MỞ ĐẦU Hệ thống tài chính là cấu trúc phức hợp và hoạt động trong tất cả mọi nền kinh tế trên thế giới bao gồm các tổ chức định chế tài khác nhau: ngân hàng, công ty vảo hiểm, quỹ tương
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ -LUẬT KHOA KẾ TOÁN-KIỂM TOÁN
ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA CẤU TRÚC
TÀI CHÍNH
Sinh viên:………
………
………
………
………
Lớp :………
Hồ Chí Minh, 12-2015
Trang 2MỞ ĐẦU
Hệ thống tài chính là cấu trúc phức hợp và hoạt động trong tất cả mọi nền kinh tế trên thế giới bao gồm các tổ chức định chế tài khác nhau: ngân hàng, công ty vảo hiểm, quỹ tương hỗ, thị trường cổ phiếu và trái phiếu – tất cả đặt dưới sự điều hành chặt chẽ của chính phủ và liên quan mật thiết đế ngân sách nhà nước cùng các thành phần chức năng của nó Hệ thống tài chính khởi nguồn cho hàng ngàn tỷ đồng đô la vốn trên thế giới dịch chuyển từ người tiết kiệm này sang người có cơ hội đầu tư có hiệu quả Để hiểu được hoạt động của cấu trúc tài chính, chúng ta có tám vấn đề cơ bản cần giải quyết:
1 Cổ phiếu không phải là nguồn tài trợ quan trọng nhất cho doanh nghiệp
2 Việc phát hành chứng khoán nợ và chứng khoán vốn không phải
là kênh chủ yếu để tài trợ cho hoạt động doanh nghiệp
3 Tài chính gián tiếp đóng vai trò quan trọng hơn tài chính trực tiếp
4 Các nguồn tài chính, đặc biệt là ngân hàng thương mại, là nguồn tài trợ vốn quan trọng nhất cho các doanh nghiệp
5 Hệ thống tài chính là một lĩnh vực được điều tiết nhiều nhất trong nền kinh tế
6 Chỉ những công ty lớn, nổi tiếng mới dễ dàng tiếp cận thị trường chứng khoán để huy động vốn
7 Thế chấp tài sản là đặc điểm phổ biến của các hợp đồng vay nợ đối với cá nhân cũng như doanh nghiệp
8 Các hợp đồng nợ có đặc trưng bao gồm những điều khoản có tính pháp lý đặc biệt là phức tạp nhằm điều chỉnh người vay
Đề hiểu rõ nguyên nhân của các vấn đề nêu trên là một điều không phải ai cũng có thể Qua bài báo cáo này nhóm tôi sẽ phân tích cụ thể từng vấn đề giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về hệ thống tài chính
Trang 3Vấn Đề 1: cổ phiếu không phải là nguồn tài trợ quan trọng nhất cho doanh nghiệp
Về phía doanh nghiệp:
− Chi phí sử dụng vốn của cổ phiếu cao Vì cổ phiếu phải chịu thuế thu nhập doanh nghiệp, nghĩa là cổ tức được trả bằng lợi nhuận sau thuế
− Chi phí phát hành cổ phiếu cao và không được tính vào chi phí của doanh nghiệp trong sổ sách kế toán
− Sức ép phải kinh doanh có hiệu quả khi phát hành cổ phiếu để huy động vốn hơn các hình thức huy động vốn khác là một trở ngại khiến các doanh nghiệpchưa mặn mà với việc huy động vốn trên thị trường chứng khoán
− Khi phát hành cổ phiếu thì phải chia sẻ quyền lực cho các cổ đông, hạn chế quyền quyết định của chủ doanh nghiệp
Về phía nhà đầu tư:
− Doanh nghiệp không dễ dàng huy động được vốn từ cổ phiếu vì còn tồn tại nhiều rủi ro trong việc đầu tư cổ phiếu khiến các nhà đầu tư e ngại:
− Đối với các nhà đầu tư cá nhân vốn ít, chi phí giao dịch trên mỗi đồng vốn trở thành nhiều, triệt tiêu lợi ích kiếm được, vì vậy cổ phiếu hay chứng khoánkhông phải là lựa chọn đầu tư tối ưu đối với họ
− Rủi ro thông tin bất cân xứng dẫn đến lựa chọn nghịch:
− Những hạn chế trong việc công bố thông tin và quản lý công bố thông tin như: Công bố thông tin chậm, thông tin không đầy đủ và rõ ràng, thông tin không trung thực nhằm trục lợi cá nhân, khiến các nhà đầu tư cảm thấy không an toàn trong giao dịch
• Trong quá trình hoạt động, các cổ đông cũng không thể nắm rõ toàn bộ tình hình công ty cũng như tác động của các quyết định của ban giám đốc tới hoạt động của công ty Rõ ràng điều này là hiện tượng của thông tin không đối xứnggiữa một bên là cổ đông và một bên là Ban giám đốc1
• Việc mua cổ phiếu quỹ ảnh hường lớn đến giá cổ phiếu và quyết định đầu tư Pháp luật cũng đã quy định doanh nghiệp phải công bố thông tin khi mua cổ phiếu quỹ nhưng việc thông bố thông tin này cũng còn chậm chạp, dẫn đến việc các nhà đầu tư chịu thông tin bất cân xứng dẫn đến lựa chọn nghịch
• Thông tin bất cân xứng còn xảy ra đối với các nhà đầu tư khi: 1 số nhà đầu tư có thể nhằm trục lợi cá nhân mà có những hành vi sai trái như mua 1 lúc nhiều cổ phiếu để nâng giá lên sau đó bán đi để kiếm lời Điều này ảnh hưởng lớn đến các nhà đầu tư không nắm được thông tin và tình
Trang 4hình về giá trị thực của cổ phiếu họ nắm giữ Ngoài ra, các kỹ xảo khác của doanh nghiệp để tạo hình ảnh tài chính tốt cho doanh nghiệp như: đảo nợ, bán tài sản, làm giả số sách, công bố thông tin không trung thực, Dẫn đến việc lựa chọn nghịch của ngườiđầu tư cổ phiếu và thiệt hại vốn của các cổ đông do không nắm được tình hình hoạt động thực của doanh nghiệp
• Những thông tin mà các nhà đầu tư cá nhân có được từ những lời tư vấn hay thông tin trên báo chí có thể là những thông tin dẫn dắt đầu tư theo
ý muốn của 1 số tổ chức
• Rủi ro đạo đức
• Việc ra quyết định của nó sẽ thật rủi ro nếu như Ban giám đốc hành động không đứng trên lợi ích của cổ đông
• Khi đầu tư vào cổ phiếu là chia sẽ rủi ro với doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp hoạt động thua lỗ thì các cổ đông - những chủ sở hữu doanh nghiệp phải chấp nhận mất tiền chứ không được yêu cầu doanh nghiệp giải thể để chi trả vốn đầutư như các trái chủ
• Nếu các nhà quản lý doanh nghiệp muốn giữ lại tiền trong công ty,
họ sẽ dùng lợi nhuận sau thuế để mua cổ phiếu quỹ, việc làm đó khiến cổ tức giảm
Nguồn: http://123doc.org/document/1415533-bai-tieu-luan-8-dac-diem-co-ban-cua-cau-truc-tai-chinh-imf.htm?page=4
Ví dụ:
Theo kết quả điều tra của UBCKNN, các doanh nghiệp đều mong muốn có một phương thức huy động vốn mới để cải thiện tình hình tài chính và đáp ứng được các hoạt động kinh doanh Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp chưa xác định được rõ phương án kinh doanh cũng như nhu cầu vốn ngắn hạn vẫn là yêu cầu chủ yếu
Do đó việc phát hành cổ phiếu để huy động vốn chưa phải là ưu tiên hàng đầu của các doanh nghiệp khi có nhu cầu huy động vốn, đặc biệt là vốn trung và dài hạn Điều này càng chứng tỏ doanh nghiệp huy động nguồn vốn dưới hình thức này còn rất hạn chế do các doanh nghiệp chưa thực sự
có uy tín trên thị trường, chưa thu hút được đông đảo các nhà đầu tư
Hơn nữa, sức ép phải kinh doanh có hiệu quả khi phát hành cổ phiếu để huy động vốn hơn các hình thức huy động vốn khác là một trở ngại khiến các doanh nghiệp chưa mặn mà với việc huy động vốn trên TTCK
Tuy nhiên, các chuyên gia đánh giá rằng, lĩnh vực kinh doanh và loại hình doanh nghiệp có ảnh hưởng rất lớn tới quy mô vốn của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp chỉ trông chờ vào nguồn vốn vay từ ngân hàng và các nguồn vốn khác chắc chắn sẽ không thể đáp ứng được nhu cầu của các doanh nghiệp
Trang 5Được biết, kết quả điều tra về nguồn vốn huy động hiện nay của doanh nghiệp, điều đáng lưu ý là trong tất cả số doanh nghiệp được hỏi không có doanh nghiệp nào huy động vốn qua phát hành trái phiếu và liên quan với nước ngoài 60,9% số doanh nghiệp được hỏi hiện huy động vốn cho sản xuất và kinh doanh chủ yếu bằng nguồn vốn vay từ ngân hàng
Trong khi đó, số doanh nghiệp có huy động vốn bằng phát hành cổ phiếu chiếm 54,8% số doanh nghiệp được điều tra, chủ yếu là các công ty cổ phần Nhà nước Ngoài ra, có 38,3% số doanh nghiệp có huy động vốn qua vay từ công nhân viên 38,3% số doanh nghiệp huy động từ các nguồn khác như mua bán chịu, sử dụng vốn của đối tác
Số doanh nghiệp huy động vốn qua nguồn ngân sách Nhà nước trong tổng
số doanh nghiệp điều tra có 62 doanh nghiệp, chiếm 25% và điều này chứng tỏ rằng Nhà nước vẫn là một nguồn tài trợ quan trọng trong hoạt động của các doanh nghiệp hiện nay
Vấn đề 2: Việc phát hành chứng khoán nợ và chứng khoán vốn không phải là kênh tài trợ vốn chủ yếu để tài trợ cho hoạt động doanh nghiệp
- Phát hành cổ phiếu ra công chúng làm phân tán quyền sở hữu và có thể làm mất quyền kiểm soát công ty của các cổ đông sáng lập do hoạt động thôn tín công ty Bên cạnh đó, cơ cấu về quyền sở hữu của công ty luôn luôn bị biến động do chịu ảnh hưởng của các giao dịch
cổ phiếu hàng ngày
Chi phí phát hành chứng khoán ra công chúng cao, thường chiếm từ 8-10% khoản vốn huy động, bao gồm các chi phí bảo lãnh phát hành, phí tư vấn pháp luật, chi phí in ấn, phí kiểm toán, chi phí niêm yết… Ngoài ra, hàng năm công ty cũng phải chịu thêm các khoản chi phí phụ như chi phí kiểm toán các báo cáo tài chính , chi phí cho việc chuẩn bị tài liệu nộp cho cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán
và chi phí công bố thông tin định kỳ
- Công ty phát hành chứng khoán ra công chúng phải tuân thủ một chế
độ công bố thông tin rộng rãi, nghiêm gặt và chịu sự giám sát chặt chẽ hơn so với các công ty khác Hơn nữa, việc công bố thông tin về doanh thu, lợi nhuận, vị trí cạnh tranh, phương thức hoạt động, các hợp đồng nguyên liệu, cũng như nguy cơ rò rỉ thông tin mật ra ngoài
có thể đưa công ty vào vị thế cạnh tranh bất lợi
- Việc phát hành chứng khoán nợ (trái phiếu) nhìn chung vẫn chưa dễ dàng, vì nếu xem xét kỹ sẽ thấy hầu như chỉ các công ty lớn, có vốn
Trang 6nhà nước, hay công ty cổ phần có vốn điều lệ lớn, hoặc các ngân hàng mới cổ phần hóa mới phát hành trái phiếu doanh nghiệp Điều này cho thấy, nhà đầu tư cũng chỉ cẩn trọng xem xét mua cổ phiếu của các doanh nghiệp họ tin tưởng và nhiều công ty phát hành trái phiếu riêng lẻ cho cổ đông chiến lược, chứ không phát hành ra công chúng, như vậy khó có thể khẳng định là doanh nghiệp dễ dàng tìm được nguồn vốn qua kênh này
Vì những hạn chế nêu trên nên việc phát hành chứng khoán chủ yếu chỉ diễn ra đối với các doanh nghiệp lớn Vậy, có thể thấy, chứng khoán
nợ và chứng khoán vốn không phải là kênh huy động vốn chủ yếu để tài trợ cho các hoạt động của doanh nghiệp
Ví dụ 1:
“Theo ông Đào Văn Hưng, Tổng giám đốc Tổng công ty Điện lực VN (EVN), năm 2004, cả nước sẽ khởi công 10 công trình nguồn điện lớn và một số công trình đường dây truyền tải với tổng vốn đầu tư lên đến 1,55 tỷ USD EVN sẽ giải quyết khó khăn này bằng việc vay các ngân hàng trong
và ngoài nước….”
”….Hôm qua, EVN đã tiến hành ký kết 7 hợp đồng tín dụng và biên bản thỏa thuận cung cấp tài chính cho các dự án thủy điện với tổng giá trị gần 11.000 tỷ đồng Đối tác cho vay trong nước là 4 ngân hàng quốc doanh (tổng số tiền 5.780 tỷ đồng), đối tác nước ngoài là CitiGroup, BNP Paribas
và ABN Amro (tổng trị giá 320 triệu USD) EVN sẽ sử dụng toàn bộ số tiền này cân đối cho các dự án thủy điện Quảng Trị, A Vương, Pleikrong, Buôn Kướp, Bản Lả, và Tuyên Quang “
Nguồn: : http://123doc.org/document/1415533-bai-tieu-luan-8-dac-diem-co-ban-cua-cau-truc-tai-chinh-imf.htm
http://vietbao.vn/Kinh-te/Ngan-hang-se-la-kenh-huy-dong-von-so-1-cua-EVN/10833915/87/
Vấn Đề 3: Tài chính gián tiếp đóng vai trò quan trọng hơn tài chính trực tiếp
Bằng việc đặt một lãi suất cao hơn cho các món cho vay so với món lãi họ thanh toán cho vốn mà họ vay từ người cho vay hay người tiết kiệm, những
tổ chức trung gian tài chính (như ngân hàng) thu được lợi nhuận Như vậy,
do hoạt động trong quá trình tài chính gián tiếp, được gọi là trung gian tài chính, những tổ chức trung gian tài chính có thể làm lợi cho phần lớn những người có món tiết kiệm nhỏ bằng việc đem lại cho họ tiền lãi cao và có thể
Trang 7giúp những người vay các món tiền nhỏ, nay có thể vay các món tiền lớn cũng hưởng lợi bởi vì quá trình trung gian tài chính nghĩa là có được nhiều vốn hơn cho người vay trong thị trường tài chính Không có trung gian tài chính, thị trường tài chính không thể có được lợi ích trọn vẹn Lý do vì sao những tổ chức trung gian tài chính là cần thiết để có được lợi ích đầy đủ của thị trường tài chính là ở chỗ: có những chi phí thông tin và chi phí giao dịch lớn trong nền kinh tế Để những người cho vay nhận ra được những người muốn vay và để những người đi vay nhận ra được những người muốn cho vay là vấn đề đòi hỏi chi phí đắt tiền Khi một người cho vay tìm ra được một người muốn vay, ông ta có thêm một khó khăn là phải chi phí thì giờ
và tiền cho một cuộc kiểm tra tín nhiệm để biết được liệu người vay có thể hoàn trả vốn của ông ta không Ngoài các chi phí thông tin này, quá trình thực tế cho vay hoặc mua một chứng khoán cần đến các chi phí giao dịch; trong trường hợp cho vay vốn, phải viết ra một hợp đồng vay thích hợp, còn trong trường hợp mua một chứng khoán, phải thanh toán cho người môi giới
Để xem vì sao các chi phí này đòi hỏi những tổ chức trung gian tài chính đóng một vai trò thiết yếu trong việc dẫn nguồn vốn từ người cho vay/người tiết kiệm đến người vay/người chi tiêu, chúng ta hãy xem xét một vài ví dụ Với tài chính trực tiếp, người vay và người cho vay luôn giao dịch trực tiếp với nhau, điều này có mặt tốt Đối với một công ty quen biết, ví dụ công ty điện thoại – điện báo Mỹ ( AT&T), công ty này dễ bán trái phiếu trong một thị trường mở cho các công ty hoặc cá nhân khác bởi vì ai cũng biết rằng AT&T là một công ty vững chắc Nhưng điều gì xảy ra khi người thợ mộc cần vay để mua một công cụ làm tăng năng suất ? Anh ta sẽ không thể bán trái phiếu vì không người nào biết anh ta là ai và liệu anh ta có là một kẻ bội tín hay không ? Như thế, trong một thế giới chỉ có tài chính trực tiếp, anh ta không thể vay tiền được
Ngược lại những người có những món tiết kiệm nhỏ lo ngại khi mua các chứng khoán bởi vì phải chi phí tốn kém để tập hợp thông tin cho việc mua loại nào thì tốt nhất Chi phí giao dịch của việc mua chứng khoán cũng có thể rất cao đối với những người tiết kiệm có ít tiền vì chi phí giao dịch (trước hết là cho người môi giới) cho mỗi một cổ phần sẽ tỉ lệ nghịch với tổng số được mua Do vậy, chỉ khi bạn có một món tiền vốn lớn để mua một số lượng lớn chứng khoán bạn mới có thể thu lợi do giảm được chi phí giao dịch
Chi phí giao dịch của việc cho một cá nhân vay còn lớn hơn nữa: ít người trong chúng ta có đủ kiến thức luật pháp để viết ra được một hợp đồng vay tiền chắc chắn, và thuê một luật sư để làm điều này thì rất tốn kém Điều này khiến những người cho vay ít không có lợi gì Như thế, nhiều người có vốn tiết kiệm nhỏ và những người vay những món nhỏ bị hạn chế ở tài chính trực tiếp, sẽ bị gạt ra ngoài thị trường này và sẽ không có khả năng
Trang 8chia sẻ những lợi ích lớn mà sự hiện hữu của các thị trường tài chính mang lại
Vấn đề 4: Các nguồn tài chính, đặc biệt là ngân hàng thương mại, là nguồn tài trợ vốn quan trọng nhất cho các doanh nghiệp
Các trung gian tài chính, đặc biệt là các ngân hàng thương mại là nguồn tài trợ vốn quan trọng nhất cho các doanh nghiệp chủ yếu là do các nguyên nhân:
1 Cổ phiếu không phải là nguồn tài trợ quan trọng nhất cho doanh nghiệp do sức ép phải kinh doanh có hiệu quả khi phát hành cổ phiếu
để huy động vốn hơn các hình thức huy động vốn khác là một trở ngại khiến các doanh nghiệp chưa mặn mà với việc huy động vốn trên TTCK
2 Việc phát hành chứng khoán nợ và chứng khoán vốn không phải là kênh chủ yếu để tài trợ cho hoạt động của doanh nghiệp do thị trường chứng khoán chưa thật sự khẳng định được vai trò của một kênh huy động vốn chủ lực trong nền kinh tế hiện nay vì nhiều lí do khác nhau
3 Việc mang nhiều chức năng cũng như sự linh hoạt về lãi suất của các trung gian tài chính(các ngân hàng thương mại) đã giúp cho nó đã khẳng định được vai trò của mình là một kênh huy động vốn được các doanh nghiệp tin tưởng:
a/ Chức năng tạo vốn:
Các trung gian tài chính tập trung huy động nguồn lực bằng nhiều hình thức khác nhau để thực hiện mục đích đầu tư hoặc cho vay.Phương thức tạo vốn : tự nguyện thông qua cơ chế lãi suất hoặc theo thể thức bắt buộc thông qua cơ chế điều hành của chính phủ.Với chức năng tạo vốn trung gian tài chính mang lại lợi ích cho chính mình và những người tiết kiệm
b/ Chức năng cung ứng vốn:
Trang 9Quỹ tiền tệ tập trung được các trung gian tài chính cho vay hoặc cung ứng cho người có nhu cầu sử dụng vốn: cho chính phủ vay bù đắp thiếu hụt ngân sách, đầu tư cho các công trình quốc gia, cho các doanh nghiệp vay để mở rộng sx , cho các cá nhân vay, cho các tổ chức vay để thực hiện mục đích của họ Với chức năng này các trung gian tài chính đáp ứng chính xác, đầy đủ, kịp thời nhu cầu tài trợ về vốn cho các cá nhân, doanh nghiệp
4 Các trung gian tài chính đem lại lợi ích trọn vẹn cho doanh nghiệp cũng như bản thân các trung gian tài chính Do chuyên môn hóa và thành thạo trong nghề nghiệp, các tổ chức trung gian đáp ứng đầy đủ, kịp thời yêu cầu giữa người có vốn và người cần vốn.Do cạnh tranh, đan xen và đa năng hóa hoạt động các trung gian tài chính thường xuyên thay đổi lãi suất 1 cách hợp lý làm cho nguồn vốn thực tế được tài trợ cho đầu tư tăng lên mức cao nhất.Thực hiện có hiệu quả các dịch vụ tư vấn, môi giới, tài trợ, trợ cấp và phòng ngừa rủi ro
Để hiểu thêm về tầm quan trọng và mức ảnh hưởng của các trung gian tài chính trong việc huy động vốn cho các doanh nghiệp thì chúng ta hãy cùng xem xét những ví dụ hoặc số liệu thức tế sau: Việc nghiên cứu của các nước phát triển chủ yếu gồm Mỹ, Canada, Anh, Nhật, Ý, Đức và Pháp, cho thấy rằng khi những nhà kinh doanh
đi tìm vốn để tài trợ cho những hoạt động của mình, họ thường có được những vốn này nhờ ở các tổ chức trung gian tài chính Không
có gì ngạc nhiên, Mỹ và Canada, vốn có những thị trường chứng khoán phát triển nhất trên thế giới, sử dụng các thị trường này một cách mạnh mẽ nhất trong việc cấp vốn cho các công ty Tuy nhiên ỏ
Mỹ, vốn mà các công ty vay từ những tổ chức trung gian tài chính hầu như gấp hai lần so với vốn nhận từ thị trường chứng khoán Những nước ít sử dụng thị trường chứng khoán nhất là các nước Đức
và Nhật Ở hai nước này, vốn vay từ những tổ chức trung gian tài chính hầu như gấp 10 lần so với nhận từ thị trường chứng khoán Ở Nhật Bản, với điều lệ sửa đổi cho thị trường chứng khoán trong những năm gần đây, vốn mà các công ty vay từ những tổ chức trung gian tài chính đã giảm tương đối so với vốn nhận từ thị trường chứng khoán
Trang 10Được biết, kết quả điều tra về nguồn vốn huy động hiện nay của doanh nghiệp, điều đáng lưu ý là trong tất cả số doanh nghiệp được hỏi không có doanh nghiệp nào huy động vốn qua phát hành trái phiếu và liên quan với nước ngoài 60,9% số doanh nghiệp được hỏi hiện huy động vốn cho sản xuất và kinh doanh chủ yếu bằng nguồn vốn vay từ ngân hàng Trong khi đó, số doanh nghiệp có huy động vốn bằng phát hành cổ phiếu chiếm 54,8% số doanh nghiệp được điều tra, chủ yếu là các công ty cổ phần Nhà nước Ngoài ra, có 38,3% số doanh nghiệp có huy động vốn qua vay từ công nhân viên 38,3% số doanh nghiệp huy động từ các nguồn khác như mua bán chịu, sử dụng vốn của đối tác Số doanh nghiệp huy động vốn qua nguồn ngân sách Nhà nước trong tổng số doanh nghiệp điều tra có 62 doanh nghiệp, chiếm 25% và điều này chứng tỏ rằng Nhà nước vẫn là một nguồn tài trợ quan trọng trong hoạt động của các doanh nghiệp hiện nay
tiết nhiều nhất trong nền kinh tế
Với tầm quan trọng trong việc điều tiết nền kinh tế hệ thống tài chính có những chức năng quan trọng sau đây :
Cung cấp thông tin cho các nhà đầu tư :
Chênh lệch thông tin trong thị trường tài chính có nghĩa rằng các nhà đầu tư
có khả năng là các đối tượng của vấn đề lựa chọn nghịch và rủi ro đạo đức
mà chúng ta đã bàn đến ở trên và điều này cản trở thị trường tài chính hoạt động hiệu quả Các công ty nhiều rủi ro và những kẻ lừa đảo là những người muốn bán chứng khoán của mình cho những nhà đầu tư ngây thơ Những hậu quả của việc lựa chọn nghịch sẽ làm cho các nhà đầu tư khác ngần ngại không muốn tiếp cận hay tham gia vào thị trường tài chính nữa Hơn thế ,một nhà đầu tư khi đã mua chứng khoán thì những nhà phát hành chứng khoán và người đi vay lại càng có động lực tham gia vào các hoạt động kinh doanh rủi ro bởi vì họ có thêm người chia sẻ rủi ro Vấn đề đạo đức cũng làm cho các nhà đầu tư không muốn tham gia vào thị trường tài chính
Các chính sách điều hành của chính phủ có thể giảm thiểu vấn đề lựa chọn nghịch và rủi ro đạo đức trong thị trường tài chính và nâng cao hiệu quả hoạt động của thị trường bằng cách tăng cường cung cấp thông tin cho các
nhà đầu tư
Đảm bảo sự lành mạnh trong sạch của hệ thống tài chính :