho bên cho thuê
1.2.4.Hoạt động của công ty cho thuê tài chính:
o Huy động vốn: nhận tiền gửi kỳ hạn trên 1 năm, phát hành trái phiếu, vay các tổ chứa tính dụng khác
o Cho thuê tài chính
o Mua và cho thuê lại
o Tư vấn
o Thực hiện dịch vụ ủy thác, bảo lãnh và quản lý tài sản
Trang 11
Ưu điểm: loại hình cho thuê tài chính có lợi thế là người thuê không cần bỏ toàn bộ số
tiền ra một lúc để có máy móc, thiết bị, đồng thời cũng không cần phải thế chấp tài sản như trong các giao dịch vay vốn khác, bên đi thuê tài chính không phải chịu những rủi
ro do sự mất giá của tài sản, hao mòn tự nhiên
1.3 CÔNG TY TÀI CHÍNH VÀ CHO THUÊ TÀI CHÍNH TRÊN THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM:
Khi thị trường tài chính Việt Nam phát triển, nó sinh ra một nhu cầu lớn về vốn Lúc này, các Ngân hàng với những điều kiện chặt chẽ về hạn mức cho vay, kỳ hạn vay, điều kiện giải ngân sẽ rất khó đáp ứng hết được nhu cầu vốn lớn này Sự ra đời của các công ty tài chính, cho thuê tài chính là một bước phát triển tất yếu của thị trường tài chính
Tại Việt Nam, hiện có tới 17 công ty tài chính, phần lớn thuộc các tập đoàn kinh tế Nhà nước Các công ty tài chính thường trực thuộc những Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước như: Công ty tài chính công nghiệp Tàu thủy, Công ty tài chính Điện lực
Ưu điểm của các công ty tài chính là mang lại một nguồn vốn lớn dài hạn, cung ứng cho nhiều dự án lớn trọng điểm
Tuy nhiên, ở Việt Nam, các công ty tài chính lại trực thuộc các tập đoàn mà các tập đoàn này về bản chất là sử dụng vốn của Nhà nước Dẫn đến sự ỷ lại vào ngân sách, hoạt động chưa hiệu quả, không mang lại lợi nhuận như mong đợi
Mặc dù là hình thức tín dụng mang lại nhiều lợi ích, nhưng cho thuê tài chính vẫn chưa thực sự phát triển tại thị trường việt Nam, thậm chí đang có xu hướng thụt lùi, thu hẹp dần quy mô hoạt động Tính đến thời điểm hiện tại chỉ có 8 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này trên thị trường việt Nam Trên thực tế chỉ có 5 trong số hoạt động bình thường, còn lại 3 doanh nghiệp tập trung vào sử lý nợ quá hạn, hầu như không còn kinh doanh
Nguyên nhân thất bại đến từ nhiều lý do xuất phát từ nội bộ tổ chức, đến các tác động của rủi ro trong cho vay tàu thuyền vận tải Toàn ngành đã lâm vào bức tranh nợ xấu, với các điểm đen ghi dấu tiêu cực, dẫn đến giảm uy tín vốn đã nhỏ bé của các doanh nghiệp trong lĩnh vực này
Ngoài ra, vốn điều lệ thấp cũng là một rào cản cho sự phát triển của các công ty Khi mà thậm chí một công ty có thể coi là ông lớn trong ngành như VietinBank
Trang 12Leasing cũng chỉ có thể cho thuê tối đa 1 dự án lên đến 200 tỷ đồng Vì vậy, công ty CTTC không thể với tới việc chuyển đổi công nghệ, quy trình sản xuất của các DN lớn
Số liệu thống kê các chỉ tiêu tài chính nói chung của hệ thống này suốt hai năm qua đều phản ánh những khó khăn rõ nét Cụ thể, đến 30/6/2014, quy mô vốn tự có của nhóm công ty tài chính và cho thuê tài chính đã giảm tới 16,97% so với cuối năm
2013, chỉ còn 2.220 tỷ đồng; trong khi quy mô vốn điều lệ là 18.823 tỷ đồng Điều này có nghĩa, nhiều công ty tài chính đã ở trong trạng thái thua lỗ kéo dài và có hiện tượng lỗ ăn sâu vào vốn… Bên cạnh đó, tỷ lệ an toàn vốn chung của khối này chỉ còn 3,35%, trong khi mức tối thiểu theo quy định của Ngân hàng Nhà nước phải là 9%
