TIỂU LUẬN: 8 ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA CẤU TRÚC TÀI CHÍNH ĐH KINH TẾLUẬT TIỂU LUẬN: 8 ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA CẤU TRÚC TÀI CHÍNH ĐH KINH TẾLUẬT TIỂU LUẬN: 8 ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA CẤU TRÚC TÀI CHÍNH ĐH KINH TẾLUẬT TIỂU LUẬN: 8 ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA CẤU TRÚC TÀI CHÍNH ĐH KINH TẾLUẬT
Trang 18 ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN
CỦA CẤU TRÚC TÀI CHÍNH
Môn: Lý thuyết tài chính tiền tệ
TP.HCM tháng 12 năm 2015
Tiểu luận:
Giảng viên hướng dẫn: ThS Hoàng Thọ Phú
Nhóm sinh viên:
3 Nguyễn Phan Đăng Khoa K144010044
5 Nguyễn Thị Hoài Phương K144070962
7 Nguyễn Ngọc Thảo Vi K144101376
Trang 21 8 đặc điểm cơ bản của cấu trúc tài chính – Nhóm 4 – K14402C
MỤC LỤC
1 Cổ phiếu không phải là nguôn tài trợ quan trọng nhất cho doanh
nghiệp 2
2 Việc phát hành chứng khoán nợ và chứng khoán vốn không phải
là kênh chủ yếu để tài trợ cho các hoạt động của doanh nghiệp
4
3 Tài chính gián tiếp đóng vai trò quan trọng hơn tài chính trực tiếp
5
4 Các trung gian tài chính, đặc biệt là các ngân hàng thương mại là
nguồn tải trợ vốn quan trọng nhất cho doanh nghiệp.
6
5 Hệ thống tài chính là một lĩnh vực được điều tiết nhiều nhất trong
nền kinh tế.
8
6 Chỉ những công ty lớn, nổi tiếng mới dễ tiếp cận thị trường chứng
khoán để huy động vốn
10
7 Thế chấp là thành phần quan trọng không thay thế trong các hợp
đồng vay nợ đối với cả doanh nghiệp và các cá nhân
11
8 Các hợp đồng vay nợ thường là các văn bản phức tạp, cùng nhiều
điều khoản cam kết và hạn chế khác nhau, qua đó để giảm thiểu
rủi ro 12
9 Tài liệu tham khảo 14
Trang 32 8 đặc điểm cơ bản của cấu trúc tài chính – Nhóm 4 – K14402C
1 CỔ PHIẾU KHÔNG PHẢI LÀ NGUỒN TÀI TRỢ CHỦ YẾU CHO DOANH NGHIỆP
A Lý thuyết và thực tế
Hạn chế của việc huy động vốn bằng cổ phiếu:
a Về phía doanh nghiệp
- Quyền quyết định của chủ doanh nghiệp bị hạn chế Thường khi phát hành cổ phiếu đồng nghĩa với việc doanh nghiệp phải phân chia lại quyền biểu quyết và kiểm soát công ty, dẫn tới quyền thu nhập cao cho cổ đông mới, làm bất lợi cho cổ đông hiện hành
phí bảo lãnh phát hành, phí tư vấn pháp luật, phí in ấn, phí kiểm toán, chi phí niêm yết
….Ngoài ra hằng năm công ty còn chịu các khoản chi phí phụ như chi phí kiểm toán các báo cáo tài chính, chi phí cho việc chuẩn bị tài liệu nộp cho cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán và chi phí công bố thông tin định kỳ
ra để chi trả cổ tức cho các cổ đông nên cổ phiếu phải chịu thuế thu nhập doanh nghiệp
trường, vậy nếu công ty không kinh doanh tốt thì sẽ làm sụt giảm thu nhập trên một cổ phần, làm cho giá cổ phiếu bị giảm Chính vì vậy, các doanh nghiệp sau khi phát hành
