Ông là một trong những nhà thơ tiêu biểu của “Thơ mới”.. Qua hình ảnh các pho tượng La Hán, Huy Cận bày tỏ nỗi đau đời khát vọng cứu đời của người xưa.. Nhà thơ vô cùng cảm thông Cha ô
Trang 1Trường THPT Nguyễn Trung Trực
Tập thể Lớp12A 3
GV: Châu Thị Hiệp
Trân trọng kính chào quý Thầy Cô.
Trang 3Lối vào Chùa Tây
Trang 5Tam gian thờ các Vị La Hán
Trang 7Tiết: 41
Bài:Các Vị La Hán Chùa Tây Phương
Huy Cận
Trang 8NHÀ THƠ HUY CẬN
Trang 9Nhà thơ Huy Cận ( 1919-2005) tại Hương
Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.
Ông là một trong những nhà thơ tiêu biểu của
“Thơ mới” Thơ Huy Cận trước Cách mạng
chất chứa nỗi sầu vạn cổ, sau năm 1945 dào dạt tình đời và niềm vui bát ngát Thơ ông giàu
nhạc điệu, hàm súc cổ điển và có màu sắc suy
Trang 11 Trước Cách mạng tháng Tám, ông đã có
dịp đến thăm chùa Tây Phương Sau đó,
nhiều lần, ông trở lại thăm chùa Tây
Phương Hình dáng đau khổ của các pho
tượng đã làm cho ông trăn trở suy tư, cuối năm 1960 ông đã sáng tác bài thơ “Các vị
La hán chùa Tây Phương”
Tiết:
41
3.Hoàn cảnh sáng tác:
Trang 12Qua hình ảnh các pho tượng La Hán,
Huy Cận bày tỏ nỗi đau đời khát vọng cứu đời của người xưa Nhà thơ vô cùng cảm thông Cha ông ta ngày trước, tin tưởng tự hào về chế độ mới sẽ mang lại mùa xuân hạnh phúc cho toàn dân
4 Cảm hứng chủ đạo:
Tiết:
41
Trang 13a Đoạn 1- (Tám khổ thơ đầu): Đặc tả và
cảm nhận về các pho tượng La Hán.
b Đoạn 2- ( Năm khổ thơ tiếp theo): Nỗi
đau đời và bế tắc của người xưa Sự cảm thông của nhà thơ.
c Đoạn 3- ( Hai khổ thơ cuối): Niềm tin
vui và tự hào của tác giả về chế độ mới…
Tiết: 41
5 Bố cục:
Trang 14Hoàng hôn xuống, nhà thơ rời chùa Tây Phương
mà lòng đầy vấn vương.
Há chẳng phải đây là xứ Phật
Trang 15B.NỘI DUNG
Đến thăm Chùa Tây Phương, lúc trở về, nhà thơ vấn vương vì sao xứ Phật vốn từ bi “mà sao ai nấy mặt đau thương”?
Tiết: 41
I Cảm nhận về các pho tượng La Hán
1.Tâm trạng nhà thơ (khổ 1)
Trang 162.Pho tượng thứ nhất:
Trang 17- Chân với tay chỉ còn lại “xương trần”.
- Tấm thân gầy như đã bị “thiêu đốt”.
- Mắt sâu thành “vòm” với cái nhìn
Trang 18
Trang 19Tiết: 41
- Mắt thì “ giương”, mày thì “nhíu xệch”.
-Trán như đang “nổi sĩng biển luân hồi” vơ
cùng vơ tận.
- Mơi cong lên “chua chát”.Tâm hồn khơ
héo Bàn tay “gân vặn”, mạch máu thì
“sơi”lên.
Pho tượng thứ hai như chứa đựng
biết bao vật vã, dằn vặt, đau khổ, về
một chân tu khổ hạnh.
Trang 20Pho tượng thứ ba
Trang 21-Ngồi trong tư thế “chân tay co xếp
lại”chẳng khác nào chiếc thai non
“tròn xoe”.
-Đôi tai rất kỳ dị “rộng dài ngang
gối”.
Vị tu hành này như suốt đời “nghe đủ
chuyện buồn” của chúng sinh.
Tiết: 41
Trang 22Các vị ngồi đây trong lặng yên
Mà nghe giông bão nổi trăm miền Như từ vực thẳm đời nhân loại
Bóng tối đùn ra trận gió đen
Trang 23Cuộc họp lạ lùng trăm vật vã Tượng không khóc cũng đổ mồ hôi
Mặt cúi, mặt nghiêng, mặt ngoảnh sau Quay theo tám hướng hỏi trời sâu?
Trang 245.Các khổ thơ 5, 6, 7, 8 tả khái quát
Trang 25 Qua các pho tượng,nhà thơ
không chỉ phản ánh một xã hội
quằn quại trong những biến
động và bế tắc mà còn thể hiện
một tinh thần nhân đạo đáng
quý, trân trọng và cảm thông với người xưa.
Tiết: 41
Trang 26II.Nỗi đau đời và bế tắc của người
xưa và sự cảm thông của nhà thơ.(20 câu giữa)
Từ hình ảnh các vị La Hán, tác giả liên hệ đến sự đau khổ của
những nghệ sĩ VN trong xã hội
phong kiến.
Tiết: 41
Trang 27Trong thời đại Nguyễn Du,
cha ông ta rất đau đời, nhưng không cứu được đời
Trang 28III.Niềm tự hào của tác giả về xã hội mới (2 khổ cuối)
Thời đại mới đã mở cửathời kỳ xã
hội lên đường xây dựng cuộc sống mới, xua tan hoàng hôn.
Thời đại mới tạo mùa
Tiêt: 41
Trang 29- Miêu tả tinh tế, giàu sức gợi hình
- Ngôn ngữ điêu khắc giàu chất suy tưởng, triết lý.
-Cảm thông, trân trọng trước bi kịch lớn lao của cha ông thời phong kiến -Ánh sáng giải thoát của thời đại mới,
xã hội mới.
Trang 30Củng cố:
Cảm hứng bài thơ được khơi gợi từ hình ảnh những pho tượng, những suy tưởng của bài thơ theo hướng nào sau đây:
Suy tưởng và triết lý về phật giáo
A
B Suy tưởng về nhân thế
C Suy tưởng về nghệ thuật điêu khắc cổ
D Suy tưởng về những đau khổ bế tắc của cha ông trong quá khứ, thời đại mà các pho tượng
Trang 325 Tư tưởng nhân đạo của tác phẩm.
“MÙA LẠC” (Nguyễn Khải)
Trang 33Trong bài dạy có sử dụng các ca khúc:
“Trăng về thôn dã” của Hoài An &Huyền Linh.
“ Tiếng xưa” của Dương Thiệu Tước.
“ Khúc dạo đầu bài “ Tây Du Ký”
“VN trên đường chúng ta đi” của Huy Du.
Kính chào tạm biệt