Tuy nhiên, theo người viết thì giải thích không chính thức cũng có ý nghĩa ở một mức độ nào đó như các giải thích của những tổ chức, cá nhân có uy tín, các nhà khoa học pháp lý, các luật
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
Th.S HUỲNH THỊ SINH HIỀN PHẠM BỬU LINH
Bộ môn: Luật Hành chính MSSV: 5085813
Lớp: Luật Thương mại 2 - K34
Cần Thơ, tháng 4 / 2012
Trang 2
Trang 3
Trang 4
LỜI NÓI ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Phạm vi nghiên cứu 2
3 Mục tiêu nghiên cứu 2
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 2
5 Bố cục đề tài 2
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ GIẢI THÍCH PHÁP LUẬT 4
1.1 Khái niệm về giải thích pháp luật 4
1.2 Phân loại giải thích pháp luật 7
1.3 Sự cần thiết của hoạt động giải thích pháp luật 10
1.3.1 Do một số hạn chế trong hình thức văn bản quy phạm pháp luật 11
1.3.2 Do kỹ thuật lập pháp nước ta còn hạn chế 12
1.3.3 Cần thiết cho việc tìm hiểu và áp dụng pháp luât 12
1.4 Phương pháp giải thích pháp luật 13
1.4.1 Phương pháp giải thích logic 13
1.4.2 Phương pháp giải thích ngôn ngữ, văn phạm 14
1.4.3 Phương pháp giải thích chính trị - lịch sử 15
1.4.4 Phương pháp giải thích hệ thống 16
1.4.5 Phương pháp kết hợp, tổng hợp 17
1.5 Một số nguyên tắc trong hoạt động giải thích pháp luật 18
1.5.1 Nguyên tắc tôn trọng sự trong sáng của ngôn ngữ 18
1.5.2 Nguyên tắc tôn trọng ý chí của cơ quan lập pháp 19
1.5.3 Tôn trọng Hiến pháp khi tiến hành giải thích pháp luật 19
CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG GIẢI THÍCH PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM 21
2.1 Các chủ thể liên quan trong hoạt động giải thích pháp luật 21
2.1.1 Chủ thể đề nghị giải thích 21
2.1.2 Chủ thể giải thích pháp luật 27
2.2 Hình thức giải thích pháp luật 32
2.3 Quy trình, thủ tục tiến hành giải thích pháp luật 35
2.3.1 Quy trình, thủ tục đề nghị giải thích luật, pháp lệnh 35
2.3.2 Soạn thảo dự thảo nghị quyết giải thích luật, pháp lệnh 36
2.3.3 Thẩm tra dự thảo nghị quyết giải thích luật, pháp lệnh 38
2.3.4 Thảo luận tại phiên họp và xem xét thông qua dự thảo nghị quyết giải thích luật, pháp lệnh 40
Trang 53.1 Thực trạng hoạt động giải thích pháp luật ở Việt Nam 43
3.1.1 Mặt tích cực của hoạt động giải thích pháp luật 43
3.1.2 Mặt hạn chế của hoạt động giải thích pháp luật 44
3.2 Một số giải pháp, kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả trong hoạt động giải thích pháp luật 58
3.2.1 Tiến hành xây dựng Luật giải thích pháp luật 59
3.2.2 Xây dựng quy trình, thủ tục giải thích Hiến pháp 59
3.2.3 Mở rộng phạm vi chủ thể được quyền đề nghị giải thích pháp luật 60
3.2.4 Chia thẩm quyền giải thích pháp luật cho những chủ thể thích hợp với đối tượng của hoạt động giải thích pháp luật 61
3.2.5 Những vấn đề cần đảm bảo khi Tòa án tiến hành giải thích pháp luật 64
KẾT LUẬN 67 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong giai đoạn xã hội hiện nay, tình hình kinh tế đang có những chuyển biến tích cực, các quan hệ quốc tế trong tiến trình hội nhập và toàn cầu hóa phát triển rất nhanh chóng và đa dạng Cùng với sự phát triển đó, các mối quan hệ trong xã hội ở nước ta, cũng như những vấn đề phát sinh khi nước ta mở cửa hội nhập giao lưu cùng bạn bè quốc tế sẽ phát triển ngày càng đa dạng và phức tạp Do đó, việc phát sinh các tranh chấp xảy ra ngày càng nhiều Tuy nhiên, hệ thống pháp luật ở nước ta vẫn còn bộc lộ những hạn chế Trong đó, tình trạng “luật khung” làm phát sinh nhiều vấn đề như: các quy định mang tính nguyên tắc là chủ yếu, nhiều quy định pháp luật còn rất chung chung, mập mờ dẫn đến tình trạng khó hiểu hoặc có thể hiểu theo nhiều cách hợp lý khác nhau Từ đó ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản lý của nhà nước và sự phát triển của đất nước Vì vậy, giải thích pháp luật là một nhu cầu tất yếu, tức là luật cần phải được giải thích một cách rõ ràng, cụ thể và nhất là phải đúng với ý chí của nhà làm luật, đưa ra một cách hiểu chung nhất giúp cho hoạt động tìm hiểu pháp luật
và áp dụng pháp luật được tiến hành một cách nghiêm minh, đúng đắn
Mặc dù tầm quan trọng và sự cần thiết của hoạt động giải thích pháp luật đã được thừa nhận từ rất sớm khi được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1959, thế nhưng các nhà làm luật ở nước ta vẫn chưa dành cho công tác này sự quan tâm đúng với ý nghĩa mà nó mang lại Bằng chứng là cho đến nay các cơ sở pháp lý của hoạt động giải thích pháp luật vẫn được quy định rải rác ở một số văn bản mà chưa có một luật riêng nào điều chỉnh cụ thể, dẫn đến hoạt động này ít được tiến hành trên thực tế, dù nhu cầu giải thích pháp luật ở nước ta rất nhiều
Từ thực trạng đó cùng với những yêu cầu cấp bách của xã hội làm cho hoạt động hướng dẫn chi tiết thi hành “lấn át” hoạt động giải thích pháp luật Do những điều kiện khách quan như vậy đã làm cho hoạt động hướng dẫn chi tiết thi hành mang nét gần giống như giải thích pháp luật, từ đó dẫn đến sự nhần lẫn giữa hai hoạt động này Trong khi đây là hai hoạt động hoàn toàn khác nhau, từ chủ thể có thẩm quyền đến mục đích …
Trước thực trạng hoạt động giải thích pháp luật chưa được coi trọng tại Việt Nam như hiện nay, dù hệ quả tích cực mà hoạt động này mang lại là rất nhiều, cùng với nhu cầu giải thích pháp luật của xã hội, nên việc nghiên cứu về hoạt động giải thích pháp luật trên cơ sở lý luận và thực tiễn mang tính cấp thiết Thông qua việc nghiên cứu, nhận ra những bất cấp của hoạt động này về pháp lý cũng như thực tiễn, từ
đó đưa ra những giải pháp khắc phục nhằm góp phần giải quyết phần nào những bất
Trang 7cập mà thực tiễn đã phát sinh Đây chính là nguyên do mà người viết quyết định chọn
đề tài: “Giải thích pháp luật- Thực trạng và giải pháp” làm đề tài nghiên cứu luận văn
tốt nghiệp cử nhân của mình
quốc tế, tập quán pháp, tiền lệ pháp không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài
3 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cở sở kế thừa những kết quả nghiên cứu về vấn đề giải thích pháp luật kết hợp với việc tìm hiểu các quy định của pháp luật, người viết muốn làm sáng tỏ các vấn
đề pháp lý về hoạt động giải thích pháp luật cũng như nêu lên một số khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng hoạt động này Từ đó, đưa ra những đề xuất và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động giải thích pháp luật, giúp cho pháp luật tăng cường tính nghiêm minh, hiệu lực và hiệu quả trong quá trình thi hành và áp dụng Qua đó tăng cường pháp chế và bảo vệ trật tự pháp luật, đồng thời, góp phần vào quá trình cải cách tư pháp ở nước ta
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở vận dụng phương pháp nghiên cứu lý luận trên tài liệu sách vở, phương pháp so sánh, phân tích luật viết, tổng hợp số liệu thực tế dựa trên cơ sở những quy định của pháp luật hiện hành kết hợp với việc tìm hiểu
nghiên cứu thực tiễn để làm rõ nội dung đề tài
5 Bố cục đề tài
Luận văn được sắp xếp theo kết cấu sau:
Mục lục;
Lời nói đầu;
Chương 1 Khái quát chung về giải thích pháp luật;
Chương 2 Quy định của pháp luật về hoạt động giải thích pháp luật ở Việt Nam;
Chương 3 Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả trong hoạt động giải thích pháp luật;
Trang 8Kết luận;
Danh mục tài liệu tham khảo
Do hạn chế về mặt thời gian cũng như về kiến thức, đề tài có thể sẽ còn một số vấn đề mà người viết chưa nghiên cứu tới hoặc không được trọn vẹn Người viết rất mong nhận được sự nhận xét và đóng góp từ quý Thầy, Cô để đề tài nghiên cứu được hoàn thiện hơn
Trang 9CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ GIẢI THÍCH PHÁP LUẬT
Tất cả các hệ thống pháp luật trên thế giới đều không thể thiếu hoạt động giải thích pháp luật, dù đất nước đó có kỹ năng lập pháp giỏi đến đâu đi nữa Bởi trong quá trình lập pháp không phải lúc nào nhà làm luật cũng có thể tạo ra những “sản phẩm” hoàn thiện mà đôi khi có thể đi ngược lại với ý muốn của mình Đồng thời, nhà làm luật cũng là những con người bình thường, họ không thể tiên liệu trước những khả năng có thể xảy ra, vì vậy trong quá trình thi hành và áp dụng pháp luật sẽ làm phát sinh một số vấn đề mà pháp luật hiện hành quy định “gần tới” hoặc có nhưng không rõ ràng và cụ thể, khi đó đòi hỏi pháp luật phải được giải thích để sao cho chủ thể tiến hành có thể áp dụng giải quyết vấn đề một cách hợp lý nhất Bên cạnh đó, trình độ nhận thức của mỗi người là khác nhau nên khó có thể hiểu hết, đúng với ý chí của nhà làm luật hoặc một số đối tượng có thể lợi dụng để cố tình hiểu sai, hiểu lệch đi so với mục đích mà nhà làm luật muốn hướng tới, từ đó có thể dẫn tới những tiêu cực cho xã hội Do đó, hoạt động giải thích pháp luật là một vấn đề rất cần thiết và quan trọng, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay khi mà các mối quan hệ trong xã hội ngày càng có
xu hướng phức tạp Để hiểu rõ như thế nào là giải thích pháp luật? Có những cách thức giải thích nào? Được tiến hành thông qua các phương pháp gì? Giải đáp được vấn đề trên, cũng chính là nội dung mà người viết muốn đề cập đến trong phạm vi chương này
1.1 Khái niệm về giải thích pháp luật
Trong hoạt động quản lý nhà nước, quản lý xã hội, đặc biệt trong Nhà nước pháp quyền thì pháp luật có một vai trò không thể phủ nhận và thay thế được Pháp luật với vị trí và vai trò vốn có của nó là một công cụ quản lý cơ bản và chủ yếu của nhà nước để quản lý nhà nước và xã hội Các quy định của pháp luật được đặt ra là để điều chỉnh các quan hệ xã hội theo một hướng nhất định, thông qua việc thực hiện và
áp dụng sẽ tác động một cách trực tiếp hoặc gián tiếp đến từng chủ thể pháp luật
Do đó, việc hiểu đúng, đầy đủ và chính xác các quy định của pháp luật để thực thi và áp dụng pháp luật một cách nghiêm minh và có hiệu quả là một yêu cầu hết sức cần thiết của bất cứ một hệ thống pháp luật nào
Chính vì vậy, việc giải thích pháp luật là một hoạt động quan trọng và cần phải đặt trong sự quản lý của nhà nước Bởi vì, nếu bất cứ kết quả giải thích pháp luật nào cũng đều được công nhận thì mỗi chủ thể sẽ có cách giải thích riêng, theo nhận thức, trình độ chuyên môn… Điều này sẽ làm cho hệ thống pháp luật rối tung, trật tự xã hội
Trang 10bị đảo lộn, không thể quản lý Để khắc phục tình trạng đó, pháp luật các nước đều ghi nhận hoặc thừa nhận những hoạt động giải thích nào là giải thích chính thức, hợp pháp
và có giá trị pháp lý; giải thích pháp luật là một thẩm quyền của một chủ thể nhất định mang quyền lực nhà nước
Tuy nhiên, cho đến nay trong các văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền vẫn chưa đưa ra được khái niệm chính thống về giải thích pháp luật Ngược lại, trong khoa học pháp lý lại có rất nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này:
Thứ nhất, Phó Giáo Sư.Tiến Sĩ Hoàng Thị Kim Quế cho rằng: “Giải thích pháp luật được hiểu là việc làm sáng tỏ về tư tưởng, tinh thần, ý nghĩa và nội dung, mục đích của các quy phạm pháp luật, đảm bảo cho việc nhận thức và thực hiện đúng, thống nhất pháp luật ”1
Đây là một khái niệm khá rõ ràng, vì đã nêu rõ hoạt động giải thích pháp luật là như thế nào, không chỉ hướng đến việc giải thích về mặt nội dung mà còn đề cập đến
“tư tưởng, tinh thần” của quy phạm pháp luật mà các nhà làm luật đã “gửi gắm” vào trong quy phạm pháp luật đó Đây chính là những yếu tố mà nhất thiết trong khái niệm
về hoạt động giải thích pháp luật cần phải có Tuy nhiên, cách định nghĩa này vẫn chưa thể hiện hết nội dụng mà “khái niệm” cần có, đó là về mặt chủ thể Bởi vì, khi tiếp cận khái niệm chúng ta sẽ không thể biết được chủ thể nào có thẩm quyền giải thích pháp luật Do đó, người viết cho rằng định nghĩa này vẫn chưa đầy đủ
Thứ hai, theo Tiến Sĩ Phan Trung Hiền: “Giải thích pháp luật là hoạt động của chủ thể có thẩm quyền hoặc không có thẩm quyền nhằm làm sáng tỏ tư tưởng, nội dung và ý nghĩa của các quy phạm pháp luật, hướng đến việc nhận thức và áp dụng pháp luật được đồng bộ và thống nhất”2
Đây là khái niệm rất rõ ràng và đầy đủ hơn so với khái niệm trước đó Khái niệm đã nêu một cách rất cụ thể trong hoạt động giải thích pháp luật có hai loại chủ thể giải thích, đó là chủ thể có thẩm quyền và chủ thể không có thẩm quyền Người viết nhận thấy cách phân chia này rất phù hợp với thực tế hiện nay, nước ta cũng tồn tại hai loại hình giải thích pháp luật của hai loại chủ thể này Đồng thời, trong một số giáo trình ở các trường đào tạo luật của nước ta cũng phân loại giải thích pháp luật bằng
1
PGS TS Hoàng Thị Kim Quế, Một số vấn đề về giải thích pháp luật, Quan niệm và vai trò, ý nghĩa trong thực
tiễn, Văn phòng Quốc hội, Giải thích pháp luật – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn (Kỷ yếu Hội thảo quốc tế tại
Hà Nội, tháng 2 - 2008), Nxb Hồng Đức, Hà Nội, 2009, tr 27 – 36
2 TS Phan Trung Hiền, Lý luận về nhà nước và pháp luật (quyển 2), Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội,
2011, tr.128
Trang 11cách dựa vào chủ thể giải thích3 Hoạt động giải thích pháp luật trong khái niệm này ngoài việc làm rõ nội dung của quy phạm pháp luật cần giải thích thì kết quả giải thích còn được căn cứ vào chính ý chí của nhà làm luật Để từ đó “hướng” các chủ thể trong quan hệ pháp luật đi đến một nhận thức và pháp luật cùng được áp dụng một cách thống nhất
Thứ ba, quan điểm của Tiến Sĩ Hoàng Văn Tú, theo ông “Giải thích pháp luật được hiểu là việc làm rõ hơn về tinh thần, nội dung, phạm vi, ý nghĩa và mục đích các quy định của pháp luật so với nội dung ban đầu của nó, giúp mọi người hiểu và thực thi các quy định của pháp luật một cách chính xác và thống nhất ”4
Người viết nhận thấy khái niệm này về mặt nội dung không khác mấy so với hai khái niệm trên Vẫn đi từ việc tiến hành giải thích nội dung của quy phạm pháp luật cần giải thích, đảm bảo cho kết quả giải thích phù hợp với ý chí của cơ quan lập
pháp, đến việc “giúp mọi người hiểu và thực thi các quy định của pháp luật một cách
chính xác và thống nhất ” Tuy nhiên, theo nhận xét của người viết bản thân khái niệm
này vẫn chưa thỏa đáng ở chỗ “việc làm rõ hơn về tinh thần, nội dung, phạm vi, ý
nghĩa và mục đích các quy định của pháp luật so với nội dung ban đầu của nó”, như
vậy “nội dung ban đầu của nó” là nội dung gì? Nội dung đó như thế nào? Tại sao phải
làm rõ nội dung đó? Theo quan điểm của người viết, “khái niệm” là làm rõ về vấn đề
đó một cách rõ ràng, chính xác, ngắn gọn, không nên đưa vào những nội dung có thể đặt ra nhiều câu hỏi ngay trong khái niệm, điều đó là không logic Hơn nữa, đưa vào khái niệm nội dung này là không cần thiết, bởi quy phạm pháp luật cần được giải thích
là do không rõ nghĩa hay đa nghĩa nên cần phải tiến hành giải thích, đây chính là nội dung ban đầu của quy phạm pháp luật nên khi giải thích là chủ thể giải thích tiến hành giải thích chính nội dung này, do đó khái niệm trên đây không cần phải đề cập như vậy
Dù có rất nhiều khái niệm được đưa ra nhưng suy cho cùng tất cả đều có chung một mục đích nhằm giải thích làm rõ các quy định của pháp luật để mọi người có cách hiểu đúng, không rời xa với ý chí của nhà làm luật
Về mặt từ ngữ, để tiến hành phân tích cụm từ “giải thích pháp luật”, điều trước tiên cần làm là đi tìm hiểu thế nào là “giải thích”? và thế nào là “pháp luật”? Theo từ
3 GS.TS Trần Ngọc Đường, giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr 367
Đại học luật Hà Nội, Giáo trình Lý luận Nhà nước và pháp luật, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2007, tr 487
4 TS Hoàng Văn Tú, Giải thích pháp luật – Một vấn đề cơ bản về lý luận và thực tiễn Việt Nam, Văn phòng Quốc hội, Giải thích pháp luật – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn (Kỷ yếu Hội thảo quốc tế tại Hà Nội, tháng 2
- 2008), Nxb Hồng Đức, Hà Nội, 2009, tr 37 – 48
Trang 12điển Tiếng Việt thì “giải thích” có nghĩa là làm cho hiểu rõ; “pháp luật” là phép tắc do nhà nước đặt ra để quy định hành vi của mọi người5 Đồng thời, tìm hiểu qua một số tài liệu thì “pháp luật” là một khái niệm được ra đời từ rất sớm và luôn gắn liền với khái niệm nhà nước; được hiểu là hệ thống các quy tắc xử sự chung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và được bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước; là yếu tố đảm bảo sự ổn định và trật tự xã hội
Như vậy, nếu tiến hành “lắp ghép” ý nghĩa của hai từ ngữ này lại chúng ta có cách hiểu như sau: giải thích pháp luật là việc làm rõ các quy tắc do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm định ra một cách hiểu chung nhất
Nhìn chung lại, xét về từ ngữ thì giải thích pháp luật là nhằm làm rõ các quy định của pháp luật hướng đến việc đưa ra một cách hiểu chung nhất, đúng với ý chí của nhà lập pháp, sao cho pháp luật được áp dụng thống nhất
Từ những lý luận nêu trên, người viết đồng tình với khái niệm của Tiến Sĩ Phan Trung Hiền Đây là một khái niệm dễ hiểu, ngắn gọn nhưng chính xác và đầy đủ Hoạt động giải thích pháp luật đã được nêu lên một cách rõ ràng, thể hiện qua việc phân tích cụ thể hoạt động giải thích pháp luật là làm gì, do ai thực hiện, mục đích đạt
được khi tiến hành giải thích pháp luật Theo Tiến Sĩ Phan Trung Hiền: “Giải thích
pháp luật là hoạt động của chủ thể có thẩm quyền hoặc không có thẩm quyền nhằm làm sáng tỏ tư tưởng, nội dung và ý nghĩa của các quy phạm pháp luật, hướng đến việc nhận thức và áp dụng pháp luật được đồng bộ và thống nhất”
1.2 Phân loại giải thích pháp luật
Cũng giống như khái niệm về hoạt động giải thích pháp luật, hiện nay ở nước ta vẫn chưa có bất cứ một văn bản pháp luật nào chính thức phân loại hoạt động giải thích pháp luật Tuy nhiên, qua tìm hiểu một số bài viết nghiên cứu về lĩnh vực giải thích pháp luật cũng như giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật của các trường đào tạo luật ở nước ta Người viết nhận thấy, tuy có nhiều cách phân loại khác nhau nhưng nhìn chung hoạt động giải thích pháp luật được chia ra làm hai loại, đó là giải thích không chính thức và giải thích chính thức Tùy theo quan điểm của từng người mà có những tiêu chí khác nhau
Những tiêu chí ấy có thể là: Phụ thuộc vào chủ thể tiến hành giải thích và đặc trưng của sự giải thích hoặc căn cứ vào giá trị pháp lý của nội dung giải thích6…
Trang 13Giải thích không chính thức là giải thích của bất kỳ một tổ chức hay cá nhân
nào không có thẩm quyền giải thích quy định đang cần được giải thích của pháp luật Giải thích không chính thức không có giá trị pháp lý, không có tính chất bắt buộc phải thực hiện đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân mà chỉ có tính chất làm sáng tỏ, nội dung, ý nghĩa, tư tưởng của nhà làm luật, giúp mọi người hiểu rõ hơn về các quy định của pháp luật Loại giải thích này thường mang tính chủ quan nên có nhiều hạn chế như không chính xác, không thống nhất Tuy nhiên, theo người viết thì giải thích không chính thức cũng có ý nghĩa ở một mức độ nào đó như các giải thích của những
tổ chức, cá nhân có uy tín, các nhà khoa học pháp lý, các luật gia cũng có tác dụng quan trọng, có ảnh hưởng lớn đến ý thức pháp luật, hành vi pháp lý của các chủ thể pháp luật, thông qua đó còn ảnh hưởng đến hoạt động thực hiện và áp dụng pháp luật
Giải thích chính thức là giải thích của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền
theo luật định Nội dung lời giải thích pháp luật chính thức có giá trị pháp lý, nó được ghi nhận bằng văn bản quy phạm pháp luật và mang tính bắt buộc các tổ chức và cá nhân khác phải nhận thức và thực hiện đúng như nội dung lời giải thích Giải thích pháp luật chính thức có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì vậy nó chỉ do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành theo những trình tự và thủ tục chặc chẽ mà pháp luật quy định Tất cả các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, các cá nhân đều buộc phải nhận thức và thực hiện đúng với nội dung, tinh thần các quy định pháp luật mà văn bản giải thích pháp luật chính thức đã đưa ra
Pháp luật hiện hành quy định Ủy ban thường vụ Quốc hội là cơ quan duy nhất
có thẩm quyền giải thích pháp luật, kết quả giải thích được ghi nhận trong văn bản giải thích pháp luật đó là nghị quyết và có hiệu lực pháp lý bắt buộc chung đối với tất cả mọi người7
Ở đây xảy ra một vấn đề là kết quả giải thích của Ủy ban thường vụ Quốc hội là giải thích chính thức không dành riêng cho bất cứ một vụ việc nào mà là để áp dụng chung Như vậy, có một thực trạng đang diễn ra ở nước ta hiện nay, đó là kết quả giải thích của Thẩm phán khi giải quyết một vụ việc trên thực tế là rất đáng tin cậy và khả thi hay “sự giải thích” của cơ quan hành chính trong các văn bản hướng dẫn thi hành đã “lấn át”, đồng thời gây ra sự nhầm lẫn giữa hai hoạt động giải thích pháp luật
và hướng dẫn chi tiết thi hành Vậy giải thích của Thẩm phán có được xem là hoạt động giải thích pháp luật không? Có nên xem văn bản hướng dẫn thi hành của cơ quan hành chính là văn bản giải thích pháp luật không và cơ quan hành chính là chủ thể thực hiện hoạt động đó?
7
Khoản 3 Điều 91 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001)
Trang 14Theo phân tích của giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật (Trường Đại học
luật Hà Nội): “Giải thích chính thức được chia ra hai loại, đó là giải thích chính thức
mang tính quy phạm và giải thích cho những vụ việc cụ thể
Giải thích chính thức mang tính quy phạm thường là kết quả của sự giải thích các văn bản luật, văn bản của cơ quan cấp trên, văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn bằng các văn bản có giá trị và hiệu lực pháp lý thấp hơn dưới dạng các văn bản hướng dẫn thi hành của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để bảo đảm thực hiện, áp dụng thống nhất luật pháp
Giải thích chính thức cho những vụ việc cụ thể chỉ có hiệu lực đối với vụ việc pháp lý
cụ thể đó, còn đối với vụ việc khác nó không có giá trị.” 8
Với cách phân tích này, người viết đồng ý khi nói giải thích của Thẩm phán là
“Giải thích chính thức cho những vụ việc cụ thể chỉ có hiệu lực đối với vụ việc pháp lý
cụ thể đó, còn đối với vụ việc khác nó không có giá trị”, có nghĩa là không chính thức
đối với các vụ việc khác Nhưng người viết không tán thành khi cho rằng văn bản hướng dẫn thi hành là “Giải thích chính thức mang tính quy phạm”, bởi hoạt động giải
thích pháp luật và hướng dẫn chi tiết thi hành là hai hoạt động riêng biệt, không thể nói hướng dẫn thi hành là giải thích pháp luật được, dù thực tế hai hoạt động đang có sự
“chồng lấn nhau” là do hoạt động hướng dẫn thi hành “lấn sân” sang giải thích pháp luật Tuy nhiên, vấn đề này sẽ được người viết làm rõ trong những phần sau
Bên cạnh đó, căn cứ vào thực tiễn cuả nước ta đó là hoạt động giải thích pháp luật hiện nay chỉ được pháp luật “thừa nhận” duy nhất sự giải thích của Ủy ban thường
vụ Quốc hội9, còn lại là những ý kiến, công trình nghiên cứu, bình luận của các nhà khoa học pháp lý…thì vẫn tồn tại trên thực tế nhưng không có sự “thừa nhận” của pháp luật Nếu căn cứ vào những tiêu chí mà người viết vừa trình bày thì rõ ràng hoạt động giải thích pháp luật ở nước ta chia thành hai loại như trên, giải thích của Ủy ban thường vụ Quốc hội là giải thích chính thức còn giải thích của những nhà khoa học pháp lý, luật sư, nhà nghiên cứu… là giải thích không chính thức Bởi kết quả giải thích của Ủy ban thường vụ Quốc hội là thông qua văn bản quy phạm pháp luật (Nghị quyết) và có giá trị bắt buộc Trong khi sự giải thích ở các bài bình luận, công trình nghiên cứu… của những luật gia, nhà nghiên cứu luật học…chỉ có giá trị tham khảo chứ không hề có bất cứ một giá trị pháp lý nào Thêm vào đó, giải thích của Thẩm phán trong quá trình áp dụng pháp luật và hoạt động giải thích thông qua văn bản hướng dẫn thi hành có là giải thích không thì còn nhiều tranh luận
Trang 15Cho nên, căn cứ vào thực tiễn cũng như qua những phân tích trong các tài liệu, giáo trình, quan điểm của người viết là đồng tình với việc phân chia hoạt động giải thích pháp luật ở nước ta thành hai loại: giải thích không chính thức và giải thích chính thức
1.3 Sự cần thiết của hoạt động giải thích pháp luật
Để thấy rõ được sự cần thiết của hoạt động giải thích pháp luật, trước tiên người viết xin đưa ra một ví dụ điển hình, để từ đó đi đến từng phân tích những cái chung nhất cho thấy hoạt động giải thích pháp luật quan trọng như thế nào trong một hệ thống pháp luật, cụ thể ở đây là hệ thống pháp luật nước ta
Ví dụ: Đoạn 3 điều 24 Bộ luật Tố tụng Hình sự được Quốc hội thông qua ngày 28-6-1988 có hiệu lực từ ngày 01-01-1989 (sau đây viết tắt là Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 1988) có quy định như sau: “Cơ quan đã làm oan phải khôi phục lại danh dự, quyền lợi và bồi thường cho người bị thiệt hại Cá nhân có hành vi trái pháp luật thì tùy từng trường hợp bị xử lý kỹ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự” Căn cứ vào quy định này, trong thời gian thi hành Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 1988 đã có nhiều người bị oan, do cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng gây ra, có đơn yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại thì các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự đã lúng túng, khi giải quyết đơn yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại Lúng túng về nhiều nội dung: trong đó
có việc xác định đối tượng gọi là bị oan, là người nào? Có phải chỉ có người bị tòa án kết án oan mới được bồi thường thiệt hại hay là bao gồm cả những người bị tạm giữ oan, người bị khởi tố về hình sự oan và người bị truy tố oan Vì trong điều luật chỉ quy định chung chung là: “Cơ quan đã làm oan…” mà lại không quy định chủ thể phải bồi thường là cơ quan nào và bồi thường trong giai đoạn tố tụng nào Mặc khác thủ tục thực hiện việc bồi thường thiệt hại như thế nào, mức bồi thường thiệt hại đến đâu và thủ tục khôi phục danh dự cho người bị oan
Đến ngày 17-3-2003 Ủy ban thường vụ Quốc hội mới ban hành Nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH11 giải thích về nội dung quy định tại đoạn 3 Điều 24 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 1988 và xác định người được bồi thường thiệt hại, thủ tục, trình tự thực hiện việc bồi thường thiệt hại, khôi phục danh dự cho người bị oan Như vậy là sau hơn 14 năm việc thiệt hại cho người bị oan do cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng gây ra, mới được giải thích và thực hiện Việc giải thích như vậy là quá chậm, ảnh hưởng đến tinh thần, tình cảm của người bị oan và thân nhân của họ, làm mất lòng tin của quần chúng của những các bộ công chức làm công tác bảo vệ pháp luật và ảnh hưởng đến uy tín của Nhà nước
Trang 16Qua ví dụ trên, người viết xin đưa ra những lý do để thấy rằng hoạt động giải thích pháp luật là rất cần thiết, góp phần đảm bảo cho việc áp dụng pháp luật được tiến hành một cách khả thi trên thực tế, cũng như cần phải quan tâm nhiều hơn đến vấn đề này
1.3.1 Do một số hạn chế trong hình thức văn bản quy phạm pháp luật
Một điều không thể phủ nhận được, đó là ở Việt Nam hình thức pháp luật được thừa nhận và sử dụng chủ yếu là văn bản quy phạp pháp luật Như vậy, khi nói đến giải thích pháp luật ở Việt Nam là nói đến giải thích các văn bản quy phạm pháp luật thành văn và không tồn tại giải thích tập quán pháp, tiền lệ pháp
Các quy phạm pháp luật được đặt ra không phải để trực tiếp xử lý một hành vi hay một vụ việc cụ thể nào đó mà là để điều chỉnh một loại hành vi hay một loại vụ việc sẽ xảy ra trong tương lai Phương pháp điều chỉnh của quy phạm pháp luật là thông qua việc sử dụng ngôn ngữ pháp luật quy định quyền và nghĩa vụ cụ thể một cách khái quát và cố gắng bao trùm lên tất cả các vụ việc hay hành vi có thể xảy ra trên thực tế mà nó muốn điều chỉnh Để bảo đảm khái quát được một loại vụ việc hay hành vi mà nó điều chỉnh, ngôn từ được sử dụng trong các quy phạm pháp luật thường
có tính khái quát cao Tuy các văn bản quy phạm pháp luật thường có phần định nghĩa
để giải thích các thuật ngữ nhưng phần định nghĩa này không bao giờ có thể bao gồm hết được các thuật ngữ trừu tượng cần được giải thích
Chính đăc điểm này mà công tác giải thích pháp luật trở nên thật sự rất cần thiết Bởi vì,theo những đặc điểm trên mà người viết vừa phân tích, có thể thấy rằng pháp luật thành văn được xây dựng với mục đích bao trùm lên tất cả các hành vi hay
vụ việc Trong khi đó, hoạt động áp dụng pháp luật lại được thực hiện theo chiều ngược lại, nghĩa là xuất phát từ những vụ việc cụ thể ngoài thực tế mà chủ thể có thẩm quyền sẽ tìm ra quy phạm pháp luật thật sự phù hợp để điều chỉnh, mà thực tiễn thì vô cùng đa dạng và luôn thay đổi Như vậy, pháp luật thành văn khó có thể điều chỉnh tất
cả các vấn đề của thực tiễn, vì khi có một vụ việc cụ thể nào đó xảy ra thì người áp dụng pháp luật sẽ có cảm giác không chắc chắn rằng quy phạm pháp luật mà mình lựa chọn có phù hợp hay không Cho nên, việc giải thích pháp luật là rất cần thiết Nhưng không chỉ đơn thuần là giải thích mà hoạt động giải thích cần phải có thêm yếu tố thẩm quyền, tức là giải thích chính thức được thực hiện bởi cơ quan có thẩm quyền và
có giá trị pháp lý Tính thẩm quyền mang đến cho hoạt động giải thích pháp luật tính chính thức và có giá trị ràng buộc đối với tất cả các bên Bởi khi có nhiều cách giải thích khác nhau (giải thích không chính thức), tất nhiên đó sẽ là giải thích không có giá trị pháp lý và chỉ mang tính tham khảo ngang nhau, không thể nào áp dụng được
Trang 17Sự thiếu hoạt động giải thích pháp luật chính thức là thực tế của Việt Nam hiện nay, nên nhất thiết phải làm rõ nội dung của quy phạm pháp luật bởi một cơ quan nhà nước
có thẩm quyền
1.3.2 Do kỹ thuật lập pháp nước ta còn hạn chế
Giải thích pháp luật với nhiệm vụ làm sáng tỏ hơn các quy phạm pháp luật nên
có vai trò vô cùng quan trọng trong nhận thức, thực thi và áp dụng pháp luật Nếu xét
về mặt lý thuyết thì nhu cầu giải thích pháp luật không phát sinh khi và chỉ khi có một
hệ thống pháp luật hoàn thiện tuyệt đối và nhận thức pháp luật của người dân đạt được trình độ cao Tuy nhiên, điều đó là không thể bởi kỹ thuật lập pháp ở nước ta vẫn còn nhiều hạn chế và pháp luật được ban hành là để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phát sinh trong đời sống thực tế, mà các mối quan hệ này “sẽ không đứng yên tại chỗ”, chúng luôn thay đổi và phát triển một cách liên tục, chủ thể xây dựng pháp luật sẽ không thể lường trước những gì có thể xảy ra Bên cạnh đó, trình độ nhận thức của mỗi con người là khác nhau Cho nên nhu cầu giải thích pháp luật thật sự trở nên cần thiết và có vai trò quan trọng
Ngoài ra, theo nhận xét của người viết thì chính hoạt động giải thích pháp luật còn góp phần xây dựng nên các quy định pháp luật mới Vì khi giải thích, chủ thể tiến hành có thể sẽ phát hiện ra sự bất cập của quy phạm pháp luật Từ đó, có thể đưa ra những kiến nghị kịp thời, hỗ trợ cho việc hoàn thiện công tác lập pháp
1.3.3 Cần thiết cho việc tìm hiểu và áp dụng pháp luật
Giải thích pháp luật rất cần thiết trong hoạt động áp dụng pháp luật của các cơ quan nhà nước, thực hiện pháp luật và tìm hiểu pháp luật của công dân.Thông qua việc làm rõ nội dung, ý nghĩa của các quy phạm pháp luật, giải thích pháp luật sẽ giúp các chủ thể trong quan hệ pháp luật hiểu chính xác và thống nhất các quy định của pháp luật, giúp họ tuân thủ, thi hành một cách đúng đắn Qua đó, nó còn có một ý nghĩa rất lớn là khắc phục, hạn chế được sự tùy tiện trong việc hiểu, vận dụng pháp luật và sự cố tình hay vô ý hiểu sai lệch các quy định của pháp luật với mục đích không tốt Giúp cho pháp luật tăng cường tính nghiêm minh, hiệu quả trong quá trình áp dụng, tăng cường pháp chế và bảo vệ trật tự pháp luật
Như trên đã trình bày giải thích pháp luật nhằm muc đích để hiểu rõ tư tưởng, nội dung của một quy phạm pháp luật, giúp cho việc thi hành pháp luật được thống nhất và đúng với ý chí của nhà làm luật Đồng thời giải thích pháp luật cũng là sự minh bạch pháp luật của nhà nước pháp quyền nên giải thích pháp luật là một yêu cầu khách quan của xã hội và của cả hệ thống công tác bảo vệ pháp luật
Trang 18Tóm lại, giải thích pháp luật là là sáng tỏ nội dung và tư tưởng của các quy phạm pháp luật, để từ đó định ra một cách hiểu chung, mà cách hiểu chung đó phải đúng với
ý chí của nhà làm luật và phải thật sự đảm bảo đưa quy phạm được giải thích đó đi vào thực tiễn áp dụng một cách hữu hiệu
1.4 Phương pháp giải thích pháp luật
Hoạt động giải thích pháp luật bao gồm rất nhiều yếu tố cấu thành như: chủ thể
có thẩm quyền đề nghị, chủ thể có thẩm quyền giải thích, đối tượng, trình tự, thủ tục giải thích… Trong đó, phương pháp giải thích là một yếu tố không thể thiếu được, để thực hiện giải thích pháp luật thì tất nhiên cần phải có các phương pháp giải thích, nhằm làm sáng tỏ một nội dung, tư tưởng, ý nghĩa của các quy định pháp luật, từ đó đưa pháp luật vào thực tiễn áp dụng Có thể nói phương pháp giải thích pháp luật có ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng và hiệu quả của việc giải thích pháp luật Ở Việt Nam hiện nay, các phương pháp giải thích pháp luật cũng chưa được ghi nhận chính thức trong bất kỳ văn bản nào10 Qua tham khảo một số tài liệu, người viết xin trình bày một
số phương pháp giải thích pháp luật mà theo quan điểm của người viết thì đây là những phương pháp giải thích cơ bản, phù hợp và rất cần thiết cho hoạt động giải thích pháp luật ở nước ta hiện nay
1.4.1 Phương pháp giải thích logic
Theo người viết, đây là phương pháp phải ưu tiên sử dụng đầu tiên và trong hầu hết các lần tiến hành hoạt động giải thích pháp luật nhằm đưa ra kết quả giải thích hợp
lý
Thông qua những phán đoán, suy luận, những quy định của tư duy logic để làm sáng tỏ nội dung quy phạm pháp luật Phương pháp này thường được sử dụng trong trường hợp lời văn của quy phạm không trực tiếp thể hiện rõ ý chí của nhà nước Bằng những suy đoán logic có thể cho phép người nhận thức đạt tới chân lý trong quá trình phân tích nội dung quy phạm pháp luật Với tư duy logic còn giúp cho người soạn thảo các văn bản pháp luật tạo ra được những điều luật vừa khái quát, rõ ràng, chính xác lại vừa dễ hiểu Phương pháp giải thích này thường được sử dụng kết hợp với phương pháp giải thích ngôn ngữ trong trường hợp lời văn của quy phạm hay văn bản pháp luật không trực tiếp thể hiện rõ (thể hiện một cách gián tiếp) ý chí của Nhà nước
Trang 19Ví dụ: Tại điểm g Điều 9 Nghị định 146/2007 của Chính phủ quy định về những hành
vi gây nguy hiểm trong an toàn giao thông đường bộ sẽ bị xử phạt từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng, trong đó có hành vi “Người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô,
xe gắn máy không đội mũ bảo hiểm khi đi trên đường theo quy định ” Như vậy, khi giải thích điều luật này cần phải chú ý đến sự logic của điều luật chứ không chỉ đơn thuần là giải thích theo câu chữ của điều luật Bởi vì, nếu căn cứ vào từ ngữ có trong điều luật thì chỉ những ai là người điều khiển phương tiện (ngồi phía trước) và người ngồi phía sau mới phải đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông Còn những người đứng hay nằm trên phương tiện đó thì không phải đội mũ bảo hiểm? Nếu xét theo cách hiểu như vậy thì không hợp lý chút nào, có thể sẽ xảy ra tiêu cực trong hoạt động giao thông đường bộ, không đảm bảo an toàn cho người tham gia giao thông Do đó, khi tiến hành giải thích điều luật phải chú ý đến sự logic mà kết quả giải thích đưa ra cần phải có và tính hợp lý của mục đích đưa ra quy định Người tham gia giao thông phải tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định để bảo đảm an toàn cho bản thân cũng như cho người tham gia giao thông khác, các tư thế mà người viết vừa giả định ở trên đã xảy ra trên thực tế và mức độ nguy hiểm là rất cao Cho nên, điều luật phải được hiểu một cách chính xác là: Bất kỳ người nào khi tham gia giao thông mà điều khiển phương tiện hai bánh và có gắng động cơ thì phải đội mũ bảo hiểm, không được có các hành vi gây nguy hiểm như: đứng, nằm, với… làm ảnh hưởng đến an toàn trong giao thông đường bộ
1.4.2 Phương pháp giải thích ngôn ngữ, văn phạm
Với phương pháp này, người giải thích làm sáng tỏ nội dung, tư tưởng của quy phạm pháp luật bằng cách làm rõ nghĩa từng từ, từng câu được dùng để thể hiện nội dung và xác định mối liên hệ ngữ pháp giữ chúng trong lời văn của quy phạm đó Giải thích về văn phạm gồm giải thích từ ngữ và giải thích theo cú pháp Phương pháp này đặc biệt quan trọng và cần thiết khi tiến hành giải thích pháp luật ở nước ta, bởi vì: Người dân Việt Nam chủ yếu nhận thức và thực hiện pháp luật theo câu chữ trong văn bản (theo nghĩa đen của những câu chữ đó) Dân gian có câu “Phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam” cho thấy rằng ngôn ngữ, văn phạm tiếng Việt thì rất phức tạp Vì vậy, đây là phương pháp chắc chắn phải có trong hoạt động giải thích pháp luật
ở Việt Nam Một lý do nữa, là từ ngữ được sử dụng chủ yếu trong văn bản quy phạm pháp luật là từ ngữ chuyên môn, không dễ nhận thức đối với những người không phải
là cán bộ, công chức trong cơ quan nhà nước hay nhà nghiên cứu về luật học
Tuy nhiên, như chúng ta đều biết trong thực tiễn xây dựng pháp luật ngôn ngữ, văn phạm không phải bao giờ cũng thể hiện được đầy đủ hoặc chính xác, rõ ràng ý chí
Trang 20của Nhà nước dẫn đến các chủ thể thực hiện pháp luật có thể hiểu nhầm, hiểu sai, hiểu không đầy đủ… ý chí của Nhà nước
Vậy vấn đề đặt ra ở đây là khi giải thích, các chủ thể tiến hành sẽ giải thích theo
ý chí đích thực của Nhà nước, mà người làm luật muốn thể hiện hay theo câu chữ đã được thể hiện trong văn bản Nếu ý chí của nhà nước được thể hiện một cách chính xác và đầy đủ trong quy phạm hay văn bản pháp luật thì phương pháp giải thích trên là phù hợp, chính xác và đầy đủ Nói cách khác, ý chí nhà nước chính là những gì mà ngôn từ đã thể hiện trong văn bản Bất luận ý chí của nhà nước ra sao, nhưng nếu cơ quan ban hành pháp luật đã thể hiện ra bằng câu chữ trong văn bản thế nào thì phải hiểu đúng như câu chữ đã thể hiện Tuy nhiên, do đặc thù của từ ngữ cùng với hạn chế
về trình độ lập pháp ở nước ta thì khó có thể đạt được tiêu chuẩn như trên Với cách lập luận này, người viết cho rằng khi tiến hành giải thích pháp luật, chủ thể tiến hành nên giải thích đúng với nguyên văn các quy phạm pháp luật và một điều quan trọng cần phải lưu tâm là không nên rời xa ý chí của nhà làm luật
Ví dụ: Tại Điều 625 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về việc bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra Như vậy, “súc vật” ở đây được hiểu như thế nào?
