1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu Báo cáo " Những đặc điểm cơ bản của trường phái lý luận chính trong khoa học luật hình sự trên thế giới" pdf

9 1,2K 10
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những Đặc Điểm Cơ Bản Của Trường Phái Lý Luận Chính Trong Khoa Học Luật Hình Sự Trên Thế Giới
Tác giả TS. Lê Cảm
Trường học Khoa Luật Trường Đại Học KHXH & NV Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Thể loại bài báo
Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 128,14 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những đặc điểm cơ bản của các trường phái lí luận chính trong khoa học luật hình sự trên thế giới rong giai đoạn hiện nay, khi nghiên cứu những vấn đề của khoa học luật hình sự, chúng t

Trang 1

Những đặc điểm cơ bản của các trường phái lí luận chính trong khoa học luật hình sự trên thế giới

rong giai đoạn hiện nay, khi nghiên

cứu những vấn đề của khoa học luật

hình sự, chúng ta cần phải lưu ý rằng,

mặc dù việc soi sáng những đặc điểm cơ

bản của các trường phái lí luận chính

trong khoa học luật hình sự trên thế giới

là vấn đề rất cần thiết nhằm làm phong

phú và sâu sắc hơn kiến thức cũng như sự

hiểu biết của các nhà luật học nước ta về

các trường phái đó (từ sự xuất hiện, người

đại diện cho luận điểm cơ bản của từng

trường phái tương ứng được nghiên cứu)

nhưng trong sách báo pháp lí Việt Nam

vẫn chưa hề có công trình nghiên cứu nào

trong lĩnh vực luật hình sự đề cập vấn đề

đB nêu Đó chính là ý nghĩa khoa học -

nhận thức quan trọng luận chứng cho tính

cấp thiết của đề tài được nghiên cứu trong

bài báo này của chúng tôi

1 Các trường phái lí luận chính

trong khoa học luật hình sự trên thế

giới

1.1 Mặc dù là ngành luật cổ điển nhất

vì đB xuất hiện ngay từ thời Cổ đại và

sớm hơn tất cả các ngành luật trong hệ

thống pháp luật đang tồn tại trên thế giới

nhưng trong thời đại xa xưa ấy của xB hội

loài người, luật hình sự chưa hề phát triển

với tính chất là ngành khoa học như ngày

nay Vì các công trình nghiên cứu lí luận

đầu tiên trong lĩnh vực luật hình sự chỉ

được nhân loại biết đến cùng sự ra đời

của khoa luật tại các trường đại học tổng

hợp của La MB (Italia ngày nay) Ngay từ

thời Trung cổ, các công trình khoa học

luật hình sự nổi tiếng nhất thế giới đB

được soạn thảo tại chính đất nước này (thế kỉ XIII - XVI) Hơn nữa, Italia là nhà nước duy nhất trên thế giới mà ở đó, ngay

từ thế kỉ XIX, chỉ trong năm 1865, đB có

đến 4 bộ luật được thông qua: Bộ luật dân

sự, Bộ luật thương mại, Bộ luật tố tụng dân sự và Bộ luật tố tụng hình sự(1) Có lẽ chính vì ở đất nước có hệ thống pháp luật phát triển mạnh mẽ và toàn diện như vậy nên những tác phẩm của các nhà khoa học luật hình sự Italia đB ảnh hưởng đáng

kể không chỉ đến sự xuất hiện của khoa học luật hình sự nói riêng mà còn đến sự hình thành và phát triển của pháp luật châu Âu nói chung

1.2 Cùng với thời gian, trong các trường phái khoa học luật hình sự tại các nước châu Âu đB dần dần xuất hiện các công trình nghiên cứu riêng: Hà Lan (thế

kỉ XVI), Đức (thế kỉ XVII), Pháp (thế kỉ XVIII), Nga (thế kỉ XIX) Về cơ bản, trong giai đoạn thế kỉ XVIII - XIX, những tư tưởng và quan điểm khác nhau

được trình bày trong các công trình nghiên cứu về luật hình sự đB góp phần hình thành nên các trường phái lí luận riêng biệt trong khoa học luật hình sự 1.3 Như vậy, chúng ta có thể đưa ra

định nghĩa của khái niệm "trường phái lí luận trong khoa học luật hình sự" là hệ thống những tư tưởng và những quan

TTTT

* Khoa luật Trường đại học KHXH & NV Đại học quốc gia Hà Nội

Trang 2

điểm về tội phạm, về nguyên nhân của

tình trạng phạm tội, về hình phạt cũng

như về các chế định pháp lí hình sự khác

được hình thành và phát triển một cách

đồng bộ và chặt chẽ như là xu hướng học

thuật của những luận điểm luật hình sự

riêng biệt, rõ rệt và được thừa nhận chung

ở mức độ nhất định

Hiện nay, khi bàn về số lượng các

trường phái lí luận luật hình sự chính trên

thế giới, giữa các nhà khoa học luật hình

sự còn tồn tại 2 ý kiến khác nhau Một là,

chỉ có 3 trường phái chính: Cổ điển, xB

hội học và nhân chủng học Hai là, ngoài

3 trường phái chính đB nêu còn có trường

phái chính nữa là khai sáng - nhân đạo

Nghiên cứu bản chất của các trường phái

lí luận luật hình sự này, chúng tôi

nghiêng về ý kiến thứ hai (có bốn trường

phái chính) mà dưới đây chúng ta sẽ lần

lượt xem xét

2 Trường phái khai sáng - nhân

đạo trong khoa học luật hình sự

2.1 Việc nghiên cứu những luận điểm

khoa học về luật hình sự của trường phái

khai sáng - nhân đạo cho phép nêu lên

những đặc điểm cơ bản như sau:

+ Xuất hiện vào thế kỉ XVIII (sớm

hơn cả so với 3 trường phái còn lại),

trường phái khai sáng - nhân đạo với

những tư tưởng tiến bộ về luật hình sự đB

được nhân loại biết đến bằng một loạt các

công trình khoa học pháp lí nổi tiếng của

những người đại diện xuất sắc nhất trong

trào lưu khai sáng ở châu Âu giai đoạn

này mà tiêu biểu là: a) ở Pháp: Những lá

thư vịnh Perxíc (1721) và Tinh thần pháp

luật (1784) của S Montesquieu(2); Đề

cương lập pháp hình sự (1773) của G.P

Marát(3); Những bình luận cho cuốn sách

về tội phạm và hình phạt (1766) và Phần

thưởng vì sự công minh và nhân đạo

(1777) của Volte(4) b) ở Italia: Về tội phạm và hình phạt (1764) của Tr Beccaria(5)

+ Là bộ phận cấu thành rất quan trọng trong cương lĩnh tư tưởng của Cách mạng tư sản Pháp vĩ đại, với Tuyên ngôn về các quyền của con người và của công dân (1789) có ý nghĩa thời đại và lịch sử toàn thế giới, nội dung chủ yếu của những luận điểm của trường phái khai sáng - nhân đạo chính là những quan điểm tiến

bộ về luật hình sự đB được trình bày trong các công trình khoa học pháp lí nổi tiếng

đB nêu của 4 nhà khai sáng lỗi lạc trên

đây Trường phái khai sáng - nhân đạo phê phán bản chất đàn áp dB man của luật hình sự phong kiến nói riêng cũng như toàn bộ nền "tư pháp" hình sự tàn bạo và bất công của nhà nước phong kiến chuyên chế, độc tài và vô pháp luật nói chung; luận chứng cho những nền tảng tư tưởng của một loạt các nguyên tắc luật hình sự quan trọng như nhân đạo, pháp chế, công minh, không tránh khỏi trách nhiệm cũng như việc đảm bảo kĩ thuật lập pháp, sự bình đẳng, chân lí khách quan, các quyền

và tự do của con người trong luật hình sự

+ Những quan điểm cơ bản về luật hình sự của S Montesquieu (1689 - 1755) là:

- Luật hình sự cần được xây dựng theo nguyên tắc hành vi như là nguyên tắc quan trọng nhất, có nghĩa chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự một người vì đB thực hiện hành vi bên ngoài mà không được truy cứu vì những lời nói hay những ý nghĩ, khi người đó chưa thực hiện hành vi

cụ thể nào;

- Phải hạn chế giới hạn của hành vi bị

xử phạt về mặt hình sự (nhất là trong lĩnh vực tự do tín ngưỡng);

- Hình phạt được tòa án quyết định

Trang 3

đối với người phạm tội phải tương xứng

với tội phạm mà người đó thực hiện và do

đó, luật hình sự cần quy định chính xác

tội phạm để thẩm phán không thể né

tránh được lời văn của điều luật

+ Những quan điểm cơ bản về luật

hình sự của Volte (1694 - 1778) là:

- Hoàn thiện pháp luật hình sự phải

gắn liền với việc ngăn ngừa tình trạng

phạm tội;

- Pháp luật hình sự không nên quy

định hình phạt tử hình, phải đảm bảo sự

tương xứng giữa tội phạm và hình phạt,

giữa tính nghiêm trọng của tội phạm và

tính nghiêm khắc của hình phạt;

- Việc truy bức của nhà thờ đạo tin

lành đối với những người khác quan điểm

về tín ngưỡng tôn giáo chính là sự truy

bức dB man nhất và nó trái với lí trí của

nhân loại, vì nếu tòa án pháp đình của

Thiên chúa giáo đB kết án tử hình hàng

trăm nghìn "phù thủy" do họ tưởng tượng

ra cũng như vô số những người bị coi là

"tà đạo" bị giết hại bằng các vụ tàn sát

của các tòa án này thì sẽ đến lúc trên thế

giới chỉ còn có những tên đao phủ và

những nạn nhân ở xung quanh các vị

quan tòa và khán giả

+ Những quan điểm cơ bản của G.P

Marát (1743 - 1793) là:

- Đạo luật hình sự phải được công bố

công khai cho mọi người biết, phải công

minh, sáng suốt và dễ hiểu, không sợ sự

chính xác nào hay sự đơn giản nào là thừa,

các đạo luật ấy không nên tạo ra ấn tượng

tùy tiện, khó hiểu và không xác định về tội

phạm và hình phạt, vấn đề quan trọng là

làm sao cho mỗi người có thể hoàn toàn

hiểu được chúng và biết rằng anh ta sẽ bị gì

nếu như vi phạm chúng;

- Đạo luật hình sự chỉ nên cấm những

điều gì có hại cho xB hội, vì bất kì sự

thích thú nào của nhà làm luật về số

lượng các điều cấm về hình sự hay sự cấm đoán hành vi nào mà không hại cho những người xung quanh thì đều có thể dẫn đến sự phủ nhận của chính đạo luật ấy;

- Căn cứ vào nội dung của từng đạo luật không nhất thiết phải chấp hành một cách tuyệt đối mà trái lại có thể được vi phạm các đạo luật không công minh, nhất

là các đạo luật của chế độ độc tài cần phải bị lật đổ; nếu vì sự vi phạm như thế

mà chính quyền nào trừng phạt thì đó là chính quyền bạo ngược, thẩm phán kết án

tử hình là kẻ giết người đê tiện

+ Những quan điểm cơ bản về luật hình sự của Tr Beccaria (1783 - 1794) là:

- Cần phân công rõ ràng chức năng của hai quyền lập pháp và tư pháp, tức là việc quy định trong luật hành vi nào là tội phạm và hình phạt đối với hành vi đó ra sao, phải và chỉ là thẩm quyền của nhà làm luật còn việc phán xét xem một người có phạm tội hay không và nếu phạm tội thì sẽ tương xứng với loại và mức hình phạt cụ thể nào là thẩm quyền của tòa án Tòa án không thể quy định hình phạt và đồng thời cũng không được quyết định hình phạt ngoài phạm vi mà luật đB quy định;

- Luật hình sự chỉ có thể trừng phạt với hành vi chứ không được trừng phạt với ý định hoặc những lời phát ngôn của mọi người vì thước đo duy nhất và thực sự của tội phạm chính là thiệt hại xảy ra đối với lợi ích của xB hội;

- Cần phải xây dựng thang chung và chính xác của các tội phạm và hình phạt

để đảm bảo sự bình đẳng của hình phạt

đối với tất cả công dân cũng như sự phù hợp giữa tội phạm được thực hiện và hình phạt;

- Thang của tội phạm chính là sự phân loại chúng theo mức độ nghiêm trọng; tác

Trang 4

dụng của hình phạt không phải nằm trong

sự tàn bạo mà là trong sự không thể tránh

khỏi nó một khi đB có lỗi trong việc thực

hiện tội phạm;

- Mục đích của hình phạt không phải

là làm con người khiếp sợ mà là ngăn

ngừa bị cáo phạm tội lại và kìm giữ

những người khác tránh khỏi việc phạm

tội;

- Dưới con mắt của mọi người, hình

phạt tử hình chỉ là biểu hiện của sự tàn

bạo vì chức năng ngăn ngừa của hình phạt

ấy chỉ có tính chất tưởng tượng, nó làm

cho lối sống của con người ta trở nên chai

sạn hơn, tàn nhẫn hơn và suy cho cùng là

thúc đẩy việc thực hiện tội phạm mới

2.2 Những quan điểm tiến bộ về luật

hình sự của trường phái khai sáng - nhân

đạo được xem xét trên đây, nhất là tác

phẩm Về tội phạm và hình phạt của Tr

Beccaria là di sản pháp lí quý báu chung

của toàn thể nhân loại - những nền tảng tư

tưởng đầu tiên của một số nguyên tắc

được thừa nhận chung của luật hình sự

quốc tế hiện đại (như pháp chế - "nullum

crimen, nulla poena sine lege", nhân đạo,

bình đẳng trước luật hình sự) vì cho đến

nay, mặc dù đB qua 200 năm nhưng

chúng vẫn còn giữ nguyên giá trị về khoa

học cũng như tính cấp bách về thực tiễn

và đặc biệt là có ảnh hưởng đáng kể đối

với việc tiếp tục phát triển luật hình sự

trong nhà nước pháp quyền ngày nay Bởi

vậy, nhận xét sau đây của nhà khoa học

luật hình sự nổi tiếng của Liên Xô cũ -

giáo sư, tiến sĩ F.M Resetnhikôv về tác

phẩm trên của Tr Beccaria có thể dùng

làm kết luận chung về toàn bộ trường

phái khai sáng - nhân đạo trong luật hình

sự: "Lịch sử của luật hình sự và tư pháp

và có lẽ là của các khoa học pháp lí khác

không có công trình nào có thể bằng được

tác phẩm này về sức mạnh và chiều dài

của sự tác động đối với những người cùng thời và các thế hệ sau này "(6) Thiết nghĩ, sẽ không có kết luận nào xác đáng

và đảm bảo sức thuyết phục hơn

3 Trường phái cổ điển trong khoa học luật hình sự

3.1 Việc nghiên cứu những luận điểm luật hình sự của trường phái cổ điển cho phép nêu lên những đặc điểm cơ bản sau: + Ra đời ở Đức vào cuối thế kỉ XVIII sau thắng lợi của Cách mạng tư sản Pháp

1789 Từ đầu thế kỉ XIX lan rộng ra cả châu Âu, trường phái cổ điển trong luật hình sự đB phát triển mạnh mẽ (đặc biệt

là từ nửa cuối thế kỉ XIX) cùng với tên tuổi của các nhà lí luận lớn ở một số nước như ở Đức: A Phoiơbắc, F Hêghen, Stiubel, Binhđin, Kliôstin, List ; ở Bỉ: Prins; ở Anh - Blecston; ở Pháp: Môlinher, Garrô, Ortôlan và Rossi; ở Nga: N.X Taganxev, Kalmưkôp, Nheliuđôv, N.Đ Xergâyevxki

+ Trường phái cổ điển được coi là trường phái lí luận đầu tiên hoàn chỉnh nhất trong khoa học luật hình sự mà những đóng góp của nó vào sự phát triển luật hình sự thế giới là rất quan trọng Vì những người đại diện xuất sắc nhất của trường phái cổ điển, đặc biệt là F Hêghen (1770 - 1830)(7) và A Phoiơbắc (1775 - 1833)(8) đB kế thừa, phát triển di sản tinh thần - pháp lí tiến bộ về luật hình sự của trường phái khai sáng - nhân đạo đồng thời nâng nó lên ở tầm cao hơn để xây dựng thành hệ thống lí luận các nguyên tắc, chế định và các đảm bảo hiến định của pháp chế trong lĩnh vực luật hình sự với những tư tưởng và quan điểm riêng có tính chất học thuật mà nội dung chủ yếu như sau:

- Nguyên tắc chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi: Bản chất của con người không phải là trong ý muốn hoặc ý

Trang 5

định mà là trong hoạt động của họ nên

con người chỉ có thể phải chịu trách

nhiệm hình sự về tội phạm mà họ thực

hiện chứ không phải phải về âm mưu

hoặc ý định phạm tội (đây chính là nền

tảng tư tưởng mà sau này C Mác đB phát

triển và xây dựng thành luận điểm nổi

tiếng của nguyên tắc trách nhiệm pháp lí

trên cơ sở hành vi); chỉ nên truy cứu trách

nhiệm hình sự đối với hậu quả của hành

vi mà không nên căn cứ vào lỗi của người

gây ra hậu quả đó

- Nguyên tắc nhân đạo: Tình trạng

không có năng lực trách nhiệm hình sự

của người trong khi thực hiện hành vi

phải là tình tiết loại trừ trách nhiệm hình

sự Đối với người này không được áp

dụng hình phạt mà phải thay thế hình

phạt bằng điều trị y khoa Tình thế cấp

thiết (ví dụ: Người đang sắp chết vì đói

mà lấy thực phẩm của người khác để tự

cứu sống mình) là tình tiết loại trừ trách

nhiệm hình sự

- Nguyên tắc pháp chế (nulla poena

sine lege - không có hình phạt nếu không

có luật quy định; nulla poena sine crimen

- không có hình phạt nếu không có tội

phạm và nulla crimen sine poena legali -

không có tội phạm, không có hình phạt

quy định trong luật): Cần xây dựng chế

tài xác định trong luật hình sự để hạn chế

sự tùy tiện của tòa án; việc trấn áp về mặt

hình sự cần phù hợp một cách chặt chẽ

với các đòi hỏi pháp luật còn pháp luật

phải xác định dứt khoát và rõ ràng giới

hạn các hành vi bị coi là tội phạm cũng

như hình phạt có thể được áp dụng đối

với việc thực hiện tội phạm

- Nguyên tắc cá thể hóa và phân hóa

trách nhiệm hình sự: Cần phân biệt ý định

độc ác (cố ý) với sự không thận trọng (vô

ý) như là 2 hình thức lỗi chủ yếu; phải

giải quyết vấn đề trách nhiệm hình sự

trên cơ sở các tiêu chí khách quan bên ngoài (ví dụ: Mức độ trách nhiệm đối với phạm tội chưa đạt phải ít nghiêm khắc hơn đối với tội phạm hoàn thành, khi quyết định hình phạt đối với hành vi của người xúi giục và giúp sức phải tính đến vai trò của họ trong việc thực hiện tội phạm)

- Nguyên tắc công minh: Tính chất nghiêm trọng của hình phạt cần phải được xác định bằng tính chất nghiêm trọng của hành vi (về khách quan) chứ không phải bằng ý định phạm tội của người có lỗi (về chủ quan)

Theo những đại diện của trường phái

cổ điển thì trong thượng tầng kiến trúc của xB hội bao giờ pháp luật cũng là tối thượng, đứng trên nhà nước và do vậy, để loại trừ sự tùy tiện từ phía nhà nước thì không chỉ có công dân mà cơ quan nhà nước và quan chức của bộ máy nhà nước

đều phải tuyệt đối tuân thủ pháp luật

Dự thảo Bộ luật hình sự Bavarxki năm

1813 (người soạn thảo là A Phoiơbắc) đB trở thành mẫu cho Bộ luật hình sự Phổ năm 1861 và sau đó là Bộ luật hình sự

Đức năm 1871 (Bộ luật hình sự Đức hiện hành), Bộ luật hình sự Tây Ban Nha (biên soạn vào các năm 1848 và 1880), Bộ luật hình sự Italia năm 1889 cũng như Bộ luật hình sự Pháp năm 1810 chính là các mô hình pháp lí được xây dựng trên cơ sở lí luận luật hình sự của trường phái khai sáng - nhân đạo

Từ thế kỉ XIX, những quan điểm của các nhà hình sự học ở Nga, nhất là giáo sư của hai trường Đại học tổng hợp Maxcơva và Xanh Pêtécbua, đB chịu ảnh hưởng lớn của trường phái cổ điển Chính

điều này lí giải phần nào cho sự xuất hiện của khoa học luật hình sự Nga mà lịch sử của nó được bắt đầu bằng việc dịch sách báo pháp lí châu Âu (chủ yếu là của Đức

Trang 6

và Pháp) trong giai đoạn cầm quyền của

Nữ hoàng Êkhaterina II

3.2 Về sau này (từ giữa thế kỉ XIX -

đầu thế kỉ XX), ngay trong trường phái cổ

điển đB xuất hiện trường phái (xu hướng)

"cổ điển mới" mà nội dung chủ yếu của

nó là đưa ra những luận điểm mới nhằm

làm giảm nhẹ việc trấn áp về mặt hình sự

như: Phải căn cứ vào đặc điểm nhân thân

người phạm tội (bệnh tâm thần, độ tuổi)

để đảm bảo việc cá thể hóa hình phạt;

thừa nhận một số tình tiết làm giảm nhẹ

lỗi Đại diện nổi tiếng của trường phái

cổ điển mới ở Nga là giáo sư N.X

Taganxev - người soạn thảo một trong

những giáo trình luật hình sự xuất sắc

nhất trong sách báo pháp lí châu Âu

4 Trường phái xã hội học trong

khoa học luật hình sự

4.1 Việc nghiên cứu những luận điểm

luật hình sự của trường phái xB hội học

cho phép nêu lên những đặc điểm cơ bản

như sau:

+ Xuất hiện vào những năm 80 của

thế kỉ XIX, những đại diện của trường

phái xB hội học trong khoa học luật hình

sự bao gồm một số nhà lí luận hình sự

học và xB hội học đầu đàn của các nước

châu Âu như F List(9), Maier và Vagr

(Đức), G Tard, Bognher và A Lakassan

(Pháp), G Vamel (Hà Lan), A Prins (Bỉ),

I.Ia Fôinhitxki (Nga) Sau đó, trường

phái này đB lan rộng sang cả Nhật Bản và

Mĩ từ đầu thế kỉ XX Năm 1881, một

trong các xuất bản phẩm có uy tín hơn cả

trong lĩnh vực luật hình sự và luật so sánh

của châu Âu là Tạp chí khoa học luật

hình sự đại cương do List sáng lập đB ra

số đầu tiên

+ Nội dung quan trọng nhất của

trường phái xB hội học là luận thuyết về

các yếu tố của tình trạng phạm tội mà

những luận điểm cơ bản của thuyết này

coi tình trạng phạm tội là hiện tượng xB hội vĩnh cửu còn tội phạm là kết quả của

sự tác động qua lại của ba nhóm yếu tố: Các yếu tố cá nhân (sinh học) như tuổi tác, giới tính, trình độ văn hóa, hoàn cảnh gia đình, các đặc điểm tâm - sinh lí; các yếu tố xB hội như môi trường sống (thành phố, nông thôn), nghề nghiệp, sắc tộc, tôn giáo, điều kiện về nhà ở, tình trạng nghiện ngập, nghèo khổ, thất nghiệp, mBi dâm; các yếu tố vật lí như khí hậu, thời tiết, các mùa trong năm

+ Xuất phát từ luận thuyết nêu trên, trường phái xB hội học đB đưa ra những luận điểm khác nhau về hệ thống các biện pháp ngăn ngừa tình trạng phạm tội như: Thành lập thị trường lao động, thúc đẩy việc di dân, bảo trợ trẻ em lang thang, chăm sóc người già cả, người bị bệnh tật hay tàn phế, các địa phương phải có trách nhiệm quan tâm đến người nghèo khổ (Prins); tác động đến môi trường thúc đẩy bằng các biện pháp phòng ngừa có tính chất xB hội như đấu tranh với tình trạng nghèo khổ, nghiện ngập, bệnh xB hội (Lakassan); một số nhà xB hội học khác còn đề nghị thay thế hình phạt bằng các biện pháp nhằm ngăn ngừa một số loại tội phạm (tổ chức công việc công cộng trong thời kì đói kém hoặc mùa đông giá lạnh

để hạn chế tội trộm cắp, tổ chức đúng đắn hợp lí việc mBi dâm để chống tội phạm về tình dục )

- Ngoài ra, trường phái xB hội học còn

đưa ra các kiến giải nhân đạo nhằm làm cho việc trấn áp về hình sự đạt được sự mềm dẻo, có hiệu quả và "tiết kiệm hình phạt" như: Thành lập tòa án chuyên xét

xử vụ án của người chưa thành niên; áp dụng một cách rộng rBi chế định án treo

và chế định tha miễn trước thời hạn có

điều kiện; không xử phạt tù ngắn hạn để loại trừ ảnh hưởng có hại của các nhà tù

Trang 7

đối với những người bị kết án Nói chung,

trường phái xB hội học đB có những thành

tựu quan trọng trong việc nghiên cứu lí

luận về căn cứ xB hội của luật hình sự,

mục đích của hình phạt, nhân thân người

phạm tội cũng như các nguyên nhân của

tình trạng phạm tội và soạn thảo các biện

pháp để ngăn ngừa nó

+ Cùng với luận điểm tiến bộ khác

nhau trên đây, các phương pháp thống kê

và xB hội học của trường phái xB hội học

trong việc nghiên cứu ba hiện tượng xB

hội (người phạm tội, tội phạm và tình

trạng phạm tội) chính là công cụ khoa

học hữu hiệu trong tay các nhà khoa học -

luật gia và đáng được đánh giá cao Vì,

nếu không ứng dụng các phương pháp

này thì khoa học luật hình sự sẽ trở thành

vô vị, giáo điều và cũng không thể có

ngành tội phạm học

4.2 Bên cạnh các trào lưu trên đây, từ

giữa thế kỉ XX, ngay trong trường phái xB

hội học đB hình thành trào lưu tư tưởng

mới với 2 luận thuyết chủ yếu sau:

+ Thuyết về tình trạng nguy hiểm của

nhân thân (đại diện là F List và A

Gramachiaka), với nội dung cơ bản là:

Luật hình sự với các khái niệm truyền

thống của nó (tội phạm, hình phạt, lỗi,

chủ thể của tội phạm, tình trạng không có

năng lực trách nhiệm hình sự) là không

cần thiết mà cần thay thể bằng khái niệm

tình trạng nguy hiểm của nhân thân vì

trong xB hội bao giờ cũng có những loại

người bị coi là nguy hiểm đối với xB hội

do nhân thân của họ (lối sống, đặc điểm

tâm lí hay sinh lí) bị ảnh hưởng bởi các

yếu tố khác nhau của tình trạng phạm tội

(mặc dù sự nguy hiểm đối với xB hội của

họ có thể không liên quan gì đến việc

thực hiện tội phạm cụ thể nào cả) Do đó,

để bảo vệ mình, xB hội cần cố gắng phát

hiện ra họ trước khi họ thực hiện sự xâm

hại đến các lợi ích của xB hội và vô hiệu hóa họ bằng cách áp dụng đối với họ các biện pháp an ninh (điều trị và ngăn ngừa)

mà không nhất thiết là họ đB hoặc chưa phạm tội cụ thể nào cả Vì thế, căn cứ và giới hạn của trách nhiệm hình sự cần phải

được xác định bằng chính nhân thân của người đB hoặc sẽ phạm tội chứ không phải bằng tính chất hay sự nghiêm trọng của hành vi phạm tội

Như vậy, sự thật khách quan không thể phủ nhận là việc thay thế hình phạt bằng các biện pháp an ninh đB cự tuyệt nguyên tắc trách nhiệm do lỗi cũng như một loạt các nguyên tắc và chế định truyền thống của luật hình sự và do đó thuyết về tình trạng nguy hiểm của nhân thân đB không nhận được sự ủng hộ của

đa số nhà khoa học và thực tiễn vì tính phản động và phi khoa học của nó

+ Thuyết về tự vệ xB hội mới (do nhà luật học người Pháp Mark Ansel(10) đề xướng) có nội dung cơ bản là: Vẫn cần thiết giữ nguyên luật hình sự với các khái niệm, nguyên tắc và chế định truyền thống của nó Tuy nhiên, cần phải nhân

đạo hóa các hình phạt bằng cách thực hiện việc điều trị và giáo dục người phạm tội Mục đích chính trong việc tác động

đối với người phạm tội là xB hội hóa họ - trả họ về cuộc sống bình thường, tạo ra các điều kiện và khả năng để họ không vi phạm pháp luật hình sự nữa Do đó, cần phải cá thể hóa tối đa các đặc điểm nhân thân của người phạm tội và tăng cường vai trò của thẩm phán trong việc lựa chọn các biện pháp tác động cụ thể

4.3 Tóm lại, do sự đa dạng và phức tạp của những tư tưởng và quan điểm khác nhau về luật hình sự đB được hình thành trong trường phái xB hội học nên trong từng giai đoạn phát triển lịch sử khác nhau, trường phái này đều có các ưu

Trang 8

điểm và nhược điểm nhất định của nó Vì

vậy, khoa học luật hình sự không thể đưa

ra nhận xét thống nhất về toàn bộ trường

phái xB hội học nói chung

5 Trường phái nhân chủng học

trong khoa học luật hình sự

5.1 Việc nghiên cứu những luận điểm

luật hình sự của trường phái nhân chủng

học cho phép nên lên những đặc điểm cơ

bản sau:

+ Xuất hiện ở Italia vào những năm

70 - 80 của thế kỉ XIX, những đại diện

của trường phái nhân chủng học bên cạnh

người sáng lập là bác sĩ, nhà tâm thần học

Treraze Lombrozo (1835 - 1909) có thẩm

phán tòa phúc thẩm R.Garofalô, giáo sư

luật hình sự E.Ferri cũng như Firetti và

Marro (Italia), Deberre và Labon (Pháp),

Bedenhikt và Kuren (Đức) Những tư

tưởng đầu tiên của trường phái nhân

chủng học đB được trình bày trong các

công trình nghiên cứu như Con người tội

phạm trong mối tương quan với nhân

chủng học, luật học và nhà tù học (1876)

của Lomborzo, XF hội học hình sự (1881)

của Ferri (được xuất bản dưới tên gọi

Những triển vọng mới của luật hình sự và

tố tụng) và Tội phạm học (1885) của

Garofalô Lombrozo và đồng nghiệp của

ông đB cho ra đời Tạp chí lưu trữ tâm thần

học hình sự và nhân chủng học hình sự

(từ năm 1880) và họ đB tổ chức các hội

nghị quốc tế về nhân chủng học hình sự ở

châu Âu (trong thời kì từ năm 1885 -

1991)(11)

+ Dựa trên nền tảng triết học của chủ

nghĩa duy vật tầm thường đồng thời căn

cứ vào các quan sát về những phạm nhân

và so sánh các số liệu nhân chủng học

của họ với những người khác (người lính,

sinh viên ), Lombrozo và những người

theo trường phái nhân chủng học đB

khẳng định rằng: Tình trạng phạm tội là

hiện tượng sinh học tồn tại vĩnh cửu và không thay đổi trong xB hội loài người cũng như trong thế giới động vật và thực vật Chính các yếu tố tự nhiên - sinh học (chứ không phải môi trường xB hội) đB có

ảnh hưởng quyết định đối với xử sự có tính chất tội phạm của nhân thân Trong

xB hội có loại người đặc biệt khác với công dân bình thường do bản chất của họ ngay từ lúc mới sinh ra đB là những kẻ phạm tội và không thể cải tạo được Chúng ta có thể dễ dàng nhận biết loại người này bằng các dấu hiệu nhân chủng học đặc trưng mà chỉ riêng ở họ mới có (ví dụ: ở những kẻ sát nhân - dáng người

to cao, răng dài, môi mỏng, mũi diều hâu ; ở kẻ trộm cắp - đôi mắt thường không đứng yên tại chỗ mà hay đảo qua lại và ít có râu quai nón; ở kẻ phạm tội tình dục - môi dày, tóc dài )

- Từ thuyết trên đây về tình trạng phạm tội và con người tội phạm, trường phái nhân chủng học đB đưa ra những luận điểm cơ bản như: Cần cách li vĩnh viễn khỏi xB hội những người "ngay từ lúc sinh ra đB là những kẻ phạm tội" bằng cách đưa đi biệt xứ đến nơi khổ sai hoặc

ra đảo xa xôi không có người ở Để ngăn ngừa tội phạm về tình dục, cần phải tiêm thuốc hạn chế hoặc loại bỏ khả năng phạm tội của những kẻ này cũng như của những người bị coi là tâm thần về tình dục Cần thay thế tòa án với thành phần là các luật gia bằng ủy ban các giám định viên với thành phần là các bác sĩ, nhà tâm thần học và các nhà tâm thần học xác

định xem ở chủ thể nào có đặc điểm nhân chủng học của con người tội phạm thì quyết định việc áp dụng các biện pháp an ninh đối với họ Việc thực hiện tội phạm của chủ thể không phải là căn cứ duy nhất

