1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Lý thuyết ôn thi môn văn học lớp 12

51 583 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 552,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý thuyết ôn thi môn văn học lớp 12, Lý thuyết ôn thi môn văn học lớp 12 , Lý thuyết ôn thi môn văn học lớp 12, Lý thuyết ôn thi môn văn học lớp 12, Lý thuyết ôn thi môn văn học lớp 12, Lý thuyết ôn thi môn văn học lớp 12

Trang 1

tqkhai@cusc.ctu.edu.vn Trần Quang Khải _ CT0754M038

- Người sớm có lòng yêu nước, chống sự xâm lược của thực dân Pháp Năm 1911, xuất dương tìm đường cứu nước Người đã đến nhiều nước châu Âu, châu á, châu Phi, châu Mĩ, làm nhiều nghề khác nhau để kiếm sống, chủ yếu Người sống và hoạt động ở Pháp

- Năm 1918, tham gia Đảng xã hội Pháp, thành lập Hội những người Việt Nam yêu nước Năm 1919 gửi bản yêu sách về quyền của các dân tộc đến hội nghị hòa bình ở Vecxây

- Năm 1920 Người tham gia sáng lập Đảng cộng sản Pháp

- Từ năm 1923 đến 1941 Người hoạt động chủ yếu ở Liên Xô, Trung Quốc và Thái Lan, thành lập các tổ chức chính trị, tuyên truyền chủ nghĩa Mác – Lênin vào trong nước Tổ chức và lãnh đạo các phong trào cách mạng Việt Nam

- Ngày 3 – 2 – 1930 Người chủ tọa hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản Đông Dương, thành lập Đảng cộng sản Việt Nam

- Tháng 2 – 1941 Người về nước trực tiếp chỉ đạo phong trào đấu tranh cách mạng Thành lập mặt trận Việt Minh, chuẩn bị lực lượng và dành thắng lợi quyết định trong cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945

- Ngày 2 – 9 – 1945 Người đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa

- Sau cuộc tổng tuyển cử lần thứ nhất ngày 06 – 1 – 1946 Người được bầu làm Chủ tịch nước và từ đó luôn đảm nhận chức vụ cao nhất của Đảng và Nhà nước cho đến khi qua đời ngày 2 tháng 9 năm 1969

- Năm 1990 nhân kỉ niệm 100 năm ngày sinh của Người , UNESCO đã suy tôn Người là

“Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa lớn”

- Cuộc đời hoạt động của Nguyễn ái Quốc – Hồ Chí Minh là cuộc đời của một con người hết lòng vì nước, vì dân, trung thành tuyệt đối với lợi ích của nhân dân lao động Bên cạnh sự nghiệp cách mạng vĩ đại, Người còn để lại một sự nghiệp văn hóa lớn

II Quan điểm sáng tác

Sinh thời Hồ Chí Minh không có ý định xây dựng một sự nghiệp văn chương Nhưng trên con đường hoạt động cách mạng, Người nhận thấy rõ tác dụng và tính chiến đấu của văn chương, ý thức được văn chương là một thứ vũ khí lợi hại, Người đã năm lấy nó, mài giũa và sử dụng nó một cách có hiệu quả

Người coi văn chương nghệ thuật là một hoạt động tinh thần phong phú phục vụ có hiệu quả cho sự nghiệp cách mạng Người quan niệm văn chương phải có chất thép Chất “thép” ở đây chính

là xu hướng cách mạng và tiến bộ về tư tưởng, là cảm hứng đấu tranh tích cực của thi ca

Khi sáng tác Người luôn quan tâm đến mục đích và đối tượng thưởng thức của văn chương Trước khi viết Người luôn tự hỏi: Viết để làm gì ? (mục đích), viết cho ai ? (đối tượng), viết cái gì ? (nội dung) và viết như thế nào ? (hình thức)

Người quan niệm văn chương phải có tính chân thực về nội dung, phải trong sáng, hấp dẫn, ngôn ngữ phải chọn lọc, tránh lối viết xa lạ, cầu kì Đặc biệt Người coi trọng việc giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt

Trang 2

tqkhai@cusc.ctu.edu.vn Trần Quang Khải _ CT0754M038

Nhật kí trong tù gồm 133 bài thơ chữ Hán ghi lại chân thực bộ mặt đen tối của chế độ nhà

tù Tưởng Giới Thạch và thể hiện nổi bật vẻ đẹp tâm hồn của người tù – thi sĩ – chiến sĩ cộng sản

Hồ Chí Minh Tập thơ là sự kết hợp hài hòa chất cổ điển và tinh thần hiện đại

Ngoài ra Người còn có bộ phận thơ tuyên truyền, thể hiện tình cảm cách mạng phong phú,

ý chí kiên cường, tinh thần lạc quan cách mạng, động viên khích lệ lòng yêu nước của toàn dân

IV Phong cách nghệ thuật

Hồ Chí Minh là cây bút đa phong cách, có sự kết hợp nhuần nhuyễn nghệ thuật viết văn hiện đại của châu Âu với cảm xúc cổ điển rất Đường thi.Vận dụng linh hoạt và thống nhất hình thức thể hiện, thể loại, ngôn ngữ, bút pháp và hình tượng nghệ thuật, luôn hướng tới ánh sáng và tương lai

a Văn thơ Hồ Chí Minh có phong cách nghệ thuật riêng độc đáo mà đa dạng

Phong cách nghệ thuật Hồ Chí Minh bắt nguồn từ truyền thống gia đình, môi trường và hoàn cảnh sống, hoạt động cách mạng cùng với bản sắc tinh thần của Người Ngay từ nhỏ, Hồ Chí Minh đã được sống trong không khí của văn chương cổ điển Việt Nam và Trung Quốc, của thơ

Đường, thơ Tống Trong thời kì hoạt động cách mạng ở nước ngoài, nhiều năm Người sống ở Pa

ri, tiếp xúc và chịu ảnh hưởng của những nhà văn và nền văn học phương Tây hiện đại Những điều

đó đều ảnh hưởng tới việc hình thành phong cách nghệ thuật Hồ Chí Minh

Phong cách nghệ thuật Hồ Chí minh còn được hình thành do quan điểm của Người đối với sáng tác văn học của mình Khi cầm bút, Người thường đặt ra các câu hỏi: “Viết cho ai ?”, “Viết để làm gì ?”, sau đó mới quyết định “Viết cái gì ?” và “Viết thế nào ?” Hiẻu được quan điểm sáng tác

đó mới có thể lí giải được đặc điểm đa dạng, nhiều sắc thái của phong cách nghệ thuật Hồ Chí Minh: Vì sao những truyện kí sáng tác vào đầu những năm hai mươi của thế kỉ trước lại viết bằng tiếng Pháp với một bút pháp rất hiện đại của phương Tây; vì sao bản Tuyên ngôn độc lập lại lập luận đanh thép, bằng chứng hùng hồn như thế và được mở đầu bằng lời văn của bản Tuyên ngôn

độc lập của nước Mĩ và bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp; vì sao những bài Ca dân cày, Ca du kích lại có lời lẽ mộc mạc, dễ nhớ, dễ thuộc đến thế; vì sao những bài thơ chữ Hán của Người lại sâu sắc, đậm đà màu sắc cổ điển đến vậy

b Nhìn chung mỗi thể loại văn học, từ văn chính luận, truyện kí đến thơ ca, Hồ Chí Minh đều tạo được những nét phong cách riêng, độc đáo và hấp dẫn

- Văn chính luận: ngắn gọn, tư duy sắc sảo, lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, bằng chứng

đầy thuyết phục, giầu tính luận chiến và đa dạng về bút pháp

- Truyện và kí rất hiện đại, thể hiện tính chiến đấu mạnh mẽ và nghệ thuật trào phúng sắc bén

- Thơ ca: là thể oại thể hiện sâu sắc nhất phong cách nghệ thuật của Hồ Chí Minh

+ Những bài thơ nhằm mục đích tuyên truyền cách mạng như: Ca dân cày, Ca công nhân,

Ca binh lính lời lẽ giản dị, mộc mạc, dễ nhớ, mang mầu sắc dân gian hiện đại

Thân người như thể thân trâu Cái phần nno ấm có đâu tới mình (Ca dân cày)

Trang 3

tqkhai@cusc.ctu.edu.vn Trần Quang Khải _ CT0754M038

14 tháng (378 ngày), từ ngày 29 – 8 – 1942 đến ngày 10 – 9 - 1943 Bác được tự do

- Thời gian Người bị cầm tù là cũng là thời gian mà cách mạng Việt Nam đang chuẩn bị ráo riết, chờ thời cơ để giải phóng đất nước, rất cần đến vai trò của Người

- Nhật kí trong tù gồm 133 bài thơ ra đời trong hoàn cảnh đó

- nhật kí trong tù là một tập nhật kí bằng thơ, cho nên nó thể hiện được tư tưởng tình cảm con người Hồ Chí Minh, đặc biệt đây là tập thơ Người viết cho mình, nên chỉ viết khi nào Người thực sự có cảm hứng và vì thế đây là tập thơ giầu giá trị nghệ thuật

II Giá trị nội dung và nghệ thuật

1 Về nội dung

- Nhật kí trong tù phơi bày những xấu xa tàn bạo của chế độ nhà tù Tưởng Giới Thạch Cất lên tiếng nói nhân đạo sâu sắc, đồng cảm và chia sẻ nỗi đau khổ, những hi sinh của những con người nhỏ bé, những con người dưới đáy của xã hội: “Phu làm đường, Vợ người bạn tù đến thăm chồng, Em bé trong nhà lao Tân Dương, Người bạn tù thổi sáo”

- Nhật kí trong tù còn là bức chân dung tự họa của người chiến sĩ cộng sản Hồ Chí Minh

Đau khổ và thấm thía sâu sắc nỗi đau khổ mất tự do; luôn tự chủ về mặt tinh thần, luôn bình thản ung dung, tự tại vượt qua sự tù đày về thể xác để tâm hồn bay bổng hòa vào thế giới tự do; luôn trằn trọc lo âu trước vận mệnh đất nước Đấy là một con người có nghị lực phi thường, ý chí mãnh liệt, tinh thần lạc quan yêu đời luôn thiết tha trước những vẻ đẹp của thiên nhiên tạo vật: “ốm nặng, Không ngủ được, Đêm thu, Đi đường, Giải đi sớm, Ngắm trăng, Tự khuyên mình”

2 Về nghệ thuật

Nhật kí trong tù thể hiện một phong cách nghệ thuật phong phú đa dạng, tập thơ được viết với nhiều bút pháp, nhiều giọng điệu Đặc biệt là sự kết hợp hài hòa giữa bút pháp cổ điển và bút pháp hiện đại

Bài 3 Chiều tối (Hồ Chí Minh)

I Đặt vấn đề

Một con người yêu đời, say mê với cuộc sống bao giờ cũng nhạy cảm với thời gian Đối với

Hồ Chí Minh, thời gian là nhịp điệu của vũ trụ, của cuộc sống con người Trong Nhật kí trong tù, Bác có nhiều bài thơ viết về thời gian và sự vận động của hiện thực, trong đó Chiều tối là bài thơ hay hơn cả Nó không chỉ diễn tả sự lưu chuyển của thời gian trong cảm nhận của Bác mà còn thể hiện được dòng tâm trạng của thi nhân trước bước đi của thời gian và trong nhịp sống của cuộc đời

II Giải quyết vấn đề

Chiều tối là bài thơ thứ 31 trong tập thơ Nhật kí trong tù, ghi lại cảm xúc của nhà thơ trên

đường bị giải đi qua hết nhà lao này đến nhà lao khác Trên con đường chuyển lao ấy, một ngày kia, Người chợt nhận thấy cánh chim chiều

Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không Hai câu thơ tái hiện không gian và thời gian của buổi chiều tối nơi núi rừng Lúc ấy người

đi ngước mắt nhìn lên bầu trời và chợt thấy chim bay về tổ, mây chầm chậm trôi Nhà thơ không trực tiếp nói về thời gian nhưng thời gian vẫn hiện về qua cảnh vật Đây là cách cảm nhận thời

Trang 4

tqkhai@cusc.ctu.edu.vn Trần Quang Khải _ CT0754M038

4

gian mang tính truyền thống đã từng in đậm trong nhiều bài thơ Chim bay về tổ có ý nghĩa báo hiệu thời gian của buổi chiều tối Ta bắt gặp trong ca dao hình ảnh

Chim bay về núi tối rồi

đến Truyện Kiều của Nguyễn Du cánh chim mang theo cả thời gian và tâm trạng:

Chim hôm thoi thót về rừng rồi buổi chiều nghiêng nghiêng xuống theo đôi cánh chim bé nhỏ trong “Tràng giang” của Huy Cận:

Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa hay trong “Độc tọa Kính Đình sơn” (Một mình ngồi trên núi Kính Đình) của Lí Bạch :

Chim bầy vút bay hết Mây lẻ đi một mình Hình ảnh thơ của Lí Bạch và của Bác có nét tương đồng, nhưng thơ của Lí Bạch sắc thái thời gian hiện lên không rõ nét thì hai câu thơ của Bác vừa có ý nghĩa chỉ thời gian, vừa nhuốm đầy tâm trạng

Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ

ở đây không phải chim bay trong trạng thái bình thường mà là bay mỏi, bay mải miết cho kịp tới chốn ngủ nơi rừng xanh quen thuộc Cánh chim mỏi mệt hay nhà thơ mỏi mệt lê bước trên chặng đường đi đày giờ đây không biết đâu là chốn dừng chân ? Sự tương đồng ấy dễ tạo nên sự cảm thông sâu sắc giữa người với cảnh

Câu thơ thứ hai tiếp tục phác họa không gian, thời gian và tâm trạng

Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không Câu thơ dịch chưa lột tả hết ý nghĩa của nguyên tác Cô vân là chòm mây cô đơn, lẻ loi; mạn mạn độ là trôi lững lờ, chậm chạp mang dáng vẻ trì hoãn Chòm mây như có tâm hồn, như mang tâm trạng Nó cô lẻ và lặng lẽ lững lờ trôi giữa không gian bao la rộng lớn của trời chiều Bầu trời có chim có mây nhưng mây cô đơn, chim mệt mỏi, đã thế lại đang trong trạng thái chia lìa: Chim bay về rừng, chòm mây cô đơn ở lại Hai câu thơ tả cảnh mà mở ra cả một không gian tâm trạng Cảnh buồn, người buồn Nhưng trong nỗi buồn trước cảnh chiều muộn còn có một khát vọng

tự do ẩn kín trong đôi mắt dõi nhìn theo cánh chim lẫn mây giữa bầu trời cao rộng

Nếu như hai dòng thơ đầu đã nói tới cánh chim mệt mỏi, chòm mây cô đơn thì hai câu thơ sau đã hiện lên một “chốn ngủ” cho con người

Cô em xóm núi xay ngô tối Xay hết lò than đã rực hồng Trong bản dịch, người dịch đã đưa vào chữ ‘tối’ quá lộ liễu trong thi pháp thơ cổ chỉ muốn người đọc tự cảm nhận chiều tối phủ xuống mà không cần một sự thông báo trực tiếp nào Điều đó làm lộ tứ thơ Trong nghệ thuật thơ ca, nhà thơ có thể lấy xa để nói cao, lấy động để nói tĩnh, dùng sáng để nói tối Trong chiều tối, Bác không hề nói đến tối mà người đọc vãn cảm nhận thấy bóng tối đang buông xuống xóm núi là nhờ có chữ “hồng” ở cuối bài thơ Trời tối, người đi mới nhìn thấy ánh lửa hồng rực lên như thế

Cũng như nhiều bài thơ khác của Bác, hình tượng thơ trong bài thơ vận động thật khỏe khoắn và bất ngờ Trong cảnh chiều muộn của miền sơn cước tưởng chỉ có bóng tối hoàng hôn bao phủ, chỉ có heo hút quạnh hiu, nào ngờ đâu ánh sáng ấm áp đã rực lên xua tan giá lạnh và bóng tối

Sự xuất hiện hình ảnh người thiếu nữ trong khung cảnh lao động, bên lò than rực hồng đã mang lại

ánh sáng và niềm vui, mang lại sự sống mãnh liệt và ấm áp Mặc dù thời gian vận động từ chiều

đến tối, từ ngày sang đêm nhưng hình tượng thơ vẫn vận động theo xu thế phát triển

Khi bóng tối của ngày tàn buông xuống nhưng không gian không hề tăm tối, con người đã kịp thắp lên ngọn lửa, con người đã kịp tạo nên ánh sáng, tạo nên hơi ấm để sưởi ấm cho con người

và cảnh vật ánh sáng, hơi ấm, con người đã đưa lại niềm vui bình dị cho người tù nhân xa xứ Trong cảnh ngộ của riêng mình, Bác vẫn tìm thấy niềm vui Niềm vui ấy xuất phát từ cuộc sống lao

động của người dân Trung Hoa ở một xóm núi nào đó trên đất Quảng Tây Nếu như không có tình người tha thiết thì làm sao Bác có được một niềm vui như thế giữa đất người xa lạ

Trang 5

tqkhai@cusc.ctu.edu.vn Trần Quang Khải _ CT0754M038

Bài 4 Giải đi sớm

(Tảo giải) (Hồ Chí Minh)

I Đặt vấn đề

Giải đi sớm là bài thơ tứ tuyệt liên hoàn, ghi lại cảm xúc của Bác khi bắt đầu một hành trình đày ải từ nhà lao Long An đến nhà lao Đồng Chính vào một đêm cuối thu lanh giá Bài thơ viết về một cuộc chuyển lao nhưng ta không thấy bóng dáng lính giải tù mà chỉ bắt gặp hình ảnh một người đi xa (chinh nhân) trong tư thế chủ động bình tĩnh, tự tin, vượt qua đêm thu giá lạnh đến với buổi bình minh rực hồng

Đến với bài thơ ta bắt gặp một người cộng sản giữa gông cùm xiềng xích mà vẫn ngời sáng một niềm lạc quan tin tưởng

II Giải quyết vấn đề

Hai khổ thơ nhưng thật chất là hai bài thơ tứ tuyệt độc lập, nó bổ sung ý nghĩa cho nhau tạo nên tính hoàn chỉnh của tác phẩm trong một tiến trình vận động mang nhiều yếu tố cảm quan của người chiến sĩ cách mạng

Bốn câu thơ đầu

Gà gáy một lần đêm chửa tan Chòm sao đưa nguyệt vượt lên ngàn Người đi cất bước trên đường thẳm Rát mặt đêm thu trận gió hàn Câu thơ đầu đọc lên tưởng chỉ mang giá trị về mặt thời gian, không mang một cảm xúc, một thái độ nào cả bởi ở đó chỉ hiện rõ chức năng thông báo thời gian đang chậm trôi về phía đêm tàn Nhưng chính nó là sự chuẩn bị cho “chinh nhân” xuất hiện

Gà gáy một lần, thời gian bây giờ là quá nửa đêm, là lúc đêm chưa tàn nhưng một ngày mới

đã bắt đầu Câu thơ nhấn mạnh ý đi sớm, đi rất sớm để biểu thị cái vất vả, gian khổ trên đường đi

đày của người tù Hồ Chí Minh trên đất khách

Nhưng nếu tách biệt câu đầu ra khỏi câu thứ hai thì dấu ấn sáng tạo của nó sẽ chẳng để lại

ấn tượng gì đặc biệt Để hiểu rõ hơn cần soi nó xuống câu thứ hai:

Chòm sao đưa nguyệt vượt lên ngàn Câu thơ dịch chưa lột tả hết thần sắc của nguyên tác bởi “ủng” nghĩa là ôm, họp lại, đi theo, bảo hộ, dịch là đưa, nó thực sự chưa đắt song cũng là cái khó của người dịch Trước hết đây là một câu thơ tả thực, nhiều trăng và sao trên trời nhấn mạnh thêm ý sớm đã có ở câu đầu Hơn thế nó thể hiện vẻ đẹp của một hồn thơ tinh tế dễ nhạy cảm với vẻ đẹp của thiên nhiên Trong cảnh ngộ cô

đơn ấy, thiên nhiên thường quạnh hiu, khắc nghiệt, nhưng ở đây qua tâm hồn Người, thiên nhiên trở nên sinh động, thân mật, tươi vui Sinh động mà không náo nhiệt, tươi vui mà không ồn ào, vẫn giữ được cái yên tĩnh của một buổi sáng sớm Người lên đường một mình nhưng dường như trăng sao cũng cùng Người lên đường, làm vợi đi nỗi cô đơn trên chặng đường thử thách trước mắt

Nếu như hai câu đầu nói thời gian và không gian của một cuộc hành trình thì câu thơ thứ ba con người đã trực tiếp xuất hiện với tư thế của một người đi xa:

Người đi cất bước trên đường thẳm Một lần nữa bản dịch lại không lột tả được hết ý của nguyên tác Chinh nhân là người đi xa Chinh

đồ là đường xa Dĩ tại là đã ở ý cả câu thơ khẳng định: trời còn rất sớm mà người đi xa đã ở trên trên con đường phải đi xa rồi Một câu thơ tả thực, không hề có ý định che giấu cái khổ, nhưng

Trang 6

tqkhai@cusc.ctu.edu.vn Trần Quang Khải _ CT0754M038

6

quan trọng là không chỉ có thế Câu thơ còn ẩn chứa một hình ảnh khác lớn hơn và thật hơn: đó là hình ảnh của một chiến sĩ lên đường vì đại nghĩa, lên đường một cách dứt khoát, chủ động ở đây con người tự nâng mình vượt lên trên hoàn cảnh, không để cho hoàn cảnh khuất phục mình

Rát mặt đêm thu trạn gió hàn Trong nguyên tác là “Nghênh diện thu phong trận trận hàn” ngênh diện là hướng mặt về phía trước, là ngẩng mặt lên Trận trận hàn là từng trận từng trận gió thu lạnh lẽo liên tiếp thổi tới,

nó nhấn mạnh cái lạnh lẽo của buổi sớm mùa thu nơi miền đất khách Người đi không hề rụt rè trước cái khắc nghiệt của thiên nhiên, trái lại chủ động bước tới một cách hiên ngang Rất tiếc bản dịch đã bỏ mất một chữ trận Nó không tô đậm được sự ra đi hùng tráng, xông pha của người chiến

Trên đường chuyển lao, có sớm, có xa, có gió lạnh, có gian khổ nhưng không xóa nhòa

được con người mà chỉ làm cho con người thêm cứng cỏi, vững vàng, kiên quyết, dứt khoát Đó là hiện thân của chất thép trong tâm hồn người chiến sĩ cách mạng Hồ Chí Minh

Nếu bốn câu thơ đầu là thời điểm đầu của cuộc hành trình đầy gian khổ thì bốn câu thơ sau cảnh vật đã có sự biến đổi:

Phương đông màu trắng chuyển sang hồng Bóng tối đêm tàn chốc sạch không

Hơi ấm bao la trùm vũ trụ Người đi thi hững bỗng thêm nồng

Đoạn thơ là một khung cảnh rộng lớn, cảnh sắc chuyển đổi thật mau lẹ Chân trời mầu trắng nay đã ửng hồng Một cảnh đẹp và cũng là một niềm vui, là nguồn sinh khí mới Đấy là sự nhất quán, thống nhất trong thơ văn Bác Bóng đêm còn sót lại bị quét sạch Thay thế vào cái giá lạnh là hơi ấm bao la Hơi ấm của trời đất vừa mới bắt đầu nhưng ấm áp một cách kì lạ và tràn ngập khắp nơi Sức ấm nóng ấy lan tỏa ra từ tấm lòng, tâm hồn một người chiến sĩ vĩ đại hơn là từ thiên nhiên Và cũng chính vì vậy mà:

Người đi thi hững bỗng thêm nồng Cảm xúc vốn đã sớm xuát hiện khi cuộc hành trình mới bắt đầu, giờ đây khi bắt gặp sự vận

động đổi thay của vũ trụ, nó lại bùng lên mỗi lúc một rực rỡ hơn, dạt dào hơn

Bốn câu thơ sau thể hiện sự vận động trong cảm quan nghệ thuật của Bác, nó xuất phát từ chính sự vận động trong tư tưởng của Người: từ bóng đêm tới bình minh, từ màu trắng tăm tối sang mầu hồng lạc quan tin tưởng, từ lạnh lẽo đến ấm áp Nó không chỉ sưởi ấm lòng người mà còn sưởi

ấm cả thế giới tự nhiên, cả vũ trụ

III Kết thúc vấn đề

Bài thơ là khúc ca lên đường vừa trầm hùng, vừa sảng khoái vui tươi và cuối cùng vút lên nét nhạc chiến thắng hào hùng Là nét đẹp trong tâm hồn người tù Hồ Chí Minh: luôn lạc qua tin tưởng vào một tương lai tươi sáng

Bài 5 Mới ra tù tập leo núi (Hồ Chí Minh)

I Đặt vấn đề

Bài thơ “Mới ra tù tập leo núi” không nằm trong tập Nhật kí trong tù Hồ Chí Minh viết bài

này khi đã được giải thoát khỏi cảnh tù đày Bài thơ được viết bên rìa một tờ báo cùng với mấy dòng chữ “Chúc chư huynh ở nhà mạnh khỏe và cố gắng công tác ở bên này bình yên” và gửi về cho các đồng chí đang ở nhà ngày ngày chờ mong tin tức Bác

Theo tác giả T Lan, khi Bác ra tù mắt kém, chân bước không được, Bác quyết tâm mỗi ngày tập đi mười bước, dù đau mà phải bò, phải lết cũng phải đi đủ mười bước mới thôi Cuối cùng Bác chẳng những đi vững mà còn có thể leo núi Lần đầu tiên lên đỉnh núi, Bác cao hứng đã sáng tác bài thơ này

Bài thơ ra đời trong hoàn cảnh đó Nhưng không đơn thuần chỉ là chuyện leo núi, bài thơ còn là lời bộc lộ tình cảm nhớ thương với đất nước, với đồng chí bạn bè

Trang 7

tqkhai@cusc.ctu.edu.vn Trần Quang Khải _ CT0754M038

Năm tròn cố quốc tăm hơi vắng Tin tức bên nhà bữa bữa trông

Trong bức tranh thiên nhiên quấn quýt giao hòa ấy, con người xuất hiện nhưng không phải trong tư thế dạo chơi thưởng ngoạn, mà mang nặng một nỗi niềm xúc cảm bâng khuâng

Bồi hồi dạo bước Tây Phong Lĩnh Trông lại trời Nam nhớ bạn xưa Trước cảnh sắc thiên nhiên hùng vĩ, con người không hề cảm thấy cô đơn lẻ loi, cũng không

hề thấy mình nhỏ bé mà trái lại nỗi niềm hướng về cố hương khiến tầm mắt nhà thơ bao quát, thâu tóm cảnh vật trong cái nhìn Hướng về phương nam với tấm lòng “ức cố nhân” nặng trĩu Cố nhân ở

đây là những người bạn chiến đấu, là các đồng chí trong Trung ương Đảng, những người đã cùng Bác kinh qua bao gian khổ trên con đường đấu tranh giành độc lập cho nước nhà Tâm trạng bao trùm là nỗi nhớ thương, thông cảm “Bồi hồi” là nỗi nhớ thương, là chia sẻ những vất vả trên chặng

đường chiến đấu, nó còn là nỗi lo lắng cho phong trào cách mạng trong nước, là nỗi buồn vì vẫn phải xa quê hương Nhưng vẫn toát lên niềm vui vì giờ đây Bác đã được tự do, sắp được đoàn tụ cùng đồng chí đồng bào, sắp được sát cánh cùng nhân dân trên con đường đấu tranh cách mạng Trước mắt là một chặng đường hoạt động mới Bao nhiêu xúc cảm xao xuyến dâng ngập trong lòng người chiến sĩ cách mạng vĩ đại

III Kết thúc vấn đề

Bài thơ thuộc thi đề “Đăng sơn ức hữu” của thơ cổ cùng với thủ pháp nghệ thuật điểm nhãn rất Đường thi tạo nên sức hút cho tác phẩm Đó cũng là nét độc đáo về nghệ thuật góp phần đưa tác phẩm trở thành mẫu mực trong các sáng tác thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh

Bài 6 Tuyên ngôn đôc lập (Hồ Chí Minh)

I Tìm hiểu chung về tác phẩm

1 Hoàn cảnh ra đời

Ngày 19 – 8 – 1945 chính quyền Hà Nội về tay nhân dân Ngày 26 – 8 - 1945 Hồ Chí Minh từ chiến khu trở về Hà Nội Tại căn nhà số 48 phố Hàng Ngang – Hà Nội Người đã soạn bản Tuyên ngôn độc lập Ngày 2 – 9 – 1945 tại quảng trường Ba Đình – Hà Nội, Người thay mặt

Trang 8

tqkhai@cusc.ctu.edu.vn Trần Quang Khải _ CT0754M038

8

chính phủ lâm thời của Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập trước đồng bào cả nước và thế giới Bản Tuyên ngôn ra đời trong hoàn cảnh đó

