các vấn đề về nho giáo...............................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................
Trang 1I Khái niệm và lịch sử hình thành Nho giáo
1 Khái niệm
Nho giáo (儒教), còn được gọi là Khổng giáo (孔教), là một hệ thống đạođức, triết lý và tôn giáo do Đức Khổng Tử phát triển để xây dựng một xã hộithịnhtrị Nho giáo rất phát triển ở các nước châu Á là Trung Quốc, Nhật Bản, TriềuTiên,Hàn Quốc và nước ta Những người thực hành theo các tín điều của Nho giáođược gọi là các nhà Nho hay Nho sĩ hay nho sinh
2 Lịch sử hình thành và phát triển của Nho giáo
Trang 2Trong lịch sử Trung Hoa cổ đại, Nho giáo, Nho gia (đạo Nho) là một thuậtngữ bắt đầu từ chữ Nho, theo Hán tự từ “Nho” gồm từ “Nhân” (người) đứng gầnchữ “Nhu” Nho gia còn được gọi là nhà Nho người đã học sách thánh hiền đượcthiên hạ cần để dạy bảo người đời ăn ở hợp luân thường, đạo lý…Nhìn chung
“Nho” là một danh hiệu chỉ người có học thức, biết lễ nghĩa
Tại Trung Quốc, Nho giáo được độc tôn từ thời Hán Vũ Đế, trở thành hệ tưtưởng chính thống của Trung Hoa trong hơn 2.000 năm Nho giáo cũng rất pháttriển ở các nước châu Á như Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam Đến thế kỷ 20,với sự sụp đổ của chế độ phong kiến, Nho giáo mất vị thế độc tôn, thậm chí bị bàitrừ ở ngay tại Trung Quốc trong thập niên 1960-1970
Đến đầu thế kỷ, những giá trị của Nho giáo về tu dưỡng, giáo dục con ngườidần được tôn vinh trở lại Chương trình Bách gia Giảng đường của Đài Truyềnhình Trung ương Trung Quốc (CCTV) đã khởi xướng phong trào đọc lại Luận ngữnhằm phục hồi đạo đức truyền thống Ban Quốc học Đại học Thanh Hoa tính họcphí 26.000 nhân dân tệ cho một khóa học về đạo đức Nho gia, Đại học Phục Đánthu mỗi người 38.000 nhân dân tệ, và khóa học cổ văn ngoài giờ cho trẻ em cũng
có học phí rất cao Từ 2004 cho tới năm 2020, Chính phủ Trung Quốc có kế hoạchthành lập hơn 1.000 Học viện Khổng Tử trên khắp thế giới để quảng bá văn hóatruyền thống Trung Hoa
Trang 3a Nho giáo nguyên thủy
Cơ sở của Nho giáo được hình thành từ thời Tây Chu, đặc biệt với sự đónggóp của Chu Công Đán, còn gọi là Chu Công Đến thời Xuân Thu, xã hội loạn lạc,Đức Khổng Tử (sinh năm 551 trước Công nguyên) phát triển tư tưởng của ChuCông, hệ thống hóa và tích cực truyền bá các tư tưởng đó Chính vì thế mà ngườiđời sau coi ngài là người sáng lập ra Nho giáo
Thời Xuân Thu, Đức Khổng Tử đã san định, hiệu đính và giải thích bộ Lụckinh gồm có Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu và KinhNhạc Về sau Kinh Nhạc bị thất lạc nên chỉ còn năm bộ kinh thường được gọi làNgũ kinh Sau khi Đức Khổng Tử mất, học trò của ngài tập hợp các lời dạy để soạn
Trang 4ra cuốn Luận ngữ Học trò xuất sắc nhất của Khổng Tử là Tăng Sâm, còn gọi làTăng Tử, dựa vào lời thầy mà soạn ra Đại học Sau đó, cháu nội của Khổng Tử
là Khổng Cấp, còn gọi là Tử Tư viết ra cuốn Trung Dung Đến thời Chiến Quốc,Mạnh Tử đưa ra các tư tưởng mà sau này học trò của ông chép thành sách Mạnh
Tử Từ Khổng Tử đến Mạnh Tử hình thành nên Nho giáo nguyên thủy, còn gọi làNho giáo tiền Tần (trước đời Tần), Khổng giáo hay "tư tưởng Khổng-Mạnh" Từđây mới hình thành hai khái niệm, Nho giáo và Nho gia Nho gia mang tính họcthuật, nội dung của nó còn được gọi là Nho học; còn Nho giáo mang tính tôn giáo
Ở Nho giáo, Văn Miếu trở thành thánh đường và Khổng Tử trở thành giáo chủ,giáo lý chính là các tín điều mà các nhà Nho cần phải thực hành
Cũng giống như nhiều nhà tư tưởng khác trên thế giới như Phật Thích Ca,Chúa Jesus, Thánh Alla người đời sau không thể nắm bắt các tư tưởng của ĐứcKhổng Tử một cách trực tiếp mà chỉ được biết các tư tưởng của ngài bằng các ghichép do các học trò của ngài để lại Khó khăn nữa là thời kỳ "đốt sách, chôn Nho"của nhà Tần, vào khoảng hai trăm năm sau khi Đức Khổng Tử qua đời, khiến choviệc tìm hiểu tư tưởng gốc của Đức Khổng Tử càng khó khăn Tuy nhiên, các nhànghiên cứu đời sau vẫn cố gắng tìm hiểu và hệ thống các tư tưởng và cuộc đời củangài
nho
Đến đời Hán, Đại Học và Trung Dung được gộp vào Lễ Ký Hán Vũ Đế đưaNho giáo lên hàng quốc giáo và dùng nó làm công cụ thống nhất đất nước về tưtưởng Và từ đây, Nho giáo trở thành hệ tư tưởng chính thống bảo vệ chế độ phongkiến Trung Hoa trong suốt hai ngàn năm Nho giáo thời kỳ này được gọi là HánNho Điểm khác biệt so với Nho giáo nguyên thủy là Hán Nho đề cao quyền lựccủa giai cấp thống trị Thiên Tử là con trời, dùng "lễ trị" để che đậy "pháp trị"
nho
Đến đời Tống, Đại Học, Trung Dung được tách ra khỏi Lễ Ký và cùng vớiLuận ngữ và Mạnh Tử tạo nên bộ Tứ Thư Lúc đó, Tứ Thư và Ngũ Kinh là sáchgối đầu giường của các nhà Nho Nho giáo thời kỳ nay được gọi là Tống nho, vớicác tên tuổi như Chu Hy (thường gọi là Chu Tử), Trình Hạo, Trình Di (Ở Việt
Trang 5Nam, thế kỷ thứ 16, Nguyễn Bỉnh Khiêm rất giỏi Nho học nên được gọi là "TrạngTrình") Phương Tây gọi Tống nho là "Tân Khổng giáo" Điểm khác biệt của Tốngnho với Nho giáo trước đó là việc bổ sung các yếu tố "tâm linh" (lấy từ Phật giáo)
và các yếu tố "siêu hình" (lấy từ Đạo giáo) phục vụ cho việc đào tạo quan lại và caitrị
II Qúa trình thâm nhập và phát triển Nho giáo ở Việt Nam
− Nho giáo vào Việt Nam trong thời Bắc thuộc, qua ba thời kỳ như sau:
+ 111 TCN – 39: các đời Tây Hán và Đông Hán
Hoàng đế Hán Vũ Đế (trung Quốc) là người đưa nho giáo vào Việt Namđầu tiên khi chiếm được Nam Việt (có một phần lớn đất miền Bắc Việt Nambây giờ)
+ 43 – 544: các đời Đông Hán, Tam Quốc, Tấn, Nam Bắc Triều
+ 603 – 939: các đời Tùy, Đường, Ngũ Quý
Trang 6− Mười thế kỷ đầu công nguyên, nho học Việt Nam chưa thịnh, chưa hình thành tầnglớp nho sĩ nắm vai trò quan trọng trong xã hội Thành phần trí thức ưu tú bấy giờ lànhững nhà tu, đặc biệt là các cao tăng Thông qua việc học chữ nho để đọc kinhphật, các sư tiếp thu luôn nho học thế nên, khi đất nước vừa độc lập, kể từ Ngô (939– 965), Đinh (968 – 979), Lê (980 – 1009), trí thức tài đức ra giúp triều đình là cácđạo sĩ và thiền sư Một số thiền sư có công dạy các tục gia đệ tự trở thành nhân tàigiúp nước, như sư Khánh Vân và sư Vạn Hạnh lần lượt là thầy dạy Lý Công Uẩn, sưTrí ở núi Cao Dã là thầy của Thái úy Tô Hiến Thành, Thái bảo Ngô Hòa Nghĩa…
− Nho học Việt Nam phát triển từ thế kỷ 11, sang đời Nguyễn thì suy Nho học mởđường cuất thân cho kẻ sĩ thông qua khoa cử, nhờ đó thúc đẩy văn học phát triển,văn hóa được nâng cao Không ít tiên nho Việt Nam là tác gia, đi sâu vào triết nho.Nhưng chiến tranh liên miên, sách vở bị cướp, đốt mất quá nhiều, tư tưởng họcthuật của tiên nho giáo Việt Nam hầu như không còn lưu lại gì cho đời sau nghiêncứu
1 Sự phát triển của nho giáo qua các triều đại Việt Nam:
a Đời Lý (1010 – 1225)
Trang 7Nho học mới hưng phát Vua Lý Thánh Tông cho lập Văn miếu, làm tượng thờChu công, Khổng Tử, bảy mươi hai tiên hiền (1070) Vua Lý Nhân Tông mở khoathi đầu tiên là Tam trường 1075, Lê Văn Thịnh đậu thủ khoa, mở Quốc tử giám
1076, lập Hàn lâm viện 1086, tuyển Mạc Hiền Tích làm hàn lâm học sĩ Danh nhotriều Lý có Lý Đạo Thành, Trương Bá Ngọc, Tô Hiến Thành…
b Đời Trần (1225 – 1400)
Văn miếu Hà Nội là dấu ấn Việt hóa trong Nho giáo nhà Trần.
Vua Trần Thái Tông mở khoa thi Thái học sinh (1232), khoa tam giáo(1247) và mở khoa tam khôi (1247) tuyển trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa.Khoa ấy, Lê Văn Hưu đỗ bảng nhãn, là sử gia Việt Nam đầu tiên, tác giả Đại Việt
sử ky Vua còn mở quốc học việc (1253) giảng Tứ thư, Ngũ kinh
Đời Trần Duệ tông, Lê Quý Ly soạn sách Minh đạo (1302), dịch thiên Vô dật ởkinh Thư (1394) để thái tử sau lên ngôi là Thuận tông, dịch kinh Thi dạy nội cung(1396) Đời Thuận tông, Lê Quý Ly làm thái sư, nắm quyền phụ chính, cải cách thi
cử, ấn định lương bổng của các quan dạy học ở địa phương
Trang 8Văn học đời trần rất thịnh, nhờ khoa thi cử thúc đẩy danh nho có Mạc ĐĩnhChi, Nguyễn Trung Ngạn, Trương Hán Siêu, Lê Lập, Phạm Sư Mạnh, Chu An,Hàn Thuyên…
c Đời Hồ (1400 – 1407), hậu Trần (1407- 1413)
Hồ Quý Ly thay nhà Trần, lập nên nhà Hồ nước loạn, quân Minh xâm lăng,cướp sách vở đưa về Kim Lăng, những gì không đem được thì đốt, thiệt hại không
kể xiết nhà Minh đưa Tống nho vào Việt Nam
d Đời Hậu Lê (1428-1788)
Nho học rất được trú trọng, được tôn là quốc học khoa cử thúc đẩy, hình thànhtầng lớp nho sĩ trí thức đông dảo Kinh đô có Quốc tử giám, Thái học viện Vua LêThánh tông chia nước làm mười ba đạo, hầu hết các đạo ở dồng bằng đều lậptrường công, ấn định quy chế thi cử năm 1463 có chừng 1400 người thi Hội ởThăng Long, năm 1475 tăng lên khoảng 3000 thí sinh Từ triều Lê, người thi đậurất vẻ vang có lễ xướng danh, lễ vinh quy, lễ khắc tên tiến sĩ vào bia đá ở vănmiếu
Danh nho đời Lê có Nguyễn Trãi, Lê Văn Linh, Bùi Cấm Hồ, Nguyễn ThiênTích, Nguyễn Trực, Nguyễn Như Đỗ, Lương Thế Vinh, Đỗ Nhuận, Thân NhânTrung, Lương Đắc Bằng, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan, Lương HữuKhánh, Nguyễn Dữ, Giáp Hải, Nguyễn Mậu Nghi, Phạm Công Trứ, Lê Anh Tuấn,Nguyễn CÔng Hãng, Phạm Đình Trọng, Lê Quý Đôn, Lý Tử Tấn, Nguyễn MộngTuân, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên…
Trường thi hương ở tỉnh Nam Định
Trang 9
Lễ xướng danh những người thi đậu
Bia đá khắc tên các tiến sĩ triều Lê trong Văn miếu (Hà Nội)
e Đời Tây Sơn (1788-1802)
Sau khi đánh bại quân Thanh giữa năm Kỷ Dậu (1879), vua Quang Trung lậpSùng chính Viện, cử La Sơn Phu tử Nguyễn Thiệp làm viện trưởng, với tọng tráchchấn chỉnh lại Nho học Việt Nam La Sơn Phu tử dịch xong các sách Tiểu học, Tứthư, Ngũ kinh ra chữ nôm, chưa kịp cải cách thì vua Quang Trung mất
f Đời Nguyễn (1802-1945)
Trang 10Trường học chữ nho và nho giáo thời nhà Nguyễn
Nền học thuật gắn liền khoa thi cử ngày càng suy Thực dân pháp chiếm đấtnước cái học theo phương tây khởi sự chen vào Nền nho học cử nghiệp cổ truyềndần dần mai một, chấm dứt năm 1915 ở miền Bắc rồi 1918 ở miên Trung
2 Các tác phẩm triết học của Nho giáo Việt Nam:
Nhà nho có danh đời nào cũng xuất hiện, tên tuổi còn ghi lại nhiều Ngoài cônglao kinh bang tế thế, tiên nho Việt Nam còn giúp vào việc giáo hóa, trứ tác thơ vănnhiều loại Riêng về mặt triết học, cũng rất phong phú, không những phô diễn đạo
lý cổ truyền Khổng-Mạnh, Trình-Chu mà còn bày tỏ ít nhiều quan điểm riêng củangười Việt, thể hiện hoặc tinh thần độc lập hoặc ý thức đối kháng với tư tưởngTrung Hoa Tiếc thay, sách vở đã bị thất tán, tiêu hủy sau bao thế kỷ binh lửa.Các tác phẩm tiêu biểu:
- “văn tịch chí” trong “Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú
và “Tìm hiểu kho sách Hán-Nôm” của Trần Văn Giáp là 2 trong những tài liệu quýhiếm
Trang 11- Tứ thư thuyết ước, 10 quyển, do Chu An đời Trần soạn nay không còn.
- “Chu dịch quốc âm giải nghĩa”, 2 quyển, cũng gọi là chu dịch quốc âm ca doĐặng Thái Phương đời Hậu Lê soạn xong trước năm 1743
chu dịch quốc âm ca
Trang 12- Tứ thư ngũ kinh toản yếu(15 quyển) và Tính lý toản yếu (2 quyển) doNguyễn Huy Oánh đời Hậu Lê soạn.
Tứ thư ngũ kinh toản yếu
- Thánh mô hiền phạm lục (10 quyển), Dịch kinh phu thuyết (5 quyển), Âm chấtvăn chú (2 quyển), Vân đài loại ngữ (4 quyển) và Thư kinh diễn nghĩa (3quyển) do Lê Quý Đôn (1726-1784) đời Hậu lê soạn
- Chu huấn toản yếu 5 quyển do Phạm Nguyễn Du (1739-1787) đời hậu Lê soạn
- Xuân thu quản kiến 12 quyển do Ngô Thời Nhiệm (1746-1803) đời hậu Lêsoạn
- Nhân thế tri tu 8 quyển do Cao Xuân Dục (1842-1923) đời Nguyễn soạn
Trang 13III Một số đặc trưng cơ bản của Nho giáo Việt Nam.
- Thứ nhất, vai trò của Nho giáo đối với xã hội Việt Nam phong kiến, độc lập, tự chủ.
Sau khi giành được độc lập dân tộc ở đầu thế kỷ X, Ngô Quyền đã xoá bỏ chế
độ quận huyện của nhà Hán và xây dựng nên một chính thể độc lập, tự chủ.Nhưng, con người làm nên lịch sử Việt Nam lúc đó là dựa trên di sản của thời kỳBắc thuộc để lại, gồm cơ cấu xã hội, con người, học thuyết, tín ngưỡng, trong đó
có Nho giáo
Dù các triều đình Việt Nam đã xem xét và lựa chọn, kế thừa và cải tạo lý luậncủa Nho giáo cho phù hợp với cuộc sống của mình và thải loại những gì không phùhợp với mình, nhưng những nguyên lý cơ bản của nó thể hiện nên nội dung tưtưởng của chế độ phong kiến phương Đông vẫn được bảo lưu và thực hiện Cácnguyên lý như “mệnh trời”, “chính danh”, “tam cương, ngũ thường”, “trung hiếu lễnghĩa”, v.v của Nho giáo Trung Quốc đã trở thành nền tảng tư tưởng cho các triềuđình Việt Nam tổ chức nên hệ thống cai trị, quy định nên các sinh hoạt chính trị,kinh tế, tư tưởng, văn hoá, phong tục tập quán, v.v mang sắc thái Việt Nam Saumột thời gian kế thừa và vận dụng Nho giáo, các triều đình phong kiến Việt Nam
Trang 14đã cải biến mảnh đất này từ thân phận nô lệ và phụ thuộc vào đế quốc Hán trởthành một xã hội phong kiến độc lập, có nhiều phương diện ngang hàng với nướcHán.
Sự kết hợp giữa giai cấp phong kiến thống trị của Việt Nam và Nho giáo khôngnhững đã cải biến chế độ chính trị – xã hội còn nhiều yếu tố đơn sơ, chất phác củathời kỳ Văn Lang – Âu Lạc, không những đã xóa bỏ những tàn tích nô lệ và phụthuộc của thời kỳ Bắc thuộc, biến Việt Nam thành một xã hội phong kiến độc lập,
mà còn góp phần thúc đẩy xã hội đó nhanh chóng đi đến chỗ tập quyền và thốngnhất Song, loạn 12 sứ quân ở đầu thế kỷ X, hiện tượng nội bộ hai triều Đinh vàTiền Lê luôn diễn ra cảnh giết chóc lẫn nhau để chiếm đoạt ngôi vua đã khiến đấtnước vừa mới độc lập lại có nguy cơ mất nước Tình hình đó đòi hỏi phải có mộtchính thể quân chủ tập trung, thống nhất thì mới khắc phục được Nhà Lý đã đápứng được yêu cầu này Nho giáo với các lý thuyết như vua là do mệnh trời sắp đặt,người làm vua phải có đức, vua ra vua, bề tôi ra bề tôi, bề tôi phải trung với vua…
đã giúp nhà Lý xác lập và củng cố chế độ phong kiến trung ương tập quyền, đã tạocho họ sức mạnh để ổn định được bên trong và đề kháng được bên ngoài Các triềuđại Trần, Lê Sơ đã tiếp tục con đường thống nhất và tập quyền đó của triều Lý, tiếptục khai thác và sử dụng các yếu tố tập quyền và thống nhất của Nho giáo để xâydựng triều đại Như vậy, sự tác động của Nho giáo đã làm cho xu thế vận động của
xã hội từ phân tán đến tập trung quyền lực vào một triều đình ở Việt Nam sớm trởthành hiện thực
Trang 15Nho giáo không những đã có công trong việc dựng nước Việt Nam về mặt chế
độ, mà còn cung cấp kiến thức cho các nhà Nho yêu nước đấu tranh cho độc lậpdân tộc, cho quyền tự chủ của quốc gia, cho sự ngang hàng với Trung Quốc phongkiến Đúng là Nho giáo không dạy người Việt Nam yêu nước như có người đãquan niệm, nhưng nhiều mệnh đề, nhiều khái niệm của Nho giáo dùng trong hệthống thiết lập và củng cố chế độ phong kiến, khi được cấu trúc lại trên lập trườngcủa dân tộc và nhân dân, lập trường yêu nước Việt Nam, lại tỏ ra có sức mạnh đểchống trả kẻ thù dân tộc “Thiên mệnh” (mệnh trời) của sách “Thượng thư”,
“nhân” của Khổng Tử, “nhân nghĩa” của Mạnh Tử, “đại trượng phu” của Mạnh
Tử, “thời” và “tuỳ thời” của “Kinh Dịch”, “hoà” của “Tả truyện”, v.v đã đi vào tácphẩm của Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi,… và trở thành công cụtinh thần đắc lực, chiến đấu cho độc lập, tự do Xét về mặt này, Nho giáo cũng cótác dụng tích cực đối với các công cuộc cứu nước của dân tộc Việt Nam
Đi liền với tác dụng về mặt chính trị là tác dụng về mặt văn hoá của Nho giáo.Những yếu tố về văn hoá trong “Ngũ kinh” và “Tứ thư” đã là cơ sở tư tưởng vàhọc vấn để các triều đình Việt Nam lựa chọn người tài qua các kỳ thi Nho giáo.Chúng được dùng làm tài liệu để giáo dục con người, nhằm không những làm cho
họ trở thành người có học vấn, tức là Nho sĩ, mà còn bồi dưỡng nên những conngười phi thường, đó là những đấng trượng phu, những người quân tử Một khinhững danh hiệu đó đạt được thì quả trở thành nhân, bởi chính họ tác động trở lại,làm cho xã hội đó được vững vàng hơn, bền chặt hơn
“Lễ”, một tư tưởng quan trọng của Nho giáo, có vai trò đặc biệt đối với xã hội
Khổng Tử nói: “Vi quốc dĩ lễ” (Làm việc nước thì dựa vào lễ – Luận ngữ) Tuân
Tử nói: “Lễ giả, cường quốc chi bản dã” (Lễ là gốc làm cho nước mạnh – Tuân
Tử) Nội dung của khái niệm lễ này rất rộng, nhưng xét về mặt văn hoá, nó đã cónhững ảnh hưởng không nhỏ tới phong tục tập quán Việt Nam Vào những năm
Trang 16đầu công nguyên, tục lệ của Việt Nam còn khác nhiều so với tục lệ Hán “Truyện
Mã Viện” trong “Hậu Hán thư”ghi rằng, Mã Viện tâu với Hán đế: “Luật Việt khác với luật Hán, cần phải bác bỏ hơn 10 việc”(1) (luật đây có nghĩa là tục lệ,
phong tục – N.T.T.) Nhưng, bởi tư tưởng của kẻ thống trị là tư tưởng thống trị xãhội, nên chẳng bao lâu sau, nhiều tập tục cổ của người Việt bị mất đi và thay thếvào đó là tục lệ của Hán có trong Nho giáo
Nhìn lại lịch sử, chúng ta thấy rõ rằng, nhiều phong tục tập quán của Việt Namthời Trung đại, từ tế lễ, cưới xin, ma chay, đến hội hè, tuần tiết,… đều mang dấu ấn
của những điều đã ghi trong sách “Lễ ký” của Nho giáo Có thể nói, tục lệ Hán
truyền vào đã làm phong phú thêm cho tục lệ Việt Tất nhiên, những tục lệ gắn vớilối sống của các tầng lớp cơ bản trong xã hội Việt, gắn với nghề trồng lúa nước bảnđịa thì không thay đổi
Tuy ra đời ở Trung Quốc, nhưng Nho giáo đã tồn tại phổ biến ở Việt Nam, vìchế độ xã hội Việt Nam thời Trung đại giống như chế độ xã hội Trung Quốc, đều
là xã hội phong kiến Vốn là công cụ thống trị của giai cấp phong kiến ngoài nước
và trong nước đối với dân tộc Việt Nam, nhưng Nho giáo cũng có sự phục vụ nhấtđịnh cho sự tiến bộ của đất nước Việt Nam Thể hiện ở chỗ, giai cấp phong kiếnViệt Nam lúc còn sứ mệnh lịch sử đã biết vận dụng và cải tạo những yếu tố tíchcực của Nho giáo, dùng chúng vào việc làm lợi cho đất nước mình, cho nhân dânmình Quá trình đó diễn ra dần dần, từng bước một, đến một độ nhất định, đã đưaViệt Nam từ chỗ còn tương đối lạc hậu, trở thành một nước thi thư, một xã hội cóvăn hiến, ngang hàng với các nước phương Đông khác
Song, vai trò tích cực của Nho giáo ở Việt Nam là có giới hạn, chỉ kéo dàikhoảng 5 thế kỷ Nếu cho một đồ thị về sự phát triển của Nho giáo Việt Nam thì đó
là một đường cong chúc xuống với điểm bắt đầu là triều Lý và đi tới đỉnh cao làthời Lê Thánh Tông của triều Lê, sau đó là thời kỳ Nho giáo rơi vào khủng hoảngcho đến tận cuối triều Nguyễn Khi Lê Thánh Tông tự hào rằng, quan lại triều đìnhđều từ nhà Nho mà ra và rằng, triều đại nhà Lê sẽ được dài lâu như triều đại nhà
Châu bên Trung Quốc:“Hưởng niềm vui thịnh trị 800 năm như nhà Châu” (Bát
bách Cơ Châu lạc trị bình)(2), thì đó cũng là lúc báo hiệu sự đi xuống của triều Lê
và của cả Nho giáo Việt Nam Ông mất không bao lâu thì Mạc Đăng Dung cướpngôi nhà Lê, khiến cho tuổi thọ của triều Lê thuộc vào loại ngắn ở Việt Nam, thựcchất chỉ có 100 năm (1428 – 1527) Nguyên tắc trung với vua của Nho giáo khôngcòn hiệu lực Hiện tượng đó không những với triều Lê, mà còn đối với các triều đạiphong kiến Việt Nam sau đó Suốt 3 thế kỷ – XVI, XVII, XVIII, nhiều nhà Nho cótâm huyết với đất nước đã cố tìm trong Nho giáo một ánh sáng của sự trị bình xãhội, nhưng đều bất lực
Đầu thế kỷ XIX, Nguyễn Ánh diệt được nhà Tây Sơn, thống nhất đất nước, lênlàm vua, lập ra triều Nguyễn Gia Long (miếu hiệu của Nguyễn Ánh) và các vị vuaNguyễn kế tiếp đều ra sức đề cao Nho giáo, phục hồi địa vị độc tôn của Nho giáo
Trang 17Nhưng, Nho giáo chính thống triều Nguyễn do đi vào chỗ khắc nghiệt, giáo điềunên đã ngăn chặn sự nảy nở của các mầm mống tư tưởng thức thời và yêu nước, đã
từ chối khuynh hướng cải cách xã hội, khiến đất nước đánh mất cơ hội mới để tiếnkịp với thời đại
Tất nhiên, Nho giáo là một học thuyết, một tư tưởng và do đó, sự vận dụng nóphụ thuộc vào người sử dụng Nhưng, khi người sử dụng quá tin vào hiệu lực của
nó mà quên mất rằng hoàn cảnh đã thay đổi thì học thuyết cũng phải thay đổi theo,thì chính học thuyết đó tác động trở lại làm cho con người mê muội, làm theonhững điều đã lỗi thời Bởi vậy, có thể nói, cả triều Nguyễn và Nho giáo đều phảichịu trách nhiệm trước lịch sử dân tộc cuối thế kỷ XIX
Thứ hai, chiều hướng và động lực phát triển của Nho giáo Việt Nam.
Nho giáo Việt Nam càng về sau càng có nội dung phong phú, càng có sự hoạtđộng nhiều mặt và càng đi vào nền nếp Điều đó hoàn toàn không phải là ngẫunhiên, cũng không phải là kết quả của một giai đoạn, mà là kết quả của cả một quátrình và do các động lực bên trong và bên ngoài thúc đẩy
Yêu cầu của hoạt động thực tiễn chính trị – xã hội trong nước là một động lựcmạnh mẽ thúc đẩy sự phát triển của Nho giáo Việt Nam Yêu cầu này xuất phát từ
xu thế đi lên tập quyền và thống nhất của chế độ phong kiến Việt Nam Trong bahọc thuyết của phương Đông là Nho, Phật, Lão, chỉ có Nho giáo với nội dung vàtính chất của nó là có thể đáp ứng được xu thế này Các công việc của triều đình,như quản lý thần dân, sắp xếp hệ thống quan lại, tổ chức thi cử để chọn người tài,
ấn định nội dung để giáo dục con người, xem xét việc tế lễ, cầu đảo thần thánh,v.v đều phải dựa vào Nho giáo Dù Nho giáo gốc đã có sẵn những điều trên,nhưng đi vào sự vận dụng vẫn có điều cần phải thêm bớt, vẫn có sự phải bổ sung,vẫn có chỗ phải thuyết minh, nghĩa là vẫn còn có đất cho sự phát huy Các triềuđình phong kiến Việt Nam và các nhà tư tưởng của nó đã làm được điều đó Nhưviệc giữ nước và cứu nước, cho dù các triều đình phong kiến Việt Nam có sự ýthức rõ ràng về tính độc lập, tự chủ của mình, nhưng vẫn phải có sự kết hợp vớiNho giáo Nho giáo cho họ một số yếu tố nào đó để làm nền, cho họ một sốphương pháp nào đó để làm phương hướng của tư duy, tạo thuận lợi cho tư tưởngyêu nước xuất hiện Bằng các hoạt động như thế, tư tưởng Nho giáo Việt Namtừng bước trưởng thành lên
Trang 18Hoạt động đối ngoại là cơ hội để người trong nước hiểu biết thêm về sự pháttriển của Nho giáo Trung Quốc và từ đó, tạo nên cú hích bên ngoài, làm nên sựtăng trưởng của Nho giáo bên trong Bang giao giữa Việt Nam và Trung Quốc làbang giao thần thuộc, Việt Nam là thuộc quốc, Trung Quốc là thiên triều Cứ hàngnăm hoặc vài năm, tuỳ theo tình hình mỗi lúc mà Việt Nam phải có đoàn tiến cốngTrung Quốc Và cũng với thời gian tương tự, Trung Quốc có sứ giả sang Việt Nam
