Khi học sinh thực hiện lập phương trình hóa học nhanh và chính xác là đồng nghĩa với việc các em đã nắm vững hệ thống kiến thức cơ bản về: kí hiệu hóa học của nguyên tố; công thức nhóm n
Trang 1học sinh bậc THCS (đặc biệt là học sinh lớp 8 – là năm đầu tiên được làm quen với bộ môn này) Số tiết phân bố trong chương trình còn ít (2 tiết/tuần) song yêu
cầu lượng kiến thức lại quá nhiều và rộng Học sinh không chỉ nắm vững cơ sở lý thuyết mà còn phải biết vận dụng vào thực tế đời sống, vào giải các bài tập Thực
tế việc vận dụng giải các bài tập hóa học đối với học sinh lớp 8 còn gặp rất nhiều khó khăn, vì đây là môn học học sinh mới được tiếp cận
Trong quá trình dạy học, việc nâng cao chất lượng dạy và học là một vấn đề được quan tâm hàng đầu Để đạt được vấn đề đó đòi hỏi phải có sự nổ lực về cả 2 phía: thầy và trò Bởi vì dạy học vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật, để nâng cao chất lượng giảng dạy đòi hỏi người giáo viên phải có năng lực sư phạm vững vàng, có những phương pháp giảng dạy phù hợp, theo hướng tích cực giúp học sinh chủ động trong việc tìm kiếm lĩnh hội kiến thức Việc nâng cao chất lượng giảng dạy nói chung và dạy học môn Hóa học nói riêng cần có những phương pháp đặc trưng riêng Ngoài việc lên lớp, người giáo viên phải không ngừng học hỏi, tìm kiếm tham khảo những tài liệu có liên quan để làm sao có thể truyền đạt những kiến thức cho học sinh một cách nhẹ nhàng, dể hiểu Sự tiếp thu của học sinh nhiều hay ít, nhanh hay chậm là yếu tố quyết định cho chất lượng học tập
Trong chương trình Hóa học THCS và THPT hầu hết các bài tập trong
hệ thống bài tập hóa học đều có liên quan đến phương trình hóa học Do đó việc lập phương trình hóa học giữ vai trò hết sức quan trọng, đặc biệt nó là yếu tố tiên quyết để giải bài toán tính theo phương trình hóa học Khi học sinh thực hiện lập phương trình hóa học nhanh và chính xác là đồng nghĩa với
việc các em đã nắm vững hệ thống kiến thức cơ bản về: kí hiệu hóa học của nguyên tố; công thức nhóm nguyên tử; phân biệt được kim loại với phi kim; hóa trị của nguyên tố, nhóm nguyên tử; lập công thức hóa học của hợp chất
… Vì vậy tôi đã chọn đề tài: “Một số sáng kiến hình thành kĩ năng lập phương trình hóa học” để nghiên cứu.
Trang 2I.1 Thực trạng của vấn đề lập phương trình hóa học ở bậc THCS đòi hỏi phải có giải pháp mới để giải quyết:
Lập phương trình hóa học đòi hỏi học sinh phải tự lực tư duy, thực hiện
đủ các bước lập phương trình hóa học dưới sự hướng dẫn của giáo viên, đòi hỏi học sinh phải biết cách làm việc với từng yêu cầu của bài tập, phải có kĩ năng cơ bản thực hiện các bước lập phương trình hóa học một cách chính xác
và nhanh
Kỹ năng lập phương trình hóa học được hình thành cho học sinh từ bài
16: Phương trình hóa học trong chương II: Phản ứng hóa học của chương
trình hóa học lớp 8 Từ đó trở đi việc lập phương trình hóa học trở thành kỹ năng được vận dụng thường xuyên cho hầu hết các dạng bài tập hóa học Trong quá trình giảng dạy, việc hướng dẫn và luyện tập kỹ năng lập phương trình hóa học cho học sinh thường gặp những tồn tại sau:
I.1.1- Về phía học sinh:
*Trong các chương II và III của chương trình hóa học lớp 8 THCS hiện hành, việc lập phương trình hóa học của học sinh chủ yếu dựa trên các sơ đồ phản ứng cho sẵn của giáo viên
Ví dụ: lập phương trình hóa học cho các sơ đồ phản ứng sau:
a) Ca + O2 CaO
b) P + O2 P2O5
c) Na + H2O NaOH + H2
d) NaOH + H3PO4 Na3PO4 + H2O
Với trường hợp này học sinh thường mắc phải một số sai lầm sau:
(1) Một số học sinh ghi sơ đồ phản ứng rồi để yên, không thực hiện lập phương trình hóa học
(2) Một số học sinh khi lập phương trình hóa học lại viết hệ số vào giữa công thức hóa học
VD: Từ sơ đồ phản ứng Ca + O2 CaO
Lập thành phương trình hóa học: Ca + O2 → Ca2O …
(3) Một số học sinh khi lập phương trình hóa học lại chọn hệ số ghi vào vị trí của chỉ số hoặc bỏ đi chỉ số trong công thức hóa học đúng, viết vào chỉ số khác
Trang 3(4) Đặc biệt còn rất nhiều học sinh lập phương trình hóa học mất nhiều thời gian dẫn đến việc thực hiện bài kiểm tra không hoàn chỉnh.
*Từ chương IV của chương trình hóa học lớp 8 trở về sau các em thực hiện lập phương trình hóa học dựa vào sơ đồ phản ứng tự viết Học sinh tự viết sơ đồ phản ứng dựa trên tính chất hóa học của các chất đã học Trường hợp này các em thường mắc phải một số sai lầm sau:
(5) Một số ít học sinh ghi phản ứng hóa học sai do chưa nắm vững tính chất hóa học của các chất
(6) Một số ít học sinh khi ghi phản ứng hóa học đã viết sai công thức hóa học của các chất tham gia và các chất sản phẩm do chưa thuộc hóa trị của nguyên tố và nhóm nguyên tử …
(7) Đặc biệt trường hợp này cũng còn rất nhiều học sinh mặc dù ghi đúng sơ đồ phản ứng nhưng quá trình chọn hệ số để lập các phương trình hóa học lại mất nhiều thời gian dẫn đến việc thực hiện bài kiểm tra không hoàn chỉnh
I.1.2- Về phía GV:
Trong quá trình giảng dạy, luyện tập cho học sinh và dự giờ các đồng nghiệp ở bài 16 của hóa học 8, cũng như các bài học có liên quan đến lập phương trình hóa học tôi nhận thấy đều thực hiện như sau:
a) Thực hiện giảng dạy bài 16 “Phương trình hóa học”: ở bài này
giáo viên chủ yếu hướng dẫn cho học sinh lập các phương trình hóa học đơn giản
Hướng dẫn học sinh thực hiện lập phương trình hóa học theo ba
bước như sách giáo khoa:
Lập phương trình hóa học theo sơ đồ phản ứng.
* Các bước tiến hành:
- Bước 1: Viết lại sơ đồ phản ứng (gồm công thức hóa học của các chất tham gia và sản phẩm)
- Bước 2: Cân bằng số nguyên tử của mỗi nguyên tố trước và sau phản ứng:
bằng cách thêm hệ số vào đằng trước các công thức hóa học (CTHH).
- Bước 3: Viết PTHH: thay mũi tên ( ) bằng mũi tên ( → )
* Một số điều cần nhớ khi lập PTHH:
+ Không được thay đổi chỉ số trong các công thức hóa học đã viết đúng + Viết hệ số cao bằng kí hiệu hóa học
+ Trong công thức hóa học có nhóm nguyên tử OH, SO4, NO3, … thì coi
cả nhóm như một đơn vị để cân bằng
Trang 4+ Phương trình hóa học biểu thị sự biến đổi chất này thành chất khác, khác với phương trình toán học biểu thị sự bằng nhau giữa hai vế Do đó không dược hoán đổi hai vế của phương trình hóa học như phương trình toán học.
- Viết sơ đồ phản ứng: Viết đủ chất, viết đúng CTHH của chất tham gia và sản phẩm
- Cân bằng số nguyên tử của mỗi nguyên tố trước và sau phản ứng cần chú ý:+ Thường bắt đầu từ những nguyên tố mà số nguyên tử có nhiều và không bằng nhau
+ Trường hợp số nguyên tử của nguyên tố ở vế này là chẵn, ở vế kia là lẻ thì trước hết phải làm chẵn số nguyên tử lẻ, rồi tiếp tục đặt hệ số cho phân tử chứa số nguyên tử chẵn ở vế còn lại sao cho số nguyên tử ở hai vế bằng nhau
+ Nếu trong CTHH có nhóm nguyên tử (VD: nhóm OH, Nhóm CO3, Nhóm SO4 ) thì coi cả nhóm như một nguyên tử và bắt đầu từ nhóm nguyên tử trước.
- Kiểm tra:
+ Tỉ lệ các hệ số đã tối giản chưa
+ Số nguyên tử của mỗi nguyên tố trước và sau phản ứng bằng cách lấy hệ
số trước các CTHH nhân với chỉ số
* Trường hợp bài toán yêu cầu rút tỉ lệ số nguyên tử, số phân tử của các chất trong phản ứng cần lưu ý:
- Số tỉ lệ chính là các hệ số đứng đằng trước các CTHH
- Trường hợp các đơn chất có CTHH cũng chính là KHHH (VD: Sắt: Fe, nhôm: Al…, cacbon: C…) dùng từ nguyên tử.
- Trường hợp các đơn chất có CTHH gồm KHHH kèm theo chỉ số
(VD: Khí oxi : O2 , hiđro: H2 …) hay các hợp chất, dùng từ phân tử
* Cách tiến hành:
Ở bước 1 hầu hết giáo viên đã cho sẵn sơ đồ phản ứng, học sinh chỉ chép vào vở sơ đồ phản ứng Việc lập phương trình hóa học nhanh hay chậm chủ yếu được tiến hành ở bước 2 Trong bước này hầu hết các giáo viên hướng dẫn cho học sinh chọn các hệ số đặt trước các công thức hóa học sao cho số nguyên tử của mỗi nguyên tố trước và sau phản ứng đều bằng nhau là được
- Ví dụ 1 : lập phương trình hóa học cho sơ đồ phản ứng sau:
H2 + O2 H2O
+ Giáo viên cho học sinh nhận xét số nguyên tử của mỗi nguyên tố ở 2
vế của sơ đồ phản ứng, sau đó hướng dẫn học sinh chọn hệ số 2 đặt trước công thức hóa học H2O để cho số nguyên tử oxi ở 2 vế bằng nhau:
H2 + O2 2H2O
Trang 5Tiếp theo chọn hệ số 2 đặt trước công thức hóa học H2 để cho số nguyên
tử hiđro ở 2 vế bằng nhau
+ Viết thành phương trình hóa học: 2H2 + O2 → 2H2O
- Ví dụ 2 : lập phương trình hóa học cho sơ đồ phản ứng sau:
P + O2 P2O5
+ Giáo viên cho học sinh nhận xét số nguyên tử của mỗi nguyên tố ở 2
vế của sơ đồ phản ứng, sau đó hướng dẫn học sinh nên chọn nguyên tố oxi cân bằng trước vì nguyên tố này có số nguyên tử nhiều hơn So sánh số nguyên tử oxi ở 2 vế, lấy bội số chung nhỏ nhất của 2 và 5 là 10, để mỗi vế đều phải có 10 nguyên tử oxi Chọn hệ số 2 đặt trước công thức hóa học P2O5
và hệ số 5 đặt trước công thức hóa học O2 để cho số nguyên tử oxi ở 2 vế bằng nhau:
P + 5O2 2P2O5
Tiếp theo chọn hệ số 4 đặt trước công thức hóa học P để cho số nguyên
tử P ở 2 vế bằng nhau
+ Viết thành phương trình hóa học: 4P + 5O2 → 2P2O5
- Ví dụ 3 : lập phương trình hóa học cho sơ đồ phản ứng sau:
Al + HCl AlCl3 + H2
+ Giáo viên cho học sinh nhận xét số nguyên tử của mỗi nguyên tố ở 2
vế của sơ đồ phản ứng, sau đó hướng dẫn học sinh nên chọn cả 2 nguyên tố clo và hiđro cân bằng trước vì 2 nguyên tố này có chung trong công thức hóa học HCl Lấy bội số chung nhỏ nhất của 2 và 3 là 6, để mỗi vế đều phải có 6 nguyên tử H và 6 nguyên tử Cl Chọn hệ số 6 đặt trước công thức hóa học HCl, hệ số 2 đặt trước công thức hóa học AlCl3 và hệ số 3 đặt trước công thức hóa học H2 để cho số nguyên tử H và số nguyên tử Cl ở 2 vế bằng nhau:
Al + 6HCl 2AlCl3 + 3H2
Tiếp theo chọn hệ số 2 đặt trước công thức hóa học Al để cho số nguyên
tử Al ở 2 vế bằng nhau
+ Viết thành phương trình hóa học: 2Al + 6HCl → 2AlCl3 + 3H2
- Ví dụ 4 : lập phương trình hóa học cho sơ đồ phản ứng sau:
Al2O3 + HNO3 Al(NO3)3 + H2O
+ Giáo viên cho học sinh nhận xét số nguyên tử của mỗi nguyên tố, số nhóm nguyên tử ở 2 vế của sơ đồ phản ứng, sau đó hướng dẫn học sinh nên chọn nhóm NO3 và nguyên tố hiđro cân bằng trước vì có chung trong công thức hóa học HNO3 Lấy bội số chung nhỏ nhất của 2 và 3 là 6, để mỗi vế đều phải có 6 nguyên tử H và 6 nhóm NO3 Chọn hệ số 6 đặt trước công thức hóa học HNO3, hệ số 2 đặt trước công thức hóa học Al(NO3)3 và hệ số 3 đặt trước
Trang 6công thức hóa học H2 để cho số nguyên tử H và số nhóm nguyên tử NO3 ở 2
vế bằng nhau:
Al2O3 + 6HNO3 2Al(NO3)3 + 3H2O
Tiếp theo so sánh số nguyên tử Al và O ở 2 vế đã bằng nhau
+ Viết thành phương trình hóa học: Al2O3 + 6HNO3 → 2Al(NO3)3 + 3H2O
b) Thực hiện giảng dạy các bài có liên quan đến lập phương trình hóa học:
Khi thực hiện giảng dạy các bài có liên quan đến lập phương trình hóa học, nếu gặp phương trình hóa học mà học sinh lập sai thì giáo viên yêu cầu học sinh khác nhận xét và thực hiện lại Một số giáo viên sợ mất thời gian chỉ hướng dẫn nhanh chọn những hệ số nào đặt trước các công thức hóa học để lập phương trình hóa học, ít chú ý đến sự lúng túng của học sinh khi chọn hệ
(2) Chưa khắc sâu cho học sinh kiến thức về phân biệt kim loại với phi kim; nhóm nguyên tử thuộc gốc axit, …
Qua thực trạng trên tôi nhận thấy rằng việc lập phương trình hóa học là vấn đề hết sức nan giải đối với nhiều học sinh và nhiều giáo viên Học sinh mất nhiều thời gian để lập phương trình hóa học, vì các em chưa nắm được
qui luật nên chọn nguyên tố hóa học nào trong sơ đồ phản ứng để cân bằng
trước (trừ một số ít học sinh khá - giỏi, các em nhạy bén và có khả năng lựa chọn nhanh các hệ số để lập thành phương trình hóa học, mặt dù vậy các em này cũng mất thời gian lựa chọn nhiều lần) Giáo viên lúng túng khi hướng
dẫn học sinh chọn hệ số để cân bằng, đưa ra nhiều phương pháp lựa chọn các
hệ số, gây nhiễu cho học sinh
Do vậy mà tôi luôn đặt câu hỏi cho mình: Cần phải hướng dẫn như thế nào cho các em thực hiện bước lựa chọn hệ số đặt trước các công thức hóa học trong sơ đồ phản ứng để số nguyên tử của mỗi nguyên tố ở hai vế bằng nhau một cách nhanh nhất? Câu hỏi trên là động lực giúp tôi tìm tòi, nghiên
cứu và sâu chuỗi kiến thức để tìm ra qui luật chung giúp học sinh giảm bớt lúng túng đối với bài tập có liên quan đến lập phương trình hóa học và giúp giáo viên giảm bớt lúng túng khi hướng dẫn học sinh lập phương trình hóa học Với kinh nghiệm giảng dạy nhiều năm và dự giờ của nhiều đồng nghiệp
Trang 7tôi mạnh dạn xin nêu ra một số sáng kiến: “Hình thành kỹ năng lập phương trình hóa học” cho học sinh đại trà bậc THCS để khắc phục khó khăn nêu
trên và nâng cao chất lượng giảng dạy của mình Rất mong nhận được sự đóng góp của các anh, chị em đồng nghiệp để sáng kiến này hoàn thiện hơn
I.2 Ý nghĩa và tác dụng của giải pháp mới:
Đề tài “Hình thành kỹ năng lập phương trình hóa học” giúp học sinh
củng cố các kiến thức về kí hiệu hóa học, phân biệt nguyên tố kim loại và nguyên tố phi kim, phân biệt nguyên tử và phân tử, phân biệt đơn chất và hợp chất, nắm vững hóa trị của nguyên tố, cách lập công thức hóa học của hợp chất, tính chất hóa học của các chất … Đặc biệt tiết kiệm thời gian trong quá trình thực hiện các dạng bài tập định tính, định lượng của chương trình hóa học THCS
I.3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Đề tài này nghiên cứu các bước lập phương trình hóa học, đặc biệt xoáy sâu phần cách chọn hệ số để cân bằng số nguyên tử các nguyên tố (hay nhóm nguyên tử)
II PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH:
II.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn có tính định hướng cho việc nghiên cứu, tìm giải pháp của đề tài:
II.1.1) Cơ sở lý luận:
Tầm quan trọng của lập phương trình hóa học trong chương trình hóa học THCS:
- Lập phương trình hóa học là một trong những khâu rất quan trọng trong quá trình dạy và học môn Hóa học, giúp học sinh củng cố kiến thức đã học, đồng thời là cơ sở quan trọng để thực hiện tiếp và hoàn chỉnh các dạng bài tập định tính, định lượng trong chương trình hóa THCS và THPT sau này
- Khi thực hiện lập phương trình hóa học tư duy của học sinh có khả năng phát triển cao, vì khi đó học sinh phải có cái nhìn tổng quát về sơ đồ phản ứng đã đúng hay chưa để tiến hành chọn hệ số đặt trước các công thức hóa học trong sơ đồ phản ứng và lập thành phương trình hóa học
- Ngoài ra, khi thực hiện lập phương trình hóa học giúp học sinh có thao tác nhanh nhẹn để giải quyết tốt lượng bài tập trong thời gian ngắn nhất
Trang 8II.1.2) Cơ sở thực tiễn:
- Dựa vào các tài liệu:
+ Sách giáo khoa và sách bài tập hóa học 8
+ Tích lũy chuyên môn của cá nhân trong quá trình dạy học
+ Hướng dẫn giải nhanh bài tập hóa học (Cao Cự Giác).
+ Tạp chí Hóa học và ứng dụng
- Thực tế dạy học của cá nhân nhiều năm liền ở bộ môn Hóa học khối 8
- Kết quả dạy học của các nhân, dự giờ giáo viên trong trường, tham gia dạy và dự thao giảng, hội giảng ở trường, ở các cụm trong huyện Tuy Phước trong nhiều năm
- Kết quả phân tích bài kiểm tra thường xuyên, kiểm tra định kì các tiết
25 , 46 , 53 kiểm tra học kì II của năm học 2012 - 2013 và học kì I
Năm học 2013 - 2014
- Thăm dò ở học sinh bằng phiếu điều tra về việc tiếp thu phương pháp lập nhanh phương trình hóa học
II.2 Các biện pháp tiến hành, thời gian tạo ra giải pháp:
II.2.1) Các biện pháp tiến hành
- Biện pháp nghiên cứu lí thuyết: Nghiên cứu kỹ chương trình hóa học THCS, tài liệu bồi dưỡng học sinh giỏi, đặc biệt là bài 16 của Hóa học 8 nhằm xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài
- Biện pháp quan sát: Trực tiếp dự giờ giáo viên, trao đổi cùng đồng nghiệp để rút kinh nghiệm Trực tiếp chấm, chữa bài kiểm tra thường xuyên, kiểm tra định kì từ tiết 22 trở đi, kết quả kiểm tra học kì và nhằm tìm hiểu việc rèn luyện kĩ năng lập phương trình hóa học của học sinh
- Biện pháp điều tra: Phát hành phiếu điều tra thu thập thông tin
- Biện pháp nghiên cứu sản phẩm: Áp dụng dạy thực nghiệm các tiết học
22, 23 Hóa học 8, các tiết học sau có liên quan đến lập phương trình hóa học
II.2.2) Thời gian tạo ra giải pháp:
- Định hướng khái quát để nghiên cứu đề tài từ tháng 9 năm 2011
- Tiến hành nghiên cứu, điều tra vạch ra phương pháp để giải quyết vấn
đề từ ngày 20/12/2012
- Áp dụng dạy thực nghiệm các tiết học của bài 16, 17, các tiết học khác
có thực hiện lập phương trình hóa học, các tiết phụ đạo
- Đánh giá và rút kinh nghiệm kết quả học tập của học sinh qua việc kiểm tra thường xuyên, kiểm tra định kì, kiểm tra học kì I, II
Trang 9- Viết cơ bản sáng kiến từ tháng 10/ 2013
- Hoàn thiện vào tháng 12/2013
Trang 10
em niềm tin, sự yên tâm, say mê học tập và tìm tòi thêm về môn Hóa học phát huy được quá trình học sinh tự nhận thức, tự khám phá tìm tòi các tri thức Hóa học một cách chủ động, tích cực là quá trình tự phát hiện và giải quyết các vấn đề Góp phần nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả dạy học môn Hóa học.
