Bài giảng cây đặc sản vùng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ
DỰ ÁN HỢP TÁC VIỆT NAM – HÀ LAN
BÀI GIẢNG
CÂY ĐẶC SẢN VÙNG
Người biên soạn: ThS Đinh Xuân Đức
Huế, 08/2009
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ
DỰ ÁN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM - HÀ LAN
Trang 3Bài 1 NGUỒN GỐC, PHÂN LOẠI, GIÁ TRỊ KINH TẾ CỦA CÂY TIÊU
1 NGUỒN GỐC PHÂN LOẠI, GIÁ TRỊ KINH TẾ CỦA CÂY TI ÊU
1.1 NGUỒN GỐC, PHÂN LOẠI
- Nguồn gốc:
Cây tiêu có tên khoa học là Piper nigrum L Tiêu Piper nigrum là một trong
những loài cây gia vị cổ nhất và quan trọng nhất Tiêu đen là loại tiêu mà hạt tiêu với toàn bộ quả được là m khô; tiêu trắng thì quả đã bị loại bỏ mất lớp vỏ mềm
Ba nước sản xuất tiêu chính là Ấn Độ, Malaysia và Indonesia Việc sản xuất tiêu tại Brazil đã gia tăng mạnh mẽ trong những nă m vừa qua Tiêu là một trong những mặt hàng được trao đổi buôn bán sớm nhất giữa các nước Phương Đông và châ u Âu Nó
có một lịch sử lâ u đời hơn là các cây gia vị khác và những lợi nhuận khổng lồ có thể kiếm được Ngoài ra, tiêu còn có một vị trí nhất định trong lịch sử của thế giới vì nó là cây gia vị được dùng để cống nạp đối với các triều đại phong kiến trước đây
Piper nigrum có nguồn gốc từ vùng Tây Ghats tại Ấn Độ nơi mà nó chỉ là cây
hoang dại trong những vùng đồi của vùng Atxa m và Bắc Bur ma, nhưng cũng có thể là
nó phát triển một cách tự nhiên đến vùng này từ bờ biển Malaba Người Hy Lạp gọi là Piperi, các nước nói tiếng Latin gọi là Piper và người Anh gọi là Pepper tất cả những tên này đều có nguồn gốc từ Sanskrit người dân bản xứ gọi nó là Pippali, chính là tên của loại "tiêu dài” mà cho đến nay không còn được nhìn thấy ở châu Âu nữa
Tiê u là sản phẩm được ưa thíc h tại Ấn Độ từ thời xa xưa và là loại gia vị đưa đến châu Âu trong thời Hy Lạp và Rom cổ Theo Theophrastus, những nhà triết học Hy Lạp thỉnh thoảng gọi nó là “cha của những loài thực vật” và đã được một học trò của Ale xandơ dưới thời Ar istot phân biệt là hai loại tiêu có tên là tiêu đen và loại thứ 2 gọi
là tiêu dài vì cả hai trong chúng đều được sử dụng tại Ro ma và Hy Lạp thời bấy giờ
Tiê u Piper nigrum hiệ n nay đã được phát triển rộng khắp trong các vùng nhiệt đới
Từ bờ biể n Malaba thuộc Ấn Độ, tiê u đã được vận chuyển qua những con đường mòn trên lục địa cũng như trên biển bằng những con tàu được xây dựng bởi Ro m và
Ấn Độ đã giúp cho việc buôn bán thứ gia vị nà y trở nên thuậ n lợi và độc quyề n
Tiê u trắng được đề cập đến đầu tiên bởi Dioscoridơ và trong thời kỳ đó người ta nghĩ rằng nó đến từ những cây tiêu khác hơn là cây tiêu đã tạo ra tiê u đen Theo Ridley (1912) khoảng nă m 77 sau công nguyê n tuyên bố rằng: Tiêu dài có giá trị bằng 15 Dinơ cho 1 pau, còn tiêu trắng có giá là 7 Dinơ, tiêu đen là 4 Dinơ
Tiê u có thể được mang đến Java, Indonexia bởi những người thuộc địa Hindu trong khoảng giữa năm 100 trước công nguyê n và năm 600 sau công nguyên, vì việc trồng trọt nó tại Archipelago, Indonexia, ít nhất cũng đã bắt đầu trong khoảng thời gian
đó
- Phâ n loại:
Cây tiêu: Piper nigrum L là một chi lớn có hơn 1000 loài hầu hết là cây dược
liệu thân thảo, thân leo hoặc thân bụi mọc trong vùng nhiệt đới thuộc cả 2 bán
cầu.Thuộc họ: Piperaceae; Có số nhiễ m sắc thể 2n = 52
Trang 41.2 GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ GIÁ TRỊ DINH DƯỠNG
- Giá trị kinh tế:
Tiê u là một gia vị đắt giá, có giá trị thương mại và xuất khẩu cao Ngày xưa tiêu được sử dụng để là m lễ vật triề u cống và bồi thường chiến tranh Ngày nay là một mặt hàng quan trọng thương mạ i trên thị trường quốc tế
Trong suốt thế kỷ thứ XIII sự tăng trưởng kinh tế của Viên và Genoa cổ xưa một phần lớn là do việc buôn bán gia vị Trong một khoảng thời gia n dài suốt thế kỷ thứ
XV để dành độc quyề n việc buôn bán gia vị người Bồ Đào Nha đã chiế m lĩnh toàn bộ con đường thuỷ vận chuyển buôn bán Đông- Tây và sau đó là người Hà Lan, tuy nhiên Lisbon - thủ đô Bồ Đào Nha đã trở thành Trung tâ m buôn bán gia vị lớn nhất thế giới Vào đầu thế kỷ thứ XIX người Anh đã tổ chức trồng tiêu tại Malaysia mà chủ yếu được thực hiệ n bởi người Trung Quốc, và sau đó là tại Sarawat Tại đó, tiêu thường được
trồng kết hợp với Gamb ier (Uncaria gambir Hunt Roxb) Tiêu đã được mang đến hầu
hết các nước nhiệt đới Những nhà sản xuất tiê u chủ yếu là Ấn Độ, Indonexia và Sarawat mà nay thuộc Malaysia, hằng nă m sản xuất trên 20.000 tấn trong khoảng đầu thế kỷ XX Trong những nă m của thập niên 70 Brazil xuất hiện như là một nước đầy tiềm năng với sản lượng bình quân 10.000 tấn mỗi nă m Những nước khác có sản lượng ít hơn như Srilanka, Camp uchia, Việt Nam và Singapor lại là Trung tâ m buôn bán tiêu quan trọng hiệ n nay của thế giới Hiện nay nhờ sự phát triển của nghành công nghiệp chế biến đồ hộp sản phẩ m hạt tiêu trở nên có một giá trị khá ổn định (Phan Quốc Sũng, 2000)
Giá hồ tiêu bình quân giao động từ 2000-6000 USD/tấn tiêu đen trên thị trường thế giới Giá hồ tiê u thường ở mức cao so với nhiều loại nông sản khác có cùng khối lượng, ngay cả khi giá tiêu xuống thấp nhất Sự giao động về giá thường có liên quan đến tình hình dịch bệnh khó kiể m soát (Phạ m Văn Biên, 1989) và việc mở rộng diện tích trồng tiêu nhanh chóng trên thế giới Có thể tha m khảo vài thông tin về giá tiêu đen diễn biến trong hơn 20 năm qua như sau: 1979: 2300 USD; 1985: 3555 USD; 1986 (đầu năm) : 5.500 USD; 1986 (cuối nă m) : 6700 USD; 2000: 3500 USD cho một tấn tiêu đen (Vũ Tr iệu Mân, 2000)
- Giá trị dinh dưỡng và công dụng:
Tiê u được sử dụng nhiều và thường xuyên hơn những sản phẩ m gia vị khác Nó được dùng một cách rộng rãi nhất như là một loại gia vị, hương thơm và vị cay hoà
quyện tuyệt vời trong một món ăn khai vị cay nóng và thơm ngon
Thà nh phần hoá học của nó như sau: Hạt tiêu thương phẩm có chứa 12-14% nước và 86-88% chất khô, các chất khô trong hạt tiêu gồm có: Ở tiêu đen: 95,49% là chất hữu cơ + 4,19 % là chất khoáng; Ở tiêu trắng: 98,38% là chất hữu cơ + 1,62% là chất khoáng
Tiê u có tác dụng kích thích những hoạt động của cơ quan tiêu hoá tiết ra nhiều nước bọt và dịch vị hơn Tiê u được dùng rất nhiề u trong công việc bếp núc, nó được trộn trong thịt, hoặc tiêu cũng được dùng trong xúp, cá, nước chấ m, dưa muối, nước sốt
cà chua hay nấ m v.v Tiêu cũng được dùng trong y học để điều chế các loại thuốc để
Trang 5điều trị một số bệnh Tuy nhiên, hiệ n nay ít thấy được sử dụng trong các loại thuốc Tây
2 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ TIÊU TRÊN THẾ GIỚI
2.1 SẢN XUẤT:
Tiê u bắt đầu sản xuất nhiều từ thế kỷ XX Trong thời kỳ 1935-1939, sản lượng hạt tiêu bình quân hằng nă m trên thế giới là 83.600 tấn, sau đó giảm chút ít còn 64.600 tấn nă m 1954 Từ năm 1960 mức sản xuất không ngừng tăng lên, đạt Trung bình 160.000 tấn/nă m trong thờì kỳ 1977- 1979; 180.500 tấn trong nă m 1980 và 181.900 tấn trong nă m 1981, sau đó giả m xuống vì thời tiết không thuận lợi và sâu bệnh
Trước những nă m 1990, một số nước có sản lượng tiêu lớn trên thế giới có thể
kể đến Brazil chiế m 27,35%, Indonexia và Malaysia mỗ i nước chiế m 25,6% và Ấn Độ chiế m 18,3%
Bảng 1.1 Tình hình s ản xuất tiêu trên thế giới
Quốc gia Diện tíc h (1.000ha) Năng suất (kg/ha) Sản lượng (1.000 tấn)
2003 2004 2005 2003 2004 2005 2003 2004 2005
Bra zil 25,63 26,64 31,83 2.662,00 2.470,40 2.485,00 67,20 65,80 79,10 China 14,12 15,12 15,12 1.536,00 1.467,00 1.500,50 21,68 22,18 22,68 Ghana 4,0 4,48 4,78 625,00 629,50 631,90 2,50 2,82 3,02 India 215 220,25 224,02 237,20 260,60 269,00 51,00 57,39 60,26 Indonesia 90,00 93,00 90,00 1.008,20 1.014,70 1.055,60 90,74 94,37 95,00 Madagascar 3,99 4,02 10,39 401,00 1.120,30 266,60 1,60 4,50 2,77 Malaysia 13,80 13,50 13,40 1.521,70 1.481,50 1.417,90 21,00 20,00 19,00 Sri Lanka 30,03 31,33 31,15 594,70 592,40 587,20 17,86 18,56 18,29 Viet Nam 30,60 50,80 49,10 2.241,80 1.444,90 1.635,40 68,60 73,40 80,30 Africa 20,33 21,50 28,78 563,45 703,10 487,09 11,46 15,12 14,02 America 34,43 36,31 40,53 2.235,06 2.217,04 2.181,23 80,51 88,41 Asia 397,59 428,13 427,07 732,16 717,69 745,43 291,1 307,26 318,33 Oceania 1,82 1,84 1,86 92,01 92,39 92,62 0,17 0,17 0,17
Trang 62.2 XUẤT KHẨU:
Sản lượng xuất khẩu tiêu trên toàn thế giới trong năm 1999 khoảng 154 ngàn tấn,
với tốc độ tăng trưởng hằng năm là 14% và trong nă m 2000 khoảng 160 ngàn tấn Bảng 1.2: Lượng tiê u xuất khẩu của một s ố nước
Nă m Brazin India Indinesia Malays ia
Sri Lanka
Nguồn: International pepper co mmunity
Năm Brazin Ấn Độ Indonesia Malaysia Srilanka Việt Nam Khác Tổng
Nguồn: International pepper co mmunity
Bảng 1.3 Số lượng xuất khẩu tiêu đen của 1 số quốc gia 1985-2004
Trang 7Hiện nay, sản lượng tiêu xuất khẩu của nước nhiề u nhất là Việt Nam hơn 98 ngà n tấn, Indonexia hơn 45 ngà n tấn, Malays ia khoảng hơn 20 ngàn tấn trong năm
Trong năm 2004, lượng hồ tiêu xuất khẩu từ các nước sản xuất chính đạt trên 232.000 tấn, tăng 2,2% so với nă m 2003, trong đó hồ tiêu Việt Na m tăng gần 24.000 tấn (32%) so với năm 2003, chiế m gần 43% thị phần của thị trường tiêu đen trên thế giới Theo các nước xuất khẩu chính thì lượng tiêu được xuất khẩu dưới dạng thực phẩ m chế biến ngày càng tăng
Ấn Độ, Malaysia và Madagasca là 3 nước xuất khẩu nhiề u tiêu xanh Trong năm
2004, Ấn Độ xuất 1540 tấn tiê u xanh, Malays ia xuất 150 tấn, và Madagasca xuất
600-700 tấn
Ấn Độ là nước sản xuất và xuất khẩu nhiề u dầu tiêu và oleoresin (dầu nhựa tiêu) Theo ước tính, trong nă m 2004 Ấn Độ xuất được 64 tấn dầu tiêu và 1200 tấn oleoresin, Sri La nka xuất 1,5 –2 tấn dầu tiêu và oleoresin (Nguyễ n Tăng Tôn, 2005)
Sản lượng hồ tiêu của Việt Nam sản xuất ra chủ yếu để xuất khẩu, do vậy lượng tiêu xuất khẩu của chúng ta tăng liên tục trong 10 nă m qua, đáng chú ý là trong giai đoạn 2000-2002 và nă m 2004
Về tiêu xa nh tình hình tiêu thu nhập khẩu hạn chế hơn Khố i lượng tiê u xanh
Bảng 1.4 Số lượng xuất khẩu tiêu trắng của 1 số quốc gia 1985-2004
Trang 8tiêu thụ vào khoảng 2.000- 3.000 tấn/năm, mỗ i nă m tăng khoảng 4% Nước nhập khẩu nhiề u tiêu xanh nhất là Đức, chiế m gần 70% lượng tiêu xanh nhập khẩu
Về dầu nhựa tiê u, mức tiêu thụ vào khoảng 500-1000 tấn/nă m, mỗi năm tăng khoảng 6%, nước nhập dầu tiêu nhiều nhất là Mỹ, nước xuất khẩu dầu nhựa tiêu nhiều nhất là Ấn Độ
Thị trường chính của tiê u đen, tinh dầu tiêu, dầu nhựa tiê u là Bắc Mỹ, trong khi
đó tiê u trắng là Châu Âu, trong năm 2004 thị trường này đã nhập 60% lượng tiêu tiêu thụ trên thế giới, tuy nhiên khoảng 30% lượng đó lại được tái xuất đi các nước khác
3 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM
3.1 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT:
Cây tiê u được đưa vào nước ta trong khoảng thế kỷ thứ XVI, nhưng đến thế kỷ XVII mới được trồng (Chavalier; Phan Hữu Trinh và ctv 1987) Những vùng trồng tiêu đầu tiên là Hà tiên, Phú quốc sau đó mở rộng đến Phước Tuy, Bình Dương, Quảng Trị vào đầu thế kỷ thứ XIX Hiện nay, Tây nguyê n cũng chiếm một vị trí đáng kể tại hai tỉnh Đắklắk và Gia Lai gần 20.000 ha- năm 2004 (Nguyễn Tăng Tôn và ctv , 20005) Năng suất và chất lượng tiêu của nước ta đều đạt đến vị trí hàng đầu trong các nước sản xuất trên thế giới, khoảng 2- 3 tấn/ha tại các vùng thâ m canh cao (Phan Quốc Sũng, 2000) Sau năm 2003 thì Việt Nam trở thành nước sản xuất hồ tiêu lớn nhất thế giới, với sản lượng 85.000 tấn, vượt cả Ấn Độ
Bảng 1.5 Diệ n tích, năng s uất, sản lượng của Việt Nam từ 1994 – 2005
Nguồn: For infor matio n on the source of FAO statistical data
Sản lượng hồ tiêu tăng nhanh là do tăng diện tíc h, từ 13.000 tấn nă m 1997 tăng lên 97.000 tấn trong nă m 2005 Tuy nhiên kim nghạch xuất khẩu trong 2000-2005 không tăng, dao động từ 120-135 triệu USD/năm, chủ yếu là do giá tiêu giả m mạnh trong nă m 2000
3.2 XUẤT KHẨU:
Xuất khẩu hồ tiêu theo tiêu chuẩn FAO (Fair Average Quality) Lượng xuất khẩu của hồ tiêu nă m 2004 là 98.494 tấn, cao hơn so với dự kiến ban đầu (80-85 nghìn tấn) và cao hơn so với năm 2003 là 24.000 tấn Trong đó xuất sang Châ u Á là 40,9%, châu Âu 36,7%, Châu Mỹ và Châu Đại Dương là 149% và Châu Phi là 7,5%, phần còn lại là các nước khác (Nguyễn Tă ng Tô n và ctv , 2005) Dự kiến trong nă m 2005 lượng