2 ý nghĩa lịch sử của bản tuyên ngôn

Bản tuyên ngôn đánh dấu một sự kiện lịch sử trọng đại của đất nước Tuyên bố chấm dứt chế độ thực dân, đánh đổ chế độ quân chủ lập hiến, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa

Tuyên ngôn độc lập còn đập tan những luận điệu xảo trá của bọn đế quốc Mĩ, Anh, Pháp về việc khai hóa, bảo hộ để nhằm tái chiếm Đông Dương

Tuyên ngôn độc lập vừa giải quyết được nhiệm vụ độc lập dân tộc, lại vừa giải quyết được nhiệm vụ dân chủ cho nhân dân (“Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỉ mà lập nên chế độ cộng hoà”), tức là bên cạnh chữ Độc lập lại có thêm chữ Tự do, mở ra một kỉ nguyên mới cho đất nước : kỉ nguyên độc lập, tự do Đó là tư tưởng lớn, chân lí của thời đại mà sau này Bác đã

đúc kết trong câu nói nổi tiếng: “Không có gì quí hơn Độc lập, Tự do”

Tuyên ngôn độc lập là kết quả của bao nhiêu máu đã đổ, bao nhiêu tính mệnh đã hi sinh, và

là kết quả của bao nhiêu hi vọng Tuyên ngôn là sự tiếp nối lời thơ sang sảng hào hùng của Lí Thường Kiệt Ta nghe trong Tuyên ngôn độc lập âm vang của hồi kèn xung trận, của khúc ca khải hoàn trong Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi

3 Vị trí của bản Tuyên ngôn trong tiến trình phát triển của lịch sử Van học

Tuyên ngôn độc lập là áng văn chính luận ngắn gọn, súc tích, lập luận chặt chẽ,lí lẽ đanh thép, lời lẽ hùng hồn đầy sức thuyết phục, đạt đến độ mẫu mực của văn chính luận

II cơ sở pháp lí của bản tuyên ngôn

Mở đầu bản tuyên ngôn, Hồ Chí Minh trích dẫn lời 2 bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của Mĩ và Tuyên ngôn về nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791, khẳng định quyền tự do bình đẳng và quyền mưu cầu hạnh phúc của mọi người trên thế giới

Hồ Chí Minh trích dẫn lời hai bản tuyên ngôn nổi tiếng đó, một mặt thể hiện sự tôn trọng tư tưởng cách mạng của nhân dân Mĩ và Pháp, mặt khác đề cao quyền tự do, bình đẳng, quyền mưu cầu hạnh phúc của con người , coi đó là chân lí bất hủ của nhân loại, “như những lẽ phải không ai

có thể chối cãi được” Bằng việc trích dẫn lời của hai bản tuyên ngôn đó, Hồ Chí Minh đã lấy chính lời lẽ của cha ông chúng để đánh lại chúng, người ta gọi đó là thế “lấy gậy ông đập lưng ông” Lấy lời lẽ của tổ tiên người Mĩ, người Pháp để khẳng định chân lí, khẳng định lẽ phải, khẳng định quyền tự do độc lập của dân tộc Việt Nam

Việc trích dẫn lời hai bản Tuyên ngôn của Mĩ và Pháp, Hồ Chí Minh tỏ ra hết sức kiên quyết bởi đó không chỉ là một lời nhắc nhở mà còn là lời cảnh báo hai tên đế quốc thực dân sừng sỏ hiếu chiến nhất thế giới, cũng là hai kẻ thù đang sẵn sàng xâm lược nước ta đừng phản bội lại chính

tổ tiên của mình, đừng làm vấy bẩn lên lá cờ tự do, bình đẳng và nhân đạo của các cuộc cách mạng Pháp , Mĩ nếu nhất định xâm lược Việt Nam

Mở đầu bản tuyên ngôn của Việt nam mà nhắc đến hai bản tuyên ngôn nổi tiếng trong lịch

sử nhân loại, Hồ Chí Minh tạo ra cuộc đối thoại ngầm với thế giới nhằm khẳng định tư cách độc lập của nhân dân, của dân tộc Việt Nam ở thời đại mới Đặt ba bản tuyên ngôn ngang hàng nhau, ba cuộc cách mạng ngang hàng nhau, Hồ Chí Minh một lần nữa gợi lại niềm tự hào dân tộc, ta thấy thấp thoáng bóng dáng dân tộc trong tư thế hiên ngang thời Bình Ngô đại cáo, hơn thế nữa, cuộc cách mạng của dân tộc Việt Nam còn là sự hợp nhất hai cuộc cách mạng Pháp và Mĩ, bởi nó không chỉ đánh đổ chế độ phong kiến tồn tại hàng chục thế kỉ mà còn đánh đổ ách xâm lược của chế độ thực dân, giành độc lập dân tộc

Hồ Chí Minh không dừng lại ở quyền tự do, bình đẳng của cá nhân con người, bằng một từ

“suy rộng ra”, Người đã nâng quyền lợi của con người thành quyền lợi của dân tộc Tất cả các dân tộc đều có quyền tự quyết định lấy vận mệnh của mình Đó là điểm tiến bộ, mới mẻ trong tư duy lí luận Hồ Chí Minh

III Cơ sở thực tiễn

Không chỉ nêu lên cơ sở pháp lí nhằm khẳng định quyền độc lập chính đáng của dân tộc

Trang 9

tqkhai@cusc.ctu.edu.vn Trần Quang Khải _ CT0754M038

Thực dân Pháp khoe khoang công “khai hoá văn minh” ở Đông Dương, nhưng thực chất chỉ

là những trò bịp bợm Bản tuyên ngôn đã lật tẩy bọ mặt xảo quyệt, tàn bạo đó bằng những lí lẽ xác

đáng và những sự thật lịch sử không thể chối cãi được

Lí lẽ xác đáng: Hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái

đến cướp nước ta, áp bức đồng bào ta Hành động đó của chúng trái hẳn với đạo lí và chính nghĩa

Sự thật lịch sử không thể chối cãi: bằng hình thức liệt kê, với hệ thống điệp từ điệp ngữ : chúng thi hành,chúng ràng buộc, chúng thẳng tay, chúng cướp tạo nên những câu văn trùng điệp,

có kết cấu liên hoàn tạo nên mọt hệ thống luận điểm luận cứ, luận chứng khoa học làm bằng chứng

để những thước phim tài liệu về tội ác của thực dân Pháp càng thêm nóng hổi , càng làm nổi bật sự bất bình đẳng về chính trị mà thực dân Pháp đã dựng lên ở Việt Nam: Chúng thủ tiêu mọi quyền dân chủ, chia rẽ ba kì để dễ bề cai trị, tắm máu các cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta, thi hành chính sách ngu dân, đầu độc nhân dân bằng rượu cồn và thuốc phiện

Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến tận xương tuỷ, chèn ép tư sản dân tộc, đặt ra hàng trăm thứ thuế và cuối cùng làm cho hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói

Thực dân Pháp rêu rao công “bảo hộ” ở Đông Dương, song trong vòng năm năm chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật

Thực dân Pháp tuyên bố Đông Dương là của người Pháp và Pháp có quyền trở lại Bản tuyên ngôn chỉ rõ: Dân tộc ta là thuộc địa của Nhật từ mùa thu năm 1940 Chúng ta giành lại độc lập từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp

Với lối lập luận chặt chẽ, sắc sảo, Hồ Chí Minh khơi gợi lại những tội ác của thực dân Pháp như những chứng tích lịch sử không thể phủ nhận, ta có thể liên tưởng đến những tội ác của giặc Minh trong Bình Ngô đại cáo Khơi gợi lại bề sâu những đau thương mà thực dân Pháp gây ra, vạch trần những luận điệu xảo trá của chúng, bản tuyên ngôn tuyên bố thoát li và xoá bỏ mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam

Nếu thực dân Pháp đê hèn, tàn bạo và phản động, nhẫn tâm giết hại tù chính trị Việt Nam khi rút chạy thì nhân dân Việt Nam vẫn một mực khoan hồng, độ lượng với kẻ thù đã thất thế, vẫn sẵn sàng giúp đỡ người Pháp chạy qua biên thuỳ, bảo vệ tài sản và tính mạng của họ Đây là truyền thống nhân đạo bao đời nay của dân tộc Việt Nam (Đem đại nghĩa để thắng hung tàn, Lấy chí nhân để thay cường bạo)

Một dân tộc đã phải chịu biết bao đau khổ dưới ách thực dân tàn bạo trong suốt hơn tám mươi năm, đã đứng hẳn về phe đồng minh chống phát xít mấy năm nay, đã nêu cao tinh thần nhân

đạo chủ nghĩa, bác ái, đã đánh đổ chế độ thực dân, đập tan sự thống trị và nền tảng tư tưởng phong kiến tồn tại mấy mươi thế kỉ, dân tộc đó phải được tự do và độc lập và sự thật đã thành một nước tự

do độc lập

Lời tuyên bố độc lập ăm ắp niềm tự hào, nó không còn là quyền, là tư cách cần có nữa mà

đã là hiện thực Đó là kết quả của bao nhiêu máu đã đổ và vì thế dân tộc Việt Nam nguyện đem tất cả tinh thần, lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy “”

V ý chí độc lập, tự do của nhân dân và tấm lòng của tác giả

ý chí, khát vọng độc lập tự do được nói lên trong toàn bài, từ phần nêu cơ sở pháp lí ở đầu bài cho đến phần chứng minh nguyên lí ấy, nhưng rõ nhất là trong phần tuyên ngôn ở cuối bài,

Trang 10

tqkhai@cusc.ctu.edu.vn Trần Quang Khải _ CT0754M038

10

đặc biệt là ở đoạn: “Một dân tộc đã gan góc chóng ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Động minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do ! Dân tộc đó phải được độc lập !” và đoạn: “Nước Việt nam có quyền hưởng tự do, độc lập, và sự thật đã trở thành một nước tự do, độc lập Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập ấy”

Đây là lời của lãnh tụ Hồ Chí Minh Là con người yêu nước số một của dân tộc Việt Nam, suốt đời đi: “tìm hình cho Nước” (tức là đi tìm độc lập, tự do cho dân tộc), hơn ai hết, Bác thấu hiểu khát vọng độc lập, tự do và tin tưởng sắt đá vào ý chí quyết tâm giữ vững nền độc lập, tự do của nhân dân ta, vì vậy mà lời Bác chính là ý dân và ở đây, Người đã nói lên khát vọng và ý chí ấy của nhân dân ta một cách hào hùng, mãnh liệt, đầy niềm tin Và những đoạn văn tâm huyết đó đã có tác dụng động viên, khích lệ mạnh mẽ đồng bào cả nước

Qua bản Tuyên ngôn độc lập, người đọc cảm nhận được tấm lòng của Bác thể hiện qua từng câu chữ, và nhất là trọng giọng văn vừa thiết tha, vừa hùng hồn, đanh thép: tấm lòng của một con người yêu nước nồng nàn và tự hào dân tộc mãnh liệt, khát vọng độc lập, tự do với ý chí quyết tâm giữ vững quyền tự do, độc lập ấy Tấm lòng của Bác đã làm nên chất văn cho tác phẩm, khiến Tuyên ngôn độc lập không chỉ là một bài văn chính luận mẫu mực mà còn là một áng văn xúc động lòng người

Bài 7 Tây Tiến Quang Dũng

I đặt vấn đề

Tây Tiến là bài thơ tiêu biểu của hồn thơ Quang Dũng Ra đời trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp gian khổ, Tây Tiến là một hồi tưởng rất đẹp, những kỉ niệm đầy sống động về người chiến sĩ trong đoàn quân Tây Tiến Cho nên khác với vẻ đẹp của các bài thơ cùng thời, vẻ đẹp của Tây Tiến là vẻ đẹp hài hòa, hào hoa, bi tráng

II Giải quyết vấn đề

Bài thơ mở đầu bằng một nỗi nhớ da diết, cháy bỏng bao trùm lên cả không gian và thời gian:

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi ! Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mương Lát hoa về trong đêm hơi Nỗi nhớ đơn vị cũ trào dâng, không kìm nén nổi, nhà thơ đã thốt lên thành tiếng gọi Hai chữ chơi vơi như vẽ ra trạng thái cụ thể của nỗi nhớ, hình tượng hóa nỗi nhớ, khơi nguồn cho cảnh núi cao, dốc sâu, vực thẳm, rừng dày” liên tiếp xuất hiện ở những câu thơ sau :

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

Khổ thơ là một bằng chứng “thi trung hữu họa” Chỉ bằng bốn câu thơ, Quang Dũng đã vẽ

ra một bức tranh hoành tráng diễn tả rất đạt sự hiểm trở và dữ dội, hoang vu và heo hút của núi rừng Tây Bắc, địa bàn hoạt động của đoàn quân Tây Tiến Những từ ngữ giàu giá trị tạo hình: Khúc khuỷu, thăm thẳm, cồn mây, súng ngửi trời đã diễn tả thật đắc địa sự hiểm trở, trùng điệp và độ cao ngút ngàn của núi đèo Tây Bắc Hai chữ ngửi trời được dùng rất hồn nhiên và cũng rất táo bạo, có phần ngộ nghĩnh, tinh nghịch của người lính Núi cao tưởng chừng chạm mây, mây nổi thành cồn heo hút Người lính bước đi trên đỉnh núi như đang đi trên mây, mũi súng chạm tới đỉnh trời Câu thơ thứ ba như bẻ đôi, diễn tả đốc núi vút lên, đổ xuống gần như thẳng đứng Cái nhìn của Quang Dũng đang hướng lên, nhìn xuống theo chiều cao và sâu của dốc đèo, bất ngờ được phóng ngang xa qua một không gian mịt mùng sương núi mưa rừng, thấy thấp thoáng những ngôi nhà như đang bồng bềnh trôi giữa biển khơi

Trang 11

tqkhai@cusc.ctu.edu.vn Trần Quang Khải _ CT0754M038

11

Cái vẻ hoang dại, dữ dội ẩn chứa nhiều bí ẩn ghê gớm của núi rừng tiếp tục được nhà thơ khai thác Nó không chỉ được mở ra theo chiều không gian mà còn được khám phá ở cái chiều thời gian, luôn luôn là mối đe dọa khủng khiếp đối với con người:

Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người Vậy là cảnh núi rừng hiểm trở qua ngòi bút của Quang Dũng hiện lên có đủ cả núi cao, vực sâu, dốc thẳm, mưa rừng, sương núi, thác gầm, cọp dữ” Những địa danh xa lạ: Mường Lát, Sài Khao, Pha Luông, Mường Hịch, những hình ảnh giầu giá trị tạo hình được hiện lên qua những câu thơ vần trắc gợi sự vất vả nhọc nhằn, được xoa dịu bằng những câu thơ vần bằng ở cuối khổ thơ, làm hiện lên thế giới khác thường vừa đa dạng, vừa độc đáo của núi rừng Tây Bắc

Và đoạn đầu kết thúc bằng một hình ảnh đột ngột:

Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi Cảnh tượng thật đầm ấm Sau bao chặng đường hành quân gian khổ, những người lính được nghỉ ngơi, được quây quần bên những nồi cơm đang bốc khói Nó xua tan đi những mệt mỏi trên gương mặt những người lính, khiến họ tươi tỉnh hẳn Hai câu thơ tạo cảm giác êm dịu, ấm áp, chuẩn bị tâm thế cho người đọc bước sang đoạn thơ thứ hai

Đoạn thơ thứ hai mở ra một thế giới khác của Tây Bắc Cảnh núi rừng hoang vu hiểm trở dần xa khuất nhường chỗ cho vẻ mĩ lệ, thơ mộng duyên dáng Những nét vẽ bạo, khỏe, gân guốc ở

đoạn đầu được thay thế bằng những đường nớt mềm mại, uyển chuyển, tinh tế

Hồn thơ lãng mạn của Quang Dũng bị hấp dẫn trước vẻ đẹp mang vẻ bí ẩn của con người và cảng vật nơi xứ lạ Cảnh ấy, người ấy hiện lên trong một thời gian làm nổi lên rõ nhất sự lung linh, huyền ảo của nó: cảnh một đêm liên hoan văn nghệ giữa lửa đuốc bập bùng và cảnh một cuộc vượt thác

Cảnh đêm liên hoan văn nghệ có sự góp mặt của những người dân địa phương được miêu tả bằng những chi tiết vừa thực mà cũng rất ảo:

Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa Kìa em xiêm áo tự bao giờ

Khèn lên man điệu nàng e ấp Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ

sáng lung linh của lửa đuốc, trong âm thanh réo rắt của tiếng khèn, tiếng sáo, tất cả như ngả nghiêng, bốc men say, ngất ngây rạo rực Nhân vật trung tâm của đêm hội là những cô gái địa phương vừa tình tứ, vừa e thẹn trong những bộ áo xiêm lộng lẫy đã hút cả hồn vía các chàng trai Tây Tiến

Nếu cảnh đêm liên hoan đem đến cảm giác tươi vui thì cảnh vượt sông lại gợi lên cảm giác mênh mông, mờ ảo:

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa Không gian dòng sông trong một buổi chiều bao phủ một màn sương huyền thoại Trên dòng sông ấy nổi bật lên dáng hình mềm mại, uyển chuyển của người con gái Thái trên chiếc thuyền độc mộc Và như hòa hợp với con người, những bông hoa rừng cũng cố làm duyên trên dòng nước lũ

Trên cái nền hùng vĩ, hiểm trở, dữ dội của núi rừng và duyên dáng, mĩ lệ, thơ mộng đó của Tây Bắc, hình tượng người lính xuất hiện với một vẻ đẹp đầy chất bi tráng:

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Trang 12

tqkhai@cusc.ctu.edu.vn Trần Quang Khải _ CT0754M038

12

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm Quang Dũng đã chắt lọc những nét tiêu biểu nhất của những người lính Tây Tiến để tạc nên bức tượng đài tập thể Cái bi và cái hùng là hai chất liệu chủ yếu của bức tượng đài, chúng hòa quyện vào nhau, thâm nhập vào nhau, nâng đỡ nhau tạo nên vẻ đẹp bi tráng

Hình ảnh người lính Tây Tiến hiện lên với dáng vẻ xanh xao bề ngoài, với đầu không mọc tóc Đây không phải là cách gây ấn tượng bằng hình ảnh cho người đọc mà phản ánh một thực tế khi người lính đối diện với căn bệnh sốt rét hiểm nghèo Ta bắt gặp trong thơ kháng chiến những hình ảnh quen thuộc đó: “Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi” trong Đồng chí của Chính Hữu hay cái mầu da vàng nghệ trong Cá nước của Tố Hữu : “Giọt giọt mồ hôi rơi, Trên trán anh vàng nghệ” Quang Dũng cũng từ sự thật đấy nhưng nhà thơ đã nhìn bằng cảm hứng lãng mạn Hay nói cách khác nhà thơ đã lãng mạn hoá hiện thực “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc”, câu thơ không gợi cảm giác bi luỵ mà hiện lên sau đó là vẻ đẹp dữ dội, lẫm liệt khác thường Âm hưởng câu thơ gợi lên hoành tráng từ những từ ngữ mang thanh trắc: Tây Tiến, không mọc tóc làm câu thơ như vút lên Hai chữ “đoàn binh”, một từ Hán Việt rất trang trọng đã góp phần tô đậm cái hùng dũng của binh đoàn Tây Tiến đang tiến về phía trước Sự thật thiếu ăn và bệnh sốt rét làm người lính xanh xao, nhưng với cái nhìn lãng mạn, màu xanh ấy lại được liên tưởng tới màu xanh của lá rừng đại ngàn Quân xanh vì đói khát, sốt rét nhưng vẫn toát lên cái oai phong dữ đằn của những con hổ nơi rừng thiêng Ba chữ “dữ oai hùm” không chỉ đơn thuần là một phép so sánh mà còn thể hiện sự tiếp thu truyền thống thẩm mĩ phương Đông của tác giả Một quan niệm về vẻ đẹp người anh hùng trên nền của sức mạnh thiên nhiên, của hổ báo: “Râu hùm, hàm én, mày ngài” (Từ Hải – Truyện Kiều) hay “Sĩ tốt kén tay tì hổ, Bề tôi chọn kẻ vuốt nanh” để nói đến sức mạnh của nghĩa quân Lam Sơn trong Cáo bình Ngô của Nguyễn Trãi, hay trong Thuật hoài của Phạm Ngũ Lão: “Tam quân tì hổ khí thôn ngưu” Cho nên ba chữ “dữ oai hùm” có sự chất chứa hội tụ, kết tinh hào khí của người lính Tây Tiến Cái vẻ oai phong đó còn được thể hiện qua ánh “mắt trừng gửi mộng qua biên giới” Mắt trừng gợi khát vọng chiến đấu đến lạnh lùng, người lính Tây Tiến mộng chiến đấu, mộng lập công, mộng truy kích giặc qua biên giới Việt Lào Đó cũng là cái mộng chung của người lính một thời thanh gươm lưng ngựa

Đọc những hình ảnh “không mọc tóc”, “quân xanh màu lá”, “dữ oai hùm” ta cứ ngỡ những

ý chí căm hờn và khát vọng chiến đấu đã tôi luyện trái tim thành sắt đá Vậy mà đọt ngột hiện ra câu thơ : “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” Câu thơ miêu tả rất đúng, rất chân thực đời sống của người lính Tây Tiến, vốn xuất thân từ học sinh, sinh viên trí thức Họ ra đi từ trường xưa phố cũ, nhiều người xuất thân từ thủ đô Hà Nội, cho nên giữa cuộc sống kham khổ thiếu thốn, thậm chí

đối diện với cái chết họ vẫn giữ được vẻ hào hoa lãng mạn Họ mơ về Hà Nội của một thời cắp sách tới trường, mơ về một dáng yêu kiều thướt tha tà áo dài, đôi mắt biếc Nếu như chàng trai cày đi vào cuộc chiến đấu nhớ về làng quê yêu dấu, nhớ giếng nước, gốc đa, nhớ gian nhà không mặc kệ gió lung lay, hoặc nhớ về :

Như vậy người lính trong cảm nhận của Quang Dũng không chỉ có những đường nét khắc họa bên ngoài mà còn có cả thế giới tâm hồn bên trong đầy mộng mơ của họ

Nếu như đôi cánh của lí tưởng được Quang Dũng sử dụng như những gam mầu cơ bản để dựng lên bức chân dung người lính Tây Tiến bi hùng, thì cũng chính cái nhìn lí tưởng đó kết hợp cùng đôi mắt lãng mạn, tác giả không hề nhấn chìm người đọc vào cái bi thương bi lụy của những

Trang 13

tqkhai@cusc.ctu.edu.vn Trần Quang Khải _ CT0754M038

13

mất mát hi sinh Chính cảm hứng lãng mạn đã nâng cánh cho cho những sáng tạo khi ông nhìn nhận cái bi thương Cùng với nghệ thuật nói giảm (áo bào thay chiếu anh về đất), cách dùng từ Hán Việt cổ kính, trang trọng: biên cương, mồ viễn xứ đã biến những nấm mồ của người lính nơi rừng hoang biên giới trở thành hồn nhiên vĩnh hằng, sống mãi cùng thời gian Đặc biệt cái bi thương vơi hẳn đi ở tư thế ra đi vì vì lí tưởng “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh” Hai chữ chẳng tiếc đặt ở giữa dòng thơ nói lên sự tự nguyện, thanh thản của những người cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh Hai chữ đời xanh gợi tuổi trẻ với bao ước mơ hi vọng Đẹp là thế, đáng yêu là thế nhưng

họ vẫn tự nguyện hiến dâng cho dáng hình xứ sở bởi có sự hi sinh nào lớn lao và đẹp hơn Quang Dũng đã lãng mạn hóa sự hi sinh, những người lính mang dáng vẻ những tráng sĩ thuở xưa coi cái chết nhẹ như lông hồng, sống chiến đấu vì lí tưởng Trước cái chết của người lính Tây Tiến, không một tiếng khóc, không một vòng hoa, dòng “Sông Mã gầm lên khúc độc hành” như khúc nhạc bi tráng tiễn đưa người lính về nơi an nghỉ cuối cùng, và như thể ru giấc nhủ ngàn thu của họ

Cái âm hưởng vừa dữ dội, vừa hào hùng của thiên nhiên ấy, cái chết, sự hi sinh của người lính Tây Tiến không bi lụy mà thẫm đẫm tinh thần bi tráng

Bài thơ khép lại bằng bốn câu thơ, như nói lên bức chân dung tinh thần của người lính Tây Tiến, đó là vẻ đẹp ra đi tìm lí tưởng không hẹn ngày gặp lại (Tây Tiến người đi không hẹn ước) Đó cũng là dáng dấp của người li khách trong “Tống biệt hành” của Thâm Tâm:

Chí nhớn chưa về bàn tay không Thì không bao giờ nói trở lại

Đó cũng chính là hình ảnh người ra đi trong Đất nước của Nguyễn Đình Thi:

tất cả như một lần nữa tô đậm không khí thời Tây Tiến, khẳng định lí tưởng chiến đấu vì độc lập Tổ quốc luôn bừng cháy trong tim người lính

III Kết thúc vấn đề

Tây Tiến là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo của nhà thơ Quang Dũng, nó không chỉ thâu tóm được không khí náo nức ra trận của một thời oanh liệt mà còn thể hiện được vẻ đẹp tâm hồn của những người con ưu tú sẵn sàng xả thân vì lí tưởng Đó là bức tranh hoành tráng khắc hoạ cái dữ dội, hào hùng nhưng sâu lắng, tang thương mà không hề bi luỵ Một thành công của văn chương chống Pháp khi xây dựng hình tượng người lính

Bài 8 Bên kia sông Đuống Hoàng Cầm

I Đặt vấn đề

Quê hương mỗi người chỉ một Như là chỉ một mẹ thôi Quê hương nếu aikhông nhớ

Sẽ không lớn nổi thảnh ngườ Mỗi một con người ai cũng có một quê hương Và Hoàng Cầm cũng vậy, mảnh đất ăn sâu vào máu thịt ông là miền đất Kinh Bắc bên kia sông Đuống Nhớ về quê hương là nhớ về những gì sâu nặng nhất trong tâm hồn và trong đáy sâu của cảm xúc đó nhà thơ cho ra đời “Bên kia sông

Đuống”

Bài thơ ra đời khi quê hương Kinh Bắc của ông rơi vào tay giặc Pháp Nỗi đau xót khi nghe tin quê hương ngập chìm khói lửa chiến tranh trĩu nặng tâm hồn ông.Đứng bên này Sông Đuống, mảnh đất tự do, hướng về quê hương bên kia Sông Đuống, mảnh đất bị giặc chiếm đóng với bao nỗi niềm và xót xa trong tâm trạng Một dòng sông mà giờ đây đôi bờ cách biệt

II Giải quyết vấn đề

Dòng thơ đầu tiên mở ra tác phẩm là một tiếng gọi cất lên từ sâu thẳm trái tim đau đớn của nhà thơ, đồng thời cũng là một lời an ủi:

Em ơi buồn làm chi Anh đưa em về sông Đuống

Trang 14

tqkhai@cusc.ctu.edu.vn Trần Quang Khải _ CT0754M038

Và lời an ủi đưa em về sông Đuống thực chất chỉ diến ra trong hoài niệm của nhà thơ Trong niềm hoài niệm đó, hình ảnh trung tâm là con sông quê hương với bờ cát trắng phẳng lì chảy

từ quá khứ xa xôi về hiện tại, hiện lên trong tâm trí nhà thơ như một dòng sáng lấp lánh và trù phú hai bên bờ những mầu xanh bạt ngàn của những bãi mía, nương dâu:

Sông Đuống trôi đi Một dòng lấp lánh Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kì

Dáng nằm nghiêng nghiêng của dòng sông Đuống là một phát hiện, một sáng tạo độc đáo của Hoàng Cầm Cảm xúc mãnh liệt cùng trí tưởng tượng phong phú đã giúp nhà thơ sáng tạo ra một hình ảnh thơ độc đáo đầy ấn tượng, làm xáo trộn cả không gian và thời gian, ám ảnh hoài tâm trí người đọc

Từ bên này, nhà thơ đau đáu hướng cặp mắt về bên kia sông Đuống Đoạn thơ kết thúc bằng một hình ảnh diến tả nỗi đau “Sao xót xa như rụng bàn tay” Hoàng Cầm đã mượn nỗi đau của thể xác để diến tả, thể hiện một cách một cách cụ thể nỗi đau về tinh thần Phải là người coi quê hương

là máu thịt của mình mới có tình cảm mãnh liệt đến như vậy Có thể nói, tâm trạng ở đây đã đạt

đến độ điển hình

Cảm hứng chủ đạo trong đoạn thứ nhất là nỗi đau, sự nuối tiếc, xót xa, căm giận trước cảnh tượng quê hương thanh bình, đông vui, tươi đẹp bị giặc chiếm đóng Từ cảm xúc về nỗi đau đó, quê hương Kinh Bắc dần dần hiện lên trong kí ức nhà thơ

Vùng quê Kinh Bắc, trong hoài niệm, được gợi lên bởi hương lúa nếp thơm nồng - biểu tượng của cuộc sống ấm no, và tranh Đông Hồ - biểu tượng của đời sống tinh thần lành mạnh

Bên kia sông Đuống Quê hương ta lúa nếp thơm nồng Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp

Vẻ đẹp quê hương bừng sáng lên rồi bị ngập chìm trong khói lửa chiến tranh Nhà thơ miêu tả thật xúc động những cảnh tan tác chia lìa của quê hương khi quân giặc tới: ngùn ngụt lửa hung tàn, ruộng khô, nhà cháy, con người chia li, cả loài vật cũng thành ra tan tác:

Mẹ con đàn lợn âm dương Chia lìa đôi ngả

Đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã

Bây giờ tan tác về đâu

ở đây cái ảo đã hòa nhập cùng cái thực Mượn hình ảnh trong tranh để diễn tả cảnh tượng thật ngoài đời, nhà thơ đã lay động sâu xa tình cảm của những con người vốn gắn bó máu thịt với truyền thống văn hóa hàng ngàn đời của quê hương Kinh Bắc

Không chỉ có vậy, hình ảnh quê hương Kinh Bắc còn được gợi lên với những đền chùa cổ kính, những hội hè đình đám thể hiện khát vọng một cuộc sống hạnh phúc, bình yên của nhân dân Vậy mà giấc mộng bình yên mấy trăm năm ấy giờ đây tan vỡ

Những nàng môi cắn chỉ quết trầu Những cụ già phơ phơ tóc trắng Những em sột soạt quần nâu Bây giờ đi đâu về đâu Những con người mang một phần linh hồn của quê hương xứ sở ấy giờ đây trở nên bơ vơ, tan tác Cũng không còn nữa những hội hè đông vui, nhôn nhịp Chỉ còn tiếng chuông chùa văng vẳng từ thuở bình yên xa xưa vọng về càng làm tăng thêm sự hoang vắng của quê hương như tiếng thở than nuối tiếc một thời yên ấm

Trang 15

tqkhai@cusc.ctu.edu.vn Trần Quang Khải _ CT0754M038

15

Vùng quê Kinh Bắc còn được gợi lên bằng cảnh lao động nhộn nhịp, buôn bán đông vui, sầm uất Trong tâm trí nhà thơ, hình ảnh những cô gái Kinh Bắc dăng tơ dệt lụa, buôn bán tảo tần hiện lên với những nét xinh tươi, dịu dàng, duyên dáng và biết bao tình tứ

Ai về bên kia sông Đuống

Có nhớ từng khuôn mặt búp sen Những cô hàng xén răng đen Cười như mùa thu tỏa nắng Nhưng giờ đây cũng tan tác chia lìa, không biết đi đâu, về đâu

Trong niềm tiếc thương không nguôi những người, những cảnh vật của quê hương, Hoàng Cầm đã dành tình cảm sau nặng nhất cho người mẹ già và em nhỏ Người mẹ già nua, còm cõi vốn

đã vất vả trong thời bình lại càng khốn khổ hơn khi quân giặc tới Kinh Bắc vốn là đất lành giờ đây bỗng hóa thành đất dữ Chẳng những con người không sống được yên ổn mà cả những cánh cò cũng táo tác, hốt hoảng không chốn nương thân

Có con cò trắng bay vùn vụt Lướt ngang dòng sông Đuống về đâu

Mẹ ta lòng đói dạ sầu

Đường trơn mưa lạnh mái đầu bạc phơ

Hình ảnh cánh cò lồng vào hình ảnh người mẹ, nhưng không phải là cánh cò bay lả bay la của thời bình nữa mà là cánh cò hốt hoảng chạy trốn đạn bom, soi bóng trên lưng người mẹ run rẩy, bước thấp bước cao trên đường trơn mưa lạnh

Số phận tội nghiệp của những đứa trẻ trong chiến tranh được Hoàng Cầm gợi lên trong cảnh

đói khát cùng với sự đe dọa của đạn bom Cả ban ngày lẫn ban đêm, cả khi thức lẫn khi ngủ, cái chết luôn rình rập, đe dọa chúng Lòng uất hận, căm thù của nhà thơ bùng lên dữ dội Câu thơ Hoàng Cầm đến đây thét lên phẫn nộ:

Đã có đất này chép tội Chúng ta không biết ngươi hờn Phần còn lại của bài thơ diễn tả cảnh bộ đội trở về và nhân dân vùng lên đấu tranh tấn công một cách chủ động vào kẻ thù Giọng thơ chuyển từ nhớ tiếc, xót thương sang uất hận, căm thù

Lời cảm thán, niềm hoài niệm ở đầu bài thơ đã trở thành lời hứa hẹn, niềm hi vọng ở đoạn kết Một khung cảnh mùa xuân tràn trề niềm vui và ánh sáng lại trở về với vùng quê Kinh Bắc Cô gái Kinh Bắc lại hiện ra với nụ cười tươi tắn giữa không khí tưng bừng của ngày hội

Em đi trẩy hội non sông Cười mê ánh sáng muôn lòng xuân xanh III Kết thúc vấn đề

Bên kia sông Đuống là những dòng tình cảm mãnh liệt nhất, chân thành và trong sáng nhất mà Hoàng Cầm đã dành cho quê hương yêu dấu của mình, và qua đó đánh thức trong mỗi chúng ta tình yêu quê hương đất nước Đó là thứ tình cảm thiêng liêng cao cả và gắn bó như chính lời bài hát của nhạc sĩ Giáp Văn Thạch

Bài 9 Đôi mắt Nam Cao

Tác phẩm được viết vào mùa xuân năm 1948 Tác phẩm nhận đường cho văn nghệ sĩ và đặt

ra vấn đề cái nhìn, lập trường, quan điểm, chỗ đứng của người nghệ sĩ trong thời đại cách mạng Như vậy tác giả đã có sự lựa chọn cân nhắc để đặt nhan đề cho tác phẩm, để qua nhan đề làm nổi bật ý nghĩa tư tưởng của truyện ngắn này

Trang 16

tqkhai@cusc.ctu.edu.vn Trần Quang Khải _ CT0754M038

16

II Giải quyết vấn đề

Đọc Đôi mắt ta hiểu ngay vấn đề cách nhìn quần chúng và cuộc kháng chiến khác nhau giữa những người nghệ sĩ có quan điểm lập trường khác nhau, được thể hiện qua Hoàng và Độ là hai nghệ sĩ, hai nhân vật trung tâm của tác phẩm

cơ bản không phải là một kẻ phản động Hoàng vẫn có những nét đáng trân trọng như thái độ bộc

lộ thẳng thắn những suy nghĩ của mình với nhân vật Độ, lòng ngưỡng mộ chân thành với lãnh tụ một cách ngây thơ Và cũng không nên coi những chuyện Hoàng nói về người nông dân là vu cáo hay xuyên tạc Tất cả bắt nguồn từ đôi mắt nhìn nhận thời cuộc của cá nhân nhân vật Hoàng

Nhắc đến điều này để thấy rõ bản lĩnh nghệ thuật của Nam Cao Ông phát hiện và miêu tả

đôi mắt của Hoàng từ nhiều góc độ, không đơ giản, một chiều tạo nên sự chấp nhận dễ dãi từ phía người đọc

Đôi mắt của Hoàng dần dần được thể hiện qua việc anh kể lần lượt những điều tai nghe mắt thấy một cách hóm hỉnh, sắc sảo Tài quan sát, tài diến đạt hấp dẫn, cộng với năng lực hài hước hóa, lố bịch hóa những gì mình không ưa thích khiến những mẫu chuyện Hoàng kể thật sinh động

Bằng đôi mắt của mình, Hoàng cảm nhận người nông dân tham gia kháng chiến toàn là những người vừa ngố vừa nhặng xị, hầu hết đều ngu độn, lỗ mãng, ích kỉ, tham lam bần tiện Cha con, anh em chẳng tốt với nhau Các ông thanh niên, các bà phụ nữ mới bây giờ lại càng nhố nhăng Viết chữ quốc ngữ sai vần mà cứ hay nói chuyện chính trị rối nhặng cả lên Sắc sảo, có tài quan sát, nhưng Hoàng hoàn toàn không nhìn thấy bên trong việc cảnh giác quá đáng, ham tuyên truyền cách mạng: “động thấy ai đi qua là hỏi giấy”, “hay nói chuyện nói chuyện chính trị”, “đọc thuộc lòng cả bài dài 5 trang giấy” về đường lối kháng chiến “như một con vẹt biết nói kia” là bản chất yêu nước, cách mạng của họ

Cũng xuất phát từ đôi mắt khinh bạc, thiếu thiện cảm với người nông dân nên Hoàng chẳng những chỉ nhìn thấy mặt nhược điểm đáng cười mà còn ít nhiều phóng đại, cường điệu, hài hước hóa mặt nhược điểm đó để chế nhạo, giễu cợt một cách bất nhẫn Tác giả đã tường thuật cuộc trò chuyện giữa hai vợ chồng Hoàng với Độ như một minh chứng cho sự bất công trong cách nhìn người, nhìn đời của nhân vật Hoàng ở đây nhà văn không cố ý đóng cũi tình cảm của mình để người đọc tự nhận thấy kẻ đáng cười, đáng trách không phải là những người nông dân mà chính lại

là vợ chồng Hoàng - những kẻ đang ra sức bêu xấu họ

Chỉ nhìn thấy nông dân ngu dốt, ngây ngô, tất yếu Hoàng không bao giờ tin vào quần chúng nhân dân mà lực lượng chủ yếu là nông dân sẽ đưa cuộc kháng chiến đến thành công, Hoàng rất nản Tuy vậy, anh ta lại tin vào tài năng của cụ Hồ, “cứ cho rằng dân mình có tồi đi nữa Ông cụ xoay quanh rồi cũng cứ độc lập như thường” điều này chứng tổ bằng cách nhìn phiến diện, Hoàng đã tạo nên một sự đối lập giữa lãnh tụ và dân tộc

Với đôi mắt nói trên còn tất yếu dẫn Hoàng đến thái độ chỉ giao thiệp với đám người: “cặn bã của giới thượng lưu trí thức”, mà anh ta thừa biết toàn những kẻ “thối nát, ngu ngốc, gàn dở, rởm

đời”, Hoàng chơi với họ, nhưng có ưa gì họ Nghĩ cho cùng giữa anh và họ chính là quan hệ của những người cùng hội cùng thuyền Bởi vậy anh chỉ có thể chơi với họ chứ không cộng tác với những người kháng chiến Và việc anh “đóng cửa suốt ngày không giám đi đâu nữa” cũng hoàn toàn có thể giải thích bằng “đôi mắt” nói trên

Vốn là một nhà văn hiện thực, Nam cao rất có ý thức giải thích một cách hệ thống toàn diện

dĩ nhiên bằng các chi tiêt nghệ thuật “đôi mắt” của Hoàng

Hoàng vốn là một văn sĩ trưởng giả, nhân cách thấp kém “có cái tật hay đá bạn”, trong khi

đồng nghiệp “chỉ còn một dúm xương” trong nạn đói năm 1945 thì “ Hoàng vẫn phong lưu” nhờ tài chạy “ chợ đen rất tài tình” và “con chó của anh vẫn chưa phải nhịn đói bữa nào”

Đặc biệt, khi kháng chiến bùng nổ, bao tầng lớp nhân dân đặc biệt là nông dân sẵn sàng chịu đựng gian khổ thiếu thốn, hi sinh đóng góp sức lực cho cuộc kháng chiến, thì Hoàng vẫn giữ nguyên cách sống cũ, ích kỷ, co mình lại trong vỏ ốc gia đình với những bữa ăn ngon, những món

Trang 17

tqkhai@cusc.ctu.edu.vn Trần Quang Khải _ CT0754M038

17

quà vặt lạ miệng, với nhà cửa khang trang với nếp sinh hoạt trưởng giả: “Nuôi chó dữ, đọc truyện Tam quốc trước khi đi ngủ, hút thuốc lá thơm, nằm màn tuyn trắng toát, chăn đắp thoang thoảng nước hoa” Hoàng hoàn toàn dửng dưng trước thời cuộc, tách mình ra khỏi sự nghiệp chung của nhân dân của đất nước (dĩ nhiên trong hoàn cảnh bình thường, chúng ta có thể nghĩ khác về Hoàng)

Như vậy ở nhân vật này thiếu hẳn sự gắn bó với những người lao khổ, nói rộng là thiếu sự gắn bó với nhân dân với đất nước, thiếu cội nguồn nhân đạo cần thiết của một nhà văn Do đó, “đôi mắt” nhìn người nông dân của Họàng trước trước sau không hiểu nổi người nhà quê, không hiểu cuộc kháng chiến là diều có thể giải thích được

Đối lập với Hoàng là Độ Thực ra, phân tích đôi mắt của Hoàng đã hàm chưa việc phân tích

đôi mắt của Độ, vì hai nhân vật này được xây dựng để bổ sung cho nhau, làm rõ luận đề của tác phẩm Vả lại, nhân vật Hoàng đã được miêu tả dưới đôi mắt của Độ

Trước hết, Độ cũng không thấy ít những điểm yếu của những người nông dân: “răng đen, mắt toét, phần đông dốt nát, nheo nhếch, nhác sợ, nhịn nhục một cách đáng thương” Nhưng điều quan trọng hơn, Độ nhìn thấy được nét chủ yếu trong con người họ Đó là bản chất tốt đẹp của người nhà quê Theo anh họ có thể làm cách mạng, mà bằng chứng hùng hồn nhấtt là lúc ra trận, giáp mặt với cái chết, chính anh cũng thấy họ xung phong can đảm lắm Tin vào sức mạnh của nông dân, cũng có nghĩa là Độ tin vào tương lai của cuộc kháng chiến

Sở dĩ Độ có được đôi mắt nói trên không phải chỉ vì anh đã sống ở nhà quê nhiều, mà điều quan trọng hơn là anh yêu mến và đã tự nguyện gắn bó cuộc đời mình với nông dân, với sự nghiệp chung của cả dân tộc Ngay từ ngày tổng khởi nghĩa, độ đã theo nông dân: “đi đánh phủ” Sau cách mạng, anh “đã gặp họ trong mặt trận Nam Trung Bộ” Từ một nhà văn, Độ sẵn sàng làm người

“tuyên truyền nhãi nhép” cho cách mạng, anh có thể “ngủ ngay trong nhà in đèn sách và máy chạy

ầm ầm”

Tóm lại, bằng truyện ngắn Đôi mắt, Nam Cao đã khắc họa hai cái nhìn (mà thực chất là hai tính cách, hai con người) khác hẳn nhau Nhà văn biểu dương “đôi mắt’’ đúng đắn của Độ - người nghệ sĩ gắn sự nghiệp của mình với quần chúng, tích cực tham gia kháng chiến; phê phán “đôi mắt’’ chua chát chán nản của Hoàng - một kiểu trí thức ích kỷ, tách mình ra khỏi sự nghiệp chung của dân tộc Qua đó Nam Cao khẳng định: Nhà văn trước hết phải đứng trên lập trường của người công dân có trách nhiệm với cuộc kháng chiến, phải đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, kể cả văn chương nghệ thuật, và có cái nhìn mới về người lao động - những con người bình thường nhưng vĩ

đại Đồng thời, nhà văn muốn viết đúng phải có “đôi mắt’’ nhìn nhận đúng; muốn nhìn nhận đúng phải có tấm lòng nhân ái

Chính vì lẽ đó mà nhà văn Tô Hoài coi tác phẩm Đôi mắt là bản tuyên ngôn nghệ thuật của cả một lớp nhà văn cũ đi theo cách mạng Bởi nó đề cập được đến vấn đề đôi mắt của người nghệ

sĩ, của nhà văn trong kháng chiến Đôi mắt ở đây chính là cách nhìn người, cách nhìn đời; nói khái quát hơn là vấn đề quan điểm, lập trường của người trí thức văn nghệ sĩ đối với cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc và người nông dân - lực lượng nòng cốt của cuộc kháng chiến

Đôi mắt là một truyện ngắn nhưng đã nêu được vấn đề lớn: Vấn đề thế giới quan của người nghệ sĩ trong sáng tạo nghệ thuật Sau ngót nửa thế kỷ, đến nay, điều ấy vấn có ý nghĩa mới mẻ

Qua phân tích “đôi mắt’’ của Hoàng và ‘’đôi mắt’’ của Độ, chúng ta không những khâm phục chất trí tuệ sắc sảo, thâm trầm của Nam Cao, mà còn trân trọng tấm lòng gắn bó sâu nặng với nhân dân với đất nước của một nhà văn luôn phấn đấu cho những gì tốt đẹp trên đời

III Kết thúc vấn đề

Truyện ngắn Đôi mắt là đỉnh cao trong sự nghiệp sáng tác của Nam Cao sau cách mạng tháng Tám Đó là tác phẩm ưu tú của văn học Việt Nam thời kì đầu kháng chiến Tác phẩm không chỉ đơn thuần phản ánh đôi mắt của cá nhân mà còn lớn hơn, khẳng định vấn đề lập trường quan

điểm của văn nghệ sĩ Điều đó đã nâng tác phẩm lên một tầm cao mới, xứng đáng là bản tuyên ngôn nghệ thuật cho cả một thế hệ nhà văn như nhận xét của Tô Hoài

Trang 18

tqkhai@cusc.ctu.edu.vn Trần Quang Khải _ CT0754M038

18

Bài 10 Đất nước Nguyễn Đình Thi

I đặt vấn đề

Nguyễn Đình Thi là một nghệ sĩ đa tài, có nhiều thành tựu xuất sắc trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là thi ca

Đất nước là bài thơ ngắn được Nguyễn Đình Thi viết trong một khoảng thời gian dài (1948

- 1955) Có thể xem Đất nước là bức tượng đài bất tử về Tổ quốc từ trong máu lửa đau thương “rũ bùn đứng dậy sáng loà” Trong bản đại hợp xướng của thơ ca Việt Nam viết ca ngợi nhân dân, ca ngợi đất nước, thì Đất nước của Nguyễn Đình Thi là một khúc nhạc với giai điệu thiết tha, hào hùng, sâu lắng, gây được ấn tượng sâu đậm cho người đọc Bài thơ là cảm xúc về tổ hợp lịch sử, về

đất nước, có quá khứ, có hiện tai và tương lai

II Giải quyết vấn đề

1 Bảy câu thơ đầu

Khởi nguồn cảm xúc và suy ngẫm về đất nước là những cảm giác nảy sinh trong một buổi sáng mùa thu ở chiến khu Việt Bắc

Cách mở đầu này có phần giống với thể hứng trong ca dao:

Sáng mát trong như sáng năm xưa Gió thổi mùa thu hương cốm mới Tôi nhớ những ngày thu đã xa Cảm giác mát trong của thời tiết mùa thu được truyền qua chuỗi âm thanh trong trẻo, nhẹ nhàng và êm dịu của câu thơ mở đầu, thấm vào hồn người đọc, gợi lên nỗi nhớ về mùa thu năm xưa

ở Hà Nội Buổi sáng mùa thu trong lành, mát mẻ, gió nhẹ thổi và thoang thoảng trong gió mùi hương cốm mới Một mùi hương thanh tao, lịch lãm, rất đỗi quen thuộc của Hà Nội Chỉ bằng một vài nét mà Nguyễn Đình Thi đã gợi lên cả không gian và thời gian, cả màu sắc và hương vị của Hà Nội mùa thu

Trong niềm hoài niệm của nhà thơ, mùa thu Hà Nội hiện lên với những cảnh vật thiên nhiên

và con người thật cụ thể, sinh động và gợi cảm:

Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội Những phố dài xao xác hơi may Người ra đi đầu không ngoảnh lại Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy

Sự nhạy cảm, tinh tế của một nhà thơ đã giúp Nguyễn Đình Thi nhận ra cái chớm lạnh của một buổi sáng mùa thu, cảm giác được thật cụ thể cái xao xác của gió heo may trên những con phố dài – một nét đặc trưng của phố phường Hà Nội Trên cái nền của không gian và thời gian đó, nhà thơ ghi lại thật sống động hình ảnh và tâm trạng chàng trai Hà Nội năm xưa phải rời thành phố ra

đi, dứt khoát nhưng cũng đầy lưu luyến Ta bất chợt nhớ đến người li khách trong Tống biệt hành của Thâm Tâm dứt khoát ra đi vì lí tưởng, hay hình tượng người lính trong Tây Tiến của Quang Dũng: Tây Tiến người đi không hẹn ước

Những câu thơ viết về Hà Nội trong hoài niệm của nhà thơ là những câu thơ hay nhất, đẹp nhất của bài thơ Mỗi chi tiết, hình ảnh như được chắt lọc ra từ chính máu thịt tâm hồn ông “Hình

ảnh thơ phải là hình ảnh thực nảy lên trong tâm hồn khi ta sống trong một cảnh huống hoặc một trạng thái nào đấy” Nguyễn Đình Thi quan niệm về hình ảnh thơ như vậy Cho nên ta hiểu vì sao mỗi hình ảnh, mỗi chi tiết viết về mùa thu năm xưa ở Hà Nội có cái gì đó vừa da diết, nhớ nhung, vừa ngậm ngùi, vừa lưu luyến Phải là người yêu tha thiết Hà Nội, am hiểu sâu sắc Hà Nội mới có thể gợi lên được thần thái, cái hồn của mùa thu Hà Nội và tâm trạng con người những năm tháng trước cách mạng: đẹp hiu hắt, vắng lặng, phảng phất buồn Nỗi buồn đó phảng phất trong cái chớm lạnh của mùa thu, trong khung cảnh thềm vắng lá rơi đầy, qua thái độ dứt khoát ra đi càng bộc lộ

sự lưu luyến, qua nhịp điệu khoan thai, dịu dàng, man mác buồn của cả đoạn thơ

2 Mười bốn câu tiếp

Trang 19

tqkhai@cusc.ctu.edu.vn Trần Quang Khải _ CT0754M038

19

Từ hoài niệm về mùa thu năm xưa ở Hà Nội, bài thơ lại trở về với không gian và thời gian nơi chiến khu Việt Bắc

Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi Gió thỏi rừng tre phấp phới Trời thu thay áo mới Trong biếc nói cười thiết tha

Giọng điệu, nhịp điệu của đoạn thơ biến đổi hẳn: khoẻ khoắn, phấn khởi, vui tươi, đầy hào hứng Những câu thơ như những tiếng reo vui, hình ảnh thơ cũng vận động biến đổi, không còn bóng dáng ước lệ “sen tàn cúc lại nở hoa”, lá ngô đồng rụng lá của thơ cổ hay “với áo mơ phai dệt lá vàng” đài các trong thơ mới mà đã thay áo mới, hiện diện bằng những hình ảnh bình dị, dân dã, khoẻ khoắn và tươi sáng hơn Giữa không gian rộng lớn, bao la, tựa lòng mình vào cuộc kháng chiến của toàn dân tộc, nhà thơ không còn thấy cảnh mùa thu vắng lặng, buồn hiu hắt nữa mà tươi sáng trong trẻo, rộn ràng những tiếng nói câu cười trong biếc, thiết tha

Từ cảm xúc mới về mùa thu, mạch thơ vận động một cách khá tự nhiên dẫn đến niềm tự hào

được làm chủ non sông đất nước Cái tôi trữ tình đã nhường chỗ cho cái ta đại chúng Việc sử dụng những điệp ngữ (của chúng ta) cùng với từ chỉ định (đây) trong những câu thơ mang tính chất khẳng định vang lên một cách đàng hoàng, dõng dạc thể hiện niềm tự hào về quyền làm chủ non sông Cách tính ở dạng số nhiều: những cánh đồng, những ngả đường, những dòng sông gợi lên một đất nước mênh mông, rộng lớn, ăm ắp niềm tự hào Thể hiện tư thế, ý thức làm chủ, niềm tự hào chân chính của con người Việt Nam trong kháng chiến

Từ giọng thơ phơi phới bốc men say, những câu thơ cuối lại trầm xuống trong những suy tưởng, sâu lắng khi nói tới truyền thống lịch sử bất khuất của đất nước

Nước chúng ta Nước những người chưa bao giờ khuất

Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất Những buổi ngày xưa vọng nói về

Đất nước không chỉ là những cái hữu hình (bầu trời, núi sông bờ cõi) mà còn là những cái vô hình, là truyền thống quật cường, bất khuất hàng ngàn đời của dân tộc Những từ láy: đêm đêm, rì rầm như tiếng vọng thì thầm của hồn thiêng đất nước từ ngàn xưa vọng về Tạo không khí linh thiêng khi nhắc đến truyền thống tinh thần hàng ngàn đời của dân tộc Khẳng định sự bất biến của linh hồn dân tộc

3 Đoạn còn lại

Dây thép gai đâm nát trời chiều Những đêm dài hành quân nung nấu Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu”

Mạch cảm xúc của Nguyễn Đình Thi về đất nước đang ăm ắp niềm tự hào và lắng sâu khi nghĩ về truyền thống lich sử, đột ngột có sự chuyển đổi để hiện lên một đất nước đau thương, mất mát bởi chiến tranh

Từ cảm thán “Ôi” đặt ở đầu câu như một tiếng thở dài thốt lên từ trái tim nhà thơ:

“Ôi những cánh đồng quê chảy máu” Cánh đồng quê hay là hình hài đất nước, là dáng hình xứ sở ?

ở đây, hình ảnh cánh đồng trở thành hình ảnh mang tính chất biểu trưng, điển hình cho đất nước

đau thương trong chiến tranh Thủ pháp nghệ thuật nhân hoá được sử dụng như cầu nối điễn tả cảm giác đau đớn của quê hương làm người đọc cảm thấy nhói đau trong tim mình bởi máu đó là máu của những người dân lương thiện, của những người con yêu nước thương nòi đã ngã xuống vì độc lập của tổ quốc Ta chợt nhớ hình ảnh đất nước trong thơ Vũ Cao:

Bỗng cuối mùa chiêm quân giặc tới

Trang 20

tqkhai@cusc.ctu.edu.vn Trần Quang Khải _ CT0754M038

đọc thấm thía hơn nỗi đau đất nước có chiến tranh, càng hiểu thêm cái giá của đất nước trong những ngày tự do độc lập

Hình ảnh đất nước đau thương trong chiến tranh trở nên ấn tượng hơn, tô đậm hơn bằng hình ảnh “Dây thép gai đâm nát trời chiều” Đúng là trời xanh không thoát khỏi cảnh đau thương

Đặt câu thơ trong thế tương phản với “trời thu thay áo mới” để nhấn mạnh hình ảnh đất nước đau thương trong chiến tranh Đặc biệt sự tương phản trong nội bộ câu thơ càng làm nổi bật sự khốc liệt của chiến tranh: “dây thép gai” là biểu tượng của chiến tranh tàn phá, của hành động tàn bạo “đâm nát” tương phản với cảnh trời chiều gợi sự yên bình, êm ả

Trên cái nền của đất nước đau thương, Nguyễn Đình Thi đã làm nổi bật tâm trạng của người chiến sĩ:“Những đêm dài hành quân nung nấu Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu” Nhà thơ đã cảm nhận sâu sắc những rung động tinh tế trong tâm hồn người ra trận Những đêm dài hành quân nung nấu thể hiện ý thức sâu sắc của người lính về nghĩa vụ của bản thân mình với đất nước Đó là thứ tình cảm luôn thường trực, hằn sâu trong suy nghĩ của người ra trận, nhưng trái tim yêu thương đưa anh trở lại với những xúc cảm rất đời thường Chữ dài đi với chữ nung nấu song hành cùng từ bồn chồn đã diễn tả rất đạt mối quan hệ giữa tình cảm thường trực và đột xuất, thể hiện thật thoả đáng

và sâu sắc sự hài hoà giữa cái chung và cái riêng, giữa tình yêu lứa đôi và tình yêu đất nước Đúng như Nguyễn Đình Thi đã từng viết:

Anh yêu em như yêu đất nước Vất vả đau thương tươi thắm vô ngần

Đó là nét đẹp trong tâm hồn người Việt Nam, luôn thống nhất tình yêu lứa đôi với tình yêu

đất nước, và có gì lớn lao hơn khi chiến đấu bảo vệ quê hương khỏi những đau thương cũng là bảo

vệ sự vẹn tròn của tình yêu và hạnh phúc lứa đôi

Bài thơ khép lại bằng hình ảnh khái quát, tượng trưng cho đất nước từ trong máu lửa chiến tranh, từ trong đau thương căm phẫn đứng dậy hào hùng:

Súng nổ rung trời giận dữ

Người lên như nước vỡ bờ Nước Việt Nam từ máu lửa

Rũ bùn đứng dậy sáng loà

Đây là khổ thơ duy nhất trong bài tác giả sử dụng thể thơ sáu chữ Cách ngắt nhịp dồn dập,

đều đặn tạo nên một âm hưởng hùng tráng Nhà thơ đã tạo nên một bức tượng đài của đất nước sừng sững hiện lên chói ngời trên cái nền của máu, lửa, bùn lầy, trong không gian dồn dập ầm vang tiếng súng nổ rung trời

III Kết thúc vấn đề

Đất nước là bài thơ tiêu biểu nhất của đời thơ Nguyễn Đình Thi Bài thơ cũng rất tiêu biểu cho cái nhìn nghệ thuật của ông về đất nước Ông là nhà thơ của đất nước trong đau thương Đất nước soi bóng vào tâm hồn ông, chỉ bộc lộ rõ nhất vẻ đẹp trong đau khổ, trong gian nan, vất vả, nhọc nhằn

bài 11 Vợ chồng a phủ Tô Hoài

I Đặt vấn đề

Trước cách mạng tháng Tám, Tô Hoài nổi tiếng với tác phẩm Dế mèn phưu lưu kí Sau cách mạng tháng Tám và đi theo kháng chiến, Tô Hoài tiếp tục khẳng định tài năng của mình

Trang 21

tqkhai@cusc.ctu.edu.vn Trần Quang Khải _ CT0754M038

21

bằng tập Truyện Tây Bắc Vợ chồng A Phủ là truyện ngắn thành công nhất trong ba truyện ngắn viết về đề tài Tây Bắc Tác phẩm có một giá trị hiện thực và nhân đạo đáng kể Truyện viết về cuộc sống của người dân lao động vùng núi cao, dưới ách thống trị tàn bạo của bọn thực dân phong kiến miền núi Đặc biệt truyện đã ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn, sức sống tiềm tàng và khả năng đến với cách mạng của họ

II Giải quyết vấn đề

“Ai ở xa về, có dịp vào nhà thống lí Pá Tra thường trông thấy có một cô gái ngồi quay sợi gai bên tảng đá trước cửa, cạnh tầu ngựa Lúc nào cũng vậy, dù quay sợi, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi hay đi cõng nước dưới khe suối lên, cô ấy cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi”

Vợ chồng A Phủ mở đầu như thế , một sự mở đầu xứng đáng với giọng kể chuyện đẹp như

ru Thế giới Tây Bắc đã được mở ra xa xăm kì diệu, trên cả ý nghĩa và nhạc điệu và lời văn Một thế giới không phải cổ tích mà như thoảng hương ca dao cổ tích, một thế giới hứa hẹn rất nhiều sức gợi cảm, qua một bức chân dung thiếu phụ buồn

Mị là một người con gái đẹp, một vẻ đẹp mang tính thuần nhất với vẻ đẹp trong văn chương

Mị có nhan sắc, và có khả năng âm nhạc, không có đàn tì bà, không có nguyệt cầm thì cô giỏi sáo

và giỏi “uốn chiếc lá trên môi, thổi lá cũng hay như thổi sáo” Mà tài năng âm nhạc, cũng theo truyền thống thường hé mở một tâm hồn tràn đầy khát khao cuộc sống, khát khao yêu đương Quả thế, Mị đã được yêu, và đã khát khao yêu, trái tim từng đã bao nhiêu lần hồi hộp trước trước âm thah hò hẹn của người yêu

Nhưng người con gái tài hoa miền sơn cước đó phải chịu một cuộc đời có thể nói là bạc mệnh Để cứu nạn cho cha, cuối cùng cô đã chịu bán mình, chịu sống cảnh làm người con dâu gạt

nợ trong nhà thống lí

Tô Hoài đã không quên diễn tả nỗi cực nhọc về thể xác của người con gái ấy, con người với danh nghĩa là con dâu, nhưng thực chất chính là tôi tớ Thân phận Mị không chỉ là thân trâu ngựa,

“Con trâu con ngựa làm còn có lúc, đêm nó còn được đứng gãi chân, đứng nhai cỏ, đàn bà con gái

ở cái nhà ngày thì vùi vào việc làm cả ngày lẫn đêm”

Song nhà văn xem ra vẫn thông cảm nhiều hơn với nỗi đau khổ về tinh thần Chính cảm xúc

về nỗi đau thinh thần ấy đã giúp ông sáng tạo ra những ngôn từ, những hình ảnh khó quên: Một cô

Mị mới hồi nào còn rạo rực yêu đương, bây giờ lạng câm, “lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa”

Và nhất là hình ảnh căn buồng Mị, kín mít với cái cửa sổ lỗ vuông bằng bàn tay, Mị ngồi trong đó trông ra lúc nào cũng thấy mờ mờ trăng trắng không biết là sương hay là nắng Đó quả thực là một thứ địa ngục trần gian giam hãm thể xác Mị, cách li tâm hồn Mị với cuộc đời, cầm cố tuổi xuân và sức sống của cô Rõ ràng tiếng nói tố cáo chế độ phong kiến miền núi ở đây đã được cất lên nhân danh quyền sống Cái chế độ ấy đáng lên án, bởi vì nó làm cạn khô nhựa sống, làm tàn lụi đi ngọn lửa của niềm vui sống trong những con người vô cùng đáng sống

Mị đã tùng muốn chết mà không được chết, vì cô vẫn còn đó món nợ của người cha Nhưng dến lúc có thể chết đi, vì cha Mị không còn nữa thì Mị lại buông trôi, kéo dài mãi sự tồn taị vật vờ Chính lúc này cô gái còn đáng thương hơn Bởi muốn chết nghĩa là vẫn còn muốn chống lại một cuộc sống không ra sống, nghĩa là xét cho cùng, còn thiết sống Còn khi đã không thiết chết, nghĩa

là sự tha thiết với cuộc sống cũng không còn, lúc đó thì lên núi hay đi nương, thái cỏ ngựa hay cõng nước” cũng chỉ là cái xác không hồn của Mị mà thôi

Như vậy sức sống của Mị đã vĩnh viễn mất đi ? Không phải thế, bên trong cái hình ảnh con rùa lầm lũi kia dang còn một con người Khát vọng hnạh phúc có thể bị vùi lấp, bị lãng quyên trong

đáy sâu của một tâm hồn đã chai cứng vì đau khổ, nhưng không thể bị tiêu tan Gặp thời cơ thuận lợi thì nó lại cháy lên từ lớp tro tàn Và nó, cái khát vọng hạnh phúc đó đã bất chợt cháy lên, thật nồng nàn và xót xa trong một đêm xuân đầy ắp tiếng gọi của tình yêu

Có thể nói cuộc nổi loạn lần thứ nhất trong tâm hồn Mị là đoạn văn thử thách thực sự ngòi bút của Tô Hoài Làm sao có thể cắt nghĩa được vì lí do gì mà cô Mị của ngày xưa, cô Mị đầy xuân tình xuân sắc lại bỗng dưng thức dậy trong người đàn bà âm thầm, chịu đựng mỏi mòn đúng

Trang 22

tqkhai@cusc.ctu.edu.vn Trần Quang Khải _ CT0754M038

22

vào, và chỉ đúng vào cái đêm tình mùa xuân ấy ? Làm sao con người đã chôn vùi cả tuổi thanh xuân trong gian buồng kín mít chỉ có cái lỗ vuông nhỏ mờ mờ trăng trắng kia suốt từng ấy năm trời, vào đúng đêm ấy lại muốn vùng lên, nảy sinh ý định đi chơi xuân ? Nguyên do là bởi đất trời ? Quả thực bức tranh Hồng Ngài mùa xuân năm ấy có sức làm say đắm lòng người, ngất ngây tâm hồn tuổi trẻ Song gió rét, sắc vàng ửng của cỏ tranh, hay sự biến đổi màu sắc kì ảo của các lòa hoa

đẹp chưa hẳn đã đủ để làm nên cuộc nổi loạn trong một tâm hồn đã bấy nhiêu năm tê dại vì đau khổ Cần phải có những tác nhân khác nữa, mạnh mẽ hơn, có sức lôi cuốc Mị ra khỏi hiện tại để Mị trở về với chính mình của xa xưa : phơi phới , trẻ trung, yêu đời

Tác nhân ấy, theo Tô Hoài trước hết phải là hơi rượu Ngày tết năm đó Mị cũng uống rượu,

Mị lén uống từng bát, “uống ừng ực” rồi say đến lịm người đi Cái say cùng lúc vừa gây sự lãng quên vừa đem về nỗi nhớ Mị lãng quên thực tại (nhìn mọi người nhảy đồng, người hát mà không nghe, không thấy và cuộc rượu tan lúc nào cũng không hay) nhưng lại nhớ về ngày trước (“ngày trước, Mị thổi sáo cũng giỏi”), và quan trọng hơn là Mị vẫn nhớ mình là một con người, vẫn có cái quyền sống của một con người : “Mị vẫn còn trẻ Mị muốn đi chơi Bao nhiêu người có chồng cũng

đi chơi ngày Tết Huống chi Mị và A Sử, không có lòng với nhau mà vẫn phải ở với nhau

Nhưng tác nhân có tác dụng nhiều nhất trong việc dìu hồn Mị bềnh bồng về với những khát khao hạnh phúc yêu đương có lẽ vẫn là tiếng sáo bởi tiếng sáo là tiếng gọi của mùa xuân, của tình yêu và tuổi trẻ Tiếng sáo lúc đầu đã có tình cảm lắm, nhưng còn vọng lại từ xa, mãi từ ngoài đầu núi, và Mị vẫn còn đủ tỉnh táo để để nhẩm theo lời hát ít lâu sau, tai Mị lại vẳng tiếng sáo, nhưng không còn vẳng từ ngoài đầu núi xa nữa mà là tiếng sáo gọi bạ đầu làng Rồi đến lúc tiếng sáo không chỉ là gọi bạn Nó gọi bạn yêu Và nó “lửng lơ bay ngoài đường”, như tình ai không thể tan, như lòng ai đợi chờ, hờn trách Để rồi cuối cùng tiếng sáo rập rờn trong đầu Mị, nó đã trở nên tiếng lòng của người thiếu phụ

Tô Hoài đã đặt Mị trong sự tương giao giữa một bên là sức sống tiềm tàng với một bên là cảm thức về thân phận Cho nên trong thời khắc âý, ta mới thấy Mị đầy rẫy những mâu thuẫn Lòng phơi phới nhưng Mị vẫn theo quán tính bước vào buồng, ngồi xuống giường, trông ra cái lỗ vuông

mờ mờ trăng trắng Và khi lòng ham sống trỗi dậy thì ý nghĩ đầu tiên là được chết ngay đi

Nhưng rồi nỗi ám ảnh và sức sống mãnh liệt của tuổi xuân cứ lớn dần, cho tới khi nó lấn chiếm hẳn trọn bộ tâm hồn và suy nghĩ của Mị, cho tới khi Mị hoàn toàn chìm hẳn vào trong ảo giác: “Mị muốn đi chơi Mị cũng sắp đi chơi” Phải tới thời điểm đó Mị mới có hành động như một

kẻ mộng du: quấn lại tóc, với thêm cái váy hoa, rồi rút thêm cái áo Tất cả những việc đó, Mị đã làm như trog một giấc mơ, tuyệt nhiên không nhìn thấy A Sử bước vào, không nghe thấy A Sử hỏi”

Rồi cái gì đến đã đến A Sử trói Mị vào cột, rồi lẳng lặng khoác thêm vòng bác đi chơi, bỏ mặc Mị trong trạng thái mộng du đang chìm đắm với những giấc mơ về một thời xuân trẻ, đang bồng bềnh trong cảm giác du xuân Tâm hồn Mị đang còn sống trong thực tại ảo, sợi dây trói của

đời thực chưa thể làm kinh động ngay lập tức giấc mơ của kẻ mộng du Cái cảm giác về hiện tại tàn khốc, Mị chỉ cảm thấy khi vùng chân bước theo tiếng sáo mà tay chân đau không cựa được Nhưng nếu cái mơ không đến một lần nữa thì sự tỉnh ra cũng vậy Lại một giai đoạn chập chờn nữa giữa cái mơ và cái tỉnh, giữa tiếng sáo và nỗi đau nhức của dây trói và tiếng con ngựa đạp vách, nhai cỏ, gãi chân Nhưng bây giờ thì theo chiều ngược lại, tỉnh dần ra, đau đớn và tê dại dần đi, để sáng hôm sau lại trở về với vị trí của con rùa nuôi trong câm lặng, mà còn câm lặng hơn trước

Nhưng có lẽ sức sống của Mị bùng lên mạnh mẽ nhất là lúc Mị cởi trói cho A Phủ Cũng như Mị, A Phủ là nạn nhân của chế độ độc tài phong kiến miền núi Những va chạm mang đầy tính

tự nhiên của lứa tuổi thanh niên trong những đêm tình mùa xuân đã đưa A Phủ trở thành con ở gạt

nợ trong nhà thống lí Và bản năng của một người con vốn sống gắn bó với núi rừng, ham thích săn bắn đã đẩy A Phủ tới hiện thực phũ phàng: bị trói đứng Và chính hoàn cảnh bi thương đó đã đánh thức lòng thương cảm trong con người Mị Nhưng tình thương đó không phải tự nhiên bùng phát trong Mị mà là kết quả của một quá trình đấu tranh giằng xé trong thế giới nội tâm của cô Mấy hôm đầu Mị vô cảm, thờ ơ với hiện thực trước mắt: “A Phủ là cái xác chết đứng đó cũng thế thôi” Câu văn như một minh chứng sự tê dại trong tâm hồn Mị Bước ngoặt bắt đầu từ những dòng nước

Trang 23

tqkhai@cusc.ctu.edu.vn Trần Quang Khải _ CT0754M038

23

mắt : “Đêm ấy A Phủ khóc Một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai lõm má đã xạm đen” Và giọt nước mắt kia là giọt nước cuối cùng làm tràn đầy cốc nước Nó đưa Mị từ cõi quên trở về với cõi nhớ Mị nhớ mình đã từng bị trói, đã từng đau đớn và bất lực Mị cũng đã khóc, nước mắt chảy xuống cổ, xuống cằm không biết lau đi được A Phủ, nói đúng hơn là dòng nước mắt của A Phủ, đã giúp Mị nhớ ra mình, xót thương cho mình

Và đã nhớ lại mình, biết nhận ra mình cũng từng có những đau khổ, mới có thể thấy có người nào đó cũng khổ giống mình Từ sự thương mình, Mị dần dần có tình thương với A Phủ, tình thương với một con người cùng cảnh ngộ Nhưng nó còn vượt lên giới hạn thương mình: “Mình là

đàn bà” “chỉ còn biết đợi ngày rũ xương ở đây thôi còn người kia việc gì mà phải chết” Mị cởi trói cho A Phủ để rồi bất ngờ chạy theo A Phủ Lòng ham sống của một con người như được thổi bùng lên trong Mị, kết hợp với nỗi sợ hãi, lo lắng cho mình Mị như tìm lại được con người thật, một con người còn đầy sức sống và khát vọng thay đổi số phận

Nhà văn Tô Hoài đã viết về Mị, A Phủ với tất cả lòng yêu thương, thông cảm, và chỉ có lòng yêu thương thông cảm, Tô Hoài mới phát hiện ra vẻ đẹp tiềm tàng trong tâm hồn những con người ham sống như Mị, như A Phủ

III Kết thúc vấn đề

Vợ chồng A Phủ là bản cáo trạng hùng hồn, đanh thép đối với những thế lực phong kiến, thực dân tàn bạo áp bức bóc lột, đọa đày người dân nghèo miền núi Đồng thời nó cũng khẳng định khát vọng tự do hạnh phúc, sức sống mạnh mẽ và bền bỉ của những người lao động Đặc biệt đề cao

sự đồng cảm giai cấp, tình hữu ái của những người lao động nghèo khổ Chính điều này đem lại sức sống và sự vững vàng trước thời gian của Vợ chồng A Phủ

Bài 12 Vợ nhặt Kim Lân Văn học Việt Nam sau cách mạng tháng Tám không chỉ giầu tính chiến đấu mà còn giầu tính nhân đạo Hai tính chất này không tách rời nhau, luôn gắn bó khăng khít và hỗ trợ nhau cùng phát triển Vợ nhặt của Kim Lân được hoàn thành vào thời gian sau năm 1955, trên cơ sở một bản thảo cũ viết ngay sau cách mạng tháng Tám 1945 Khoảng cách mươi năm ấy đã giúp nhà văn thể nghiệm sâu sắc tư tưởng của tác phẩm, làm cho nó trở thành một tác phẩm mang những giá trị nhân

đạo hết sức sâu sắc và phong phú

Tác phẩm bắt đầu bằng việc miêu tả sự đổi thay to lớn của xóm làng khi nạn đói tràn tới Anh cu Tràng, một người vô tư, vui tính, được trẻ con yêu mến mà nay “đi từng bước mệt mỏi”,

“cái đầu trọc nhẵn chúi về đằng trước” Các lều chợ đầy những người đói bồng bế, dắt díu nhau

“xanh xám như những bóng ma” Nạn đói tràn đến đang gieo rắc cái chết và xóa mất sinh khí của xóm làng Hình như không ai tin mình có thể sống qua nạn đói, và chính cái đói đã làm mất đi nhân cách con người như người đàn bà mà Tràng gặp Giữa lúc ấy thì Tràng nhận người đàn bà kia làm vợ Người ta thường nói cái đói làm cho con người trở nên mất giá Cô gái theo Tràng chỉ vì một câu nói đùa và bốn bát bánh đúc làm cỗ cưới Nhưng đó không phải là cách nhìn của nhà văn Với cái nhìn nhân đạo, nhà văn nhìn thấy khát vọng sống còn bức thiết của cô gái Ông cũng thấy niềm khát khao có được vợ của anh cu Tràng Anh cũng liều lĩnh tắc lưỡi: “Kệ”, cứ đón cô ta về đã Lòng yêu thương, trân trọng của tác giả đối với những người bất hạnh thể hiện ở cảnh dắt díu nhau

về làng của cả hai người Nhà văn không hề có chút rẻ rúng nào khi miêu tả cuộc về làng của họ Trái lại ngòi bút tươi vui, dí dỏm, tinh tế khắc họa mọi cảm nhận hạnh phúc của Tràng Hơn hai mươi lần truyện ngắn nhắc đến nụ cười của Tràng với nhiều sắc thái khác nhau Đi bên thị, anh quên đi cảm giác ê chề, tăm tối của cuộc sống hàng ngày Đó là gì nếu không phải do anh đã thấy ở cô gái một nguồn ấm áp tươi sáng tỏa rạng đời mình Về cô gái cũng vậy, cô không hề có một chút mặc cảm thân phận “bị nhặt” Bên cạnh dáng vẻ thẹn thùng của nàng dâu mới về nhà chồng, cô vẫn chế giễu Tràng “bé lắm đấy”, khi thì phết vào lưng anh và “khoặm mặt” lại với anh, khi thì mắng là

“khỉ gió” Cô vẫn cảm thấy mình có đủ sức mạnh đối với phái mạnh như bất cứ một cô gái bình

Trang 24

tqkhai@cusc.ctu.edu.vn Trần Quang Khải _ CT0754M038

24

thường nào khác Họ thực sự hướng về nhau, thích thú nhau như mọi đôi tình nhân khi bắt đầu làm quen

Điều thú vị là tác giả đã để cho hai người dắt díu nhau diễu qua trước mặt dân làng Rõ ràng

sự kết hợp của họ đem lại sinh khí cho cái làng đầy tử khí Trẻ con thì gào lên “Chông vợ hài” Người trong xóm thì “những khuôn mặt hốc hác u tối của họ bỗng dưng rạng rỡ hẳn lên Có cái gì lạ lùng và tươi mát thổi vào cuộc sống đói khát , tăm tối ấy của họ” Họ không hiểu nổi, họ thở dài,

họ nín lặng, bởi vì họ đang tuyệt vọng Sự kết hợp liều lĩnh của Tràng và cô gái là một thách thức quyết liệt của khát vọng sống và khát vọng hạnh phúc trước mọi ý thức tuyệt vọng và tê dại vù nạn

đói, và không phải không có tác dụng làm cho tâm hồn họ rạng rỡ hơn Nhà văn như hoàn toàn khẳng định sự sống và ý chí sống còn của con người, trân trọng và yêu mến hành động liều lĩnh của

họ trong đoạn văn này

Nhưng tư tưởng chủ đạo của tác phẩm không chỉ có thế Qua cuộc gặp gỡ với người mẹ và sau một đêm trở thành vợ chồng, nhà văn khẳng định tình yêu cuộc sống sẽ thắng được chết chóc, cuộc sỗng sẽ thay đổi

Bà mẹ trước nạn đói cũng thất vọng và hoài nghi như mọi người “biết rồi chúng nó có nuôi nổi nhau qua được cơn đói khát này không”, bà cũng thở dài Nhưng bà là mẹ, bà thấy sự “nhặt vợ” cũng là may, nên bà mừng lòng, bà nuôi hi vọng cho đôi trẻ Bà mẹ nhìn con dâu lòng đầy thương xót, không chút coi thường Bà nghĩ đến việc phải có dăm ba mâm cho phải lẽ, chứng tỏ trong lòng

bà không vướng ý nghĩ “nhặt không người đàn bà”cho con mình Đó là tình cảm nhân đạo có tác dụng nâng cao phẩm giá con người Có thể nói Kim Lân chọn tình huống “nhặt vợ”, một tình huống con người bị đánh mất phẩm giá trong mắt mọi người ngoài cuộc để nâng niu, khẳng định phẩm giá của họ, những người trong cuộc

Sau một đêm thành vợ chồng tại ngôi nhà nát, sáng hôm sau vẫn trong cơn đói khát, nhưng một không khí đầy sinh khí đã đến với tất cả mọi người Ngôi nhà sạch sẽ, gọn gàng, ang nước đầy

ắp”, người vợ trở nên hiền hậu đúng mực, còn Tràng thì: “bỗng dưng hắn thấy thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng“,“Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người” Một niềm tin vào tương lai gieo vào lòng mọi người: “Hình như ai nấy đều có ý nghĩ rằng thu xếp cửa nhà cho quang quẻ, nề nếp thì cuộc đời họ sẽ khác đi, làm ăn có cơ khấm khá hơn Chưa bao giờ trong nhà này, mẹ con lại đầm ấm, hòa hợp như thế” Nhưng bữa ăn ngày đói đưa họ trở lại với hiện tại đói khổ, mặc dù trước đó họ luôn nói chuyên tương lai với những khát khao hạnh phúc, để họ nhận thức được muốn tồn tại phải hành động và Việt Minh là cánh cửa đưa họ tới ước mơ tươi sáng ngày mai, dù hiện tại trong suy nghĩ của Tràng, Việt Minh vẫn còn xa vời và đã có lúc Tràng chạy trốn Việt Minh bởi ở Tràng vẫn còn tồn tại hố sâu ngăn cách về nhận thức

Mở đầu tác phẩm là một tình huống truyện độc đáo, tình huống Tràng cưới vợ khác với tập tục truyền thống Cốt truyện thay đổi theo sự vận động của những tâm hồn ham sống và cái tất yếu phải đến là sự vùng lên giải thoát của những thân phận đau khổ Mặc dù hiện tại nhà văn chưa nói

đến sự giác ngộ cách mạng của gia đình Tràng

Tóm lại tác phẩm là một truyện ngắn chứa chan tình cảm nhân đạo Nó khẳng định sức sống tiềm tàng trong mỗi con người và khát vọng hạnh phúc không gì có thể vùi lấp nổi Đó là một tư tưởng nhân đạo mới mẻ, đầy tính chiến đấu

Chế Lan Viên

I Đặt vấn đề

Tiếng hát con tàu được Chế Lan Viên viết năm 1960 và in trong tập ánh sáng và phù sa

Đó là thời điểm miền Bắc sau những năm kháng chiến thắng lợi, vừa mới trải qua thời kì khôi phục kinh tế, bắt đầu bước vào kế hoạch năm năm lần thứ nhất Hoàn cảnh đặc biệt đó đã làm nảy sinh trong giới văn nghệ sĩ một ý thức nghệ thuật gắn liền với công cuộc xây dựng cuộc sống mới của nhân dân, tự nguyện đi đến những vùng miền khó khăn của đất nước, hòa nhập vào cuộc sống của nhân dân bởi chỉ có như vậy mới tìm lại niềm hạnh phúc, mới tìm thấy ngọn nguồn cảm xúc sáng

Trang 25

tqkhai@cusc.ctu.edu.vn Trần Quang Khải _ CT0754M038

25

tạo nghệ thuật

II Giải quyết vấn đề

Tiếng hát con tàu không đơn thuần chỉ là một bài thơ lấy sự kiện chính trị làm điểm xuất phát và tập trung thể hiện tư tưởng chủ đạo là cổ vũ động viên thanh niên lên đường xây dựng Tổ quốc Bài thơ còn là tấm lòng của những người gắn bó sâu nặng nghĩa tình với nhân dân, với đất nước Lời mời gọi lên Tây Bắc trở thành lời giục giã, lời mời gọi những tâm hồn hãy đến với đời sống cần lao và rộng lớn của nhân dân Từ một vấn đề thời sự, bài thơ đã mở ra những suy tưởng về cuộc sống, về nghệ thuật

Nhan đề “Tiếng hát con tàu” của bài thơ mang tính biểu tượng bởi thực tế chưa hề có đường tàu và con tàu lên Tây Bắc Hình tượng con tàu trong bốn câu thơ đề từ là biểu tượng cho tâm hồn nhà thơ đang khát khao lên đường, vượt ra khỏi cuộc sống chật hẹp, quẩn quanh đi đến với cuộc đời rộng lớn Tây Bắc ngoài ý nghĩa cụ thể chỉ địa danh một miền đất xa xôi của Tổ quốc, còn là một biểu tượng của cuộc sống lớn của nhân dân và đất nước, là cội nguồn của cảm hứng sáng tạo nghệ thuật

Bài thơ mở đầu bằng một lời mời gọi thiết tha:

Chuyến tàu này lên Tây Bắc anh đi chăng ? Bạn bè đi xa anh giữ trời Hà Nội

Anh có nghe gió ngàn đang rú gọi Ngoài cửa ô ? Tàu đói những vầng trăng

Ta bắt gặp chủ thể trữ tình tự phân thân để đối thoại với chính mình với hàng loạt những câu hỏi nâng cao dần cấp độ để bộc lộ khát vọng lên đường Không chỉ là lời hối thúc bản thân, câu thơ còn là lời động viên, thuyết phục mọi người đi đến với những miền đất lạ xa xôi, hòa nhập vào cuộc sống rộng lớn của nhân dân Chế Lan Viên đã mượn hình ảnh thiên nhiên để khơi gợi khát vọng lên

đường của mọi người:

Anh có nghe gió ngàn đang rú gọi Ngoài cửa ô ? Tàu đói những vầng trăng Nhà thơ nói với người khác và cũng là tự nhủ với chính lòng mình Cuộc kháng chiến trường kì gian khổ đã kết thúc thắng lợi, đất nước bước vào công cuộc tái thiết, xây dựng cuộc sống mới đang rất cần sự đóng góp của mỗi người Cuộc sống lớn đó là ngọn nguồn của mọi sáng tạo nghệ thuật Song nghệ thuật không thể nảy sinh khi người nghệ sĩ không mở rộng lòng mình đón nhận tất cả những vang vọng của cuộc đời Từ sự chiêm nghiệm về cuộc đời thơ của chính mình, Chế Lan Viên đã đưa ra những lời khuyên đầy tâm huyết: hãy đi ra khỏi cái tôi chật hẹp của mình

mà hòa nhập với mọi người, hãy vượt ra khỏi chân trời của cái tôi nhỏ bé để đến với chân trời của tất cả Đi theo con đường ấy, có thể tìm kiếm được nghệ thuật chân chính và gặp được tâm hồn của chính mình trong cuộc sống rộng lớn của nhân dân:

Chẳng có thơ đâu giữa lòng đóng khép Tâm hồn anh chờ gặp anh trên kia Chính vì lẽ đó mà tâm hồn thơ Chế lan Viên muốn hóa thân thành con tàu tâm tưởng, khao khát lên đường, hăm hở say sưa, háo hức trong hành trìng trở về với cuộc đời rộng lớn, về với nhân dân Khát vọng đến với cuộc sống rộng lớn, đến với nhân dân trở thành cảm hứng, tình cảm chân thành của nhà thơ Khát vọng ấy đã một lần vang lên trong thơ ông:

Ôi chim én có bay không, chim én ?

Đến những đảo xa, đến những đảo mờ

ở đâu chưa đi thì lòng sẽ đến Lúc trở về, lòng ngậm những cành thơ

Trong bài thơ Tiếng hát con tàu, khát vọng lên đường ấy mỗi lúc càng được bộc lộ cụ thể hơn, say mê hơn và rạo rực hơn: “Khi lòng ta đã hóa những con tàu”, “Tàu hãy vỗ giùm ta đôi cánh vội Mắt ta thèm mái ngói đỏ trăm ga”, “Mắt ta nhớ mặt người, tai ta nhớ tiếng”; “Khát vọng ấy càng trở nên mãnh liệt hơn bao giờ hết khi có sự gặp gỡ giữa đòi hỏi của nhân dân, đất nước với

Ngày đăng: 30/12/2015, 13:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w