cổ phiếu buộc phải nỗ lực kinh doanh hiệu quả, tỉ suất sinh lời cao để thu hút nhiều vốn đầu tư qua kênh cổ phiếu hơn Vô hình chung, sức ép này đã tạo nên trở ngại khiến các doanh nghiệp e ngại với việc huy động vốn trên thị trường chứng khoán
b Về phía nhà đầu tư
nhiều, triệt tiêu lợi ích kiếm được, vì vậy cổ phiếu hay chứng khoán không phải là lựa chọn đầu tư tối ưu đối với họ
thông tin chậm, thông tin không đầy đủ và rõ ràng, thông tin không trung thực nhằm trục lợi á nhân, khiến các nhà đầu tư cảm thấy không an toàn trong giao dịch
+ Lựa chọn nghịch:
mua 1 lúc nhiều cổ phiếu để nâng giá lên sau đó bán đi để kiếm lời Ngoài ra, các kỹ xảo khác của doanh nghiệp để tạo hình ảnh tài chính tốt cho doanh nghiệp
Trang 43 8 đặc điểm cơ bản của cấu trúc tài chính – Nhóm 4 – K14402C
như: đảo nợ, bán tài sản, làm giả số sách, công bố thông tin không trung thực, Dẫn đến việc lựa chọn nghịch của người đầu tư cổ phiếu và thiệt hại vốn của các
cổ đông do không nắm được tình hình hoạt động thực của doanh nghiệp
Những thông tin mà các nhà đầu tư cá nhân có được từ những lời tư vấn hay thông tin trên báo chí có thể là những thông tin dẫn dắt đầu tư theo ý muốn của 1
số tổ chức
+ Rủi ro đạo đức:
đứng trên lợi ích của cổ đông
hoạt động thua lỗ thì các cổ đông - những chủ sở hữu doanh nghiệp phải chấp nhận mất tiền chứ không được yêu cầu doanh nghiệp giải thể để chi trả vốn đầu
tư như các trái chủ
lợi nhuận sau thuế để mua cổ phiếu quỹ, việc làm đó khiến cổ tức giảm
Nhược điểm khi huy động vốn bằng phát hành cổ phiếu là: phải xét đến nguy cơ bị thôn tính Do đó phải kiểm soát đến tỷ lệ cổ phần tối thiểu cần duy trì để giữ vững quyền kiểm soát của công ty Khi phát hành cổ phiếu này cần lưu ý đến giới hạn phát hành, mệnh giá
và thị giá, quyền hạn của cổ đông …
Do vậy, các doanh nghiệp vẫn huy động vốn qua các kênh ngân hàng, trái phiếu,… thay vì coi cổ phiếu là nguồn tài trợ quan trọng chủ yếu
B Ví dụ
Nếu bạn điều hành một doanh nghiệp nhỏ và cần tài trợ khoảng $40,000, bạn có thể hoặc đi vay ở ngân hàng số tiền $40,000 với lãi suất 10% hoặc bạn có thể bán 25% cổ phần doanh nghiệp cho người hàng xóm với giá $40,000
Giả sử trong năm sau đó, doanh nghiệp của bạn có thể tạo ra được lợi nhuận hoạt động là
$20,000 Nếu ban đầu bạn quyết định đi vay ở ngân hàng với chi phí lãi vay (hay còn gọi là chi phí tài trợ của nợ) sẽ là $4,000, bạn còn lại lợi nhuận $16,000 Ngược lại, nếu bạn đã sử dụng tài trợ vốn cổ phần, nghĩa là bạn không hề có nợ và dĩ nhiên là không có chi phí lãi vay nhưng bạn chỉ được nắm giữ 75% lợi nhuận của doanh nghiệp thôi (25% khác thuộc sở hữu của người hàng xóm nhà bạn) Do đó, lợi nhuận của bạn bây giờ chỉ có $15,000 (tức 75%*$20,000)
Trang 54 8 đặc điểm cơ bản của cấu trúc tài chính – Nhóm 4 – K14402C
2 VIỆC PHÁT HÀNH CHỨNG KHOÁN NỢ VÀ CHỨNG KHOÁN VỐN KHÔNG PHẢI LÀ KÊNH CHỦ YẾU ĐỂ TÀI TRỢ CHO HOẠT ĐỘNG DOANH NGHIỆP
A Lý thuyết và thực tế
a Vấn đề “quả chanh” đã hạn chế tính hiệu quả của thị trường trái phiếu và cổ phiếu
trong vai trò tạo luồng luân chuyển vốn từ người cho vay đến người đi vay
Người đi vay phải đối mặt với “Lựa chọn nghịch” - vấn đề chênh lệch thông tin diễn
ra trước khi giao dịch diễn ra Nhà đầu tư muốn mua chứng khoán từ công ty nhưng không thể chắc chắn về hoạt động của công ty có hiểu quả hay không cũng như suất sinh lời trên đồng vốn của chứng khoán Và nhà đầu tư có xu hướng trả giá trung bình Nếu người quản lí công ty biết rõ tình hình tài chính của công ty thì với giá thấp hơn thực tế họ sẽ ko bán chứng khoán của mình ngược lại nhà đầu tư cũng không muốn mua chứng khoán của công ty hoạt động không hiệu quả vì thế nhà đầu tư quyết định ko mua chứng khoán nữa
b Vấn đề về quyền lợi bị ảnh hưởng cùng chi phí phát hành cao đã tạo sự e ngại cho
doanh nghiệp:
quyền kiểm soát công ty của các cổ đông sáng lập do hoạt động thôn tính công ty Bên cạnh đó, cơ cấu về quyền sở hữu của công ty luôn luôn bị biến động do chịu ảnh hưởng của các giao dich cổ phiếu hằng ngày
- Việc công bố thông tin về doanh thu, lợi nhuận, vị trí cạnh tranh, phương thức hoạt động, các hợp đồng nguyên liệu, gây nguy cơ rò rỉ thông tin mật ra ngoài có thể đưa công ty vào vị thế cạnh tranh bất lợi
phát hành, phí tư vấn pháp luật, phí in ấn, phí kiểm toán, chi phí niêm yết,…) và phải tuân thủ một chế độ công bố thông tin rộng rãi, nghiêm ngặt và chịu sự giám sát chặt chẽ hơn so với các công ty khác
Vì các nhược điểm trên nên việc phát hành chứng khoán để tài trợ cho hoạt động của doanh nghiệp chỉ có ở các doanh nghiệp lớn nên tín dụng ngân hàng vẫn là kênh truyền vốn chủ yếu cho các doanh nghiệp Việc thông qua trung gian tài chính đơn giản và chi phí thấp hơn phù hợp với hầu hết các doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trang 65 8 đặc điểm cơ bản của cấu trúc tài chính – Nhóm 4 – K14402C
B Ví dụ
Công ty A là một doanh nghiệp lớn, ổn định, cần một số vốn lớn để mở rộng hoạt động của công ty Nếu công ty A phát hành chứng khoán thì có thể bị người ngoài thâu tóm với mục đích thôn tính công ty, lúc này việc điều hành công ty sẽ có sự phân tán Hơn nữa, khi phát hành chứng khoán chi phí lớn nên số tiền cần huy động sẽ bị giảm đi đáng kể Một công ty
để phát hành chứng khoán cần có tên tuổi và thông tin rõ ràng, tài chính, kế toán công khai
Vì vậy huy động nguồn tài trợ qua trung gian tài chính sẽ đơn giản hơn đối với công ty A,
ít rủi ro và chi phí giao dịch thấp hơn
3 TÀI CHÍNH GIÁN TIẾP ĐÓNG VAI TRÒ QUAN TRỌNG HƠN TÀI CHÍNH TRỰC TIẾP
A Lý thuyết và thực tế
a Theo góc độ lý thuyết:
Vấn đề “quả chanh” và “người trốn vé” – nảy sinh khi có những người không hề chi trả cho thông tin lại có được các ưu thế của thông tin do người khác chi trả đã làm tài chính trực tiếp hoạt động không hiệu quả thì tài chính gián tiếp đống vai trò quan trọng góp phần giảm vấn đề “quả chanh” đảm bảo thị thường tài chính hoạt động hiểu quả hơn