* Tên đề tài: “Một số sáng kiến hình thành kỹ năng lập phương trình hóa học”.
* Mô tả giải pháp của đề tài: thuyết minh tính mới để giải quyết khó
khăn khi thực hiện lập phương trình hóa học, khả năng áp dụng và lợi ích của
II MÔ TẢ GIẢI PHÁP CỦA ĐỀ TÀI:
II.1 Thuyết minh tính mới:
Để học sinh lập được phương trình hóa học một cách nhanh chóng tôi xin
nêu ra ở đây một số giải pháp sau (Các giải pháp này chỉ đề cập đến bước thực hiện thứ 2 trong 3 bước lập phương trình hóa học mà sách giáo khoa đã
đề cập, đó là: Chọn hệ số thích hợp đặt trước các công thức hóa học trong
sơ đồ phản ứng để cân bằng số nguyên tử của mỗi nguyên tố):
*- Đối với học sinh lớp 8 :
Đối tượng này vốn kiến thức hóa học của các em rất ít, các em chủ yếu lập các phương trình hóa học với các sơ đồ phản ứng đơn giản Do đó giáo
Trang 11viên nên hướng dẫn các em tiến hành thực hiện chọn hệ số thích hợp đặt trước các công thức hóa học trong sơ đồ phản ứng để cân bằng số nguyên tử của mỗi nguyên tố theo trình tự sau:
1 Cân bằng số nguyên tử của nguyên tố kim loại
2 Cân bằng số nguyên tử của nguyên tố phi kim hoặc nhóm
nguyên tử thuộc gốc axit (trừ phi kim H và O).
3 Cân bằng số nguyên tử của nguyên tố H
4 Cân bằng số nguyên tử của nguyên tố O
Thực hiện theo trình tự trên đúng cho hầu hết các sơ đồ phản ứng hóa học dơn giản
Để học sinh thực hiện được trình tự trên giáo viên cần chú ý trong quá trình giảng dạy phải thực hiện được các yêu cầu sau:
● Yêu cầu 1: Cần giúp học sinh viết thông thạo kí hiệu hóa học các nguyên tố thường gặp và phân biệt được kim loại với phi kim.
Để làm được yêu cầu này, trong bài 5 “Nguyên tố hóa học” cần hướng dẫn cho học sinh cách nhớ kí hiệu hóa học:
a) Đối với các nguyên tố kim loại thường gặp: kí hiệu hóa học của
chúng hầu hết có 2 chữ cái (trừ kim loại kali kí hiệu hóa học có một chữ cái K), chú ý khắc sâu các kí hiệu hóa học của những nguyên tố không trùng với
chữ cái đầu theo tên Việt Nam, ví dụ như: Nhôm: Al, kẽm: Zn, Hướng dẫn học sinh học thuộc kí hiệu hóa học của nguyên tố kim loại theo trình tự sau:
Tên nguyên tố kim loại Kí hiệu hóa học Câu văn nhớ các nguyên tố
Trang 12thuộc kí hiệu hóa học của nguyên tố phi kim theo trình tự sau:
Tên nguyên tố phi kim Kí hiệu hóa học Câu văn nhớ các nguyên tố
a) Hóa trị của nguyên tố: Yêu cầu học sinh nắm vững hóa trị của các
nguyên tố có 1 hóa trị, còn những nguyên tố có nhiều hóa trị sẽ dần dần hình thành sau này
- Trong dãy kim loại ở trên các nguyên tố kim loại có 1 hóa trị như:
Trang 13b) Hóa trị của nhóm nguyên tử và nhận ra nhóm nguyên tử thuộc gốc axit.
- Nhóm nguyên tử chỉ có một hóa trị, khi lập phương trình hóa học xem chúng như một nguyên tố để cân bằng
Hóa trị Nhóm nguyên tử Tên nhóm nguyên tử
Trang 14Ví dụ 1 : Lập phương trình hóa học cho các sơ đồ phản ứng sau:
Chọn hệ số cân bằng số nguyên tử của các nguyên tố theo thứ tự:
a) Nguyên tố H, rồi đến nguyên tố O:
Phương trình hóa học là: 2H2 + O2 → 2H2O.
b) Nguyên tố Cu, rồi đến nguyên tố O:
Trang 15Phương trình hóa học là: 4Al + 3O2 → 2Al2O3.
Ví dụ 2 : Lập phương trình hóa học cho các sơ đồ phản ứng sau: