3.1.quan điểm về sử dụng vốn Để đánh giá trình độ quản trị điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp, người ta sử dụng thước đo là hiệu quả sản xuất kinh doanh.. Đánh
Trang 13.1.quan điểm về sử dụng vốn
Để đánh giá trình độ quản trị điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp, người ta sử dụng thước đo là hiệu quả sản xuất kinh doanh Hiệu quả xản xuất kinh doanh được đánh giá trên hai góc
độ : hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội.Trong phạm vi quản trị doanh nghiệp, người ta chủ yếu quan tâm đến hiệu quả kinh tế Đây là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp để đạt được kết quả cao nhất với chi phí hợp lý nhất Do đó các nguồn lực kinh tế đặc biệt là nguồn vốn của doanh nghiệp có tác động rất lớn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Vì thế việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là yêu cầu mang tính thường xuyên và bắt buộc đối với mỗi doanh nghiệp Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn là yêu cầu mang tính thường xuyên và bắt buộc đối với mỗi doanh nghiệp Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn sẽ giúp ta thấy được hiệu quả của hoạt động kinh doanh nói chung và quản trị sử dụng vốn nói riêng Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ khai thác, sử dụng và quản trị vốn làm cho đồng vốn sinh lời tối đa nhằm mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp là tối đa hoá giá trị tài sản của chủ sở hữu
Hiệu quả sử dụng vốn được lượng hoá thông qua hệ thống các chỉ tiêu
về khả năng hoạt động, khả năng sinh lời, tốc độ luân chuyển vốn…
Nó phản ánh quan hệ giữa đầu ra và đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh thông qua thước đo tiền tệ hay cụ thể là mối tương quan
Trang 2dụng vốn càng cao Do đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là điều kiện quan trọng để doanh nghiệp phát triển vững mạnh Nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn của doanh nghiệp phải đảm bảo các điều kiện sau:
- Phải khai thác nguồn vốn một cách triệt để nghĩa là không để vốn nhàn rỗi mà không sử dụng, không sinh lời
- Phải sử dụng vốn một cách hợp lý và tiết kiệm
- Phải quản trị vốn một cách chặt chẽ nghĩa là không để vốn bị sử dụng sai mục đích, không để vốn thất thoát do buông lỏng quản trị
Ngoài ra doanh nghiệp phải thường xuyên phân tích đánh giá hiệu quả
sử dụng vốn để nhanh chóng có biện pháp khắc phục những mặt hạn chế và phát huy những ưu điểm của doanh nghiệp trong quản trị và sử dụng vốn
3.2 các chỉ tiêu cơ bản đánh giá hiệu quả sử dụng vốn
3.2.1.Các chỉ tiêu đánh giá tổnh hợp
Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp một cách chung nhất người ta thường dùng một số chỉ tiêu tổng quát như: hiệu quả sử dụng toàn bộ vốn, doanh lợi vốn, doanh lợi vốn chủ sở hữu Trong đó:
Hiệu quả sử dụng toàn bộ vốn =
Doanh thu Tổng số vốn sử dụng bình quân
Trang 3Chỉ tiêu này còn được gọi là vòng quay của toàn bộ vốn, nó cho biết một đồng vốn đem lại bao nhiêu đồng doanh thu, vì vậy nó càng lớn càng tốt
Doanh lợi vốn =
Chỉ tiêu này còn được gọi là tỷ suất lợi nhuận trên vốn Nó phản ánh khả năng sinh lợi của một đồng vốn đầu tư Nó cho biết một đồng vốn đầu tư đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận
Doanh lợi vốn chủ sở hữu =
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu, trình độ sử dụng vốn của người quản trị doanh nghiệp Chỉ tiêu này càng lớn càng tốt Tuy nhiên chỉ tiêu này có hạn chế là nó phản ánh một cách phiến diện Do mẫu số chỉ đề cập đến vốn chủ sở hữu bình quân trong kỳ,
Lợi nhuận Tổng số vốn sử dụng bình quân trong kỳ
Lợi nhuận Vốn chủ sở hữu bình quân trong kỳ
Trang 4vào chỉ tiêu này nhiều khi đánh giá thiếu chính xác
Ba chỉ tiêu trên cho ta một cái nhìn tổng quát về hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Ngoài ra người ta còn sử dụng một số chỉ tiêu khác như tỷ suất thanh toán ngắn hạn, số vòng quay các khoản phải thu… Tuy nhiên như ta đã biết nguồn vốn của doanh nghiệp được phân làm hai loại là vốn cố định(VCĐ) và vốn lưu động(VLĐ) Do đó, các nhà phân tích không chỉ quan tâm đến việc đo lường hiệu quả sử dụng vốn của tổng nguồn vốn mà còn chú trọng đến hiệu quả sử dụng của từng
bộ phận cấu thành nguốn vốn của doanh nghiệp đó là VCĐ và VLĐ
3.2.2.Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định
Để đánh giá hiệu quả sử dụng VCĐ người ta sử dụng những chỉ tiêu sau:
Hiệu suất sử dụng VCĐ =
Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn cố định tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu thuần trong một năm
Sức sinh lợi của vốn cố định =
Doanh thu thuần
Vốn cố định sử dụng bình quân trong kỳ
Lợi nhuận Vốn cố định sử dụng bình quân trong kỳ
Trang 5Chỉ tiêu này cho biết trung bình một đồng VCĐ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận Chỉ tiêu này càng lớn càng chứng tỏ việc sử dụng VCĐ là có hiệu quả
Ngoài hai chỉ tiêu trên người ta còn sử dụng nhiều chỉ tiêu khác để đánh giá hiệu quả sử dụng VCĐ như : hệ số đổi mới tài sản cố định, hệ
số loại bỏ tài sản cố định…
3.2.3.Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Khi phân tích đánh giá hiệu quả sử dụng VLĐ người ta thường dùng các chỉ tiêu sau:
Hiệu suất sử dụng VLĐ =
Chỉ tiêu này cho biết một đồng VLĐ Sử dụng bình quân trong kỳ tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu thuần
Sức sinh lợi của VLĐ =
Doanh thu thuần
VLĐ sử dụng bình quân trong kỳ
Lợi nhuận VLĐ sử dụng bình quân trong kỳ
Trang 6xuất kinh doanh trong kỳ thì tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận, Chỉ tiêu này càng lớn càng tốt
Đồng thời, để đánh giá hiệu quả sử dụng VLĐ người ta cũng đặc biệt quan tâm đến tốc độ luân chuyển VLĐ, vì trong quá trình sản xuất kinh doanh,VLĐ không ngừng vận động qua các hình thái khác nhau Do đó đẩy nhanh tốc độ luân chuyển VLĐ sẽ góp phần giải quyết về nhu cầu vốn cho doanh nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Để xác định tốc độ luân chuyển VLĐ người ta sử dụng các chỉ tiêu sau:
Số vòng quay của VLĐ =
Chỉ tiêu này còn được gọi là hệ số luân chuyển VLĐ, nó cho biết VLĐ được quay mấy vòng trong kỳ Nếu số vòng quay tăng thì chứng tỏ hiệu quả sử dụng VLĐ tăng và ngược lại
Thời gian của một vòng luân chuyển=
Doanh thu thuần VLĐ sử dụng bình quân trong kỳ
Thời gian của một kỳ phân tích
Số vòng quay của VLĐ trong kỳ
Trang 7Chỉ tiêu này thể hiện số ngày cần thiết cho VLĐ quay được một vòng, thời gian của một vòng luân chuyển càng nhỏ thì tốc độ luân chuyển của VLĐ càng lớn và làm rút ngắn chu kỳ kinh doanh, vốn quay vòng hiệu quả hơn
3.3 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của DNNN trong cơ chế thị trường
Các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh thường đặt ra nhiều mục tiêu và tuỳ thuộc vaò giai đoạn hay điều kiện cụ thể mà có những mục tiêu được ưu tiên thực hiện, nhưng tất cả đều nhằm mục đích cuối cùng là tối đa hoá giá trị tài sản của chủ sở hữu, đạt được mục tiêu đó doanh nghiệp mới có thể tồn tại và phát triển được
Một doanh nghiệp muốn thực hiện tốt mục tiêu của mình thì phải hoạt động kinh doanh có hiệu quả Trong khi đó yếu tố tác động có tính quyết định đến hiệu quả sản xuất kinh doanh chính là hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Do vậy doanh nghiệp cần phải có những biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, đặc biệt trong điều kiện hiện nay
Trước đây trong cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, DNNN coi nguồn vốn cấp phát từ ngân sách nhà nước đồng nghĩa với “cho không”, nên khi sử dụng nhiều doanh nghiệp không cần quan tâm đến hiệu quả, kinh doanh thua lỗ đã có Nhà nước bù đắp Điều đó gây ra tình trạng vô
Trang 8định chỉ đạt 50%- 60% công suất thiết kế, phổ biến chỉ hoạt động 1 ca trên ngày, vì vậy hệ số sinh lời của đồng vốn thấp
Khi nước ta chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, các doanh nghiệp buộc phải chuyển mình theo cơ chế mới, mới có thể tồn tại và phát triển Cạnh tranh giữa các DNNN với các thành phần kinh tế khác trở lên gay gắt Bởi vậy, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn có vị trí quan trọng hàng dầu của doanh nghiệp
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sẽ đảm bảo an toàn tài chính cho doanh nghiệp Goạt động trong cơ chế thị trường đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải luôn đề cao tính an toàn, đặc biệt là an toàn tài chính Đây là vấn
đề có ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Việc sử dụng vốn có hiệu quả giúp doanh nghệp nâng cao khả năng huy động vốn, khả năng thanh toán của doanh nghiệp được bảo đảm…
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao sức cạnh tranh Để đáp ứng yêu cầu cải tiến công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng hoá mẫu mã sản phẩm… doanh nghiệp phải
có vốn, trong khi đó vốn của doanh nghiệp chỉ có hạn, vì vậy nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là cần thiết
Trang 9Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sẽ giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu tăng giá trị tài sản chủ sở hữu và các mục tiêu khác của doanh nghiệp như nâng cao uy tín của doanh nghiệp trên thị trường , nâng cao đời sống của người lao động Vì khi hoạt động kinh doanh có hiệu quả thì doanh nghiệp có thể mở rộng quy mô sản xuất, tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động và mức sống của người lao động cũng ngày càng được cải thiện Đồng thời nó cũng làm tăng các khoản đóng góp cho ngân sách Nhà nước
Như vậy, việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp không những đem lại hiệu quả thiết thực cho doanh nghiệp và người lao động
mà nó còn ảnh hưởng đến sự phát triển của cả nền kinh tế và toàn xã hội Do đó, các doanh nghiệp phải luôn tìm ra các biện pháp phù hợp
để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
HÁI QUÁT THỰC TRẠNG TẠO VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TRONG CÁC DNNN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1.Vai trò của DNNN trong nền kinh tế thị trường
Trong đường lối cải cách và phát triển của nước ta hiện nay, Đảng và Nhà nước đã khẳng định nền kinh tế nước ta là nền kinh tế nhiều thành
Trang 10quốc dân Trong nền kinh tế thị trường Nhà nước có thể điều tiết và thúc đẩy gián tiếp vào nền kinh tế thông qua các chính sách vĩ mô hay tác động trực tiếp thông qua các DNNN đầu tư vào các ngành để sản xuất ra của cải vật chất thoả mãn nhu cầu của xã hội
DNNN là bộ phận quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, đóng góp nguồn lực tài chính cho Nhà nước Hiệu quả hoạt động của DNNNcó ý nghĩa quyết định trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiên đại hoá đất nước, trong quá trình hội nhập thương mại với các nước khu vực, với Châu á và thế giới
DNNN có vai trò chủ đạo nhằm đảm bảo sự cân đối, ổn định và bền vững trong phát triển kinh tế, đảm bảo hài hoà giữa phát triển kinh tế
và phát triển xã hội, có trách nhiệm khắc phục và hạn chế những khuyết tật của kinh tế thị trường Điều đó có ý nghĩa là DNNN có vai trò chiến lược giữ vững sự cân đối và ổn định trong phát triển kinh tế nhiều thành phần Vai trò đó được thể hiện qua những điểm sau:
Thứ nhất, các DNNN phải giữ được vai trò chủ đạo trong thực tế, nắm
giữ các ngành, các lĩnh vực kinh tế có liên quan đến an ninh quốc phòng, các ngành then chốt của nền kinh tế
Thứ hai, các DNNN phải là đòn bẩy, là công cụ mà Nhà nước sử dụng
để huy động vốn tập trung vào những ngành mang tính chiến lược của nền kinh tế, tập trung vào những hoạt động chuyển giao công nghệ, kỹ