b Theo góc độ thực tế:
để giao dịch Họ thường thông qua các trung gian tài chính để giao dịch diễn ra thuận lợi và nhanh chóng hơn Các trung gian tài chính có chức năng huy động vốn từ nhiều nguồn, có thể đáp ứng được nhu cầu đi vay đa dạng của doanh nghiệp
cho vay, đồng thời chi phí thực hiện giao dịch đối với họ là lớn
gian,…) Trong khi đó, các TGTC cung cấp phương tiện để quản lý rủi ro, kiểm soát chặt chẽ nguồn vốn cho vay nhờ các hợp đồng vay nợ có thế chấp, các điều khoản cho vay
xác hơn, người cho vay dễ kiểm soát được nguồn vốn của mình Vì: các trung gian tài chính có những nghiệp vụ để nắm bắt thông tin về hoạt động và tình hình tài chính thực của doanh nghiệp nhờ tình chuyên nghiệp, thông tin rộng hay có thành viên của tổ chức trực thuộc doanh nghiệp, từ đó giảm rủi ro trong việc thông tin bất cân xứng giữa doanh ngiệp và ngưởi cho vay
Trang 76 8 đặc điểm cơ bản của cấu trúc tài chính – Nhóm 4 – K14402C
Tài chính gián tiếp giải quyết hiệu quả các nhược điểm của tài chính trực tiếp trên, do
đó tài chính gián tiếp (thông qua trung gian tài chính) đóng một vai trò quan trọng và cần thiết trên thị trường tài chính Ở đó, việc giao dịch trở nên đơn giản hơn và chi phí thấp hơn phù hợp với hầu hết các doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ
B Ví dụ
Tập đoàn Đức Long Gia Lai thời gian gần đây liên tục mở rộng quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh, nhưng cùng với đó, nợ phải trả trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp tính đến 31/12/2014 đang ở con số 2.444 tỷ đồng, tăng thêm gần 1.000 tỷ đồng so với năm
2013
Trong đó chủ yếu là khoản nợ vay ngân hàng dài hạn của công ty với 1.795 tỷ đồng, chủ nợ lớn nhất là BIDV chi nhánh Gia Lai (1.003 tỷ đồng)
4 CÁC TRUNG GIAN TÀI CHÍNH ĐẶC BIỆT LÀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI,
LÀ NGUỒN TÀI TRỢ VỐN QUAN TRỌNG NHẤT CHO CÁC DOANH NGHIỆP
A Lý thuyết và thực tế
Căn cứ theo nguồn hình thành vốn ta chia được thành 2 loại là vốn chủ sỡ hữu (CSH)
và vốn vay, ở đây ta xét việc vốn từ ngân hàng thương mại nên chỉ xét trên vốn vay không xét vốn CSH
Trong tài chính chúng ta có công thức của suất sinh lời
Trang 87 8 đặc điểm cơ bản của cấu trúc tài chính – Nhóm 4 – K14402C
𝐕ố𝐧 𝐂𝐒𝐇
Nhận xét:
động hơn hầu hết), tuy nhiên điều này lại làm gia tăng Vốn CSH mà công thức trên lại chỉ rõ Vốn CSH nghịch biến với suất sinh lời vì vậy ta chọn cách huy động vốn qua ngân hàng thương mại (một trong những cách huy động vốn vay) để đạt được suất sinh lời mong muốn cũng như tránh tình trạng Vốn CSH tăng bất hợp lý
tín phiếu công ty (là giấy chứng nhận nợ ngắn hạn do DN phát hành để huy động vốn ngắn hạn bù đắp cho thiếu hụt vốn tạm thời) thì phải tính toán cụ thể các khoản chi phí trong từng trường hợp để quyết định Chi phí vay ngân hàng bao gồm lãi và chi phí giao dịch, còn phát hành tín phiếu là vay trên thị trường tiền tệ sẽ bao gồm lãi phải trả và chi phí phát hành
sẽ rẻ hơn vay trên thị trường tiền tệ vì uy tín DN thấp thì ứng với rủi ro cao, cũng có nghĩa
là DN phải trả lãi cao hơn lãi ngân hàng thì mới có khả năng huy động được vốn
Bên cạnh đó:
đa dạng các khoản vay phù hợp với từng loại khách hàng
hành cổ phiếu, trái phiếu
Trung gian tài chính như ngân hàng đã trở thành chuyên gia trong sản xuất thông tin
về các công ty, do đó họ có thể chọn ra những công ty có rủi ro tín dụng tốt khỏi các công ty có rủi ro tín dụng xấu Từ đó, họ có thể huy động vốn từ những người cho vay rồi sau đó cho các công ty có rủi ro tín dụng tốt vay Bởi vì ngân hàng có khả năng cho vay cho phần lớn các công ty tốt, ngân hàng có thể thu nhập từ chênh lệch lãi suất của các khoản vay cao hơn các khoản họ vay Một thuận lợi của ngân hàng thương mại đó chính là giải quyết được vấn đề “người trốn vé” bằng thực hiện các khoản vay cá nhân chứ không mua chứng khoản trao đối trên thị trường chứng khoán mở Nên các nhà đầu
tư không biết các nhà đầu tư khác làm gì từ đó loại bỏ được vấn đề “người trốn vé”
Trang 98 8 đặc điểm cơ bản của cấu trúc tài chính – Nhóm 4 – K14402C
B Ví dụ
Theo số liệu từ Ủy ban Chứng khoán nhà nước (SSC), năm 2014, tổng giá trị huy động vốn ước đạt 237.000 tỉ đồng, tăng 6% so với cùng kỳ năm 2013 Trong đó, phát hành cổ phiếu
và cổ phần hóa là 23.000 tỉ đồng và gần 214.000 tỉ đồng từ trái phiếu Số liệu thống kê không nói rõ số vốn từ trái phiếu bao nhiêu là trái phiếu chính phủ, bao nhiêu là trái phiếu doanh nghiệp (DN) Tuy nhiên, theo trưởng phòng phân tích chuyên về trái phiếu của một công ty chứng khoán, con số trên thuộc về trái phiếu chính phủ, do tổng kết năm 2014 chỉ riêng trái phiếu kho bạc và tín phiếu kho bạc đã phát hành 241.000 tỉ đồng
5 HỆ THỐNG TÀI CHÍNH LÀ MỘT LĨNH VỰC ĐƯỢC ĐIỀU TIẾT NHIỀU NHẤT TRONG NỀN KINH TẾ
A Lý thuyết và thực tế
a Cấu trúc của hệ thống tài chính
gồm: Tài chính doanh nghiệp, Ngân sách Nhà nước, thị trường tài chính và các tổ chức tài chính trung gian, tài chính dân cư và các tổ chức xã hội, tài chính đối ngoại
nơi thu hút trở lại nguồn vốn, tuy nhiên ở các mức độ và phạm vi khác nhau Trong hoạt động kinh tế, các tụ điểm vốn này có mối liên hệ thường xuyên với nhau thông qua những mối quan hệ nhất định
b Hệ thống tài chính có vai trò giúp vốn lưu thông từ nơi có vốn nhàn rỗi đến nơi cần
sử dụng vốn Việc điều tiết hệ thống tài chính giúp:
Hệ thống tài chính ngày càng phát triển với nhiều loại hình đa dạng và phức tạp Việc am hiểu tất cả các công cụ tài chính là điều rất khó Vì vậy thường xuyên dẫn đến việc nhà đầu tư chịu rủi ro về thông tin bất cân xứng hay rủi ro đạo đức, làm cho các nhà đầu tư ngần ngại không muốn tiếp cận hay tham gia vào thị trường tài chính nữa Các chính sách điều hành của chính phủ có thể giảm thiểu vấn đề lựa chọn nghịch và rủi ro về đạo đức trong thị trường tài chính và nâng cao hiệu quả hoạt động của thị trường bằng cách tăng cường cung cấp thông tin cho các nhà đầu tư
trục lợi cá nhân, gây hại cho các chủ thể kinh tế khác và làm mất tính trong sạch của
hệ thống tài chính
tài chính Các nhà cung cấp vốn cho các trung gian tài chính này nếu nghi ngờ về
Trang 109 8 đặc điểm cơ bản của cấu trúc tài chính – Nhóm 4 – K14402C
tình hình hoạt động của các tổ chức này sẽ có nguy cơ rút lại vốn gây ra hoảng loạn tài chính làm thiệt hại đến toàn bộ nền kinh tế
tăng cường tình trong sạch để đảm bảo hoạt động huy động và sử dụng vốn
- Cải thiện và kiểm soát chính sách tiền tệ
Các ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc xác định lượng cung tiền trong nền kinh tế Để đảm bảo khả năng thanh toán của các ngân hàng, tạo sự yên tâm tin tưởng cho người gửi tiền và thực hiện kiểm soát lượng cung tiền, Ngân hàng Trung Ương luôn tích cực giám sát và điều tiết các chính sách tiền tệ mà một phần quan trọng là yêu cầu dự trữ bắt buộc
Từ những đặc thù của cấu trúc, cũng như sự phát triền từng ngày của các thành phần trong nền kinh tế mà hệ thống tài chính đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển đó, muốn các thành phần phát triền đúng và thuận lợi thì chúng ta phải thay đổi, điều tiết hệ thống tài chính cho phù hợp Mà sự phát triển là vận động liên tục chính vì vậy mà hệ thống tài chính là một lĩnh vực được điều tiết nhiều nhất trong nền kinh tế
B Ví dụ
Trước bối cảnh lạm phát năm 2011 ở mức cao 18,13%, NHNN đã đặt mục tiêu kiểm soát lạm phát theo định hướng của Chính phủ là khoảng 7-8% năm 2012 và khoảng 7% trong năm 2013 Theo đó, các giải pháp điều hành trong ngắn hạn đều nhất quán và không ảnh hưởng đến mục tiêu xuyên suốt này Nhờ đó, lạm phát đã dần được kiểm soát ở mức thấp hơn so với giai đoạn trước Với mức lạm phát thực tế là 6,81% của năm 2012 và 6,04% trong năm 2013
Trong năm 2013, trước tình hình lạm phát hạ nhiệt và duy trì ổn định, NHNN đã thực thi chính sách tiền tệ nới lỏng có kiểm soát bằng việc tiếp tục giảm thêm 2% các mức lãi suất điều hành chủ chốt, đưa mặt bằng lãi suất về xấp xỉ mức lạm phát được kỳ vọng trong năm (7%) Kỳ vọng lạm phát giảm nhanh và thanh khoản giữ ổn định đã giúp cho mặt bằng lãi suất cho vay trong nền kinh tế 2013 đã tiếp tục được giảm xuống So với thời điểm cuối năm 2012, lãi suất cho vay giảm từ 2,5% - 3,5% đối với kỳ hạn ngắn, từ 4% - 4,5% đối với trung và dài hạn So với mức 8,91% của năm 2012, tín dụng năm 2013 đã có cải thiện với mức tăng trưởng đạt 12,5% (vượt mục tiêu 12%), dòng tiền trong nền kinh tế đã lưu thông tốt hơn