Theo từ điển Tiếng Việt thì “súc vật” có nghĩa là thú vật nuôi trong nhà11
Trong thực tiễn sản xuất và đời sống xã hội của con người, súc vật đã trở thành sản phẩm chăn nuôi hoặc thú nuôi phổ biến của con người, như trâu, bò, lợn… bản chất súc vật là động vật hoang dã, mang bản tính thú dữ đã được con người thuần hóa, kiểm soát được hoạt động và tuân thủ theo sự quản lý của con người
Như vậy, “súc vật” là loài động vật hoang dã, được con người thuần hóa để nuôi nhằm phục vụ cho một số hoạt động của con người, nên phải có trách nhiệm với những thiệt hại mà nó gây ra Theo đó, điều luật được hiểu như sau: Nếu tại thời điểm con vật gây ra thiệt hại mà con vật đó là vật nuôi thuộc quyền sở hữu, chiếm hữu, sử dụng của người nào thì người đó phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại
1.4.3 Phương pháp giải thích chính trị - lịch sử
Là phương pháp tìm hiểu nội dung, tư tưởng quy định của pháp luật thông qua việc nghiên cứu các điều kiện chính trị - lịch sử tại thời điểm ban hành quy định đó hoặc văn bản quy phạm pháp luật đó và nhiệm vụ chính trị mà Nhà nước mong muốn đạt được khi ban hành quy định hay văn bản pháp luật đó
11
Từ điển Tiếng Việt thông dụng, Nxb Thanh niên, 2009, tr 585
Trang 21Ví dụ: Theo quy định của pháp luật hiện hành, chỉ thừa nhận quan hệ hôn nhân một
vợ một chồng, điều này đồng nghĩa với việc thừa nhận một người vợ sẽ thừa kế tài sản của chồng và ngược lại Tuy nhiên, vẫn có trường hợp ngoại lệ, nước ta đã từng thừa nhận quan hệ hôn nhân “một chồng hai vợ” khi người chồng chết các người vợ đó vẫn
có quyền thừa kế tài sản của chồng như nhau và ngược lại Đó là, khi xét về quan hệ hôn nhân của vợ chồng khi chiến tranh kéo dài, nước ta tạm thời bị chia cắt làm hai miền Nam – Bắc (1954 - 1975) Trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt ấy cán bộ, chiến sĩ miền Nam tập kết ra Bắc (theo Hiệp định Giơnevơ năm 1954) nhưng do Mỹ - Diệm đã phá hoại Hiệp định Hội ngị hiệp thương ấn định vào năm 1956 giữa hai miền Nam – Bắc đã không thể thực hiện được Trong hoàn cảnh đó, người cán bộ, chiến sĩ miền Nam tập kết ra miền Bắc đã có vợ ở miền Nam, sau lại kết hôn với người khác ở miền Bắc sau ngày thống nhất đất nước quan hệ hôn nhân với người ở miền Bắc vẫn được thừa nhận Khi chồng chết, các vợ được thừa kế của chồng và ngược lại12
Như vậy, tùy vào bối cảnh chính trị - lịch sử khác nhau mà cùng một quan hệ sẽ có cách quy định và giải thích sao cho phù hợp với hoàn cảnh lúc ấy
Việc tìm hiểu thông qua các báo cáo thuyết trình, giải trình về lý do ban hành văn bản quy phạm pháp luật cũng góp phần giúp hiểu rõ hơn về nội dung của văn bản cũng như mục đích của nhà làm luật khi ban hành Nhưng trên thực tế, việc tìm hiểu này đối với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thì không khó, trong khi đối với nhân dân cũng lại là điều vô cùng khó khăn và nhiều khi là không thể thực hiện được
Vì vậy, Nhà nước cần nghiên cứu để làm sao công khai phổ biến các báo cáo thuyết trình, giải trình về lý do ban hành văn bản quy phạm pháp luật đến với toàn xã hội là điều hết sức hữu ích và cần thiết phải làm trong giai đoạn hiện nay để phục vụ cho công tác giải thích và áp dụng pháp luật
Ví dụ: Khoản 2 Điều 647 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám
12
TS Phùng Trung Tập, Luật thừa kế Việt Nam (Sách chuyên khảo), Nxb Hà Nội, Hà Nội, 2008, tr 88-89
Trang 22hộ đồng ý” Thắc mắc đặt ra ở đây là “cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý” là đồng ý cái gì? Điều cần giải thích là pháp luật không quy định đối tượng của hành vi đồng ý Việc đồng ý ở đây là đồng ý về việc lập di chúc hay đồng ý nội dung của di chúc Dùng phương pháp giải thích hệ thống, tiến hành khảo sát toàn bộ điều luật và đối chiếu với với khoản 1 Điều 647 Bộ luật dân sự năm 2005 13, ta hiểu điều luật đã này như sau: Tức là con chưa thành niên (người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi) họ vẫn có quyền lập di chúc nếu như được cha, mẹ hoặc người giám hộ của
họ đồng ý cho họ lập di chúc khi họ vẫn chưa đủ tuổi (đủ 18 tuổi) Nhưng phải kèm theo điều kiện là người lập di chúc không bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà họ không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình
1.4.5 Phương pháp kết hợp, tổng hợp
Trong thực tế, chủ thể khi tiến hành giải thích pháp luật thường không sử dụng một phương pháp nhất định mà sẽ kết hợp một số phương pháp với nhau để khắc phục, loại trừ sự nhận thức không đúng nội dung, tinh thần của các quy phạm pháp luật để từ
đó đạt được hiệu quả như mong muốn Sự lựa chọn này tùy thuộc vào nhận thức chủ quan, tư duy khoa học của người giải thích và tương ứng phù hợp với từng loại quy định cần giải thích, hoàn cảnh giải thích, mục đích giải thích, thời điểm giải thích, người đề nghị giải thích…
Tuy nhiên, như đã nói ngôn ngữ không phải bao giờ cũng chuyển tải một cách chính xác, đầy đủ ý chí đích thực của nhà nước nên chỉ sử dụng phương pháp giải thích ngôn ngữ, văn phạm để giải thích pháp luật là chưa đủ Bởi khi giải thích, chủ thể giải thích, về nguyên tắc, phải là người có thẩm quyền, họ tiến hành các công đoạn giải thích pháp luật dựa trên ngôn ngữ của văn bản cần giải thích Giới hạn của giải thích pháp luật nằm tại giới hạn của văn bản pháp luật, và giới hạn của văn bản pháp luật nằm tại ngôn ngữ của văn bản pháp luật đó Ngôn ngữ văn bản là điểm đầu và cũng là điểm đến của quá trình giải thích Cho nên, trong một số trường hợp, theo người viết khi giải thích theo đúng như nguyên văn (nghĩa đen) mà lời giải thích đưa
ra không có ý nghĩa phù hợp hoặc vô lý đến không thể chấp nhập được, thì ta có thể giải thích theo hướng mở rộng hay hạn chế lại để lời giải thích có nội dung và ý nghĩa chấp nhận được
Không chỉ nội dung của các quy pháp pháp luật không rõ ràng, đa nghĩa dẫn đến cần phải có hoạt động giải thích pháp luật, mà cả trong trường hợp nội dung của
13 Khoản 1 Điều 647 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Người đã thành niên có quyền lập di chúc, trừ trường
hợp người đó bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình”
Trang 23các quy phạm pháp luật khá rõ ràng nhưng do sự phát triển của các quan hệ xã hội dẫn đến quy phạm pháp luật đó không còn phù hợp, đòi hỏi phải có cách giải thích mở rộng phù hợp với sự phát triển của xã hội; hoặc khi xây dựng luật các nhà làm luật đã không đặt ra quy tắc điều chỉnh quan hệ xã hội hoàn toàn tương tự dẫn đến phải có cách giải thích mở rộng để áp dụng pháp luật tương tự
Điều đó không có nghĩa là giải thích mở rộng hoặc hạn chế nội dung của các quy phạm pháp luật một cách tùy tiện, mà theo người viết đó là sự bổ khuyết những thiếu sót của kỹ thuật lập pháp nước ta, làm cho các chủ thể thực hiện pháp luật hiểu đúng nội dung thật sự của các quy phạm pháp luật đó và ý chí đích thực của Nhà nước được thể hiện trong đó
Quay trở lại với ví dụ ở phương pháp giải thích thứ nhất, theo người viết để có thể hiểu một cách chính xác, hợp ký và nhằm tránh sự cố tình hiểu sai lệnh vấn đề của một số đối tượng thì ngoài phương pháp giải thích ngôn ngữ, văn phạm, phương pháp giải thích logic thì cần phải có sự kết hợp giải thích theo hướng mở rộng mới cho ra được kết quả giải thích như mong muốn Không “gói gọn” trong việc đội mũ bảo hiểm của người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy mà phạm vi giải thích còn được mở rộng ra
để (tất nhiên vẫn nằm trong khuôn khổ của điều luật) quy định một cách rõ ràng, hợp
lý nhất, tránh xảy ra tình trạng đối tượng vi phạm lợi dụng những tư thế khác nhằm che đậy, trốn tránh hành vi vi phạm pháp luật của mình, đảm bảo an toàn cho người tham gia giao thông Rõ ràng, để có được sự logic trong kết quả giải thích thì vấn đề
đã được giải thích theo hướng mở rộng
Đặc biệt là trong hoàn cảnh của Việt Nam hiện nay, nước ta mở cửa hội nhập, giao lưu với bạn bè trên trường quốc tế, theo đó làm phát sinh những mối quan hệ về kinh tế, dân sự…Trong khi như đã phân tích ở trên, là do ngôn ngữ nước ta có cách hiểu đa dạng và phức tạp hoặc là khi giải thích để áp dụng pháp luật của các nước khác hay các điều ước quốc tế trên đất nước Việt Nam mà chúng ta ký kết hay tham gia Vì thế, việc giải thích pháp luật một cách mềm dẻo cho phù hợp với những điều kiện của đất nước, chuẩn mực và thông lệ quốc tế là điều hết sức cần thiết
1.5 Một số nguyên tắc trong hoạt động giải thích pháp luật
1.5.1 Nguyên tắc tôn trọng sự trong sáng của ngôn ngữ
Giải thích pháp luật phát sinh khi ngôn ngữ của một điều khoản luật có thể gây
ra những cách hiểu hợp lý khác nhau về nội dung của điều khoản luật đó hay không rõ ràng Mỗi quy phạm luật đều có phần giả định cụ thể và ngôn ngữ của quy phạm đó, đặc biệt là phần quy định bị ràng buộc trong khung bối cảnh do phần giải định đó đặt
Trang 24ra Vì vậy khi giải thích một quy phạm luật thì nguyên tắc này yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải thích pháp luật không được làm thay đổi nội dung của quy phạm thông qua hoạt động giải thích Nếu ngôn ngữ của điều khoản luật đã đủ trong sáng và đơn nghĩa thì phải tuyệt đối tuân theo và không cần giải thích gì thêm Vì vậy, cơ quan
có thẩm quyền sẽ chỉ giải thích những thuật ngữ, khái niệm chưa rõ ràng hoặc đa nghĩa
mà thôi Nguyên tắc tôn trọng sự trong sáng của ngôn ngữ của quy phạm yêu cầu là khi giải thích một quy phạm pháp luật, cơ quan có thẩm quyền phải tôn trọng nguyên văn nghĩa của từ ngữ cần được giải thích Trong đó, theo cách hiểu phổ biến hoặc theo
từ điển và đặt trong bối cảnh cấu trúc ngữ pháp cũng như bối cảnh giả định của quy phạm đó Nguyên tắc này thể hiện sự tuyệt đối tuân thủ quy phạm pháp luật do cơ quan lập pháp ban hành nên nó luôn được coi trọng nhất trong hoạt động giải thích pháp luật
1.5.2 Nguyên tắc tôn trọng ý chí của cơ quan lập pháp
Nguyên tắc tôn trọng ý chí của cơ quan lập pháp yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải thích pháp luật phải tìm hiểu được và bám sát ý tứ và mục đích của cơ quan lập pháp khi ban hành ra quy phạm pháp luật Vì vậy, khi giải thích không được quá
xa rời tinh thần của cơ quan lập pháp định gửi gắm vào trong điều khoản luật Nếu việc giải thích mà không tôn trọng ý chí của cơ quan lập pháp và xa rời với tinh thần của quy phạm, thì lúc này kết quả của giải thích pháp luật sẽ không khác gì với việc ban hành pháp luật mới Cho nên, cơ quan có thẩm quyền giải thích cần hiểu rằng hoạt động giải thích pháp luật là hoạt động hỗ trợ cho hoạt động lập pháp Vì thế, nguyên tắc này cần phải được quán triệt trong suốt quá trình giải thích pháp luật Đối với nguyên tắc tôn trọng ý chí của cơ quan lập pháp, chủ thể giải thích cũng cần phải dựa vào những dự thảo luật, các phát biểu tranh luận của Đại biểu Quốc hội để thông qua luật thì sẽ cho ra kết quả giải thích đúng với ý chí của nhà làm luật Vì chính những dự thảo, các phát biểu trên đây thể hiện một cách chính xác nhất quan điểm, ý đồ của cơ quan lập pháp khi ban hành văn bản quy phạm pháp luật
Bên cạnh đó, khi giải thích cơ quan có thẩm quyền phải đặt quy phạm pháp luật cần giải thích vào trong bối cảnh của đạo luật chứa đựng nó để đưa ra một nội dung giải thích không được mâu thuẫn với các nội dung của các quy phạm pháp luật khác trong đạo luật đó cũng như trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật
1.5.3 Tôn trọng Hiến pháp khi tiến hành giải thích pháp luật