Trang 9xuất khẩu khoảng 85-90 nghìn tấn
Giá hồ tiêu xuất khẩu trong nă m 2004 là 1.352USD/tấn, giả m 67USD/tấn (4,7%) so với giá Trung bình nă m 2003, mức này thấp hơn mức tiêu chuẩn của ASTA khoảng 300USD/tấn và thấp hơn so với tiêu chuẩn của Ấn Độ, Indonesia, Malaysia khoảng 900USD/tấn Giá tiêu xuất khẩu trong nă m 2004 tương đối ổn định, có xu hướng giả m nhẹ ngay sau khi thu hoạch, từ tháng 5 đến cuối nă m Do giá tiêu của Việt Nam thấp hơn so với nă m 2003 nên giá trị xuất khẩu không tăng theo tỷ lệ xuất khẩu, chỉ tăng 26%
Theo số liệu thống kê của Tổng cục hải quan 2005; đến 9- 2005, Việt Na m đã xuất khẩu được 81.818 tấn, giả m 2,1% so với cùng kỳ năm 2004 Lưọng tiêu trắng đã xuất được 10.253 tấn, chiế m 12,5% tổng lượng xuất khẩu Tổng giá trị xuất khẩu đạt 111,44 triệu USD, giả m 1,2% so với nă m 2004 (112,73 Triệu USD)
Bảng 1.6 Lượng hồ tiê u xuất khẩu của Việ t Na m (2001-2004)
Sản lượng (nghìn
tấn)
Trị giá (triệ u USD) 90,46 109,31 105,98 133,72
Nguồn: VAP, 20004; IPC, 1/2005
Trang 10Bài 2 ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT HỌC VÀ ĐẶC TÍNH SINH HỌC CỦA CÂY TIÊU 2.1 RỄ TIÊU
- Rễ cọc: Loại rễ này chỉ có khi chúng ta trồng tiêu bằng hạt, chỉ có một rễ duy
nhất, hướng địa, có thể đâm sâu xuống đến 3-5 m Làm nhiệ m vụ hút nước, dinh dưỡng
ở tầng đất sâu, giữ vững cho cây Tính chịu hạn của tiêu phần lớn phụ thuộc vào loại rễ này
- Rễ cái: Rễ này có nhiều hơn khi chúng ta trồng tiêu bằng cành giâ m
Số lượng rễ cái có từ 3-6 cái với nhiệm vụ hút nước và dinh dưỡng ở tầng sâu Các rễ này có thể đâm sâu đến 4 m (Terada và Chiba, 1971) Có chiề u hướng mọc theo chiề u nga ng
- Rễ phụ: Cả hai tác giả Blacklock (1954) và de Waard (1964) đã chú ý đến hệ
thống những rễ cạn (rễ phụ) Terada và Chiba (1971) cho rằng 85- 90% rễ hút tập Trung
ở lớp đất mặt 30c m trên đất ở vùng Ama zon và có từ 90-98% loại rễ này tập Trung ở lớp đất mặt 40 cm Phan Hữu Trinh et al., (1987) cho rằng các rễ phụ thường mọc thành chùm theo chiều ngang tập Trung ở tầng đất 15-40cm, là m nhiệ m vụ hút nước và dinh dưỡng ở tầng mặt Các rễ phụ thường được tạo nên từ rễ khí sinh tại đốt thân hom, mọc theo chiề u nga ng và có khả năng phân nhánh tốt hơn rễ chính (Bộ môn cây công nghiệp- ĐHNN, 1967)
Trong điều kiện canh tác tốt hệ thống rễ của tiêu thường tập Trung ở tầng 30c m trong nă m trồng đầu tiên và 0-50cm trong nă m trồng thứ hai
0 Rễ khí s inh: Ngoài hai loại rễ hút nước và dinh dưỡng chính, cây tiêu còn có rễ
khí sinh thường mọc ra tại các đốt thân tại một số loại thân cành nhất định và làm nhiệ m vụ bám giữ cho dây tiêu đứng vững trên trụ tiêu Rễ khí sinh thường không có khả năng hút dinh dưỡng và nước
2.2 THÂN:
Tiê u Piper nigrum là một loại cây dây leo có gỗ, không có lông và sống lâu nă m
Trong điều kiện canh tác tốt khi độ cao bị hạn chế, cây trưởng thành có dạng “cột bụi”
và cao khoảng 4m, đường kính bụi hơn ké m khoảng 0,5 m
Thâ n tiêu là loại thân thảo mềm dẻo, nhiều đốt, dạng hình cây leo Thân tiêu được cấu tạo bởi nhiều mạch gỗ Kích thước các mạch này khá lớn nên cây tiêu thường có
phản ứng khá nhanh với nước và phân bón (Phan Hữu Trinh et al., 1986) Hệ thống bó
mạc h được rãi ra như trong cây một lá mầ m Mạch gỗ dưới dạng bó vòng nguyên thuỷ trong thân leo non, phát triển thành hai bản dẹt được tách đôi bởi mô mạch rây, như là phần ruột với những phần nhô ra của tế bào mô cứng
2.3 CÀNH TI ÊU:
Theo Blacklock (1954) và de Waard (1964) cành tiêu có hai dạng, bao gồ m cành leo dinh dưỡng mọc thẳng đứng mà sẽ tạo thành bộ khung thân chính của cây tiêu Cành này có đường kính tối đa ở gốc từ 4- 6cm, có thể có những lớp bần mỏng bao bọc bên ngoài, thường mọc lên ở phần dưới gốc ở những cây đã trưởng thành Độ dài của
Trang 11các ló ng từ 5-12cm, tại mỗ i đốt phình to ra và ma ng 1 lá mọc cách, một chồ i nách có thể cho ra một cành quả mọc nghiêng và rễ bất định ngắ n có thể bá m chặt vào trụ đỡ Những cành quả thứ cấp thì không có rễ bám, khả năng phân cành quả cấp 2 và 3 còn tuỳ thuộc vào cách chăm sóc, giống và mật độ Cành quả thường dài tối đa là 1m
Hình 2.1 Các loại cành trên cây tiêu 1.Cành tược(cành vượt), 2 Cành lươn (dây lươn), 3 Cành ác (cành mang quả) Cây tiê u mọc từ hom là cành quả thường cho quả rất sớm (sáu tháng sau trồng) nhưng không leo bám mà mọc thành bụi, cho năng suất rất thấp và tuổi thọ khoảng 6-7
năm (Phan Hữu Trinh et al., 1987)
Theo Blacklock (1954) và Waard (1964) cho rằng có hai loại cành thân, nhưng chỉ có loại chồi vươn thẳng mới có thể cho ra những loại chồi leo bá m hơn và có thể dùng để nhân giống
Phan Hữu Tr inh et al., (1987) đã bổ sung một cách chi tiết về đặc tính của các
loại cành dinh dưỡng Theo đó thì cành tiêu có thể chia là m ba loại gồ m cành nga ng cho quả như đã được mô tả bởi de Waard (1964), tuy nhiên cành dinh dưỡng có thể được phân ra là m ha i loại cành đó là: Cành tược (vượt) và cành lươn
Cành lươn không có rễ khí sinh và cũng không có cành quả mọc ra từ nó trong một giai đoạn 1 đến và i năm đầu sau trồng Loại cành này vì thế không thể leo bám được trong giai đoạn đầu (cây con) Cây con mọc từ ho m lấy từ cành lươn thường cho
Trang 12quả muộn hơn là cây con lấy ho m từ cành tược từ 1 đến ha i nă m Tuy nhiên, cây tiêu xuất phát từ hom dây lươn thường có tuổi đời cao hơn và thời gian kinh doanh dài hơn Nhóm tác giả này cũng cho rằng năng suất tiêu trong thời gian sau cũng cao hơn tiêu được trồng bằng cành tược
2.4 LÁ:
Lá mọc cách trên cả thân và cành, cuống lá ngắn dài từ 1-2cm có đường rảnh phía bên trên, 5 đôi gân chính, hình trái tim Hai lá kèm ở bên thì bao bọc cuốn lá và mầm non, thường quay ngược, khi mầ m non phát triển và lá thật lớn lê n thì hai tai lá này rụng đi (Bộ môn cây công nghiệp - ĐHNN, 1967) Phiến lá hình o- van, láng như da, không cân đối, đầu mủi phiến nhọn, phía cuối tù và phần giữa phình tròn Phiến lá thường có mà u xanh sẩm sáng ở phía trên và nhạt hơn ở phía dưới Về cỡ lá thay đổi rất lớn tuỳ theo giống và có thể dài từ 8- 20 cm hoặc hơn và 4-12 cm hoặc hơn về chiều rộng và thường có 5- 7 gân chính Trong bóng râm lá thường to hơn ngoài sáng và đời sống của một lá thường trong khoảng 1 nă m
2.5 HOA VÀ KIỂU PHÁT HOA
- Đặc điể m hoa cây tiê u: Gié hoa như giá treo được mọc ra từ phía đối xứng của
lá trên những cành quả, dài từ 3- 15c m, ma ng từ 50- 150 hoa nhỏ được sinh ra từ những trục có những lá bắc mập hình ô- van Hoa tiêu là đơn tính đồng chu, dị chu hay lưỡng tính Theo Krishna murthi (1969) cho rằng tiêu leo ở tình trạng hoang dại phần lớn là đơn tính dị chu, nhưng hầu hết các loại được trồng là lưỡng tính, mà đây là kết quả của quá trình chọn lọc nhâ n tạo và sự nhân giống vô tính của con người qua nhiều thế hệ Ông cũng cho rằng những giống khác nhau cho thấy những khả năng biến động lớn về thành phần hoa lưỡng tính trên gié của chúng Thà nh phần hoa lưỡng tính càng lớn thì khả năng thụ quả càng cao và hầu hết những giống phổ biến có năng suất cao có từ 70-98% hoa lưỡng tính Abraha m đã cho rằng trong điều kiện che bóng dày đặc những loại tiêu lưỡng tính sẽ cho ra nhiề u hoa cái hơn và ít hoa lưỡng tính hơn
- Cấu tạo hoa của cây tiê u: Hoa tiêu sắp xếp trên gié theo hình xoắn ốc Khi hoa
mới mọc có màu xa nh nhạt và khi nở có màu vàng nhạt Phía dưới mỗi hoa có một lá bắc sớm rụng Hoa tiêu không có bao hoa và có 2-4 nhị đực nhỏ được sinh ra trên một phía của bầu nhụy trong hoa lưỡng tính và hoa dài khoảng 1 mm với 2 bao phấn nhỏ có hai túi Bầu nhụy hình cầu không có cuố ng, một noãn, có 3- 5 núm nhụy mập mạp nổi lên cao hơn được bao phủ bằng chất nhầy có màu trắng khi có thể nhận phấn và sau đó thì hoá nâu
Nghiên cứu về mặt sinh hóa của hoa, giúp ta hiể u được cách thụ phấn của hoa,
do đó hiểu được sự kết trái Việc này rất quan trọng đối với tiêu vì hiệ n na y 1 số giố ng tiêu cho trái rất ít Hơn nữa việc hiểu biết về cách thụ phấn của tiêu rất cần thiết để lai tạo giống nhằ m tìm ra được các giố ng mới có khả năng chống sâu bệnh tốt hơn Tạo điều kiện cho hoa ra nhiều, đậu trái tốt hơn đạt năng suất cao hơn
- Sự phân hoá hoa: Khi gặp điều kiện hạn trong vòng 15 ngà y (khoảng tháng 3
hoặc tháng 7), thì làm cho Acid absisic tăng lê n, acid giberilic và acid cytokinin giảm xuố ng là điều kiện tốt kích thích sự phân hoá mầ m hoa phát triển hình thành hoa Tức
Trang 13là là m giả m quá trình sinh trưởng dinh dưỡng tăng quá trình sinh thực Nên trong thời gian này chúng ta không cần tưới nước cho tiêu cho đến lúc đạt ẩ m độ cây héo để ngăn cản việc tạo acid giberilic và acid cytokinin, là m tăng Acid absis ic nhằm thúc đẩy quá trình phân hoá mầ m hoa
Nơi nào mà cây tiêu vào giai đoạn phân hoá mầ m hoa gặp gặp thời tiết khô nóng thì thuận tiện cho quá trình này và hoa ra tập trung Điều kiện ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ thì thời gian này đang là mùa khô (tháng 10) nên thíc h hợp cho sự phân hoá
và hình thành hoa
- Quy luật hình thành hoa và nở hoa
Tới mùa trổ hoa những búp non ở đốt cành quả bắt đầu nhú lên Lá bắc bao bọc chung quanh rụng dần chỉ còn lại một lá bắc Lúc đầu mầm gié hoa còn nằ m dưới bẹ lá mọc lên trong sự che chở của lá bắc và hai phiến lá non Sau đó do phiế n lá non vươn mạnh hơn nên vượt ra khỏi lá bắc, vào lúc nà y gié hoa non chỉ còn được lá bắc che chở Đến khi gié hoa dài khoảng 1cm, nó ló ra khỏi lá bắc và bắt đầu tiếp xúc với điều kiện khí hậu bên ngoài Đồng thời lúc này lá bắc thường rụng đi Trong thời điểm này gié hoa non rất nhạy cả m và dễ rụng khi điều kiện bên ngoài bất lợi Tuy nhiên một mầm hoa thứ hai có thể được hình thành khi cây có đủ sức khoẻ Gié hoa cong xuố ng (hướng địa) vài ngày sau khi xuất hiệ n Các hoa lúc này vẫn chưa nhìn thấy được vì nó còn nằ m trong các vảy bắc
Sự nở hoa bắt đầu từ cuống gié dần cho đến đầu gié trong một khoảng thời gia n
từ 7- 8 ngày Tuy nhiê n, từ khi xuất hiện gié cho đến khi các núm nhụy cái nở (thò ra) phá vỡ vảy bắc kéo dài 20- 21 ngày trên toàn bộ gié hoa, gié lúc này trở thành một chùm hoa cái Hoa tiêu lưỡng tính lúc bắt đầu phát triển, núm nhụy thò ra 3-8 ngày trước khi bao phấn mở ra Theo Martin và Gregory (1962) đã cho thấy tại Puerto Rico rằng núm nhụy có thể nhậ n phấn kéo dài đến 10 ngà y và khả năng nhậ n phấn có thể xảy ra 3- 5 ngà y sau khi núm nhụy thò ra Người ta thấy rằng những giống lưỡng tính như Bala mcotta, và Kalluvalli là giống tự thụ phấn Sự tự thụ này có thể xảy ra mà không cần đến những tác động của gió và mưa Mặc dù mưa không đóng một vai trò chính trong quá trình thụ phấn, nhưng ẩ m độ không khí cao lại có một va i trò quan trọng Trước hết nó tạo thuận lợi cho sự phân tán hạt phấn ra khỏ i bao phấn và hơn nữa
ẩm độ cao giúp vòi nhụy giữ sự cương được lâu để dễ dàng tiếp nhậ n hạt phấn (Phan
Hữu Trinh et al., 1987; Phan Quốc Sũng, 2000) Hạt phấn mang nhiều chất dính, trong
trường hợp mưa nhẹ sẽ là m vỡ những hạt chất dính của hạt phấn và làm cho hạt phấn bám vào chất nhầy của núm nhụy do đó đã gia tăng hiệu quả của sự phân bố hạt phấn Đời sống của hạt phấn kéo dài 2- 3 ngày Hạt phấn cũng bị mất trong không khí Kiến thường được nhìn thấy trên các hoa, nhưng việc côn trùng trợ giúp như thế nào cho việc thụ phấn đến nay vẫn chưa được biết Sự thụ phấn dường như là được xác định cụ thể trong từng gié hoa riêng lẻ, vì thế sự tự thụ phấn nhìn chung là xảy ra trên hoa lưỡng tính
2.6 QUẢ VÀ HẠT:
Thuộc loại quả hạch tròn không có cuống, đường kính 4-7mm có một vỏ quả
Trang 14mềm có nhiề u thịt sinh ra từ gié dài 5-15cm Mỗi một gié có thể cho ra từ 50-60 quả (hạt) Quả mang 1 hạt duy nhất Quả chưa chín thì có màu xanh sau đó vỏ quả ngoài sẽ chuyển đỏ khi chín và đen khi khô Hạt có đường kính 3-4 mm, có một phôi nhỏ, một nội nhũ nhỏ và một ngoại nhũ lớn Trọng lượng 100 hạt thay đổi từ 3-8g, trung bình khoảng 4,5g Từ tiêu tươi sau khi phơi sấy thành sản phẩ m thương mại, trọng lượng
Hữu Trinh et al., 1987)
Trang 15Bài 3 SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN VÀ YÊU CẦU SINH THÁI CỦA CÂY TI ÊU 3.1 SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN
3.1.1 CÁC GIAI ĐOẠN SINH TRƯỞNG CỦA CÂY TI ÊU
Trong sản xuất cây tiêu thường được nhâ n giống bằng phương pháp vô tính (cành hom), chúng không có biể u hiệ n rõ rệt về phát dục gia i đoạn Căn cứ đặc điểm sinh trưởng phát dục và kỹ thuật trồng trọt có thể chia đời sống cây hồ tiêu là m bốn thời kỳ gồm: Thời kỳ sinh trưởng, thời kỳ sinh trưởng phát quả, thời kỳ sản lượng cao và thời
kỳ già cỗi
- Thời kỳ sinh trưởng
Được tính từ khi trồng đến khi bắt đầu ra quả Trong thời kỳ này phần trên và phần dưới mặt đất đều sinh trưởng rất nhanh Cây tăng trưởng nha nh về chiề u cao, số nhá nh, thân mới và hình thành tán Thời kỳ này dài hay ngắn còn tuỳ thuộc vào giống, thời tiết khí hậu, phương pháp tạo hình tỉa cành Các giống tiêu lá to thường lâu cho quả hơn nhữ ng giố ng tiêu lá nhỏ Cành hom là cành lươn sẽ lâu cho quả hơn ho m là cành tược hay cành quả Biệ n pháp đôn dây bấ m ngọn có thể thúc đẩy nhanh khả năng
ra hoa sớm của cây tiêu trồng bằng dây lươn Đối với tiê u trồng bằng phương pháp vô tính (hom) thời kỳ này khoảng từ 2-4 năm, trồng bằng hạt là 5 nă m
Trong thời kỳ này cần tăng cường chăm sóc tạo điều kiện tốt cho hệ rễ phát triể n
để là m cơ sở xúc tiến sự tăng trưởng của toàn bộ cây Đồng thời chú ý giải quyết cây trụ (choái) và ngắt ngọ n kịp thời, tỉa cành để nhanh chóng hình thành tán và ra hoa kết quả sớm
- Thời kỳ sinh trưởng, phát triể n quả
Thời kỳ này kéo dài từ khi bắt đầu ra hoa kết quả cho tới trước thời kỳ sản lượng cao, nói chung kéo dài khoảng 1- 2 năm Thời gian dài ngắn khác nhau tuỳ theo giống Giố ng lá tothời gian sing trưởng ngắn hơn giống lá nhỏ Trong thời kỳ này cả hai phần trên mặt đất và dưới mặt đất vẫn đang phát triển mạnh, đồng thời cây vẫn ra hoa kết quả, tán cây không ngừng phát triển về bề rộng
Cần chú ý cung cấp nước phân kịp thời, điề u tiết giữa sinh trưởng và sản lượng sao cho cành và thân vẫn tiếp tục sinh trưởng để hình thành số lượng cành quả được nhiề u hơn làm cơ sở cho gia i đoạn sản lượng cao
- Thời kỳ sản lượng cao
Là lúc cây ra hoa kết quả nhiều và cho sản lượng cao nhất trong chu trình sống của cây tiêu Đặc điểm của thời kỳ này là sinh trưởng dinh dưỡng giảm, sinh trưởng sinh thực chiế m ưu thế Đỉnh ngọ n các cành chết khô từng phần, tán cây ở thế ổn định
về sinh trưởng đồng thời sản sinh một lượng lớn các loại cành quả cấp 3 và 4 và sản lượng lúc này đạt cao nhất
Thời kỳ này nếu quản lý chăm sóc không tốt, rất dễ là m cho cây chóng suy yếu,
có thể sinh ra hiện tượng ra quả cách nă m Do vậy nước và phân cần được cung cấp
Trang 16đầy đủ, chú ý cắt tỉa hợp lý giữa sinh trưởng dinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực, xúc tiến cho cành nhánh phát triển một lượng nhất định để có cơ sở kéo dài thời kỳ sản lượng cao và ổn định
- Thời kỳ già cỗi
Bắt đầu từ khi cây biểu hiện giảm sản lượng cho đến khi cây hết khả năng cho quả Thời gian đầu cành và một số bộ phận rễ khô chết dần, số cành quả bị chết khô tăng lên, cành tăm xuất hiệ n nhiề u Thời kỳ này dài hay ngắn tuỳ thuộc vào giố ng và chă m sóc
Nước và phân bón cần cung cấp đầy đủ, cắt tỉa kịp thời những cành khô có thể chọn để giữ lại một số thân mới và vun gốc Nếu chă m sóc tốt thời kỳ này có thể kéo dài 7- 8 nă m
3.1.2 CHU KỲ PHÁT DỤC CỦA TIÊU TRONG M ỘT NĂM
Khi cây tiêu bước vào gia i đoạn kết quả thì chu kỳ phát dục của cây tiêu được chia làm 4 giai đoạn trong một năm bao gồm thời kỳ nảy chồi, thời kỳ sinh trưởng nở hoa, thời kỳ sinh trưởng phát dục của quả, thời kỳ quả chín
- Thời kỳ nảy chồi
Thời kỳ này bắt đầu từ lúc chồi phình to và lá vẩy bắc bị nứt ra Nẩy chồ i phụ thuộc vào điều kiệ n khí hậu và sức khoẻ của cây Ngoài ra, mức độ sinh trưởng phát dục của cây cũng có những liên quan đến thời kỳ nảy chồi Tại khu vực Bắc Miền Trung thời kỳ này thường rơi vào tháng 8- 9 và tháng 2-3 là gia i đoạn đầu và cuối mùa mưa tiết trời ấ m và ẩm độ đủ Nhiệt độ trong giai đoạn này thường lớn hơn 180C Cây còn non thì khả năng nẩy chồi mỗi nă m có thể lên đến 2-3 lần, cây trong thời kỳ ra quả
sự nảy chồi chỉ xảy ra một lần, cây ra quả ít có thể xảy ra hai lần nảy chồi trong năm Trên một cây chồ i thường nẩ y từ trên ngọ n xuố ng gốc
Đặc điể m của thời kỳ này là phân hoá tổ chức mầ m hoa cho nên phải bón phân hợp lý, cắt bỏ những cành yếu, cành dinh dưỡng không theo định hướng, để tập Trung dinh dưỡng xúc tiến gié hoa, tăng số lượng hoa và tỷ lệ kết quả
- Thời kỳ sinh trưởng nở hoa
Bắt đầu từ sau khi nẩ y chồi (hoa và cành) khoảng 10-12 ngày, cành sinh trưởng lớn lên, cho đến khi hoa nở xong Giai đoạn này kéo dài từ 40- 60 ngày tuỳ thuộc vào điều kiện khí hậu, giống và sức khoẻ của cây Tạ i Malays ia do mùa mưa phân bố khá đều trong nă m nên có đến hai thời kỳ ra hoa trong năm là tháng 11- 1 và tháng 8-9 Tại
Ấn Độ mùa ra hoa chính là tháng 5- 6 Tại Miền Nam và Tây Nguyên có mùa khô rõ rệt, mùa ra hoa vào đầu mùa mưa là tháng 5-6 và tại Bình Tr ị Thiê n mùa ra hoa là tháng 8-9 hay tháng 9- 10 Nếu mưa đủ thì thời kỳ sinh trưởng và ra hoa sẽ sớm và kéo dài, nếu nhiệt độ thấp và hạn thì thời kỳ ra hoa ngắn và muộn Trong thời kỳ này quá trình thụ phấn diễn ra nên rất cần ẩm độ không khí cao (>90%), ẩ m độ đất đủ và ít gió (<1 m/s)
- Thời kỳ sinh trưởng phát triể n quả
Thời kỳ phát triển quả thường kéo dài 5-6 tháng kể từ khi quả vừa được hình thành Sau khi hoa thụ tinh 10 ngày thì tử phòng bắt đầu phình to và thời kỳ hình
Trang 17thành quả bắt đầu Sau khi quả hình thành trong vò ng 30-120 ngày tốc độ sinh trưởng của quả lớn dần, sau đó giả m dần cho tới lúc ngừng hẳ n Nếu không đủ dinh dưỡng hay gặp hạn thì một số quả và gié sẽ rụng Đạ m, lân và nước là ba yếu tố cần thiết trong thời kỳ nà y để thúc đẩy quả phát triển nha nh, hạn chế rụng quả
- Thời kỳ quả chín
Tính từ lúc quả ngừng sinh trưởng đến lúc quả chín Giai đoạn này kéo dài khoảng 2- 3 tháng Đây là giai đoạn phát triể n hạt, hạt tích luỹ dinh dưỡng, hương vị Tại Miền Na m và Tây Nguyên quả chín thường rơi vào thá ng 1-2 Có khí kéo dài đến tháng 4- 5 cho những lứa hoa trễ Tại Bình Tr ị Thiên quả chín vào tháng 5-6-7 Phân kaly rất cần trong gia i đoạn này để tăng phẩ m chất hạt, trọng lượng hạt và chín đều Sau khi thu hoạch nên bón một lượng phân để bồi bổ cho cây là m cơ sở cho năm sau Điề u kiện khô ráo là cần thiết để thu hoạch tiêu có chất lượng
3.2 YÊU CẦU SINH THÁI CỦA CÂY TIÊU
3.2.1 YẾU TỐ KHÍ HẬU THỜI TIẾT
Cây tiêu nguyên gốc ở vùng nhiệt đới ẩm có phạ m vi phân bố trong vò ng 200 vĩ bắc và na m, với điều kiện tiể u khí hậu tốt cây tiêu có thể trồng trên những vùng có vĩ
độ cao hơn như tại Hà Khẩu, Vân Na m (22027) Tuy nhiên cây tiêu có đặc tính chung
là sợ gió, sợ úng, sợ lạnh và cần đất tốt, ẩm độ không khí cao Cây tiêu thíc h hợp với vùng nhiệt đới ẩm Nó đòi hỏi một lượng mưa phân bố đều và nhiều trong điều kiện nhiệt độ cao Nó được canh tác một cách có hiệu quả trong khoảng vỉ độ 200 Bắc và Nam Nhưng hầu hết những vùng tiêu trồng với mục đích buôn bán thường ở vùng gần xích đạo hơn (nhỏ hơn 150 Bắc - Nam) Tiêu cũng được trồng ở cao trình 1500m, nhưng sẽ thích hợp nhất ở mức độ 500 m trở xuống
Nhiệt độ thấp ảnh hưởng lớn đến tốc độ sinh trưởng của cây tiê u Tuỳ theo mức
độ nhiệt thấp khác nhau và thời gian chịu nhiệt độ ấy mà những thiệt hại sẽ khác nhau
Ở mức nhiệt 150C kéo dài cây tiêu sẽ ngưng sinh trưởng Dưới 100C kéo dài trong 5 ngà y hoặc dưới 60C kéo dài trong 3 ngày cây tiêu bắt đầu bị hại, tại các lá ngọn bị thâm đen, héo và rụng dần, các đốt non cũng bị hạ i nếu bị sương giá và có thể gây chết và rụng đốt
Nhiệt độ quá cao cũng không có lợi cho sinh trưởng của cây tiêu Kết quả một thí nghiệ m của Trung Quốc cho thấ y ở nhiệt độ 390C lá non của cây non thường bị hại Trong điề u kiện không tủ gốc của mùa hè, nhiệt độ mặt đất có thể lên đến 52,50C vì thế thân cành cây non cũng bị cháy khô
Tại những độ tuổi khác nha u tiêu cũng thường có phản ứng khác nhau với nhiệt
độ Cây còn non thường nhạy cảm hơn đối với những điều kiện nhiệt độ bất thường (cao quá hay thấp quá) Làm giàn che là biện pháp tốt không những để giả m cường độ
Trang 18ánh sáng mà còn giảm được sự gia tăng của nhiệt độ vào ban ngày hoặc cây choái sống cũng là một cách tốt trong mục đích trên
Nhiệt độ bình quân ở Miền trung Việt Nam dao động từ 24,7-270C vì thế khá thíc h hợp cho cây tiêu phát triển Paulose (1973) cho rằng những vùng trồng tiêu chủ yếu của Kerelar có lượng mưa bình quân hằng nă m hơn 3000mm được phân bố trong 8-10 tháng với nhiệt độ hằng ngày trãi trong khoảng 280C-350C Tại Kuching nhiệt độ bình quân tối đa trong khoảng 260C, tối thiểu có thể rơi xuống 180C.Về mặt nhiệt độ, một số kết quả nghiên cứu đã kết luậ n là cây tiêu có thể trồng được ở khu vực 200 bắc
và na m vĩ tuyến, nơi có nhiệt độ bình quân từ 18- 350 (Phan Hữu Trinh và ctv- 1988)
- Nước: Nhìn chung yêu cầu lượng mưa phân bố đều trong nă m là rất cần thiết
cho sinh trưởng của cây tiê u Lượng mưa Trung bình hằng năm tại vùng nguyên sản là
2900 mm/nă m với một mùa hạn không rõ rệt Nhiều vùng trồng tiê u trên thế giới và trong nước có lượng mưa giao động từ 1900-3000mm/nă m Cũng có những nơi có lượng mưa rất thấp như Madagasca lượng mưa chỉ là 1038mm/nă m cây tiêu vẫn có thể sinh trưởng phát triển được Lượng mưa từ 2500 mm trở lên được xem là thích hợp nhưng trong một phần của Ấn Độ cây tiê u sinh trưởng tốt ở lượng mưa ít hơn con số
Bảng 3.1 Lượng mưa tại những trạ m ở Ấn Độ và Sarawat
Ấn Độ Se mangok (Sarawat)
Tháng Negumanga
d (mm)
Todupuzda (mm)
Tổng lượng mưa (mm)
Số ngày mưa
Trang 19nói trên Theo Maistre (1964) lượng mưa trong hai vùng trồng tiêu tại Ấn Độ là 2286mm tại Neguma ngat và 3749mm tại Todupuzha những chi tiết về vấn đề này được diển tả trong bảng 3.1 Lượng mưa cao nhất thường đến vào mùa hè tại những vùng trồng tiêu tại Ấn Độ
Lượng mưa tại Trung Tâ m Nghiên cứu Nông Nghiệp Semangok vào nă m 1970 được dựa trên tường thuật hằng năm của Bộ Nông Lâm Nghiệp Sarawat (bảng 3.1) với tổng lượng mưa là 4364mm, lượng mưa cao nhất vào tháng 1 (818mm), lượng mưa cao nhất trong một ngày là 178 mm Mưa rơi trong khoảng 256 ngà y/nă m Số giờ chiếu sáng bình quân là 4,2 giờ và độ ẩm tương đối Trung bình là 86,2%, nhiệt độ Trung bình là 250C Tại Bangka lượng mưa hằng nă m biến động trong khoảng 2286 mm đến
3048 mm, mưa rơi trong khoảng 136 ngày đến 176 ngà y
Tại nước ta, nhiều vùng trồng tiêu nổ i tiếng năng suất cao và chất lượng tốt nhưng lại có chế độ mưa và lượng mưa khá khác nhau Theo bộ môn cây công nghiệp ĐHNN Hà Nội (1967), nếu mưa tập Trung với một lượng lớn 300mm trong tháng 5 và
6 hoặc mưa trên 500 mm kéo dài trong ba tháng có thể gây bất lợi trong sinh trưởng của cây tiêu (bảng 3.2)
Theo Phan Quốc Sũng (2000) và Phan Hữu Trinh et al., (1987) để cây tiêu sinh
trưởng tốt cho năng suất cao thì cần lượng nước đầy đủ quanh năm Tuy nhiên, trong giai đoạn phân hoá mầ m hoa nó yêu cầu có tiểu hạ n để có thể ra hoa sai và tập Trung
Bảng 3.2: Sự phân bố mưa ở một số vùng trồng tiê u trụyề n thống
tại Việt Nam ( mm)
2519 Vỉnh
- Ánh s áng và gió:
Nguồn gốc cây tiêu leo dưới bóng của một cây khác nê n bản chất là ưa râm (bóng) Tuy nhiên mức độ bóng râm còn tuỳ thuộc vào giố ng và tuổ i cây Giống
Trang 20tiêu Quảng Trị đòi hỏi bóng râ m nhiề u hơn các giống khác Khi tiêu đã phủ trụ nó có nhu cầu về cường độ ánh sáng lớn nhất so với trước đó Trong thời kỳ này nếu bị che bóng quá nhiều lá tiêu sẽ lớn và xanh đậm, tỉ lệ hoa cái nhiều trong những gié hoa lưỡng tính Một thí nghiệ m tại Jamaica đã cho thấy sự cần thiết của bóng râ m trong giai đoạn mới lập vườn tiêu và khi tiêu đã lớn thì không cần bóng rợp nữa Nhìn chung, bóng rợp cho tiêu sẽ giả m dần từ 40% xuố ng 20% mức độ che phủ từ khi cây nhỏ đến khi cây lớn
Gió có thể là m cho việc bốc thoát hơi gia tăng là m bất lợi cho sinh trưởng và quá trình thụ phấ n của cây tiêu Tốc độ gió lớn sẽ là m cho vườn tiêu bị gãy đổ hoặc xơ xác, hoa tiêu không đậu quả Mức độ gió nhỏ hơn 2 m/s, không khô nóng là điều kiệ n lý tưởng cho việc trồng tiêu Những vùng phía đông Trường Sơn thuộc Bắc Trung Bộ nước ta thường có gió Lào khô và nóng đã gây hạ n chế đến sinh trưởng của tiêu rất lớn, tuy nhiê n thời kỳ gió xuất hiện không rơi vào gia i đoạn tiêu ra hoa nên ít gây thiệt hại lớn về năng suất Việc trồng tiêu vào tháng 9-10 hằng nă m tại vùng Bình Trị Thiê n cây thường gặp bất lợi về nhiệt độ thấp và gió bão nên tốc độ sinh trưởng trong giai đoạn này thường ké m hơn các vùng khác trong nước
3.2.2 YẾU TỐ ĐẤT ĐAI
Theo Blacklock (1954) đất lý tưởng cho việc trồng tiêu là đất bồi, đất phù sa (alluvium) thoát nước tốt có hàm lượng mùn cao nhưng những đất như thế là tương đối hiếm Một cách tương tự, Krishna muthi (1969) cho rằng tiêu được trồng tốt trên những đất mới khai hoang, những loại đất lateritic có hà m lượng mùn cao và có bản chất thoát nước tốt Theo de Waard (1964) mức độ thành công cho một loại đất trồng tiêu nào đó phụ thuộc vào những đặc tính theo sau của đất:
(1) Thoát nước tốt; (2) Khả năng giữ nước thích hợp; (3) Cấu trúc đất tơi xốp; (4)
pH cao;(5) Già u dinh dưỡng dự trữ trong đất
Có khá ít vùng có thể đáp ứng những đòi hỏi nghiê m ngặt này, nhưng cây tiêu vẫn có thể trồng trên nhiề u loại đất, bằng những phương pháp truyền thống như tại Sarawat nơi mà đất nung được un trên khắp bề mặt của gốc rễ và đã cải thiện được kết cấu đất và giả m được độ chua Hầu hết những vườn tiêu tại Sarawat được trồng trong những cánh đồng gợn sóng hoặc trên những đồi dốc với những độ dốc khác nhau, đất thường có hà m lượng sét nâu đỏ nhạt cao với nhiề u thành phần oxýt sắt Ở vùng gần biển đất có thể có hàm lượng cát (silic) cao và tương đối dễ canh tác Những cố gắng trồng trên đất than bùn (Peat soil) tại Sarawat đã tỏ ra không thành công, có thể là do những khó khăn trong việc đáp ứng hệ thống thoát nước thích hợp Trên những lô đất dốc sự xói mòn đất thường là vấn đề lớn trừ khi phải là m ruộng bậc thang hay có những biện pháp bảo toàn đất thích hợp được thực hiện
Theo Paulose (1973) tiêu được trồng tại Ấn Độ trên nhiề u loại đất khác nha u chẳng hạ n như đất mùn đỏ (red loams soil), đất mùn cát (sandy loa ms soil), đất mùn sét (cla y loa m soil) ha y đất đỏ đá ong (lateritic soil) Tuy nhiên trong những đồn điề n tốt nhất cây tiêu thường được trồng trên những đất mới khai hoang giàu mùn ở những đồi dốc của vùng Ghats tây, ở cao trình từ 1000-1200m Tại Kerala, việc canh tác tiêu thường được tiến hành trên đất đá ong hay đất cát mùn dọc theo những bờ sông phù sa
Trang 21được bồi
Phần lớn đất trồng tiêu tại Indonexia thì đất có nguồn gốc núi lửa
Những vùng trồng tiêu tại Việt Nam cũng có sự đa dạng về nguồ n gốc đất đai Đất sét pha cát thường thấy ở Hà Tiên - Phú Quốc đây là loại đất dễ canh tác, thoát nước tốt tuy nhiê n không được màu mỡ như đất đỏ Baza l tại vùng Lộc Ninh, Đồng Nai
và Bình Phước Đất đỏ Bazalt thường có kết cấu tơi xốp, có tầng đất dày (vài chục mét), có độ màu mở cao đặc biệt là những vùng mới khai phá Đất xá m miề n Đông Nam Bộ hay còn gọi là đất Podzonlic có kết cấu rời rạc do hàm lượng cát cao (>70% cát), thường nghèo dinh dưỡng cũng được trồng tiêu nhưng cần phải đầu tư phân bón
và các biện pháp bảo vệ đất Đất sa phiế n thạch ở vùng đồi núi trung bộ với độ dày tầng đất biến động và cạn, kết cấu chặt, khó thoát nước, dinh dưỡng thấp cũng được trồng tiêu
Tó m lại cây tiêu có thể được trồng thích hợp trên nhiều chân đất khác nhau Tuy nhiê n, có sự khác nha u lớn trong việc đầu tư thâm canh và bảo vệ những loại đất khác nha u Do càng lên cao nhiệt độ càng xuố ng thấp, tốc độ gió càng lớn nên việc trồng tiêu cũng thường được giới hạn ở độ cao dưới 500 m Độ dày của tầng đất phải sâu hơn 1m để rễ tiêu có thể phát triển tốt, thê m vào đó là độ sâu mực nước ngầ m lớn hơn 2m
để tránh là m rễ tiêu bị úng
Theo Phan Hữu Trinh et al., (1987) đất trồng tiêu nê n có hàm lượng mùn cao
(>2%), già u đạ m (>1,5%), hàm lượng Kali và Ma- nhê khá, khả năng trao đổi ở mức 20- 30 meq/100g đất, tỉ lệ C/N ở tầng mặt cao (15-20) và pH từ 5,5-7
Trang 22Bài 4 MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC TIÊU 4.1 GIỐNG TIÊU
- Những giống nổi tiế ng trê n thế giới:
Piper nigrum hoang dại có sự biến động đáng kể về kích thước của các lóng, lá,
phát hoa, quả và hầu như là đơn tính dị chu Con người đã chọn lọc những giống mà
chủ yếu mang hoa lưỡng tính và chúng được nhân giống bằng cành
Một số lượng lớn nhất về giống đã xuất hiện tại Ấn Độ “Ba lamcotta” là một trong những loài tiêu Malabar được trồng rộng rãi nhất, tiếp theo sau là “Kalluva lli”,
“Ba la mcotta” sinh trưởng mạ nh, đầy sức sống, lá lớn, có màu xa nh sáng, gié hoa dài và thẳng, đóng quả thưa với những quả màu xa nh nhạt, hoa lưỡng tính, giống này đã nổi tiếng ở Ấn Độ về việc cho năng suất cao và ổn định “Kalluvalli” được biết như là cây chịu rét và mạnh, cho quả đều đặn, kháng được bệnh héo cũng như hạn, lá hẹp hơn và xanh tối hơn, hoa cũng lưỡng tính và có gié hoa dài
Những giống Ấn Độ khác bao gồ m“Cheriacaniakadan” là loại phổ biến thường được trồng tại Travancore, lá nhỏ hình elip và gié hoa dài Nó được biết như là cây sai quả có chất lượng cao, kháng được bệnh héo, nhưng nó không được nổi tiếng tại Sarawat Gentry cho rằng nó là hoàn toàn đơn tính dị chu tại Mala ysia
Hai giống được nhận ra tại Sarawat là “Kuching” có năng suất cao, lá lớn và rất
mẫn cảm đối với bệnh thối rễ được gây ra bởi nấ m Phytophtora palmivora (xem phần
bệnh) và giống “Sarikei” có lá nhỏ hơn
Những dòng vô tính được trồng hiện nay tại Lampong ở vùng phía nam Sumatra
là “Bela ntung” có lá lớn và quả nhỏ cho năng suất trung bình nhưng đề kháng với thối
rễ Nó được mang đến từ “Dja mbi” nhưng lại rất nhạy cảm với thối rễ tại Lampong
“Ba ngka” hay còn có tên khác là “Muntok” giống như “Sarikei” của Sarawat là dòng
vô tính chính cho việc sản xuất ra tiêu trắng của người Tr ung Quốc trên đảo Bangka
“Phnom-pon” là một giống lá lớn của Campuchia, “Kamc hay” là một giố ng lá nhỏ cũng ở đó Ngoài ra còn có các giố ng khác như Na m Vang mà bao gồm hỗn hợp các giống Srechéa, Kep và Kampot mang nhiều đặc điể m trung gian giữa giống lá lớn
và lá nhỏ, chiề u dài lá trung bình 18-20cm, rộng 10 cm, chùm quả dài khoảng 12c m, đóng quả dày, ra hoa hơi muộn (nă m thứ 2- 3 sau khi trồng ho m), lâu cỗi (thời gian sinh trưởng có thể kéo dài hơn 30 nă m) Về năng suất tiêu đen trên trụ gỗ ở năm thứ 4 sau trồng, giao động từ 0,38-0,52 kg/trụ, nă m thứ 6 là 1-1,9 kg/trụ và nă m thứ 8
10-là 1,9-2,9 kg/trụ (Phan Hữu Trinh et al., 1987)
Bộ Nông Ngư Nghiệp Sarawat (1969,1970) đã tường thuật về giống thí nghiệm được trồng tại Taras vào nă m 1959 Tất cả các giống đều cho thấy sự dao động về năng suất, nhưng ít hơn đối với những giống của Sarawat “Kuching” và giống Indonexia
“Dja mbi” và “Bela ntung” so với các giống “Uthir incotta” và “Cheriakaniakadan” Những giống Ấn Độ mặc dù có gié hoa dài, quả lớn cho thấy khả năng sinh trưởng ké m hơn những giống Sarawat trong điều kiện thâ m canh tại Sarawat và
Trang 23dường như là thíc h hợp hơn cho việc trồng trên những trụ sống Chúng có hà m lượng chất khô lớn khi được là m tiêu trắng hay tiêu đen Những giố ng có phần trăm cao nhất
về hoa lưỡng tính thường cho năng suất cao nhất
Những giống Indonexia “Bangka” cũng được bao gồm trong cả thí nghiệ m, nhưng bị chết trước khi chấ m dứt thí nghiệm Nó đã cho năng suất là 14.990 lb (450 gam/lb) quả tươi trên 1 acre (0,4 ha) tương đương với 18.600kg/ha/nă m Những giố ng
Ân Độ và Belantung cho thấy một ít tính đề kháng đối với bệnh thối rễ và đang được dùng như là cây gốc ghép với mục đích ghép chồi Kết quả cho thấy năng suất trung bình của 7 nă m từ 1962- 1969 trong bảng 4.1, sau khi thí nghiệm được kết luậ n hầu hết tiêu đã bị chết có thể do bệnh hoặc già cỗi
Bảng 4.1: Năng s uất tiêu và các yế u tố cấu thành năng s uất một số giống tiêu
nổi tiế ng trê n thế giới Năng suất tươi
bình quâ n từ 1962-1969 (kg/nă m) Giống
Trê n trụ
Trê n
ha
Chiều dài gié (c m)
Trọng lượng quả tươi/gié (g)
Hoa lưỡng tính trên gié (% )
Trọ ng lượng
100 hạt tiê u khô
đe n (g)
- Những giống đang được trồng tại Việ t Nam:
Các giống tiêu hiện trồng tại Việt Nam thường được phân thành hai nhó m lá lớn
và lá nhỏ để dễ nhận diện, hơn nữa chúng cũng có những đặc tính khá phâ n biệt
Loại hình tiêu lá lớn có lá dài 20-25cm, rộng 10-12cm, cây mọc khoẻ, cành tán rộng, thân to dễ gãy, ra hoa lần đầu muộn (3 nă m), chùm hoa chụm, gié hoa dài (15c m) nhưng quả nhỏ, mau cỗi, rất kén đất, chỉ cho năng suất cao trong điều kiện thâ m canh
và dễ nhiễ m bệnh
Loại hình tiêu lá nhỏ có chiề u dài lá trưởng thành 10- 12cm, rộng 5- 10c m, hầu hết
lá có màu xa nh đậm, cành quả nhỏ và mọc hơi rủ, thân nhỏ nhưng dẻo dai, bắt đầu ra hoa sớm (2 nă m), chùm hoa xoè, gié ngắ n và quả lớn, lâu cỗi, ít kén đất, năng suất ổn
Trang 24định, ít nhiễm bệnh (Phan Hữu Trinh et al., 1987)
Tuy nhiê n sự phân nhóm trên cũng có tính tương đối vì cũng có nhiều giống mang những đặc tính trung gian giữa giống lá lớn và lá nhỏ
Giố ng tiêu “Sẻ đất đỏ” là giống nổ i tiếng cho năng suất khá và ổn định trên địa bàn Đông Na m Bộ và Tây Nguyên Đây là giống lá nhỏ, không kén đất, chiều dài lá từ 10- 12cm, chùm quả trung bình và đóng quả dày “Tiê u Quảng Tr ị” cũng là giống lá nhỏ có thể là giống được nhập nội từ lâu có thể được mang tên khác là “Tr ung Quốc lá nhỏ ” Ngoài ra, còn có những giống tiêu Tr ung quốc lá lớn thường được trồng tại Quảng Bình và Quảng Trị nhưng với một tỷ lệ thấp vì năng suất không cao “Tiêu trâu”
có lá lớn năng suất thấp, cành nhánh rất phát triển Một số giống khác như tiêu “Tiên sơn”, “Tiêu Lộc Ninh”, “Tiêu Phú quốc” hầu hết là những giống lá nhỏ tuy nhiên có nhiề u đặc tính chưa thể phân biệt được một cách dễ dàng Những giống tiê u ngoại hiện đang được lưu hành tại Việt Nam có giố ng “Lada” và nhiề u giống “Cam pu chia” như
đã được giới thiệu ở phần trên Các giống tiêu ‘Ca m pu chia” thường có phẩm chất tốt,
và năng suất cao hơn “Sẽ đất đỏ” trong điều kiện Việt Na m Những giống này thường được trồng phổ biến tại Hà Tiên, Phú Quốc, Đông Nam Bộ và Tây Nguyên
Nhìn chung trong điều kiệ n canh tác lâu đời và nhân giống vô tính tự phát tại các địa phương khác nhau đã hình thành nê n những giố ng đặc trưng của mình Những giống này rất là thíc h hợp với vùng sinh thái mà nó được trồng Tuy nhiên, nếu có sự di chuyển đến vùng mới khả năng thay đổi nhiề u đặc tính sinh học của nó có thể có những biến động nhất định
4.2 NHÂN GIỐNG
- Nhân giống bằng hạt:
Trừ một phần nhỏ từ những công việc lai tạo, cây tiêu hầu như luôn được nhân giống bằng phương pháp vô tính Cây con trồng bằng hạt thường lâu cho quả hơn là cây cắt cành, chúng cũng rất là biến động về các đặc tính sinh trưởng và năng suất và cây có thể là đơn tính dị chu
Khi việc nhâ n giố ng bằng hạt là cần thiết, quả được chọn phải là những quả chín đầy đủ Chúng được ngâ m vào trong nước trong 2 đến 3 ngày, vỏ quả ngoài sẽ bị loại
đi và hạt được là m khô trong bóng râm Sau đó chúng được gieo vào những luống của vườn ươm hoặc trong những cái hộp hay bầu Hạt sẽ nảy mầ m trong vòng 5-6 tuần sau gieo và có thể được đưa vào những túi lớn hơn cho dễ chă m sóc Để hạt tiê u có tỉ lệ nảy mầm cao (75-85%) cần chọn những hạt tiêu có kích thước lớn hơn 4mm đường kính (1kg hạt tiêu loại nà y có thể mọc được từ 6000-8000 cây con)
Khoảng 4 tháng sau khi gieo cây con có thể đạt được chiều cao là 20c m có 6- 8 lá
- Nhân giống bằng cành hom: Có 2 cách ươm hom tiêu là: Ươm hom tiêu trên
luống và ươm hom tiêu trong bầu Cụ thể như sau
+ Kỹ thuật nhân:
* Chọn đất để làm vườn ươm: Vườn ươm tiêu được lập ở nơi đất tốt, giàu dinh
dưỡng, chủ động tưới tiêu, thoát và giữ nước tốt, có cây chắn gió, cây che bóng, bằng phẳng, gần nơi sản xuất