để truy cứu trách nhiệm hình sự mà chỉ là

lí do để nghiên cứu kĩ về tình trạng nguy hiểm nhân thân xem nguyên nhân có phải

Trang 9

chủ thể là con người tội phạm từ lúc mới

sinh ra không hay do nguyên nhân khác

+ Bằng những luận điểm cơ bản trên,

trường phái nhân chủng học đB phủ nhận

các khái niệm, nguyên tắc và các chế

định truyền thống của luật hình sự (khái

niệm cấu thành tội phạm; sự cần thiết

phải phân hóa tội phạm và dấu hiệu định

khung tăng nặng của chúng mà chỉ cần

phân loại những người phạm tội trong bộ

luật hình sự căn cứ vào tình trạng nguy

hiểm của nhân thân họ; tình trạng không

có năng lực trách nhiệm hình sự như là

tiền đề cần thiết của trách nhiệm hình sự,

nguyên tắc pháp chế (nullum crimen,

nulla poena sine lege), nguyên tắc lỗi,

nguyên tắc công minh, chế định về các

giai đoạn thực hiện tội phạm, chế định

đồng phạm )

+ Ngoài một số ưu điểm nhất định

không thể phủ nhận (như việc chú trọng

nghiên cứu các nguyên nhân của tình

trạng phạm tội của trường phái nhân

chủng học đB dẫn đến sự xuất hiện ngành

khoa học mới, độc lập và có quan hệ mật

thiết với ngành luật hình sự - ngành tội

phạm học, cần phải tính đến các đặc điểm

y - sinh học, phân tích các thuộc tính và

trạng thái về tâm lí của người phạm tội

khi giải quyết vấn đề trách nhiệm hình

sự), nói chung, nội dung chủ yếu trong

những luận điểm cơ bản nêu trên của

trường phái nhân chủng học đB cho chúng

ta thấy rõ bản chất phản động của nó mà

cùng với các thuyết phân biệt chủng tộc

khác đB được các tập đoàn phản động của

Mútxôlini và Hítle sử dụng rộng rBi ở

Itali và Đức để ngụy biện cho các cuộc

tàn sát và đàn áp hàng loạt những người

vô tội chỉ vì các lí do sắc tộc hoặc trái

quan điểm về chính trị trong thời kì cầm

quyền của bọn phát xít những năm 30 -

40 của thế kỉ XX

5.2 Hiện nay, trên nền tảng của

trường phái nhân chủng học, trong khoa học luật hình sự của một số nước đB xuất hiện một số luận thuyết sinh học - tâm lí

về các nguyên nhân của tình trạng phạm tội mà người ta thường gọi là các thuyết

"lombrozo mới" Nội dung chủ yếu của các thuyết này thể hiện rõ bản chất phi khoa học (ví dụ: Các gen của tính chất tội phạm có ở một số loại người nhất định trong xB hội, chúng mang đặc tính di truyền và có thể ảnh hưởng đến nhiều thế

hệ kế tiếp nhau)./

(1).Xem: F.M Resetnhikôp, Hệ thống pháp luật của các nhà nước trên thế giới Sách tra cứu Nxb Sách pháp lí, M.1993, tr.105 (tiếng Nga)

(2).Xem: S Montesquieu, Các tác phẩm chọn lọc Nxb Sách chính trị quốc gia, M.1955 (tiếng Nga) (3).Xem: G.P Marát, Đề cương lập pháp hình sự Nxb Pháp lí quốc gia, M.1951 (tiếng Nga)

(4).Xem: Volte, Các tác phẩm chọn lọc về luật hình sự và

tố tụng Nxb Pháp lí quốc gia, M.1956 (tiếng Nga) (5).Xem: Tr Beccaria, Về tội phạm và hình phạt (dịch từ tiếng Italia và hiệu đính của giáo sư M.M Ixaev) Nxb Pháp lí quốc gia, M.1939 (tiếng Nga) (6).Xem: F.M Restnhikôv, Beccaria - từ lịch sử tư tưởng chính trị và pháp luật Nxb Sách pháp lí, M.1987, tr.5 (tiếng Nga)

(7).Xem: A.A Piônkôvxki, Học thuyết của Hêghen về nhà nước và pháp luật và lí luận luật hình sự Nxb Sách pháp lí quốc gia, M.1963 (tiếng Nga); Nxb PAIMX M.1993 (tiếng Nga)

(8).Xem: A Phoiơbắc, Luật hình sự Xanh Pêtécbua,

1810 (tiếng Nga)

(9).Xem: F List, Tội phạm là một hiện tượng xF hội bệnh lí Xanh Pêtécbua, 1990 (tiếng Nga); Sách giáo khoa luật hình sự Phần chung M.1903 (tiếng Nga); V.V Przevanxki, Giáo sư F List và những quan điểm cơ bản của ông về tội phạm và hình phạt Xanh Pêtécbua, 1905 (tiếng Nga)

(10).Xem: M Ansel, Sự tự vệ xF hội mới (phong trào nhân đạo trong chính sách hình sự) Dịch từ tiếng Pháp Nxb Sách pháp lí, M.1970 (tiếng Nga) (11).Xem: F.M.Resetnhikôv, Luật hình sự của các nước tư sản Quyển thứ II - Trường phái cổ điển và xu hướng nhân chủng học - xF hội học Nxb Trường đại học tổng hợp hữu nghị giữa các dân tộc, M.1966 (tiếng Nga)

Ngày đăng: 21/02/2014, 04:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w