Như chúng ta đã biết Hiến Pháp được xem như là một luật gốc trong hệ thống pháp luật bất kỳ Vì vậy, tất cả những ngành luật như: hình sự, dân sự, lao động… được xây dựng đều dựa trên những nguyên tắc chung có trong Hiến Pháp Như vậy,
Trang 25hoạt động giải thích ngoài việc bám sát vào đạo luật chứa dựng quy phạm cần giải thích thì chủ thể có thẩm quyền phải chú ý đến các quy định của Hiến Pháp về những vấn đề có liên quan đến đạo luật cần giải thích Nhằm tránh tình trạng vi hiến xảy ra, đảm bảo tính chính xác cho nội dung giải thích
Từ những lý luận nêu trên có thể thấy rằng, người viết đã phân tích làm rõ khái niệm hoạt động giải thích pháp luật cũng như những cách phân loại, các phương pháp được sử dụng để tiến hành giải thích pháp luật, hoạt động giải thích pháp luật cần thiết như thế nào và cuối cùng là các nguyên tắc cần phải chú ý khi tiến hành giải thích pháp luật Từ đây có thể thấy rằng, hoạt động giải thích pháp luật đang là một vấn đề ít được lưu tâm dù nó là vấn đề mang lại rất nhiều tác dụng tích cực Hoạt động giải thích pháp luật đã “xuất hiện” ngay trong Hiến pháp năm 1959, tính đến nay cũng đủ thời gian để cơ quan lập pháp nước ta dành cho hoạt động này “sự ưu ái đặc biệt” đó là xây dựng một đạo luật riêng để điều chỉnh vấn đề này Nhưng cho đến nay, nhắc đến hoạt động này thì nó vẫn còn tương đối xa lạ đối với nhiều người Nguyên nhân chủ yếu là thiếu một cơ chế pháp lý làm cơ sở cho hoạt động giải thích pháp luật, về vấn đề này sẽ được người viết tập trung làm rõ ở chương hai
Trang 26CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
VỀ HOẠT ĐỘNG GIẢI THÍCH PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM
Giải thích pháp luật là cách thức làm cho việc hiểu, thực hiện pháp luật trong cuộc sống được thống nhất, hợp pháp và hợp lý Như vậy, cách thức tiến hành hoạt động giải thích pháp luật của các chủ thể tham gia hoạt động này được thể hiện như thế nào qua các giai đoạn giải thích và thực tế hoạt động này có được đảm bảo thực hiện không và còn có những vướng mắc gì? đây cũng chính là nội dung mà người viết muốn phân tích trrong phạm vi chương này
2.1 Các chủ thể liên quan trong hoạt động giải thích pháp luật
Hiến pháp năm 1959 là văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên quy định về giải thích pháp luật với tư cách là một hoạt động thuộc thẩm quyền của Ủy ban thường vụ Quốc hội14
Trên cơ sở kế thừa và phát triển quy định của Hiến pháp năm 1959, các bản Hiến pháp sau này và các văn bản quy phạm pháp luật quy định về giải thích pháp luật như: Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008; Nghị quyết số 26/2004/NQ-QH11 ngày 15-6-2004 của Quốc hội quy định về Quy chế hoạt động của
Ủy ban thường vụ Quốc hội; Nghị quyết số 02/NQ-UBTVQH9 ngày 17-10-1992 của
Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành về tổ chức, nhiệm vụ của Văn phòng Quốc hội; Nghị quyết số 369 cuả Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành về việc thành lập Ban Công tác lập pháp năm 2003… đã có một số quy định về hoạt động giải thích pháp luật, đến đây hoạt động giải thích pháp luật đã có được “đường đi nước bước” cho mình khi dựa vào những quy định nằm rải rác trong các văn bản nêu trên Theo đó, hoạt động giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh được quy định với những nội dung cơ bản như: chủ thể; văn bản giải thích; quy trình, thủ tục tiến hành giải thích
2.1.1 Chủ thể đề nghị giải thích
Nếu có một điều luật được quy định nhưng không rõ nghĩa, cần sự giải thích chính thức của cơ quan lập pháp theo trình tự quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 thì hoạt động giải thích pháp luật vẫn chưa thể tiến hành, công tác này phát sinh khi có chủ thể đề nghị tiến hành giải thích
Chủ thể có thẩm quyền đề nghị giải thích đã được pháp luật hiện hành quy định tại khoản 1 Điều 15 Nghị quyết số 26/2004/QH11 của Quốc hội ngày 15/6/2004 về Quy chế hoạt động của Uỷ ban thường vụ Quốc hội thay thế cho Quy chế hoạt động
14
Khoản 3 Điều 53 Hiến pháp năm 1959
Trang 27của Ủy ban thường vụ Quốc hội năm 1993 Tuy nhiên, ở đây người viết chỉ tập trung nghiên cứu và nêu lên những chủ thể có thẩm quyền đề nghị giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh, cũng như xoáy sâu vào hoạt động giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh, không đề cập đến Điều ước quốc tế trong điều luật này Điều luật quy định như sau:
“Uỷ ban thường vụ Quốc hội tự mình hoặc theo đề nghị của Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội, Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận và của đại biểu Quốc hội quyết định việc giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh, điều ước quốc tế đã được Quốc hội phê chuẩn, điều ước quốc tế có điều khoản trái hoặc chưa được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội,
Ủy ban thường vụ Quốc hội.”
Theo đó, các chủ thể sau đây có thẩm quyền đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh: Ủy ban thường vụ Quốc hội; Chủ tịch nước; Chính phủ; Tòa án nhân dân tối cao; Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, đại biểu Quốc hội; Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận
2.1.1.1 Ủy ban thường vụ Quốc hội
Ủy ban thường vụ Quốc hội là cơ quan duy nhất có thẩm quyền giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh Song song đó, Ủy ban thường vụ Quốc hội có thể tự mình đưa ra
đề nghị giải thích pháp luật Trường hợp này xảy ra khi chính Ủy ban thường vụ Quốc hội phát hiện ra điểm bất cập của điều luật Khi đó, Ủy ban thường vụ Quốc hội sẽ tiến hành hoạt động giải thích pháp luật mà không cần phải có sự đề nghị của bất kỳ chủ thể có thẩm quyền nào
2.1.1.2 Chủ tịch nước
Về phần mình, Chủ tịch nước ngoài những nhiệm vụ và quyền hạn được quy định cụ thể trong Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) như: Công bố Hiến pháp, luật, pháp lệnh; Ban hành lệnh, quyết định để thực hiện nhiệm vụ của mình; Chịu trách nhiệm và báo cáo trước Quốc hội; Có quyền tham dự các phiên họp của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ khi xét thấy cần thiết… Khi thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn này có thể sẽ nhận thấy được những điểm mà quy định pháp luật vẫn chưa thể hiện rõ ràng để từ đó đưa ra đề nghị
Ví dụ: Trong một buổi tham dự phiên họp của Chính phủ, khi cuộc họp đưa một vấn đề ra thảo luận mà pháp luật thực định có một quy định chưa rõ hay vẫn còn chung chung về vấn đề được đem ra thảo luận thì Chủ tịch nước có quyền yêu cầu Ủy ban
Trang 28thường vụ Quốc hội tiến hành giải thích làm rõ Chính vì, những nhiệm vụ và quyền hạn nêu trên mà Chủ tịch nước sẽ là chủ thể tiếp theo được giao thẩm quyền đề nghị giải thích pháp luật
2.1.1.3 Chính phủ
Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam15 Chính phủ gồm có Thủ tướng, các Phó Thủ tướng, các Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang bộ16
Do thành viên của Chính phủ quản lý chuyên môn ở từng lĩnh vực nên khả năng thấy được những điểm bất cập của các quy phạm pháp luật là một điều dễ dàng đối với Chính phủ Bên cạnh đó, đứng ở vị trí quản lý tổng quát trong lĩnh vực hành chính nên Chính phủ sẽ dễ dàng nhận ra sự “va chạm” giữa văn bản điều chỉnh lĩnh vực này với văn bản điều chỉnh lĩnh vực khác để có hướng giải quyết và đưa ra những đề xuất kịp thời
và hiệu quả Tất cả những yếu tố trên là nguyên nhân để Chính phủ được giao thẩm quyền đề nghị giải thích pháp luật bằng cách gửi Tờ trình lên Ủy ban thường vụ Quốc hội
2.1.1.4 Tòa án nhân dân tối cao
Cơ quan tiếp theo là Tòa án nhân dân tối cao cũng có thẩm quyền giải thích pháp luật Đây là một điều dễ hiểu, bởi vì đặt giả thiết nếu điều luật được xây dựng nên mà không đưa vào áp dụng trong đời sống thực tiễn thì sẽ không có vấn đề gì bàn cãi, còn ngược lại thì sẽ có ít hoặc nhiều (tùy vào trình độ lập pháp của mỗi quốc gia) Một trong những vấn đề phát sinh đó là việc giải thích pháp luật, đối với nước ta các quy phạm pháp luật thường mang tính chung chung, không rõ ràng, khó hiểu hoặc có thể dẫn đến nhiều cách hiểu hợp lý khác nhau, cần có các văn bản quy phạm pháp luật
có giá trị pháp lý thấp hơn quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật, thì hoạt động giải thích pháp luật là rất cần thiết đối với thực tiễn pháp luật nước ta Vì vậy, tòa án,
cơ quan có thẩm quyền xét xử duy nhất ở nước ta, khi thực hiện nhiệm vụ xét xử cũng đồng nghĩa với việc áp dụng các nguyên tắc luật định vào trong từng tình huống thực
tế cụ thể vì lẽ đó tòa án là một đối tượng có nhiều “cơ hội” gặp phải những tình huống cần được giải thích Như chúng ta đã biết, hệ thống tòa án nước ta được tổ chức theo chiều dọc, từ trung ương đến địa phương mà Tòa án nhân dân tối cao là cơ quan đứng đầu hệ thống tòa án trong cả nước, quản lý và hướng dẫn tòa án cấp dưới Qua những phân tích trên, việc trao cho Tòa án nhân dân tối cao thẩm quyền đề nghị giải thích pháp luật là hoàn toàn phù hợp với vị trí cũng như yêu câu của công việc
Trang 292.1.1.5 Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Một cơ quan nữa đó là Viện kiểm sát nhân dân tối cao, về tổ chức cũng giống như Tòa án nhân dân Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định của Hiến pháp và pháp luật17
Công tố là quyền truy
tố một người ra trước tòa án để buộc tội vì người đó đã thực hiện một tội phạm và chỉ Viện kiểm sát mới có thẩm quyền thực hiện Kiểm sát các hoạt động tư pháp là bao gồm kiểm sát các giai đoạn trong tố tụng hình sự18, Viện kiểm sát có mặt ở tất cả các giai đoạn trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, đảm bảo cho vụ án được giải quyết khách quan và chính xác, trong đó có hoạt động xét xử, đây là một giai đoạn đặc biệt khi Viện kiểm sát tham gia với cả hai nhiệm vụ công tố (đọc bản cáo trạng để luận tội)
và kiểm sát (giám sát việc xét xử) Nói như vậy không có nghĩa là nhiệm vụ kiểm sát của Viện kiểm sát chỉ dừng lại trong phạm vi của Luật tố tụng hình sự, dù không tham gia phiên tòa, không giữ quyền công tố nhưng Viện kiểm sát vẫn có nhiệm vụ kiểm sát hoạt động tư pháp ở các lĩnh vực còn lại như: dân sự, kinh tế, lao động… nhằm đảm bảo các vụ việc được giải quyết một cách đúng đắn, không xảy ra vi phạm pháp luật Nhìn chung, hoạt động của Viện kiểm sát là tương đối rộng hơn so với Tòa án, trong khi Tòa án chỉ có mặt ở giai đoạn xét xử thì Viện kiểm sát lại “túc trực” ở tất cả các giai đoạn còn lại Cho nên, khả năng mà Viện kiểm sát “bắt gặp” sự bất cập, vướng mắc trong điều luật là rất cao Bên cạnh đó, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao còn chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Ủy ban thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước19 Việc báo cáo công tác giúp Viện kiểm sát thông qua đó để nêu lên những khó khăn gặp phải khi công tác trên thực tế, từ đó đưa ra kiến nghị hoặc đề nghị giải thích pháp luật khi mà phạm vi hoạt động của cơ quan này khá rộng như người viết đã phân tích ở phía trên Vì thế, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền đề nghị giải thích pháp luật là điều không khó hiểu
2.1.1.6 Hội đồng dân tộc
Hội đồng dân tộc là một trong những cơ quan nằm trong tổ chức của Quốc hội Hội đồng dân tộc tham mưu cho Quốc hội về vấn đề dân tộc Nhiệm vụ của Hội đồng dân tộc là nghiên cứu và kiến nghị với Quốc hội những vấn đề về dân tộc; thực hiện quyền giám sát thi hành chính sách dân tộc và một số nhiệm vụ khác liên quan đến vấn
đề dân tộc Trước khi ban hành các chính sách về vấn đề dân tộc, Chính phủ phải tham
17 Điều 137 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001)
Điều 1 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002
18 Các giai đoạn tố tụng bao gồm: Khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án
19
Điều 139 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001)
Trang 30khảo ý kiến của Hội đồng dân tộc Hội đồng dân tộc gồm có Chủ tịch, Phó chủ tịch và các ủy viên do Quốc hội bầu ra trong số các đại biểu Quốc hội Hội đồng dân tộc có một số thành viên hoạt động chuyên trách Ngay trong Quốc hội, số lượng đại biểu là người dân tộc thiểu số cũng chiếm một tỷ lệ thích đáng, và có xu hướng mỗi ngày gia tăng – chính điều này đã thể hiện phần nào chính sách dân tộc của nhà nước ta Để đảm bảo tính khách quan trong việc giám sát hoạt động của cơ quan chấp hành của Quốc hội, thành viên của Hội đồng dân tộc không thể đồng thời là thành viên Chính phủ
Ngay trên chúng ta nhận thấy rằng, các hoạt động của cơ quan này đều liên quan đến các vấn đề về dân tộc Cũng như các cơ quan trên, khi hoạt động sẽ gặp phải những tình huống tương tự, trong vấn đề dân tộc nói riêng và ở các lĩnh vực khác nói chung
2.1.1.7 Các Ủy ban của Quốc hội
Ủy ban của Quốc hội được thành lập ra để giúp Quốc hội thực hiện tốt các nhiệm vụ, quyền hạn của mình Đồng thời các Ủy ban của Quốc hội còn là hình thức thu hút các đại biểu vào việc thực hiện công tác chung của Quốc hội Quốc hội thành lập hai loại ủy ban: Ủy ban thường trực và Ủy ban lâm thời
+ Ủy ban thường trực: Là những Ủy ban hoạt động thường xuyên Nhiệm vụ của các
Ủy ban này là nghiên cứu, thẩm tra dự án luật, kiến nghị về luật, dự án pháp lệnh và
dự án khác, những báo cáo được Quốc hội hoặc Ủy ban thường vụ Quốc hội giao; trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội ý kiến về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh; thực hiện quyền giám sát trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn do luật định; kiến nghị những vấn đề thuộc phạm vi hoạt động của Ủy ban Gồm có: Ủy ban pháp luật; Ủy ban tư pháp; Ủy ban kinh tế; Ủy ban tài chính, ngân sách; Ủy ban quốc phòng
và an ninh; Ủy ban văn hóa, giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng; Ủy ban về các vấn đề xã hội; Ủy ban khoa học, công nghệ và môi trường; Ủy ban đối ngoại + Ủy ban lâm thời: Là những Ủy ban được Quốc hội thành lập khi xét thấy cần thiết để nghiên cứu thẩm tra một dự án hoặc điều tra về một vấn đề nhất định
Ví dụ: Ủy ban kiểm tra tư cách đại biểu Quốc hội, Ủy ban sửa đổi Hiến pháp… Hầu như ở mọi lĩnh vực sẽ có một ủy ban tưng ứng, trong quá trình hoạt động các ủy ban này có thể gặp phải một số khó khăn, vướng mắc từ điều luật liên quan đến lĩnh vực hoạt động của mình, mà nguyên nhân là do điều luật quy định không rõ ràng hay đa nghĩa Như vậy, tùy từng lĩnh vực công tác mà ủy ban tưng ứng có thẩm quyền
đề nghị giải thích pháp luật
Trang 312.1.1.8 Đại biểu Quốc hội
Đại biểu Quốc hội là những công dân ưu tú trong các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội được nhân dân cả nước tín nhiệm bầu ra bằng tổng tuyển cử tự do Là người đại diện cho nhân dân đồng thời cấu thành nên cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, do đó Đại biểu Quốc hội vừa chịu trách nhiệm trước cử tri vừa chịu trách nhiệm trước Quốc hội về việc thực hiện nhiệm vụ đại biểu của mình
Tiếp dân là nhiệm vụ thường xuyên của Đại biểu để nghe nhân dân đóng góp ý kiến, từ đó thu thập và phản ánh ý chí, nguyện vọng đồng thời giúp dân giải quyết những thắc mắc, kiến nghị hoặc nâng chúng thành ý chí Nhà nước (thành các quy định của pháp luật) và đưa các quy định đó vào thực tế cuộc sống Đại biểu Quốc hội đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân cả nước, qua công tác tiếp dân lắng nghe nhân dân đóng góp ý kiến hoặc qua công tác, từ đó có thể phát hiện và đưa ra đề nghị giải thích pháp luật
2.1.1.9 Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được thành lập theo cơ chế bầu cử dân chủ, được phân cấp để hoạt động trong phạm vi toàn quốc Đây là tổ chức đại diện cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc, giữ vai trò phát huy dân chủ trong hệ thống chính trị
Thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam gồm có các tổ chức: Đảng Cộng sản Việt Nam, Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội nông dân Việt Nam, Hội cựu chiến binh Các tổ chức này có cơ cấu hoàn chỉnh và đóng vai trò quan trọng trong hệ thống chính trị Hoạt động của tổ chức ảnh hưởng rất lớn đến hệ quả quản lý nhà nước, phát huy tính dân chủ của nhà nước
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được thành lập nhằm pháp huy truyền thống đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị đối với nhân dân, tham gia xây dựng
và củng cố chính quyền nhân dân Mặt trận Tổ quốc tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia thực hiện pháp luật, góp phần tích cực vào hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước; Đưa ra những kiến nghị để xây dựng văn bản quy phạm pháp luật …Do đó, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được pháp luật quy định là một trong những chủ thể có thẩm quyền đề nghị giải thích pháp luật là một tất yếu
Nhìn chung, những chủ thể có thẩm quyền đề nghị giải thích pháp luật là những chủ thể có vị trí rất cao, hầu hết là những cơ quan đứng đầu ở Trung ương nên có thể
dễ dàng nhận thấy được những bất cập trong điều luật liên quan đến lĩnh vực quản lý
Trang 32của mình Nhưng theo quan điểm của người viết, các cơ quan này “đứng ở vị trí trên cao” thuận lợi cho việc quan sát bao quát nhưng lại rất khó khăn do không đi đến được từng “ngõ ngách” mà mình quản lý Đành rằng, khi gặp phải bất cập thì cơ quan cấp dưới sẽ báo cáo lên trên, vấn đề đặt ra là sẽ rất mất thời gian khi mà điều luật chưa được làm rõ thì người dân vẫn còn phải chờ, làm ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của họ, kéo theo hoạt động áp dụng pháp luật không được tiến hành khả thi trên thực tế Mặt khác, người dân không thể nào biết được nhu cầu giải thích pháp luật, tuy nhiên qua tiếp xúc với người dân, lắng nghe những thắc mắc của họ, từ đó Đại biểu Quốc hội sẽ đưa ra đề nghị giải thích pháp luật nhằm giải quyết những khó khăn, vướng mắc mà người dân gặp phải Tuy nhiên, dù Đại biểu Quốc hội có ở gần dân nhưng đâu phải lúc nào những rắc rối, khó khăn cũng “tìm đến” ngay họ nên lúc này quyền lợi của người dân vẫn chịu thiệt thòi hơn cả Vì vậy, theo người viết, về quy định này nên mở rộng thêm thành phần chủ thể có thẩm quyền đề nghị giải thích pháp luật, vấn đề này sẽ được người viết tiếp tục làm rõ ở chương ba
2.1.2 Chủ thể giải thích pháp luật
2.1.2.1 Về mặt pháp lý
Lịch sử hơn 60 năm Quốc hội Việt Nam cho thấy trong cơ cấu tổ chức Quốc hội luôn tồn tại một cơ quan thường trực, với Hiến pháp năm 1946 là Ban Thường vụ Nghị viện, với các Hiến pháp năm 1959 và Hiến pháp năm 1992 là Ủy ban thường vụ Quốc hội Riêng với Hiến pháp năm 1980 có quy định theo đó Hội đồng Nhà nước là
cơ quan thực hiện đồng thời chức năng của Ủy ban thường vụ Quốc hội và là Chủ tịch tập thể của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Trong bộ máy Nhà Nước Việt Nam, Ủy ban thường vụ Quốc hội có một vị trí rất đặc biệt Sự đặc biệt này do cơ cấu tổ chức và thẩm quyền của Ủy ban thường vụ Quốc hội tạo nên20 Sự hiện diện của Ủy ban thường vụ Quốc hội do vị trí, vai trò và cách thức hoạt động của Quốc hội chúng ta quyết định
Theo Điều 2 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, nhưng nhân dân không thể trực tiếp sử dụng quyền lực nhà nước trong mọi trường hợp được
mà phải thông qua Quốc hội Tại Điều 83 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân và cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Là cơ quan duy nhất có
20 PGS TS Nguyễn Đăng Dung, Tính nhân bản của Hiến pháp và bản tính của các cơ quan nhà nước, Nxb Tư
pháp, Hà Nội, 2004, tr 114
Trang 33quyền lập hiến và lập pháp, quyết định những vấn đề trọng đại của đất nước, giám sát tối cao toàn bộ hoạt động của Nhà nước
Hàng năm Quốc hội chỉ họp hai lần, trong khi quyền hạn lại rất lớn nên buộc Quốc hội phải thành lập ra một cơ quan để giúp Quốc hội đảm nhận các hoạt động có tính chất thường xuyên và điều phối hoạt động của Quốc hội giữa hai kỳ họp đó là Ủy ban thường vụ Quốc hội Vì vậy, so với các nước khác trên thế giới Ủy ban thường vụ Quốc hội của chúng ta có một vị trí, vai trò rất đặc biệt Có những nhiệm vụ, quyền hạn như: Những nhiệm vụ, quyền hạn liên quan đến chức năng thường trực tổ chức cho Quốc hội hoạt động; Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật – pháp lệnh và nghị quyết; Giải thích Hiến pháp, luật và pháp lệnh; Những nhiệm vụ liên quan đến việc quyết định tình trạng đặc biệt của đất nước; Điều khiển các phiên họp của Chủ tịch Quốc hội, và chứng thực các quyết định đã được thông qua của Quốc hội;…
Trong những nhiệm vụ, quyền hạn nói trên thì hoạt động giải thích pháp luật là một trong những hoạt động “tạo nên nét đặc biệt” cho Ủy ban thường vụ Quốc hội Sở
dĩ có “nét đặc biệt” đó là vì pháp luật do Quốc hội ban hành mà chính Quốc hội lại trao cho cơ quan thường trực của mình, do mình bầu ra “cái quyền” giải thích thông qua thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật đó là nghị quyết
Giải thích pháp luật là vấn đề đáng được quan tâm hiện nay Mặc dù vấn đề giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh đã được đặt ra từ rất sớm, trong các bản Hiến pháp của Nhà nước Việt Nam (trừ Hiến pháp năm 1946) đều có quy định về vấn đề này và đều giao cho cơ quan hoạt động thường xuyên của Quốc hội (Hội đồng nhà nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội) đảm nhiệm21 Nhưng cho đến thời điểm hiện nay, Ủy ban thường vụ Quốc hội chỉ thực hiện được năm lần giải thích pháp luật22 và khi tiến hành giải thích thì phải dựa vào các quy định được ghi nhận trong các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau vì chưa có một đạo luật cụ thể điều chỉnh rõ ràng
Ở Việt Nam, duy nhất cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải thích pháp luật chính thức đó là Ủy ban thường vụ Quốc hội, được Hiến pháp quy định có thẩm quyền giải thích Hiến pháp, luật và pháp lệnh Tại khoản 3 Điều 91 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của Ủy ban thường vụ
Quốc hội, trong đó có “Giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh”
21
Khoản 3 Điều 53 Hiến pháp năm 1959; khoản 5 Điều 100 Hiến pháp năm 1980; khoản 3 Điều 91 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung 2001)
22 Ban pháp chế, VCCI, Đôi nét về thực trạng giải thích pháp luật ở Việt Nam, Văn phòng Quốc hội, Giải thích
pháp luật – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn (Kỷ yếu Hội thảo quốc tế tại Hà Nội, tháng 2 - 2008), Nxb Hồng
Đức, Hà Nội, 2009, tr 339 – 348
Trang 34Và cũng được quy định tại Điều 85 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật
năm 2008: “Ủy ban thường vụ Quốc hội giải thích luật, pháp lệnh Cơ quan, tổ chức
quy định tại Điều 87 của Hiến pháp, đại biểu Quốc hội có quyền đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội giải thích luật, pháp lệnh Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét quyết định việc giải thích.”
Giúp Uỷ ban thường vụ Quốc hội trong hoạt động giải thích pháp luật có: Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, Văn phòng Quốc Hội, Ban công tác lập pháp Cụ thể tại: khoản 3 Điều 15 Nghị quyết 26/2004/NQ-QH11 ngày 15/6/2004 của Quốc hội quy định về việc ban hành quy chế hoạt động của Ủy ban thường vụ Quốc hội như sau:
“Ủy ban thường vụ Quốc hội giao Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát
nhân dân tối cao hoặc Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội soạn thảo dự thảo nghị quyết giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh trình Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định.”
Bên cạnh đó, tại khoản 1 Điều 86 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 cũng quy định về việc Ủy ban thường vụ Quốc hội giao Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội soạn thảo dự thảo nghị quyết giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh trình Ủy ban thường vụ Quốc hội và giao cho Hội đồng dân tộc hoặc Ủy ban của Quốc hội thẩm tra về sự phù hợp của dự thảo nghị quyết
Theo quan điểm của người viết, trong hai điều luật trên đây đã nổi lên một sự bất cập Đó là Ủy ban thường vụ Quốc hội sẽ giao cho một trong các cơ quan sau: Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội soạn thảo dự thảo nghị quyết giải thích và sau đó trình
Ủy ban thường vụ Quốc hội Tuy nhiên, Ủy ban thường vụ Quốc hội lại tiếp tục giao cho Hội đồng dân tộc hoặc Ủy ban của Quốc hội thẩm tra về sự phù hợp của dự thảo nghị quyết Vậy có phải Ủy ban thường vụ Quốc hội đã không “nhúng tay” vào hoạt động giải thích pháp luật mà giao phó cho những cơ quan đã nêu trên soạn thảo dự thảo nghị quyết giải thích rồi trình lên cho mình? Việc Ủy ban thường vụ Quốc hội bỏ phiếu thông qua mang tính hình thức nhiều hơn Như vậy, luật quy định Ủy ban thường vụ Quốc hội có thẩm quyền giải thích pháp luật để làm gì? Trong khi hầu như tất cả các “ý tứ” trong dự thảo nghị quyết đều do cơ quan khác đưa ra, Ủy ban thường
vụ Quốc hội tuy có xem xét lại nhưng để cho ra một kết quả giải thích chính xác và hợp lý đâu phải là chuyện “một sớm một chiều” mà đòi hỏi người giải thích phải đầu
tư nghiên cứu thật sâu, đặt điều luật vào hoàn cảnh ban hành, tìm hiểu ý chí của nhà
Trang 35làm luật muốn “gửi gắm” vào… có như vậy mới cho ra kết quả giải thích như mong muốn Thế nhưng, như đã từng đề cập do cơ cấu tổ chức và hoạt động đã chiếm hết thời gian thì liệu Ủy ban thường vụ Quốc hội có thể “đầu tư” cho hoạt động giải thích pháp luật được như vậy không? Cho dù Ủy ban thường vụ Quốc hội có đủ thời gian cũng như trí lực để thực hiện hoạt động giải thích pháp luật thì một điều đáng nói ở đây là quy định của pháp luật đã làm hao tốn biết bao thời gian cũng như tiền bạc của nhà nước Bởi vì cùng giải quyết một vấn đề mà có đến hai chủ thể thực hiện, trong khi hoạt động giải thích pháp luật buộc các chủ thể phải bỏ ra nhiều công sức, cho nên đây là một quy định không khả thi Thì việc trình lên Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét có cần không? Khi đã có sự thẩm tra từ phía cơ quan khác
Công tác thẩm tra ở đây cũng có nhiều bất cập Ủy ban thường vụ Quốc hội giao cho Hội đồng dân tộc hoặc Ủy ban của Quốc hội thẩm tra về sự phù hợp của dự thảo nghị quyết Sẽ không có gì để nói nếu như trước đó Ủy ban thường vụ Quốc hội giao cho những cơ quan đã nêu ở trên soạn thảo dự thảo nghị quyết trừ Hội đồng dân tộc và Ủy ban của Quốc hội.Bất cập phát sinh khi vừa giao cho Hội đồng dân tộc và
Ủy ban của Quốc hội soạn thảo dự thảo nghị quyết lại vừa thẩm tra ngay chính “sản phẩm” mình vừa tạo ra Công tác thẩm tra khó được tiến hành khách quan nếu trên thực tế xảy ra trường hợp này
Nói tóm lại, việc quy định trao cho Ủy ban thường vụ Quốc hội thẩm quyền giải thích pháp luật là không thiết thực Cần phải cân nhắc lại khả năng thực hiện hoạt động giải thích pháp luật của cơ quan này trên thực tế
Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật hiện hành (năm 2008) đã dành riêng một chương để quy định về hoạt động giải thích luật, pháp lệnh Nhưng chỉ “gói gọn” trong hai điều (Điều 85 và Điều 86) quy định về thẩm quyền giải thích và vấn đề xây dựng, ban hành dự thảo nghị quyết giải thích Trong khi đó, công tác giải thích pháp luật vẫn đang còn nhiều bất cập, rất cần được quy định cụ thể, rõ ràng hơn
2.1.2.2 Về mặt thực tiễn
Trong thực tế, chúng ta rất dễ dàng bắt gặp những lời giải thích pháp luật trong quá trình áp dụng pháp luật của một số chủ thể, mà theo nhận định của người viết đây
là những giải thích rất đáng tin cậy và đặc biệt là tính khả thi của chúng rất cao
Trở lại với ví dụ mà người viết đã từng nêu, tại điểm g Điều 9 Nghị định 146/2007 của Chính phủ quy định về những hành vi gây nguy hiểm trong an toàn giao thông đường bộ sẽ bị xử phạt từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng, trong đó có hành vi
Trang 36“Người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy không đội mũ bảo hiểm khi
đi trên đường theo quy định ”
Theo quy định này, cảnh sát giao thông khi tuần tra giao thông hay tham gia điều khiển an toàn giao thông có thể giải thích cho người vi phạm hoặc người tham gia giao thông hiểu đúng về quy định này Đặt trường hợp như một phương tiện giao thông (có gắn động cơ) đang lưu thông trên đường, người điều khiển ngồi trên xe có đội mũ bảo hiểm, ngược lại người phía sau lại đứng và không đội mũ bảo hiểm và bị phạt Rõ ràng, người này đã vi phạm Luật an toàn giao thông đường bộ khi có hành vi như vậy Nhưng để che đậy cho hành vi vi phạm nhằm “chối bỏ” trách nhiệm pháp lý
mà bản thân người đó phải thực hiện, người đó đã cố tình hiểu lệch đi ý nghĩa mà điều luật hướng đến Đó là, điều luật chỉ quy định phạt những người ngồi trên xe mà không đội mũ bảo hiểm, còn người vi phạm thì đứng trên xe nên việc không đội mũ bảo hiểm là không vi phạm Lúc này, cảnh sát giao thông phải thay Ủy ban thường vụ Quốc hội mà “tiến hành giải thích pháp luật” cho người vi phạm hiểu là luật quy định nhưng phải hiểu theo nghĩa “rộng” hơn Tức là khi tham gia giao thông thì phải đội
mũ bảo hiểm và tuyệt đối không được có hành vi gây nguy hiểm cho những người tham gia giao thông Hành vi gây nguy hiểm có thể là: đứng, nằm, với… Như vậy, người ở phía sau phương tiện đã có hành vi vi phạm gây nguy hiểm trong an toàn giao thông đường bộ, đó là: Không đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông, có hành
vi gây nguy hiểm (đứng) khi tham gia giao thông
Thực tế, những tình huống như thế này xảy ra không hiếm Cảnh sát giao thông cũng đã tiến hành giải thích cho người vi phạm hiểu, nhưng theo quy định của pháp luật lời giải thích của cảnh sát giao thông không phải là giải thích chính thức, không
có giá trị bắt buộc để người vi phạm phải tuân theo Dù thực chất trong lời giải thích chứa đựng nội dung giải thích rất nhiều, đồng thời cũng rất thiết thực Trên cơ sở giải thích cảnh sát giao thông ra quyết định xử phạt hành chính, người vi phạm tuân theo
vì quyết định này được bảo đảm thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước, chứ không phải lời giải thích có giá trị bắt buộc đối với họ
Một thực tế khác mà người viết muốn đề cập đó là lời giải thích của Thẩm phán khi tiến hành xét xử một vụ án trên thực tế Khi đương sự hoặc những người có liên quan trong vụ án không hiểu hoặc hiểu không rõ về một điều luật nào đó có liên quan tới họ, lúc này Thẩm phán có thể giải thích điều luật đó cho họ hiểu một cách đúng nhất Nhằm mục đảm bảo cho pháp luật được thực hiện nghiêm minh, kết quả xét xử công bằng, chính xác, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự cũng như những người có liên quan Lời giải thích đó là hợp pháp, có thể giúp cho việc giải
Trang 37quyết vụ án được tiến hành nhanh chóng nhưng cũng không quên yếu tố công bằng và khách quan, người bị áp dụng bị thuyết phục mà nghe theo Hơn hết, lời giải thích là chính thức nếu được ghi trong bản án, vì bản án có giá trị bắt buộc thi hành Đây chính là mâu thuẫn trong quy định của pháp luật nước ta Dù rất thiết thực và rất có ích cho hoạt động xét xử của Tòa án trong thực tiễn, góp phần đưa pháp luật vào cuộc sống thông qua hoạt động xét xử, nhưng hiện nay lời giải thích của Thẩm phán trong hoạt động xét xử vẫn không được pháp luật “thừa nhận” là giải thích pháp luật chính thức
Nhìn chung, vấn đề chủ thể giải thích pháp luật ở nước ta vẫn còn nhiều bất cập Ủy ban thường vụ Quốc hội - Chủ thể được pháp luật trao quyền giải thích pháp luật thì lại khó có thể đảm đương và hoàn thành tốt hoạt động này Cho đến nay hoạt động giải thích pháp luật do Ủy ban thường vụ Quốc hội thực hiện chỉ có “vẻn vẹn” năm lần trên thực tế Trong kkhi đó, những giải thích của các chủ thể khác (cảnh sát giao thông, thẩm phán…) lại mang nội dung giải thích rất chính xác, khả năng áp dụng vào thực tế là rất cao, thế nhưng những lời giải thích này lại không được đưa vào các quy định của pháp luật để nâng cao giá trị sử dụng cũng như ý nghĩa mà nó mang lại
2.2 Hình thức giải thích pháp luật
Giải thích pháp luật chính thức là một hoạt động mang tính quyền lực nhà nước,
do đó các nội dung của nó phải được các văn bản quy phạm pháp luật quy định và khi thực hiện giải thích pháp luật các chủ thể buộc phải tuân theo Thực tế cho thấy, tương ứng với mỗi hệ thống pháp luật sẽ có một cơ chế giải thích pháp luật và theo đó cơ sở pháp lý của giải thích pháp luật sẽ được thể hiện dưới các hình thức văn bản khác nhau23
Theo khoản 2 Điều 12 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 thì Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội được ban hành để giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh Như vậy, Ủy ban thường vụ Quốc hội dùng Nghị quyết để giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh Nghị quyết giải thích pháp luật của Ủy ban thường vụ Quốc hội được ban hành theo trình tự, thủ tục luật định
Luật quy định Ủy ban thường vụ Quốc hội giải thích pháp luật thông qua văn bản quy phạm pháp luật là nghị quyết Nhưng như đã đề cập ở những phần trước, hoạt động giải thích pháp luật ở nước ta hiện nay không chỉ được riêng Ủy ban thường vụ
23 TS Hoàng Văn Tú, Giải thích pháp luật - Một vấn đề cơ bản về lý luận và thực tiễn Việt Nam, Văn phòng Quốc hội, Giải thích pháp luật – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn (Kỷ yếu Hội thảo quốc tế tại Hà Nội, tháng 2
- 2008), Nxb Hồng Đức, Hà Nội, 2009, tr 37 – 48