Tuy nhiên, giữa những khó khăn chung trong ngành vẫn có những công ty hoạt động hiệu quả như VCB Leasing dư nợ tăng 19,74% đạt hơn 1.612 tỷ đồng; VietinBank Leasing tăng 8,93% Với Sacombank Leasing, ACB Leasing, mặc dù tăng trưởng dư nợ không cao nhưng chất lượng tăng trưởng khá tốt với tỷ lệ lợi nhuận trước thuế trên vốn chủ sở hữu hơn 20%
Chúng ta vẫn có thể mong đợi vào một tương lai sáng sủa hơn cho ngành, khi mà nhà nước cùng với ngân hàng nhà nước đang có dự thảo thông tư cho hoạt động tín dụng tiêu dùng Một hình thức phát triển mạnh mẽ, lâu đời ở các nước phát triển Đây cũng là một mảnh đất màu mỡ, một hướng đi mới đầy hứa hen cho các công ty tài chính, cũng như thúc đẩy các ngân hàng thương mại chưa có công ty tài chính tham gia vào ngành
Ngoài ra, việc cho phép tổ chức tài chính nước ngoài, ngân hàng thương mại trong nước mua lại công ty tài chính để chuyển đổi thành công ty tài chính tín dụng tiêu dùng là giải pháp khả thi để tái cơ cấu công ty tài chính; một mặt, đáp ứng được nhu cầu thành lập công ty tài chính tín dụng tiêu dùng của các tổ chức tài chính nước ngoài, ngân hàng thương mại, mặt khác, thúc đẩy nhanh tiến độ tái cơ cấu tổ chức tín dụng phi ngân hang
Việc tái cơ cấu hệ thống mà Ngân hàng Nhà nước đang triển khai, cùng với quy định ở dự thảo trên, sẽ từng bước khắc phục tình trạng hiện nay Sáp nhập, mua - bán lại công ty tài chính vào ngân hàng thương mại là một giải pháp.Và cùng với xu hướng thành lập mới, hệ thống các công ty tài chính Việt Nam sẽ đón một diện mạo mới trong tương lai gần
Trang 132 CÔNG TY BẢO HIỂM
2.1 KHÁI NIỆM CÔNG TY BẢO HIỂM
2.1.1 Khái niệm
Hiện tại, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về “Bảo hiểm”
được xây dựng trên nhiều góc độ nghiên cứu : xã hội, pháp lý, kinh
tế,… Dưới đây là một số định nghĩa của Bảo hiểm trên thế giới :
Theo Dennis Kessler : Bảo hiểm là sự đóng góp của số đông
vào sự bất hạnh của số ít
Theo Monique Gaullier : Bảo hiểm là một nghiệp vụ qua đó, một bên là người được bảo hiểm cam đoan trả một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm thực hiện mong muốn để cho mình hoặc để cho người thứ ba trong trường hợp xảy ra rủi ro sẽ nhận được một khoản đền bù các tổn thất được trả bởi một bên khác: đó là người bảo hiểm Người bảo hiểm nhận trách nhiệm đối với toàn bộ rủi ro và đền bù các thiệt hại theo các phương pháp của thống kê
Các định nghĩa trên có xu hướng thiên về một góc độ nghiên cứu nào đó Vì vậy, các nhà nghiên cứu người Pháp đã đưa ra một định nghĩa vừa đáp ứng được khía cạnh
xã hội (dùng cho bảo hiểm xã hội) vừa đáp ứng được khía cạnh kinh tế (dùng cho bảo hiểm thương mại) và vừa đầy đủ về khía cạnh kỹ thuật và pháp lý có thể phát biểu như sau:
“ Bảo hiểm là một hoạt động qua đó một cá nhân có quyền được hưởng trợ cấp
nhờ vào một khoản đóng góp cho mình hoặc cho người thứ 3 trong trường hợp xảy ra rủi ro Khoản trợ cấp này do một tổ chức trả, tổ chức này có trách nhiệm đối với toàn
bộ các rủi ro và đền bù các thiệt hại theo các phương pháp của thống kê”
Tuy nhiên, ở đây chúng ta có thể hiểu một cách đơn giản là : “Bảo hiểm về bản chất là sự chia nhỏ rủi ro, là hoạt động thể hiện người bảo hiểm đứng ra cam kết hợp đồng bồi thường theo quy luật thống kê cho người được bảo hiểm trong trường hợp xảy ra rủi ro, với điều kiện người được bảo hiểm đã đóng phí bảo hiểm”
Như vậy, công ty bảo hiểm là công ty kinh doanh bảo hiểm “nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm