CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT TRONG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM GV Giáo viên HS Học sinh PTHH Phương trình hóa học THCS Trung học cơ sở THPT Trung học phổ thông CNTT Công nghệ thông tin BGĐT Bài giảng điện tử KT, KN. Kiến thức, kỹ năng PPDH Phương pháp dạy học I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI: Trong những năm qua, được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, trang thiết bị dạy học trong trường học ngày càng được bổ sung đầy đủ hơn, tuy vậy nhìn chung vẫn chưa đáp ứng hết nhu cầu dạy và học, hơn nữa bộ môn Hóa học là bộ môn khoa học thực nghiệm nhưng lại mang tính trừu tượng cao, đòi hỏi người học phải hiểu bản chất tận gốc, rễ của các lý thuyết cơ bản về nguyên tử, phân tử, chất... thì học sinh mới có thể học tốt về chất. Thông thường để dạy một tiết học thực nghiệm thì cần sự chuẩn bị khá chu đáo, tỉ mỉ của chính giáo viên dạy từ trước, trong và sau mỗi tiết học. Nếu một tiết học thiếu đi “công cụ”, phương tiện dạy học phục vụ cho tiết học đó thì hiệu quả của tiết dạy Hóa học trên lớp sẽ không cao dẫn đến chất lượng học sinh sẽ bị ảnh hưởng. Cho nên giáo viên dạy các môn học thực nghiệm nói chung và Hóa học nói riêng thực sự “vất vả” hơn trong khâu chuẩn bị cho một tiết dạy. Mục tiêu của ngành giáo dục của chúng ta là không ngừng đổi mới phương pháp giảng dạy và nâng cao chất lượng giáo dục ở tất cả các cấp học. Trong đó, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học đang được đẩy mạnh và nhân rộng trong toàn ngành hiện nay. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học còn mang lại lợi ích cho chính là học sinh. Các em được tiếp cận phương pháp dạy học mới hấp dẫn hơn hẳn phương pháp đọc – chép truyền thống. Ngoài ra, sự tương tác giữa thầy cô và học trò cũng được cải thiện đáng kể, học sinh có nhiều cơ hội được thể hiện quan điểm cũng như chính kiến riêng của mình. Điều này không chỉ giúp các em ngày thêm tự tin mà còn để cho giáo viên hiểu thêm về năng lực, tính cách và mức độ tiếp thu kiến thức của học trò, từ đó có những điều chỉnh phù hợp và khoa học. Hơn thế nữa, việc được tiếp xúc nhiều với công nghệ thông tin trong lớp học còn mang đến cho các em những kỹ năng tin học cần thiết ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Đây sẽ là nền tảng và sự trợ giúp đắc lực giúp học sinh đa dạng và sáng tạo các tiết học trên lớp, đồng thời tăng cường khả năng tìm kiếm thông tin cho bài học của các em. Là giáo viên trực tiếp giảng dạy Hóa học, đứng trước thực trạng trên, tôi đã mạnh dạn chủ động khai thác, sử dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy bộ môn Hóa học, qua việc sử dụng này tôi nhận thấy chất lượng các tiết học được cải thiện, chất lượng học tập môn Hóa học được nâng cao nên mạnh dạn viết báo cáo SKKN “Ứng dụng công nghệ thông tin để nâng cao chất lượng dạy học môn Hóa học”. II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.
Trang 1CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT TRONG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Trang 2I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Trong những năm qua, được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, trangthiết bị dạy học trong trường học ngày càng được bổ sung đầy đủ hơn, tuy vậynhìn chung vẫn chưa đáp ứng hết nhu cầu dạy và học, hơn nữa bộ môn Hóahọc là bộ môn khoa học thực nghiệm nhưng lại mang tính trừu tượng cao, đòihỏi người học phải hiểu bản chất tận gốc, rễ của các lý thuyết cơ bản vềnguyên tử, phân tử, chất thì học sinh mới có thể học tốt về chất Thôngthường để dạy một tiết học thực nghiệm thì cần sự chuẩn bị khá chu đáo, tỉ mỉcủa chính giáo viên dạy từ trước, trong và sau mỗi tiết học Nếu một tiết họcthiếu đi “công cụ”, phương tiện dạy học phục vụ cho tiết học đó thì hiệu quảcủa tiết dạy Hóa học trên lớp sẽ không cao dẫn đến chất lượng học sinh sẽ bịảnh hưởng Cho nên giáo viên dạy các môn học thực nghiệm nói chung vàHóa học nói riêng thực sự “vất vả” hơn trong khâu chuẩn bị cho một tiết dạy
Mục tiêu của ngành giáo dục của chúng ta là không ngừng đổi mớiphương pháp giảng dạy và nâng cao chất lượng giáo dục ở tất cả các cấp học.Trong đó, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học đang được đẩymạnh và nhân rộng trong toàn ngành hiện nay
Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học còn mang lại lợi íchcho chính là học sinh Các em được tiếp cận phương pháp dạy học mới hấpdẫn hơn hẳn phương pháp đọc – chép truyền thống Ngoài ra, sự tương tácgiữa thầy cô và học trò cũng được cải thiện đáng kể, học sinh có nhiều cơ hộiđược thể hiện quan điểm cũng như chính kiến riêng của mình Điều nàykhông chỉ giúp các em ngày thêm tự tin mà còn để cho giáo viên hiểu thêm vềnăng lực, tính cách và mức độ tiếp thu kiến thức của học trò, từ đó có nhữngđiều chỉnh phù hợp và khoa học
Hơn thế nữa, việc được tiếp xúc nhiều với công nghệ thông tin tronglớp học còn mang đến cho các em những kỹ năng tin học cần thiết ngay từ khicòn ngồi trên ghế nhà trường Đây sẽ là nền tảng và sự trợ giúp đắc lực giúphọc sinh đa dạng và sáng tạo các tiết học trên lớp, đồng thời tăng cường khảnăng tìm kiếm thông tin cho bài học của các em
Trang 3Là giáo viên trực tiếp giảng dạy Hóa học, đứng trước thực trạng trên,tôi đã mạnh dạn chủ động khai thác, sử dụng công nghệ thông tin trong giảngdạy bộ môn Hóa học, qua việc sử dụng này tôi nhận thấy chất lượng các tiếthọc được cải thiện, chất lượng học tập môn Hóa học được nâng cao nên mạnhdạn viết báo cáo SKKN “Ứng dụng công nghệ thông tin để nâng cao chấtlượng dạy học môn Hóa học”.
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.
Nghiên cứu việc ứng dụng công nghệ thông tin có nâng cao chất lượng
bộ môn hóa học hay không?
III THỜI GIAN, ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU.
1 Thời gian.
Việc áp dụng nghiên cứu được tiến hành ở các bài học thuộc chươngtrình hóa học 8,9 chương trình THCS
2 Đối tượng nghiên cứu.
- Nghiên cứu sự thay đổi chất lượng học môn Hóa học khi áp dụngCNTT trong dạy hóa học cho học sinh khối 8, 9 trường THCS Nâm N’đir
IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
1 Thực nghiệm sư phạm.
• Điều tra thực trạng, thực tế giảng dạy
• Nghiên cứu tài liệu
• Sử dụng các phương pháp giảng dạy trên cơ sở phát huy tính tích cựccủa học sinh “Lấy học sinh làm trung tâm”
• Phương pháp vấn đáp, nêu vấn đề, so sánh, tổng hợp khái quát
• Phương pháp học tập theo nhóm nhỏ
• Chọn lọc những dạng bài tập thích hợp với các đối tượng giỏi, khá,trung bình, yếu
2 Nghiên cứu kết quả học tập
Lấy kết quả của bài kiểm tra học kỳ của học sinh làm phương tiện đánhgiá sự ảnh hưởng của tác động này
Trang 4V GIỚI HẠN PHẠM VI ÁP DỤNG NGHIÊN CỨU.
Tôi nhận thấy việc ứng dụng CNTT trong dạy học không chỉ môn Hóahọc mà tất cả các bộ môn khoa học khác đều có thể ứng dụng để nâng caochất lượng dạy học, giáo dục học sinh để nâng cao chất lượng chung của nhàtrường
I CƠ SỞ LÍ LUẬN.
Là một bộ môn khoa học tự nhiên, hóa học đóng vai trò to lớn trongviệc đào tạo thế hệ trẻ năng động, sáng tạo, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồnnhân lực, phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nước
Chương trình Hóa học THCS cung cấp cho học sinh một hệ thống kiếnthức phổ thông cơ bản thiết thực về Hóa học, hình thành ở các em một số kĩnăng thực hành Hóa học cơ bản nhất Qua đó, học sinh có được một hệ thốngkiến thức phổ thông, cơ bản, thiết thực đầu tiên về Hóa học bao gồm nhữngkhái niệm cơ bản, định luật, học thuyết, một số chất Hóa học quan trọng
Hình thành một số kĩ năng thao tác với chất Hóa học, với thiết bị Hóahọc dơn giản Biết quan sát và giải thích một số hiện tượng Hóa học trong tựnhiên Biết giải bài toán Hóa học theo công thức và phương trình Hóa học Cóthói quen học tập và làm việc khoa học Cung cấp một số kiến thức và kĩ năng
cơ sở của môn Hóa học ở trường THCS bao gồm 3 thành phần chủ yếu:
+ Những khái niệm, định luật, lí thuyết mở đầu của Hóa học: mở đầu
về cấu tạo chất, nguyên tử, nguyên tố Hóa học, phân tử, đơn chất, hợpchất,phản ứng Hóa học, công thức Hóa học, phương trình Hóa học, mol, hóatrị, định luật bảo toàn khối lượng …
+ Những kiến thức về oxi, hiđro, một số kim loại, phi kim và các loạihợp chất vô cơ: oxit, bazơ, axit, muối
+ Kiến thức về một số hợp chất hữu cơ phổ biến và quan trọng nhất
Trang 5Chương trình Hóa học ở trường THCS trang bị cho học sinh nhữngkiến thức Hóa học phổ thông thiết thực quan trọng nhất làm cơ sở cho việcxây dựng thế giới quan khoa học, cho việc chuẩn bị để học sinh bước vàocuộc sống lao động hoặc tiếp tục học lên THPT
Người giáo viên Hóa học trường THCS cũng cần hiểu rõ nhiệm vụ cơbản của bộ môn Hóa học bậc THPT để kết hợp khi thực hiện nhiệm vụ của bộmôn ở bậc THCS ngay cả khi bậc THCS và bậc THPT còn là hai cấp họcriêng biệt
Bộ môn Hóa học còn giúp phát triển tiềm lực trí tuệ cho học sinh
Nhiệm vụ này đòi hỏi rèn luyện cho họ những năng lực nhận thức và năng lực
hành động:
- Phát triển năng lực quan sát, trí tưởng tượng khoa học
- Rèn luyện các thao tác tư duy cần thiết trong học tập Hóa học (phântích, tổng hợp, sơ sánh, đối chiếu, khái quát hóa, trừu tượng hóa… ) và cáchình thức tư duy (phán đoán, suy lí quy nạp và diễn dịch….) Phát huy nănglực tư duy logic và tư duy biện chứng
- Xây dựng cho học sinh năng lực tự học, tự nghiên cứu và óc sáng tạo
- Phát hiện và bồi dưỡng các học sinh có năng khiếu đối với bộ môn.Hóa học giúp hình thành thế giới quan duy vật biện chứng, thông quaviệc làm sáng tỏ một số khái niệm quan trọng của thế giới quan duy vật khoahọc và những qui luật tổng quát của phép biện chứng: thế giới là vật chất, tínhthống nhất vật chất của thế giới, vật chất có trước và ý thức có sau, khả năngnhận thức được thế giới ; quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đốilập; quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi vềchất và ngược lại; quy luật phủ định của phủ định Giáo dục đạo đức, xâydựng tư cách và trách nhiệm công dân: lòng nhân ái, lòng yêu nước, yêu laođộng, tinh thần quốc tế, sự tuân thủ pháp luật, sự tôn trọng và bảo vệ thiênnhiên
Các nhiệm vụ trên có mối quan hệ rất chặt chẽ Thông qua con đườngtrí dục mà giúp phát triển năng lực nhận thức một cách toàn diện và giáo dục
tư tưởng đạo đức Đức dục là kết quả tất yếu của sự hiểu biết
Trang 6Vì vậy học sinh phải cẩn phải nắm được các nền tảng kiển thức vữngchắc mới có thể đạt được những kỹ năng, thái độ như trên theo yêu cầu nhiệm
vụ của bộ môn
II CƠ SỞ THỰC TIỄN.
1 Thực trạng của việc dạy và học Hóa học ở trường THCS Nâm N’đir a) Thuận lợi:
- Được sự quan tâm của hiệu trưởng nhà trường, tổ chuyên môn và sự quan tâm nhiệt tình của đồng nghiệp
- Trường được ngành cung cấp thiết bị dạy học ngày càng đầy đủ
- Các em học sinh có đầy đủ sách giáo khoa, thuận lợi cho việc chuẩn
bị bài và làm bài tập trong sách giáo khoa
- Đa số các em có ý thức học tập khá tốt, nhiều em tích cực hoạt độngtrong giờ học, tham gia xây dựng bài
b) Khó khăn:
Qua quá trình trực tiếp giảng dạy, trao đổi với giáo viên trong tổ chuyênmôn cũng như trò chuyện với học sinh về vấn đề học tập bộ môn hóa học, kếthợp với các thông tin thu thập được qua kiểm tra kiến thức từ học sinh đã chothấy những vấn đề sau:
- Nhiều học sinh còn thụ động, chưa có thái độ tích cực xây dựng bài,chưa có hứng thú trong học tập Một số học sinh ít tập trung vào tiết học màthể hiện thái độ thờ ơ, tỏ ra nhàm chán, chỉ chống chế để chép bài cho qua
- Kiến thức học sinh không đồng đều, khả năng tiếp thu khác nhau
- Đa số các em học sinh nhận xét tiết học hóa học thường hay khôkhan, nhiều học sinh chưa chăm chỉ, kiến thức trừu tượng, khó hiểu, khó tiếpthu
Bên cạnh đó, ngoài việc giáo dụng chính khóa, bản thân còn tham giacông tác bồi dưỡng, phụ đạo học sinh và công tác dự giờ, nên thời gianchuẩn bị cho mỗi tiết dạy trên lớp đôi khi chưa đủ để có thể chuẩn bị chu đáocác tiết dạy, mà thông thường để dạy một tiết học thực nghiệm thì cần sựchuẩn bị khá chu đáo, tỉ mỉ của chính giáo viên dạy từ trước, trong và sau mỗitiết học Nếu một tiết học thiếu đi phương tiện dạy học phục vụ cho tiết học
đó thì hiệu quả của tiết dạy Hóa học trên lớp sẽ không cao dẫn đến chất lượng - -
Trường THCS Nâm N’đir Giáo viên Mai Văn
Chiến
6
Trang 7học sinh sẽ bị ảnh hưởng Cho nên giáo viên dạy các môn học thực nghiệmnói chung và Hóa học nói riêng thực sự “vất vả” hơn trong khâu chuẩn bị chomột tiết dạy.
2 Sự cần thiết của đề tài:
Hóa học đối với học sinh THCS là một bộ môn mới hoàn toàn, rất khó,đặc biệt học sinh lớp 8 mới nhập môn Do đó qua việc qua đánh giá kết quảhọc tập môn hóa học của học sinh khối 8, 9 trường THCS Nâm N’đir các nămhọc vừa qua cho thấy kết quả học tập của các em chưa cao, tỉ lệ học sinh khágiỏi còn thấp hơn so với bộ môn tự nhiên khác, nhiều em cảm thấy hóa học làmôn học “khó và khô”
Mục tiêu của ngành giáo dục của chúng ta là không ngừng đổi mớiphương pháp giảng dạy và nâng cao chất lượng giáo dục ở tất cả các cấp học.Trong đó, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học đang được đẩymạnh và nhân rộng trong toàn ngành hiện nay
Chính vì thế là giáo viên trực tiếp giảng dạy Hóa học, đứng trước thựctrạng trên, tôi đã mạnh dạn chủ động khai thác, sử dụng công nghệ thông tintrong giảng dạy bộ môn Hóa học, sau khi đẩy mạnh ứng dụng CNTT vào cácbài học trong, tôi so sánh kết quả học tập của học sinh năm học trước (không
áp dụng) và năm học này (đã áp dụng), thấy kết quả học tập của học sinh cónhiều tiến bộ đáng kể Chứng tỏ việc ứng dụng CNTT trong dạy học hóa học
đã mang lại hiệu quả góp phần nâng cao chất lượng bộ môn nói riêng và chấtlượng học sinh nói chung
III GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Bản thân tôi đã tăng cường thiết kế và sử dụng giáo án điện tử, ứngdụng thông tin trong các tiết học, trong đó chú trọng thực hiện những vấn đềsau trong các bài dạy của mình:
- Trước hết phải xác định rằng: Một giờ học tốt là một giờ học phát huyđược tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của cả người dạy và người họcnhằm nâng cao tri thức, bồi dưỡng năng lực hợp tác, năng lực vận dụng trithức vào thực tiễn, bồi dưỡng phương pháp tự học, tác động tích cực đến tưtưởng, tình cảm, đem lại hứng thú học tập cho người học Ngoài những yêu
cầu có tính chất truyền thống như: bám sát mục tiêu giáo dục, nội dung dạy học, đặc trưng môn học; phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi học sinh
Trang 8(HS); giờ học đổi mới PPDH còn có những yêu cầu mới như: được thực hiện thông qua việc GV tổ chức các hoạt động học tập cho HS theo hướng chú ý đến việc rèn luyện phương pháp tư duy, khả năng tự học, nhu cầu hành động
và thái độ tự tin; được thực hiện theo nguyên tắc tương tác nhiều chiều: giữa
GV với HS, giữa HS với nhau (chú trọng cả hoạt động dạy của người dạy và hoạt động học của người học) Về bản chất, đó là giờ học có sự kết hợp giữa
học tập cá thể (hình thức học cá nhân) với học tập hợp tác (hình thức học theonhóm, theo lớp); chú trọng kết hợp học với hành, nâng cao tri thức với rènluyện các KN, gắn với thực tiễn cuộc sống; phát huy thế mạnh của các PPDHtiên tiến, hiện đại; các phương tiện, thiết bị dạy học và những ứng dụng củacông nghệ thông tin…; chú trọng cả hoạt động đánh giá của GV và tự đánhgiá của HS Ngoài việc nắm vững những định hướng đổi mới PPDH như trên,
để có được những giờ dạy học tốt, người GV cần phải nắm vững các kĩ thuật dạy học
- Giáo viên phải nắm vững các bước thiết kế một giáo án: Từ thực tếdạy học, có thể tổng kết thành quy trình chuẩn bị một giờ học với các bướcthiết kế một giáo án như sau:
+ Bước 1: Xác định mục tiêu của bài học căn cứ vào chuẩn kiến thức
(KT), kĩ năng (KN) và yêu cầu về thái độ trong chương trình Bước này đượcđặt ra bởi việc xác định mục tiêu của bài học là một khâu rất quan trọng, đóngvai trò thứ nhất, không thể thiếu của mỗi giáo án Mục tiêu (yêu cầu) vừa làcái đích hướng tới, vừa là yêu cầu cần đạt của giờ học; hay nói khác đi đó làthước đo kết quả quá trình dạy học Nó giúp GV xác định rõ các nhiệm vụ sẽphải làm (dẫn dắt HS tìm hiểu, vận dụng những KT, KN nào; phạm vi, mức
độ đến đâu; qua đó giáo dục cho HS những bài học gì)
+Bước 2: Nghiên cứu SGK và các tài liệu liên quan để: hiểu chính xác,
đầy đủ những nội dung của bài học; xác định những KT, KN, thái độ cơ bảncần hình thành và phát triển ở HS; xác định trình tự logic của bài học
Bước này được đặt ra bởi nội dung bài học ngoài phần được trình bày trongSGK còn có thể đã được trình bày trong các tài liệu khác Kinh nghiệm củacác GV lâu năm cho thấy: trước hết nên đọc kĩ nội dung bài học và hướng dẫntìm hiểu bài trong SGK để hiểu, đánh giá đúng nội dung bài học rồi mới chọnđọc thêm tư liệu để hiểu sâu, hiểu rộng nội dung bài học Mỗi GV không chỉ
có KN tìm đúng, tìm trúng tư liệu cần đọc mà cần có KN định hướng cáchchọn, đọc tư liệu cho HS GV nên chọn những tư liệu đã qua thẩm định, đượcđông đảo các nhà chuyên môn và GV tin cậy Việc đọc SGK, tài liệu phục vụ - -
Trường THCS Nâm N’đir Giáo viên Mai Văn
Chiến
8
Trang 9cho việc soạn giáo án có thể chia thành 3 cấp độ sau: đọc lướt để tìm nội dungchính xác định những KT, KN cơ bản, trọng tâm mức độ yêu cầu và phạm vicần đạt; đọc để tìm những thông tin quan tâm: các mạch, sự bố cục, trình bàycác mạch KT, KN và dụng ý của tác giả; đọc để phát hiện và phân tích, đánhgiá các chi tiết trong từng mạch KT, KN.
Thực ra khâu khó nhất trong đọc SGK và các tư liệu là đúc kết được phạm vi,mức độ KT, KN của từng bài học sao cho phù hợp với năng lực của HS vàđiều kiện dạy học Trong thực tế dạy học, nhiều khi chúng ta thường đi chưatới hoặc đi quá những yêu cầu cần đạt về KT, KN Nếu nắm vững nội dungbài học, GVsẽ phác họa những nội dung và trình tự nội dung của bài giảngphù hợp, thậm chí có thể cải tiến cách trình bày các mạch KT, KN của SGK,xây dựng một hệ thống câu hỏi, bài tập giúp HS nhận thức, khám phá, vậndụng các KT, KN trong bài một cách thích hợp
+ Bước 3: Xác định khả năng đáp ứng các nhiệm vụ nhận thức của
HS,
gồm: xác định những KT, KN mà HS đã có và cần có; dự kiến những khókhăn, những tình huống có thể nảy sinh và các phương án giải quyết
Bước này được đặt ra bởi trong giờ học theo định hướng đổi mới PPDH, GVkhông những phải nắm vững nội dung bài học mà còn phải hiểu HS để lựachọn PPDH, phương tiện dạy học, các hình thức tổ chức dạy học và đánh giácho phù hợp Như vậy, trước khi soạn giáo án cho giờ học mới, GV phảilường trước các tình huống, các cách giải quyết nhiệm vụ học tập của HS Nóicách khác, tính khả thi của giáo án phụ thuộc vào trình độ, năng lực học tậpcủa HS, được xuất phát từ : những KT, KN mà HS đã có một cách chắc chắn,vững bền; những KT, KN mà HS chưa có hoặc có thể quên; những khó khăn
có thể nảy sinh trong quá trình học tập của HS Bước này chỉ là sự dự kiến;nhưng trong thực tiễn, có nhiều giờ học do không dự kiến trước, GV đã lúngtúng trước những ý kiến không đồng nhất của HS với những biểu hiện rất đadạng Do vậy, dù mất công nhưng mỗi GV nên dành thời gian để xem qua bàisoạn của HS trước giờ học kết hợp với kiểm tra đánh giá thường xuyên để cóthể dự kiến trước khả năng đáp ứng các nhiệm vụ nhận thức cũng như pháthuy tích cực vốn KT, KN đã có của HS
+ Bước 4: Lựa chọn PPDH, phương tiện dạy học, hình thức tổ chức
dạy học và cách thức đánh giá thích hợp nhằm giúp HS học tập tích cực, chủđộng, sáng tạo
Trang 10Bước này được đặt ra bởi trong giờ học theo định hướng đổi mới PPDH, GVphải quan tâm tới việc phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, rènluyện thói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác, KN vận dụng KT vàonhững tình huống khác nhau trong học tập và trong thực tiễn; tác động đến tưtưởng và tình cảm để đem lại niềm vui, hứng thú trong học tập cho HS Trongthực tiễn dạy học hiện nay, các GV vẫn quen với lối dạy học đồng loạt vớinhững nhiệm vụ học tập không có tính phân hoá, ít chú ý tới năng lực học tậpcủa từng đối tượng HS Đổi mới PPDH sẽ chú trọng cải tiến thực tiễn này,phát huy thế mạnh tổng hợp của các PPDH, PTDH, hình thức tổ chức dạy học
và cách thức đánh giá nhằm tăng cường sự tích cực học tập của các đối tượng
HS trong giờ học
+ Bước 5: Thiết kế giáo án: Đây là bước người GV bắt tay vào soạn
giáo án - thiết kế nội dung, nhiệm vụ, cách thức hoạt động, thời gian và yêucầu cần đạt cho từng hoạt động dạy của GV và hoạt động học tập của HS.Trong thực tế, có nhiều GV khi soạn bài thường chỉ đọc SGK, sách GV và bắttay ngay vào hoạt động thiết kế giáo án; thậm chí, có GV chỉ căn cứ vàonhững gợi ý của sách GV để thiết kế giáo án bỏ qua các khâu xác định mụctiêu bài học, xác định khả năng đáp ứng nhiệm vụ học tập của HS, nghên cứunội dung dạy học, lựa chọn các PPDH, phương tiện dạy học, hình thức tổchức dạy học và cách thức đánh giá thích hợp nhằm giúp HS học tập tích cực,chủ động, sáng tạo Cách làm như vậy không thể giúp GV có được một giáo
án tốt và có những điều kiện để thực hiện một giờ dạy học tốt Về nguyên tắc,cần phải thực hiện qua các bước 1, 2, 3, 4 trên đây rồi hãy bắt tay vào soạngiáo án cụ thể
Ở bước 4, trong khâu lựa chọn phương tiện dạy học, vì bản thân khôngthể chuẩn bị đầy đủ các dụng cụ khi dạy trên lớp với các tiết dạy gần nhaucho các bài dạy cần số lượng thiết bị nhiều, mất nhiều thời gian chuẩn bị, đôikhi phải tiếp xúc với nhiều chất độc hại nên không ít lần tôi đã bị ảnh hưởngđến sức khỏe , chính vì vậy đối với các thí nghiệm này, tôi đã tiến hành thiết
kế giáo án điện tử, ứng dụng công nghệ thông tin thông qua sử dụng máychiếu Projector hoặc màn hình Tivi 42 inch của nhà trường để giảm bớt gánhnặng “cho sự chuẩn bị phương tiện dạy học” nhưng vẫn duy trì được chấtlượng các tiết dạy trên lớp, trong đó tôi tập trung khai thác trên nguồn Internetcác Video thí nghiệm ảo, video của các phản ứng hóa học phức tạp, video ,hình ảnh các mẫu chất, các công đoạn sản xuất một số chất hoặc sản phẩm từ
Trang 11các chất trong chương trình mà đôi khi những tài liệu như tranh ảnh trong khothư viện trường hay sách giáo khoa, thậm chí trong phòng bộ môn Hóa họckhông thể có cho học sinh quan sát được, sau đây tôi xin lược ra một số thínghiệm, video, hình ảnh hoặc tư liệu tôi đã từng khai thác và sử dụng để phục
vụ cho việc dạy học trên lớp như sau:
1 Những bài học có dùng đến các chất nguy hiểm, chất độc hại, khó xảy ra, thời gian chuẩn bị lâu:
Trong chương trình hóa học 8, 9 phải tiến hành một số thí nghiệm liênquan đến hóa chất độc hại như: Thí nghiệm về S, P đỏ, Khí Clo, axit Sunfuricđặc, như:
+ Thí nghiệm: Đốt lưu huỳnh tạo khí Lưu huỳnh đioxit
+ Thí nghiệm: Đốt photpho đỏ tạo Điphotpho pentaoxit
+ Thí nghiệm: H2SO4 đặc háo nước
+ Thí nghiệm: H2SO4 đặc tác dụng với kim loại
+ Thí nghiệm: Thử tính chất của Clo
+ Thí nghiệm điều chế Clo trong phòng thí nghiệm
+ Thí nghiệm minh họa sản xuất Clo trong công nghiệp
Những thí nghiệm này đôi khi cần chuẩn bị trước trên khi lên lớp, làmtốn nhiều thời gian chuẩn bị, và ảnh hưởng đến thời gian dạy trên lớp, từ đótôi tìm tòi trên cổng Youtube và tải về các video thí nghiệm trên, lựa chọn,sưu tầm các đoạn phim có chất lượng hình ảnh, âm thanh tốt để sử dụng phục
vụ cho tiết dạy:
Trang 12Hình ảnh: Thí nghiệm đốt Photpho đỏ ( Nguồn video thí nghiệm trên Youtube.)
Hình ảnh: Thí nghiệm thử tính háo nước của axit sunfuric đặc
Thí
nghiệm Điều chế khí Clo
Thí nghiệm: Sắt tác dụng với khí Clo
2 Những bài học dạy về các khái niệm, chất, định luật mang tính trừu tượng cao:
Hình ảnh mang nặng tính trừu tượng như: Nguyên tử, phân tử, nguyên
tố hóa học, đơn chất, hợp chất, hóa trị đây là vấn đề cốt lõi của hóa học màhọc sinh phải nắm được trước các khái niệm khác, sách giáo khoa và hình ảnhkhông thể hiện được sự sinh động đối với các khái niệm này, chính vì thế bảnthân tôi đã sử dụng một số phần mềm hóa học, phần mềm MS Power pointthiết kế một số hình ảnh mô phỏng để giới thiệu cho các em qua phương pháptrực quan, đôi khi lấy từ nguồn mạng về, từ đó giáo viên sẽ giải quyết vấn đề
Trang 13nhanh hơn khi để các em phải tư duy trừu tượng, làm tiết học nhẹ nhàng hơn
và chất lượng hơn rất nhiều Một số ví dụ như:
+ Trình chiếu sơ đồ động giữa các nguyên tử trước trong và sau cácphản ứng hóa học, từ đó học sinh sẽ hiểu sâu hơn về bản chất các loại phảnứng bằng chương trình MS Powerpoint hoặc Macromediaflash Bài nguyêntử: sử dụng Power point để đặt hiệu ứng và vẽ các mô hình nguyên tử cho những ví dụ minh họa giúp học sinh dễ hiểu hơn:
Hình ảnh một số nguyên tử và cấu tạo nguyên tử
+ Bài 10- Hóa trị (Hóa học 8) Để các em hiểu rõ hơn về khái niệm này,giáo viên trình chiếu mô hình các nguyên tử liên kết với nhau trong một phân
tử, sau đó học sinh sẽ xác định được hóa trị của một nguyên tố
Hình ảnh phân tử nước và phân tử amoniac.
+ Trong các bài Metan, Etilen, Axetilen, Benzen, Rượu etilic, Axitaxetic ta trình chiếu cho học sinh thấy các mô hình cấu tạo phân tử dạngrỗng, dạng đặc để học sinh tự lắp ráp mô hình và viết ra công thức cấu tạo củamỗi chất, trong bài Bài 36-Metan, Bài 37- Etilen, Bài 38-Axetilen cho họcsinh thấy các liên kết đôi liên kết ba kém bền dễ bị bẻ gãy trong các phản ứnghóa học, như thế học sinh dễ nắm vững được các đặc điểm cấu tạo phân tử
Trang 14Mô hình phân tử Metan và Etilen trong Giáo án điện tử
Ví dụ: Trong bài Metan, Benzen cho học sinh thấy được 1 nguyên tửHidro tách ra đến thế chỗ 1 nguyên tử Clo hay Brom, trong bài Etilen,axetilen cho học sinh thấy các liên kết đôi liên kết ba kém bền khi bị bẻ gãy
sẽ liên kết với các nguyên tử Brom tạo nên phản ứng cộng
Trang 15Hình ảnh Slide chứa hiệu ứng mô tả phản ứng hóa học của etilen
+ Hình ảnh hoặc đoạn phim về quá trình điều chế, sản xuất các côngđoạn làm ra sản phẩm Ví dụ: Bài Hợp kim sắt: gang thép (Hóa 9) Giáo viênchiếu hình ảnh mô tả quá trình sản xuất gang và các phản ứng xảy ra trong lòcao rất rõ ràng làm cho các em nhanh hiểu bài và nhớ lâu hơn