để thừa nhận và phong vương cho vua mới lên ngôi ở Việt Nam, hoặc yêu sáchmột số việc cần kíp khác Sự đi lại trên cũng là dịp để hai bên trao đổi về văn hoá,
tư tưởng, là dịp để Việt Nam hiểu thêm về Nho giáo Trung Quốc và vua TrungQuốc ban phát tài liệu kinh điển Nho giáo cho Việt Nam Nho giáo Hán, Đường,Tống, Nguyên, Minh, Thanh qua con đường chính thức đó mà có mặt ở Việt Nam,
mà gây nên sự học tập không ngừng của Việt Nam đối với Nho giáo Trung Quốc.Kết quả là, Nho giáo Việt Nam đã có sự tăng trưởng nhất định về số lượng kiếnthức, về những điều mới mẻ trong quá trình phát triển của Nho giáo Trung Quốc.Nhưng, đây mới chỉ là sự tăng trưởng về số lượng, chứ chưa gây được sự biến đổi
về chất lượng của Nho giáo Việt Nam, do điều kiện và thời gian chưa đủ để thựchiện sự chuyển hoá
Sự tiếp xúc của nhân dân hai nước ở vùng biên giới Việt – Trung là điều kiện
để người trong nước biết được thông tin cập nhật về hoạt động Nho giáo ở TrungQuốc Điều đó đã có ảnh hưởng ít nhiều đến chiều hướng vận động của Nho giáoViệt Nam Song, ảnh hưởng đó là hạn chế, vì sự chậm chạp của sự truyền đạt thôngtin thời phong kiến, vì sự cấm đoán lan truyền tin tức khác với cái hiện có của triềuđình Tuy vậy, những thông tin cập nhật từ bên ngoài đã gây nên sự thích thú tìmhiểu của một số Nho sĩ Việt Nam Bên cạnh đó, nó cũng tạo ra được tiền đề để tiếpnhận những thành tựu trong các bước phát triển của Nho giáo Trung Quốc vào ViệtNam khi có điều kiện, giúp cho sự tiếp nhận đó được dễ dàng
Trang 19Dù vậy, tất cả các động lực và hoàn cảnh trên vẫn không đủ điều kiện để tạonên những bước nhảy của Nho giáo Việt Nam Việc vận dụng Nho giáo để giảiquyết các công việc đối nội và đối ngoại của các triều đình Việt Nam chỉ là việcgiải quyết các tình thế xã hội trên cơ sở của Nho giáo vốn có; việc chấp nhận cáctrào lưu Nho giáo mới của Trung Quốc đưa vào chỉ là sự truyền bá, chứ chưa phải
là việc đổi mới của Nho giáo Việt Nam Để đổi mới chất lượng Nho giáo Việt Namthì phải cần đến sự vận động tự thân của Nho giáo Việt Nam, cần có sự phản tỉnhcủa Nho sĩ trong nước đối với Nho giáo của mình, xem cái gì còn thích hợp cầnduy trì, cái gì đã lỗi thời cần vứt bỏ Nhưng, việc ấy chỉ có Hồ Quý Ly là thực hiệnđược Các Nho sĩ khác đều không dám!
Cải cách của Hồ Quý Ly ở cuối thế kỷ XIV và đầu thế kỷ XV, bao gồm các cảicách chính trị, kinh tế và văn hoá tư tưởng, là hiện tượng đột xuất của lịch sử ViệtNam Xét về cải cách Nho phong, bản thân việc làm này mang tính chất cáchmạng Ở đó, ông chủ trương Việt ngữ hoá Nho giáo, dịch các sách kinh điển của
nhà Nho ra chữ Nôm, như dịch thiên “Vô dật” của Kinh Thư, dịch Kinh Thi để
cho nhiều người Việt có thể hiểu được; ông phê phán lối học kinh viện, xa rời thực
tế của Đường Nho, Tống Nho Chủ trương đó nếu được thực hiện đến cùng thìchắc sẽ tạo ra nhiều điểm mới cho Nho giáo Việt Nam Song, quân Minh xâm lượcViệt Nam đã cắt ngang việc làm đó của ông, chặn đứng sự cải cách của ông Suốt