Do bản chất là nguồn thu của ngân sách nhả nước, là loại thuế đối với đấtđai mang tính chất thuế tài sản, chính vì vậy quy định của Luật thuế sử dụng đất phinông nghiệp phải đảm bảo các
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
NGHIÊN CỨU LUẬT THUẾ
SỬ DỤNG ĐẤT PHI NÔNG NGHIỆP
Giáo viên hướng dẫn:
TS Lê Thị Nguyệt Châu
Sinh viên thưc hiên:
Lưu Thị Thúy Vy MSSV: 5075083 Lớp: Luật Thương Mại 1-Khóa 33
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Cần Thơ 12/2010
Trang 3NGHIÊN CỨU LUẬT THUẾ sử DỤNG ĐẮT PHI NÔNG NGHIỆP
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN
NGHIÊN CỨU LUẬT THUẾ sử DỤNG ĐẮT PHI NÔNG NGHIỆP
Trang 4NGHIÊN CỨU LUẬT THUẾ sử DỤNG ĐẮT PHI NÔNG NGHIỆP
2 Mực tiêu nghiên cứu đề tài 2
3 Phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Kết cấu đề tài 2
CHUƠNGl 4
TỎNG QUAN VỀ THUÉ ĐỐI VỚI ĐẤT ĐAI VÀ THUẾ sử DỤNG ĐẤT PHI NÔNG NGHIỆP 4
1.1 Một số vấn đề cơ bản về thuế đối vói đất đai 4
1.1.1 K hái quát lịch sử hình thành luật thuế đất đai ở Việt Nam 4
1.1.1.1 Thời kỳ từ năm 1954 đến trước năm 1983 4
1.1.1.2 Thời kỳ từ năm 1983 đến nay 6
1.1.2 Vai trò của luật thuế đổi với đất đai 7
1.1.3 Phân loại thuế đối với đất đai 8
1.1.3.1 Thuế đoi với đất đai mang tỉnh chất thuế tài sản 8
1.1.3.2 Thuế đổi với đất đai không mang tinh chất thuế tài sản 9
1.1.4 Đ ặc điểm của thuế đối với đất đai mang tính chất thuế tài sản 10
1.2 Th uế sử dụng đất phi nông nghiệp - Một số vấn đề cơ bản 11
1.2.1 K hái niệm đất phi nông nghiệp, thuế sử dụng đất phi nông nghiệp 11
1.2.1.1 K hải niệm đất phi nông nghiệp 11
1.2.1.2 K hải niệm thuế sử dụng đẩtphi nông nghiệp 12
1.2.2 Khái quát tình hình thu thuế theo Pháp lệnh thuế nhà, đất trước khi ban hành Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp 13
1.2.3 Sự cần thiết của Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp đối với nền kinh tế Việt Nam 19
Trang 5NGHIÊN CỨU LUẬT THUẾ sử DỤNG ĐẮT PHI NÔNG NGHIỆP
CHUƠNG 2 32
NỘI DUNG CỤ THẺ LUẬT THUẾ sử DỤNG ĐẮT PHI NÔNG NGHIỆP 32
2.1 Người nộp thuế 32
2.1.1 Khái niệm 32
2.1.2 Nội dung cụ thể về quy định người nộp thuế 32
2.1.2.1 Trong trường hợp thuê đất 33
2.1.2.2 Trong trường hợp nhiều người cùng có quyền sử dụng một thửa đất 35
2.1.2.3 Trong trường họp đất đã được cấp Giấy chủng nhận nhưng đang có tranh chấp 35
2.1.2.4 Trường hợp người có quyền sử dụng đất góp vốn kinh doanh bằng quyền sử dụng đẩt làm hình thành pháp nhân mới 35
2.2 Đối tượng chịu thuế và đối tượng không chịu thuế 36
2.2.1 Đối tượng chịu thuế 36
2.2.1.1 Khải niệm 36
2.2.1.2 Cơ sở quy định đoi tượng chịu thuế 37
2.2.1.3 Nội dung cụ thể của quy định về đổi tượng chịu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp 38
2.2.2 Đối tượng không chịu thuế 40
2.2.2.1 Khái niệm 40
2.2.2.2 Nội dung quy định về đoi tượng không chịu thuế 40
2.3 Căn cứ tính thuế 44
2.3.1 Giá tính thuế 44
2.3.1.1 Diện tích đất tinh thuế 44
2.3.1.2 Giá đất tỉnh thuế 51
2.3.2 Thuế suất 54
2.3.2 ỉ Khái niệm 54
2.3.2.2 Đoi với đất ở hộ gia đình, cả nhân 55
2.3.2.3 Thuế suất đoi với đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp 58
2.3.2.4 Thuế suất đoi với đất ở nhà nhiều tầng nhiều hộ, nhà chung cư, công trình xãy dựng dưới mặt đất 58
2.3.2.5 Thuế suất đoi với đất lẩn, chiếm 58
Trang 6NGHIÊN CỨU LUẬT THUẾ sử DỤNG ĐẮT PHI NÔNG NGHIỆP
2.3.3 Phương pháp tính thuế 59
2.4 Đăng ký, khai, tính, nộp thuế 59
2.4.1 Đ ăng ký thuế 60
2.4.2 Kê khai thuế 61
2.5 Miễn thuế, giảm thuế 61
2.5.1 N guyên tắc miễn thuế, giảm thuế 62
2.5.2 về miễn thuế 63
2.5.3 về giảm thuế 65
CHUƠNG 3 67
ĐÁNH GIÁ CHUNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM ÁP DỤNG THÀNH CÔNG LUẬT THUẾ sử DỤNG ĐẤT PHI NÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM 67
3.1 Đánh giá chung về Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp 67
3.1.1 Ư u điểm của Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp 67
3.1.2 M ột số hạn chế của Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp 72
3.3 Một số giải pháp nhằm áp dụng Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp có hiệu quả 73
3.2.1 Gi ải pháp về định giá đất phi nông nghiệp 73
3.2.2 Ban hành đồng bộ các văn bản hướng dẫn 75 3.2.3 T
Trang 7PHẦN MỞ ĐÀU
1 Lý do chọn đề tài
Mục tiêu của Đảng cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam đặt ra là đếnnăm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng côngnghiệp hóa, hiện đại hóa, để thực hiện thắng lợi mục tiêu này trước tiên phải thựchiện các tiền đề huy động vốn và sử dụng có hiệu quả, đào tạo nguồn nhân lực, pháttriển khoa học công nghệ, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhànước, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại
Gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới, theo lộ trình Việt Nam buộc phải cắtgiảm thuế quan, điều này dẫn đến nguồn thu từ thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu giảmsút, trong khi nhu cầu chi tiêu của ngân sách phục vụ các chức năng, nhiệm vụ kinh tế
- xã hội của Nhà nước không ngừng tăng lên, đòi hỏi Việt Nam phải có sự cải cáchđối với hệ thống chính sách thuế nội địa Việc xây dựng và ban hành Luật thuế sửdụng đất phi nông nghiệp là một trong số các giải pháp
Một trong những vai trò của thuế là tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước,điều tiết kinh tế vĩ mô Đây cũng chính là lý do ngày 17 tháng 06 năm 2010, tại kỳhọp thứ 7, Quốc hội khóa XII Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp được Quốc hộithông qua và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2012, sẽ thay thế Pháp lệnh thuếnhà, đất năm 1992 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh thuế nhà,đất năm 1994 Neu xem xét việc thu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp dưới góc độđánh thuế tài sản, thì trong quá trình cải tiến thuế, giảm dần tỉ trọng thuế gián thu vàtăng thuế trực thu, thuế sử dụng đất phi nông nghiệp là một bước đột phá Luật thuế
sử dụng đất phi nông nghiệp, có nhiều quy định mới so với Pháp lệnh thuế nhà, đấthiện hành Do bản chất là nguồn thu của ngân sách nhả nước, là loại thuế đối với đấtđai mang tính chất thuế tài sản, chính vì vậy quy định của Luật thuế sử dụng đất phinông nghiệp phải đảm bảo các nguyên tắc cơ bản trong xây dựng chính sách thuế,đồng thời phải đảm bảo được các mục tiêu, yêu cầu riêng đặt ra đối với một luật thuếđối với đất đai mang tính chất thuế tài sản Song do có nhiều quy định mới so vớichính sách thuế nhà đất hiện hành, nên khi xây dựng, ban hành và áp dụng trên thực
tế, theo quan điểm của người viết sẽ khó tránh khỏi những hạn chế, khó khăn cầnđược khắc phục kịp thời Nghiên cứu quy định của Luật thuế sử dụng đất phi nôngnghiệp, đồng thời đưa ra đánh giá chung, nêu quan điểm, đưa ra một số giải phápnhằm góp phần áp dụng thành công Luật sử dụng đất phi nông nghiệp khi triển khaitrên thực tế, đó là lý do mà người viết chọn đề tài “Nghiên cứu Luật thuế sử dụng đấtphi nông nghiệp” để nghiên cứu làm luận văn hoàn thành khóa học của mình
Trang 8NGHIÊN CỨU LUẬT THUẾ sử DỤNG ĐẮT PHI NÔNG NGHIỆP
2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài
Mục tiêu nghiên cứu đề tài, giúp người viết hiểu được quy định của Luật thuế
sử dụng đất phi nông nghiệp từ đó đưa ra ý kiến cá nhân về một số quy định nêu quanđiểm, đưa ra một số giải pháp nhằm góp phần áp dụng thành công Luật sử dụng đấtphi nông nghiệp ở Việt Nam
3 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài không nghiên cứu quy định của Luật đất đai đối với việc sử dụng cácloại đất, cũng như quy định pháp luật về thuế đối với đất đai, mà chỉ tập trung nghiêncứu quy định của Luật đất đai đối với việc sử dụng đất phi nông nghiệp trong việcthực hiện nghĩa vụ tài chính của chủ thể có quyền sử dụng đất phi nông nghiệp, cũngnhư quy định pháp luật về thuế đối với đất đai mang tính chất thuế tài sản, mà cụ thể
là quy định của Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu những quy định của pháp luật thuế đối với việc sửdụng đất phi nông nghiệp, người viết đã lựa chọn, sử dụng nhiều phương thức, thaotác để tìm hiểu, nghiên cứu những vấn đề trong luận văn như phương pháp sưu tầmthông tin, nghiên cứu lý luận dựa trên quy định của luật, nghị định, thông tư, giáotrình, sách, cập nhật các thông tin trên sách, báo, internet liên quan đến nội dung đềtài nghiên cứu
Đồng thời người viết sử dụng phương pháp phân tích, so sánh, bình luận vềcác quy định của luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp theo hướng dẫn của giáo viênhướng dẫn đề tài và đưa ra ý kiến cá nhân về một số quy định của luật thuế sử dụngđất phi nông nghiệp và đưa ra một số giải pháp nhằm góp phàn áp dụng thành côngLuật sử dụng đất phi nông nghiệp khi triển khai trên thực tế ở Việt Nam
5 Kết cấu đề tài
Đề tài được chia thành ba phần: phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận.Phần nội dung gồm ba chương:
Chưcmg 1: Tổng quan về thuế đối với đất đai và thuế sử dụng đất phi nông
nghiệp Với nội dung trình bày khái quát lịch sử hình thành luật thuế đất đai ở ViệtNam, vai trò, phân loại của luật thuế đối với đất đai, trình bày đặc điểm của thuế đốivới đất đai mang tính chất thuế tài sản Từ việc tìm hiểu những vấn đề vừa nêu, lảm
Trang 9NGHIÊN CỨU LUẬT THUẾ sử DỤNG ĐẮT PHI NÔNG NGHIỆP
thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, sự cần thiết, các yêu cầu mục tiêu đặt ra đối vớiviệc xây dựng Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, đồng thời khái quát quan hệpháp luật và khái quát sơ bộ về Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp
Chương 2: Giới thiệu cụ thể nội dung luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp.
Trên cơ sở nghiên cứu từ chương 1, người viết đi sâu vào nghiên cứu nội dung cụ thểcủa luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp Chương 2 với nội dung, giới thiệu quyđịnh chung nhất của Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, về người nộp thuế, đốitượng chịu thuế, đối tượng không chịu thuế, căn cứ tính thuế, việc đăng ký, khai, tínhnộp thuế và chính sách miễn thuế, giảm thuế đối với thuế sử dụng đất phi nôngnghiệp Từ đó người viết tìm hiểu, phân tích những vấn đề vừa nêu của Luật thuế sửdụng đất phi nông nghiệp, đồng thời chỉ ra những điểm họp lý, chưa họp lý của từngvấn đề khi triển khai trên thực tế
Chương 3: Đánh giá chung và một số giải pháp nhằm góp phần Luật thuế sử
dụng đất phi nông nghiệp Với việc tìm hiểu, nghiên cứu các vấn đề từ chương 1 vàchương 2, ở chương 3 người viết trình bày với nội dung đánh giá chung về luật thuế
sử dụng đất phi nông nghiệp và đưa ra ý kiến cá nhân về một số giải pháp nhằm gópphần góp phần áp dụng thành công Luật sử dụng đất phi nông nghiệp ở Việt Nam
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ THUẾ ĐỐI VỚI ĐẤT ĐAI
VÀ THUẾ SỬ DỤNG ĐẤT PHI NÔNG NGHIỆP
Trang 10NGHIÊN CỨU LUẬT THUẾ sử DỤNG ĐẮT PHI NÔNG NGHIỆP
1.1 Một số vấn đề Ctf bản về thuế đối vói đất đai
1.1.1 Khái quát lịch sử hình thành luật thuế đất đai ở Việt Nam
1.1.1.1 Thời kỳ từ năm 1954 đến trước năm 1983
Cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc Việt Nam giành thắng lợi năm
1954, nhưng đất nước ta lại bị chia cắt thành hai miền Bắc và Nam Nhân dân miềnBắc theo chế độ xã hội chủ nghĩa do chính quyền cách mạng lãnh đạo, trong khi nhândân miền Nam vẫn tiếp tục kháng chiến chống Mỹ nhằm thống nhất nước nhà Chính
vì đất nước bị chia cắt thành hai miền, mà ở hai miền Bắc và Nam của Việt Nam cóhai chính sách thuế riêng đối với đất đai, miền Bắc với chính sách thuế thổ trạch và ởmiền Nam thuế đánh vào đất đai là thuế điền thổ
a/ Thuế tho trạch ở miền Bắc
Ở miền Bắc, ngoài sắc lệnh số 13 ngày 01 tháng 05 năm 1951 về thuế nôngnghiệp, loại thuế đánh vào nhà, đất ở các thành phố và thị trấn thuộc diện được phépthu thuế là thuế thổ trạch được ban hành theo Điều lệ tạm thời về thu thuế thổ trạchđối do Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký ngày 12 tháng 01 năm 1956
“Đối tượng nộp thuế là người có nhà, đất hoặc người trực tiếp sử dụng nhà,đất Trường hợp có sự tranh chấp giữa người có nhà, đất với người nhận trực tiếp sửdụng nhà, đất mà chưa được giải quyết thì người nộp thuế thổ trạch là người quản lýhay sử dụng nhà, đất
Căn cứ tính thuế của thuế thổ trạch được xác định bởi hai yếu tố là thuế suất,giá nhà và giá đất tiêu chuẩn
Thuế suất thuế thổ trạch là thuế suất tỷ lệ được quy định riêng đối với nhà vàđất, như đối với đất có cất nhà, thuế thổ trạch gồm hai phần, một phần thu về nhà vớithuế suất cả năm bằng 0,8% giá nhà tiêu chuẩn, về phần thuế đất với thuế suất cả nămbằng 1,2% giá đất tiêu chuẩn V.V
Đối với giá nhà tiêu chuẩn và giá đất tiêu chuẩn được xác định như sau: giánhà tiêu chuẩn được xác định căn cứ vào giá mua bán nhà ở địa phưomg và giá tiềnxây dựng nhà, có phân theo từng loại, hạng Giá đất tiêu chuẩn được xác định căn cứvào vị trí của đất và giá mua bán đất ở địa phương, có phân theo từng loại, hạng Giánhà đất tiêu chuẩn được xác định căn cứ vào khu vực xây dựng nhà, hiện trạng nhà và
Trang 11Bộ Tài chính-Vụ Chính sách tài chính, Thuế tài sản-Kinh nghiêm thể giới và hướng vận dụng tại Việt Nam,
NXB Chính trị quốc gia, 2003, tr.79-82.
NGHIÊN CỨU LUẬT THUẾ sử DỤNG ĐẮT PHI NÔNG NGHIỆP
chuẩn được xác định căn cứ vào khu vực xây dựng nhà, hiện trạng nhà và giá thuênhà đất ở địa phưomg, có phân theo từng loại, hạng
về miễn thuế, các trường hợp được miễn hẳn thuế thổ trạch bao gồm; nhà, đất
của Nhà nước; nhà, đất của tư nhân sử dụng cho lợi ích công cộng, không có lợi tức;
nhà, đất của các tổ chức tôn giáo dùng vào việc thờ cứng; nhà đổ nát; nhà làm bằngtre, nứa, lá hay bằng những vật liệu hư hỏng khác.”1
b/ Thuế điền thố ở miền Nam
Thuế điền thổ được áp dụng ở miền Nam Việt Nam kể từ năm 1953, bao gồm
ba loại thuế là thuế ruộng, thuế vườn và thuế thổ trạch Trong đó, thuế ruộng căn cứtính thuế dựa vào năng suất ruộng, thuế vườn căn cứ vào loại cây trồng trong vườn vàthuế thổ trạch căn cứ vào diện tích đất và giá bất động sản
“Theo Sắc lệnh số 014/TT-SL ngày 21 tháng 10 năm 1972 của Chính quyềnSài Gòn, thuế điền thổ chỉ gồm hai loại là thuế ruộng vườn và thuế thổ trạch
về thuế ruộng vườn căn cứ vào năng suất ruộng vườn Theo quy định của thuế
ruộng vườn thì đối tượng đánh thuế gồm đất trồng lúa hay đất làm muối, đất trồngcác loại ngũ cốc trừ lúa, đất dùng vào chăn nuôi gia súc, hồ, ao, đầm, đìa, đất bỏhoang, đất khác không thuộc diện đánh thuế thổ trạch Đối tượng nộp thuế là chủ sởhữu ruộng vườn Căn cứ tính thuế được xác định dựa trên cơ sở trị giá năng suấtruộng vườn chịu thuế theo tình trạng ruộng vườn trong năm tính thuế, và thuế suất
tương ứng áp dụng từ 3% đến 6% ừong từng trường hợp Miễn thuế ruộng vườn đối
với tài sản không sinh lợi, đất mới khai khẩn trong ba năm, đất mới khai khẩn của dântộc ít người trong mười năm và đất nghĩa ừang tối đa chỉ 20m2 đối với một mộ
về thuế thổ trạch được xác định căn cứ vào trị giá bất động sản Thuế thổ trạch
quy định đối tượng đánh thuế gồm tất cả các loại nhà, vật kiến trúc và đất tọa lạc dù
là ruộng hay vườn trong phạm vi đô thành, thị xã, tỉnh lỵ, các thị tứ khác Đối tượngnộp thuế thổ ừạch là chủ sở hữu bất động sản Căn cứ tính thuế là giá trị bất động sảnchịu thuế, bao gồm cả trị giá đất và nhà, vật kiến trúc gắn liền với đất, ấn định theothời giá ngày 01 tháng 01 của năm tính thuế và thuế suất Thuế suất tối đa là 1,5% trịgiá đất, 1% trị giá nhà và vật kiến trúc, thuế suất tối thiểu được áp dụng riêng chotừng địa phương nhưng không thấp hơn 0,5% trị giá đất hoặc trị giá nhà và vật kiếntrúc Miễn thuế thổ trạch có thời hạn đối với nhà mói hoàn thành xây cất và nhà bị hư
Trang 12Bộ Tài chính-Vụ Chính sách tài chính, Thuế tài sản-Kinh nghiệm thể giới và hướng vận dụng tại Việt Nam,
Luật-NGHIÊN CỨU LUẬT THUẾ sử DỤNG ĐẮT PHI NÔNG NGHIỆP
hỏng nặng, miễn thuế vĩnh viễn đối với bất động sản không sinh lợi, bất động sảnthuộc sở hữu của các tổ chức tôn giáo, đoàn thể, đất dùng để thờ cúng, làm trườnghọc v.v ”2
c/ Chinh sách thuế đổi với đất đai sau năm 1975
Năm 1975 kháng chiến chống Mỹ của dân tộc giành thắng lợi, đất nước thốngnhất “Trong thời kỳ này cả nước thực hiện hệ thống pháp luật về thuế ban hành từtrước, có một số sửa đổi cho phù họp với tình hình mới.”3 Theo đó “Miền Bắc vẫntiếp tục thực hiện hệ thống pháp luật thuế đã ban hành từ, có sửa đổi bổ sung cho phùhọp với tình hình mới Còn miền Nam thi có áp dụng một số loại thuế cũ của chínhquyền Sài Gòn trên cơ sở xóa bỏ một số loại thuế không cò phù họp với tình hình mới
và sửa đổi bổ sung nhằm thích ứng với điều kiện đất nước thống nhất”4
“Trong đó thuế sử dụng đất nông nghiệp giữ một vai trò quan trọng đóng gópvào ngân sách nhà nước Bởi vi, trong giai đoạn này chúng ta phát triển chủ yếu lànông nghiệp nên thuế sử dụng đất nông nghiệp giữ vai trò rất quan trọng.”5
Tóm lại, do hoàn cảnh lịch sử và mục đích chính sách phát triển xã hội đối với
hai miền Bắc và Nam nước ta trong giai đoạn từ năml954 đến trước năm 1983 cónhiều điểm không giống nhau, nên chính sách thuế đối với đất đai áp dụng cho mỗimiền cũng có những điểm khác nhau, nhằm thích ứng với đặc điểm riêng của từngmiền Tuy nhiên, các chính sách thuế đối với đất đai của hai miền Bắc và Nam củaViệt Nam đều là nguồn thu chủ yếu, quan trọng đối với ngân sách Nhà nước tronggiai đoạn từ năm 1954 đến trước năm 1983, đây chính là điểm tương đồng lớn nhấtcủa thuế thổ trạch miền Bắc và thuế điền thổ ở miền Nam
1.1.1.2 Thời kỳ từ năm 1983 đến nay
Sau khi đất nước thống nhất năm 1975, đến năm 1983 Hội đồng nhà nước banhành Pháp lệnh thuế nông nghiệp năm 1983 thay thế sắc lệnh thuế nông nghiệp năm
1951, áp dụng trên toàn quốc Nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới quản lý kinh tế nôngnghiệp theo Nghị quyết 10 NQ/TW ngày 05 tháng 04 năm 1988, Pháp lệnh thuế nôngnghiệp năm 1983 được sửa đổi nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra
Trang 13Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật thuế Việt Nam, NXB Tư pháp, 2005, tr.250.
NGHIÊN CỨU LUẬT THUẾ sử DỤNG ĐẮT PHI NÔNG NGHIỆP
Nghị quyết Đại hội lần thứ VII của Đảng đề ra yêu cầu đổi mới trong quản lý
và sử dụng đất đai Trước yêu cầu đó, ngày 29 tháng 06 năm 1991, Hội đồng Nhànước đã ban hành Pháp lệnh thuế nhà, đất thay thế Điều lệ tạm thời về thuế thổ trạch,Pháp lệnh thuế nhà, đất có hiệu lực từ ngày 15 tháng 7 năm 1991 Và ngày 10 tháng 7năm 1993, Quốc hội đã thông qua Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp thay thế choPháp lệnh thuế nông nghiệp, có hiệu lực ngày 01 tháng 01 năm 1994 “Luật thuế sửdụng đất nông nghiệp ra đời đã làm thay đối căn bản bản chất của loại thuế đánh vàoviệc sử dụng đất vào sản xuất nông nghiệp, đó là sự thay thế loại thuế hỗn họp baohàm cả cả thuế đất và thuế hoa lợi trên đất bằng loại thuế sử dụng đất thuần túy”6
Ke tiếp sự ra đời của Pháp lệnh thuế nhà, đất và Luật thuế sử dụng đất nôngnghiệp, ngày 22 tháng 6 năm 1994, Quốc hội đã thông qua Luật thuế chuyển quyền
sử dụng đất Đạo luật này được xây dựng trong bối cảnh các giao dịch về chuyểnnhượng quyền sử dụng đất ở Việt Nam có xu hướng tăng, đòi hỏi phải tăng cườngquản lý nhà nước về đất đai, khuyến khích sử dụng đất có hiệu quả và động viên mộtphần thu nhập của người có đất chuyển nhượng vào ngân sách nhà nước
Hiện nay nguồn chủ yếu của pháp luật thuế đối với đất đai có thể tìm thấytrong Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp năm 1993 và các văn bản hướng dẫn thihành, Pháp lệnh thuế nhà, đất năm 1992, Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh thuếnhà, đất năm 1994 (sau đây gọi chung là Pháp lệnh thuế nhà, đất hiện hành) và cácvăn bản hướng dẫn thi hành, Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất năm 1994, Luật sửađổi, bổ sung Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất năm 1999 và các văn bản hướngdẫn thi hành
1.1.2 Vai trò của luật thuế đối với đất đai
Vai trỏ của luật thuế đoi với đất đai là những ảnh hưởng tích cực của quy phạm pháp luật về thuế đến hiệu quả của công tác quản lý nhà nước đổi với hoạt động sử dụng đất cũng như đoi với thị trường giao dịch quyền sử dụng đẩt.vai trò
chủ yếu của thuế đối với đất đai thể hiện:
Thử nhất, đó là công cụ quan trọng giúp Nhà nước quản lý hoạt động sử dụng
đất Góp phần khuyến khích việc sử dụng đất hiệu quả, tiết kiệm Đối với thuế sửdụng đất nông nghiệp, Nhà nước nắm được quỹ đất nông nghiệp trên thực tế nênkiểm soát được những biến động đối với việc sử dụng đất nông nghiệp như biến động
về số lượng diện tích đất sử dụng, hạng đất kịp thòi, đúng lúc Để từ đó có biện pháp
Trang 14TS Lê Thị Nguyệt Châu, Giáo trình luật thuế, Trường Đại học càn Thơ, 2006, tr.7.
NGHIÊN CỨU LUẬT THUẾ sử DỤNG ĐẮT PHI NÔNG NGHIỆP
ứng phó kịp thời, thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng đất nôngnghiệp Thêm vào đó, bằng việc áp dụng các chính sách ưu đãi về miễn thuế, giảmthuế trong sử dụng đất nông nghiệp, Nhà nước đã khuyến khích nông dân đẩy mạnhkhai hoang, phụ hóa, khai thác diện tích đất trống, đồi trọc vào phục vụ sản xuất nôngnghiệp Tưomg tự như thuế sử dụng đất nông nghiệp, thông qua chính sách quản lýthuế đối với đất ở, đất xây dựng công trình, Nhà nước nắm bắt được tình hình thực tếtrong sử dụng đất ở, đất xây dựng công trình, phát hiện kịp thời những biến động,cũng như những hành vi sai phạm trong quá trình sử dụng đất ở, đất xây dựng côngtrình, kịp thời chấn chỉnh, xử lý đúng quy định pháp luật
Thứ hai, pháp luật về đối vói đất đai còn là công cụ giúp Nhà nước quản lý
một cách hữu hiệu thị trường giao dịch quyền sử dụng đất Trong quá trình áp dụngthuế chuyển quyền sử dụng đất và việc giám sát việc thực thi luật thuế chuyển quyền
sử dụng đất, Nhà nước có thể phát hiện kịp những vấn đề nảy sinh mang tính chấtmới, từ đó có biện pháp điều chinh thích hợp với thực tế
Bên cạnh đỏ, luật thuế đối với đối với đất đai còn góp phần tạo nguồn thu cho
ngân sách nhà nước Do cùng mang bản chất “Thuế là một hình thức động viên bẳt
buộc của nhà nước theo luật định, khoản thu của ngân sách nhà nước mang tinh không hoàn trả trực tiếp và đổi giá” 1 Chính vì vậy việc chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế
theo quy định của luật thuế đối với đất đai thực hiện nghĩa vụ nộp thuế của mình làviệc đóng góp vào nguồn thu của ngân sách nhà nước
Từ những phân tích trên, cho thấy vai trò quan ừọng của luật thuế đối với đấtđai đối với đời sống xã hội, là nguồn thu không kém phần quan trọng đối với ngânsách nhà nước, là công cụ giúp Nhà nước thực hiện chức năng quản lý xã hội tronglĩnh vực tài chính
1.1.3 Phân loại thuế đối với đất đai
1.1.3.1 Thuế đoi với đất đai mang tỉnh chẩt thuế tài sản
Ở Việt Nam tuy chưa có luật riêng về thuế tài sản và cũng chưa có đạo luật thuếnào mang tên thuế tài sản, nhưng đối chiếu với cơ sở lý luận về tài sản và về thuế tài sảnthì các loại thuế đối với đất đai của Việt Nam có mang tính chất của thuế tài sản
“Thuế tài sản là tên gọi để chỉ đạo luật thuế lẩy tài sản làm đổi tượng đánh thuế, là đạo luật thuế đảnh vào bản thân tài sản mà không đánh vào phần thu nhập phát sinh từ tài sản đó, hay nói cách khác là đánh vào thu nhập tích lũy đã được vật 7
Trang 15Bộ Tài chính-Vụ Chính sách tài chính, Thuế tài sản-Kinh nghiêm thể giới và hướng vận dụng tại Việt Nam,
NXB Chính trị quốc gia, 2003, tr.29.
NGHIÊN CỨU LUẬT THUẾ sử DỤNG ĐẮT PHI NÔNG NGHIỆP
hóa dưới dạng tài sản ” Đây là một trong ba loại thuế theo cách phân loại dựa vào
đối tượng tính thuế Theo cách phân loại dựa vào các yếu tố kinh tế làm đối tượngtính thuế, thuế được chia thành ba loại thuế đánh vào thu nhập, thuế đánh vào tiêudùng và thuế đánh vào tài sản.8
Các khoản thuế đối với đất đai mang bản chất là loại thuế tài sản như thuế sửdụng đất nông nghiệp, thuế đối với đất ở, đất xây dựng công trình, thuế sử dụng đấtphi nông nghiệp Do cùng có đối tượng tính thuế là bất động sản, cụ thế là đất đai, kếđến là mục đích đánh thuế dựa vào loại đất cụ thể mà không đánh vào phàn thu nhậpphát sinh từ loại đất đó Ví dụ như thuế sử dụng đất nông nghiệp là thuế đánh vàongười được nhà nước giao quyền sử dụng đất để sử dụng vào mục đích sản xuất nôngnghiệp Hay thuế đối với đất ở, đất xây dựng công trình là thuế đánh vào người đượcnhà nước giao quyền sử dụng đất để sử dụng vào mục đích ở, xây dựng công trình
Hoặc thuế sử dụng đất phi nông nghiệp là loại thuế đánh vào chủ thể có quyền sửdụng đất phi nông nghiệp để sử dụng vào mục đích ở, sản xuất, kinh doanh phi nôngnghiệp Trong cả ba loại thuế vừa nêu, quyền sử dụng đất được xem là tài sản độc lập
và thuế đánh vào chủ sở hữu của quyền sử dụng tài sản đó hoặc chủ thể có quyền sửdụng tài sản đó
1.1.3.2 Thuế đối với đẩt đai không mang tính chất thuế tài sản
Khoản thuế khác hiện hành liên quan đến đất đai nhưng không mang tính chấtcủa thuế tài sản, đó là thuế chuyển quyền sử dụng đất là thuế đánh vào chủ thể cóquyền sử dụng đất khi thực hiện việc chuyển nhượng quyền đó cho người khác Đây
là một loại thuế phát sinh không thường xuyên phụ thuộc vào hoạt động sử dụng đấttrên thị trường bất động sản, chính vì vậy thuế chuyển quyền sử dụng đất phần nàomang tính chất của thuế thu nhập đánh trên hoạt động chuyển nhượng quyền sử dụngđất
1.1.4 Đặc điểm của thuế đối với đất đai mang tính chất thuế tài sản
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, người viết chỉ nghiên cứu đối với thuế
sử dụng đất phi nông nghiệp, mà thuế sử dụng đất phi nông nghiệp là loại thuế đối
Trang 16TS Lê Thị Nguyệt Châu, Giảo trình luật thuế, Trường Đại học càn Thơ, 2006, ừ 172.
10 Khoản 1 Điều 5 Luật đất đai năm 2003, được sửa đổi, bổ sung năm 2009.
11Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật thuế Việt Nam, NXB Tư pháp, 2005, tr.86.
NGHIÊN CỨU LUẬT THUẾ sử DỤNG ĐẮT PHI NÔNG NGHIỆP
với đất đai mang tính chất thuế tài sản Chính vì vậy khi phân tích đặc điểm của thuếđối với đất đai, người viết chỉ phân tích nội dung đặc điểm của thuế đối với đất đaimang tính chất thuế tài sản nhằm phần nào làm sáng tỏ nội dung đề tài nghiên cứu làthuế sử dụng đất phi nông nghiệp
Đặc điếm của thuế đối với đất đai mang tính chất thuế tài sản ở Việt Nam vẫnxuất phát từ đặc điểm của thuế tài sản, tuy nhiên về hình thức đánh thuế của ViệtNam có một số điểm khác do xuất phát từ đặc thù của chế độ sở hữu đối với đất đai là
sở hữu toàn dân Thuế đối với đất đai mang tính chất thuế tài sản của Việt Nam cómột số đặc điểm như sau:
Một là, “thuế đối với đất đai mang tính chất thuế tài sản cùng với thuế thu
nhập, thuế tiêu dùng thực hiện điều tiết thu nhập, thực hiện công bằng xã hội, cụ thế
là việc điều tiết thu nhập của những người giàu trong xã hội không thể chính xác nếu
bỏ qua ba loại thuế này.”9
Hai là, đối tượng nộp thuế là chủ thể có quyền sử dụng đất hoặc chủ sở hữu
của quyền sử dụng đất, mà không phải chủ sở hữu đất là đối tượng phải nộp thuế đất
Do “đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu”10 11 Vì theo quanđiểm duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin thì xã hội chủ nghĩa được xâydựng trên cơ sở công hữu về tư liệu sản xuất Trong đó, đất đai là tư liệu sản xuất cốtlõi, cơ bản, do vậy đất đai phải thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước quản lý Với tưcách là đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam thực hiện quyền định đoạt đất đai Hay nói cách khác, Nhà nước là chủ thểđại diện của quyền sở hữu đất đai “Quyền sở hữu đại diện của Nhà nước mang tínhchất duy nhất và tuyệt đối Tính duy nhất thể hiện, pháp luật không cho phép tồn tạibất cứ hình thức sở hữu nào khác ngoài hình thức sở hữu toàn dân về đất đai do Nhànước là người đại diện Tính tuyệt đối thế hiện, toàn bộ vốn đất đai trong phạm vi cảnước đều thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quảnlý.”11
Trang 17Bộ Tài chinh-Vụ Chính sách tài chính, Thuế tải sản-Kinh nghiệm thể giới vả hướng vận dụng tại Việt Nam,
NXB Chính trị quốc gia, 2003, tr.40.
13 Xem thêm quy đinh tại Điều 4 Luật đất đai năm 2003, được sửa đổi, bổ sung năm 2009.
NGHIÊN CỨU LUẬT THUẾ sử DỤNG ĐẮT PHI NÔNG NGHIỆP
Ba là, “thuế đánh vào bất động sản, cụ thể là đất đai thường chiếm chủ yếu
trong tổng số thu từ thuế tài sản”12, đây là cũng là nguồn thu chủ yếu được giữ lại chongân sách địa phưomg
Cuối cùng, thuế đối với đất đai mang tính chất thuế tài sản đây là loại thuế
tưomg đối dễ quản lý, do đối tượng chịu thuế là đất đai, loại tài sản đặc biệt quantrọng, quý giá của quốc gia nên Nhà nước luôn có cơ chế quản lý đặc biệt, từ quyđịnh về “bản đồ hiện trạng sử dụng đất đến quy định về hồ sơ địa chính, quy địnhviệc đãng ký quyền sử dụng đất v.v ”13
1.2 Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp - Một số vấn đề Ctf bản
1.2.1 Khái niệm đất phi nông nghiệp, thuế sử dụng đất phi nông nghiệp
1.2.1.1 Khải niệm đất phi nông nghiệp
Khái niệm đất phi nông nghiệp được ra đời khi Luật đất đai năm 2003 đượcban hành, được sửa đổi, bổ sung năm 2009 (sau đây gọi chung là Luật đất đai hiệnhành) Căn cứ vào mục đích sử dụng đất đai, đất đai được phân loại ba nhóm là nhómđất nông nghiệp, nhóm đất phi nông nghiệp và nhóm đất chưa sử dụng (xem Điều 13Luật đất đai hiện hành)
Như vậy, đất phi nông nghiệp là các loại đất không sử dụng vào mục đích
nông nghiệp như trong cây hàng năm, trổng cây lâu năm, trồng rừng sản xuất, trong rừng phòng hộ, trong rừng đặc dụng, nuôi trong thủy sản, làm muối, sử dụng vào mục đích nông nghiệp khác theo quy định của Chỉnh phủ, và các loại đất chưa xác định mục đích sử dụng.
Từ khái niệm vừa nêu, thì nhóm đất phi nông nghiệp bao gồm các loại đất sau
“đất ở gồm đất ở tại nông thôn, đất ở tại đô thị; đất xây dựng trụ sở cơ quan, xâydựng công trình sự nghiệp; đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; đất sảnxuất, kinh doanh phi nông nghiệp gồm đất xây dựng khu công nghiệp; đất làm mặtbằng xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh; đất sử dụng cho hoạt động khoáng sản;
đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm; đất sử dụng vào mục đích công cộnggồm đất giao thông, thuỷ lợi; đất xây dựng các công trình vãn hoá, y tế, giáo dục vàđào tạo, thể dục thể thao phục vụ lợi ích công cộng; đất có di tích lịch sử - văn hoá,danh lam thắng cảnh; đất xây dựng các công trình công cộng khác theo quy định củaChính phủ; đất do các cơ sở tôn giáo sử dụng; đất có công trình là đình, đền, miếu,
Trang 18Khoản 2 Điều 13 Luật đất đai hiện hành.
NGHIÊN CỨU LUẬT THUẾ sử DỤNG ĐẮT PHI NÔNG NGHIỆP
am, từ đường, nhà thờ họ; đất làm nghĩa trang, nghĩa địa; đất sông, ngòi, kênh, rạch,suối và mặt nước chuyên dùng; đất phi nông nghiệp khác theo quy định của Chínhphủ.”14
1.2.1.2 Khải niệm thuế sử dụng đất phi nông nghiệp
Cùng là hai loại thuế đối với đất đai mang tính chất là thuế tài sản, nhưng dođối tượng chịu thuế của Pháp lệnh thuế nhà, đất hiện hành chỉ bao gồm đất ở và đấtxây dựng công trình, nên khái niệm về thuế đối với đất ở, đất xây dựng công trìnhtrong Pháp lệnh thuế nhà, đất hiện hành được hiểu là thuế đánh vào người được Nhànước giao quyền sử dụng đất để sử dụng vào mục đích ở, xây dựng công trình Nóicách khác, loại thuế này thu vào việc trực tiếp sử dụng hoặc có quyền sử dụng đất ở,đất xây dựng công trình, không thu vào đất nông nghiệp, lâm nghiệp, đất nuôi trồngthủy sản và làm muối
Đối với thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, do quy định về đối tượng chịu thuế,Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp dựa trên cách phân loại về nhóm đất phi nôngnghiệp của Luật đất đai hiện hành, nên khái niệm về thuế đối với việc thuế sử dụng
đất phi nông nghiệp được hiểu như sau: Thuế sử dụng đất phỉ nông nghiệp là loại
thuế thu vào việc sử dụng đẩt phi nông nghiệp hoặc có quyền sử dụng đất phi nông nghiệp.
Hay nói cách khác thuế sử dụng đất phi nông nghiệp là loại thuế này đánh vào hành vi sử dụng đất phi nông nghiệp và hành vỉ không sử dụng đất phi nông nghiệp.
Theo đó trong trường họp thứ nhất thì thuế sử dụng đất phi nông nghiệp áp dụng đốivới hành vi sử dụng đất phi nông nghiệp tức là áp dụng đối với cả đối với ba loại chủ
thể sau: Thứ nhất, chủ thể được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây
gọi chung là Giấy chứng nhận) Thứ hai, chủ thể đang trực tiếp sử dụng đất thuộc đối
tượng chịu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp mà chưa được cấp Giấy chứng nhận
Thủ ha, đối với những chủ thể có quyền sử dụng diện tích đất lấn, chiếm thuộc đối
tượng chịu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp Trong trường họp thứ hai, thuế sử dụngđất phi nông nghiệp được áp dụng đối với hành vi không sử dụng đất phi nôngnghiệp, theo đó đối những chủ thể có quyền sử dụng đất phi nông nghiệp mà chưa sửdụng đất theo đúng quy định vẫn là chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế
Trang 19NGHIÊN CỨU LUẬT THUẾ sử DỤNG ĐẮT PHI NÔNG NGHIỆP
1.2.2 Khái quát tình hình thu thuế theo Pháp lệnh thuế nhà, đất trước khi ban hành Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp
Để góp phần quản lý nhà nước về đất đai, khuyến khích tổ chức, cá nhân sửdụng đất tiết kiệm, phù họp với Luật đất đai hiện hành, động viên sự đóng góp củangười sử dụng đất vào ngân sách nhà nước, Pháp lệnh thuế nhà, đất được ủy banthường vụ Quốc hội thông qua ngày 31 tháng 7 năm 1992 và được sửa đổi, bổ sungngày 19 tháng 05 năm 1994 (sau đây gọi chung là Pháp lệnh thuế nhà, đất hiện hành).Sau gàn hai mưoi năm thực hiện Pháp lệnh thuế nhà, đất, về cơ bản đã đạt được cácmục tiêu, yêu cầu đề ra khi ban hành Pháp lệnh, bên cạnh đó chính sách thuế nhà, đấthiện hành đã bộc lộ một số hạn chế càn được tiếp tục hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu,nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong tình hình mới Cụ thể:
a/ về những kết quả đạt được
Thủ nhất, Pháp lệnh thuế nhà, đất hiện hành góp phần tăng cường quản lý nhà
nước đối với việc sử dụng đất Theo quy định của Pháp lệnh thuế nhà, đất hiện hànhthì đối tượng chịu thuế là đất ở, đất xây dựng công trình, đối tượng nộp thuế là các tổchức, cá nhân có quyền sử dụng đất ở, đất xây dựng công trình Trong trường họpcòn có sự tranh chấp hoặc chưa xác định được quyền sử dụng đất thì tổ chức, cá nhânđang trực tiếp sử dụng đất là đối tượng nộp thuế đất Đe thực hiện Pháp lệnh thuếnhà, đất hiện hành thì tổ chức, cá nhân phải có trách nhiệm kê khai tình hình sử dụngđất với cơ quan thuế, kể cả trường họp có sự thay đổi Như vậy, thông qua việc kêkhai tình hình sử dụng đất của các tổ chức, cá nhân sử dụng đất đã góp phần tăngcường quản lý nhà nước đối với việc sử dụng đất
Thứ hai, quy định của Pháp lệnh thuế nhà, đất hiện hành quy định góp phàn
khuyến khích tổ chức, cá nhân sử dụng đất tiết kiệm phù họp với pháp luật về đất đai.Pháp lệnh thuế nhà, đất hiện hành quy định căn cứ tính thuế dựa trên thuế sử dụng đấtnông nghiệp là diện tích, hạng đất và định suất thuế Diện tích đất tính thuế có phânbiệt vị trí đất ở, đất xây dựng công trình và loại công trình xây dựng trên đất là côngtrình do một chủ hay nhiều chủ quản lý, đối với đất thuộc vùng đô thị diện tích đấttính thuế là toàn bộ diện tích đất của tổ chức, cá nhân quản lý, sử dụng, đối với đấtthuộc vùng nông thôn, diện tích đất tính thuế là toàn bộ diện tích đất thực tế quản lý
sử dụng của tổ chức, cá nhân không thuộc diện nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp, đốivới đất xây dựng nhà nhiều tầng hoặc khu tập thể có nhiều tổ chức, cá nhân quản lý,
sử dụng thì diện tích đất tính thuế của mỗi tổ chức, cá nhân quản lý, sử dụng được
Trang 20Hệ sổ các tầng Tầng 1
(lầu trệt)
Tầng 2 (lầu 1)
Tầng 3 (lầu 2)
Tầng 4 (lầu 3)
Trang 21NGHIÊN CỨU LUẬT THUẾ sử DỤNG ĐẮT PHI NÔNG NGHIỆP
Như vậy, thông qua cách xác định số thuế nhà, đất theo hướng quy định mứcthuế cụ thể đối với từng loại đất ở, đất xây dựng công trình, với mức thuế đối với đất
đô thị cao hom đất nông thôn từ 3 đến 32 lần mức thuế sử dụng đất nông nghiệp caonhất trong vùng như đã nêu ừên, Pháp lệnh thuế nhà, đất hiện hành đã góp phầnkhuyến khích các tổ chức, cá nhân sử dụng đất tiết kiệm và có hiệu quả hom
Thứ ha, chính sách đối với thuế nhà, đất hiện hành còn góp phần thực hiện
chính sách của Nhà nước đối với các đối tượng cần được ưu đãi Pháp lệnh thuế nhà,đất hiện hành có quy định những trường hợp được tạm miễn thuế đất và một sốtrường họp được xét miễn, giảm thuế đất, như các trường họp được tạm miễn thuế đấtgồm: Đất xây dựng trụ sở cơ quan hành chính sự nghiệp nhà nước, tổ chức, xã hội,công trình văn hóa; đất chuyên dùng vào mục đích quốc phòng, an ninh; đất ở thuộcvùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng định canh, định cư, vùng kinh tế mới; đất ở củagia đình thương binh, liệt sĩ thỏa mãn điều kiện luật định; đất xây nhà cho các đốitượng chính sách xã hội; đất ở của một số đối tượng đặc biệt khác; các chủ thể nộpthuế gặp khó khăn về kinh tế do ảnh hưởng các yếu tố khách quan, tùy theo mức độthiệt hại tài sản mà được xét giảm thuế hoặc miễn thuế
Thứ tư, Pháp lệnh thuế nhà, đất hiện hành động viên sự đóng góp của người sử
dụng đất vào ngân sách nhà nước, góp phần tạo nguồn thu cho ngân sách địa phương
để thực hiện các nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương Thuế nhà, đất có số thubình quân khoảng 500 tỷ mỗi năm và tốc độ tăng bình quân hàng năm 13% (số liệu
cụ thể nêu tại Phụ lục 1), đây là nguồn thu ổn định và đã góp phần thực hiện cácnhiệm vụ chi ngân sách địa phương
b/ về những tồn tại, hạn chế của Pháp lệnh thuế nhà, đất hiện hành
Ngoài những kết quả đạt được ừong gần hai mươi năm được áp dụng trên thực
tế, Pháp lệnh thuế nhà, đất hiện hành có một số hạn chế cần được tiếp tục hoàn thiện
để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong tình hìnhmới Những hạn chế đó được thế hiện sau đây:
Một là, về đối tượng chịu thuế, về xác định loại đất thuộc phạm vi điều chỉnh,
theo Luật đất đai hiện hành quy định “nhóm đất phi nông nghiệp bao gồm các loại
đất: đất ở gom đất ở tại nông thôn, đất ở tại đô thị; đất xây dựng trụ sở cơ quan, xây dựng công trình sự nghiệp; đất sử dụng cho mục đích quốc phòng, an ninh; đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp gom đất xây dựng khu công nghiệp; đất làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh; đất sử dụng cho hoạt động khoáng sản;
Trang 22Xem thêm Khoản 2 Điều 13 Luật Đất đai hiện hành.
16Trường Đại học luật Hà Nội, Giáo trình Luật thuế Việt Nam, NXB Tư pháp, 2005, tr.273-274.
17 Bộ Tài chính-Vụ Chính sách tài chính, Thuế tài sản-Kinh nghiệm thể giới và hướng vận dụng tại Việt Nam,
NXB Chính trị quốc gia, 2003, ừ 160.
NGHIÊN CỨU LUẬT THUẾ sử DỤNG ĐẮT PHI NÔNG NGHIỆP
đất sản xuất vật liệu xây dựng; đất làm gốm; đất sử dụng vào mục đích công cộng
V.V ” 15 Tuy nhiên, Pháp lệnh thuế nhà, đất hiện hành lại điều chỉnh đối với đất ở vàđất xây dựng công trình Như vậy đối tượng chịu thuế nhà, đất theo Pháp lệnh thuếnhà, đất hiện hành không còn phù họp với việc phân loại đất đai theo quy định củaLuật đất đai hiện hành, không phù họp với tình hình kinh tế - xã hội hiện nay và sựphát triển của thị trường bất động sản Do đó, cần phải thay đổi đối tượng chịu thuếđối với thuế nhà, đất là đất ở, đất sản xuất kinh doanh cho phù họp
Hai là, về căn cứ tính thuế, “để xác định căn cứ tính thuế đối với thuế đất, một
số quốc gia quy định dựa trên diện tích đất tính thuế, giá đất tính thuế và thuế suất
Trong đó diện tích đất tính thuế gồm toàn bộ diện tích đất thực tế sử dụng vào trồngtrọt, xây dựng nhà ở, công trình, kể cả phần diện tích bỏ hống Giá đất tính thuếthường được xác định căn cứ vào giá thị trường và thấp hơn giá thị trường hoặc là giá
do chính quyền địa phương ấn định, dựa vào khung giá đất của nhà nước, ví dụ luậtpháp của Thụy Điển quy định giá đất tính thuế bằng 75% giá thị trường; pháp luật
của Inđônêsia quy định giá đất tính thuế bằng 20% giá thị trường, về thuế suất, phổ
biến các nước quy định thuế suất rất thấp và là thuế suất tỷ lệ, ví dụ Thụy Điển ápdụng thuế suất 1,4% trên 75% giá thị trường (như vậy thực chất thuế suất bằng 1,05%
trên giá thị trường); Inđônêsia áp dụng thuế suất 0,5% trên 20% giá thị trường (thựcchất thuế suất chỉ bằng 0,1% ừên giá thị trường); Nhật Bản áp dụng thuế suất 0,3%
trên giá trị đất chịu thuế.”16
Song ở Việt Nam nếu theo Pháp lệnh thuế nhà, đất hiện hành thì các yếu tốgiúp xác định số thuế đất phải nộp không có sự hiện diện của giá đất tính thuế Pháplệnh thuế nhà, đất hiện hành quy định căn cứ tính thuế dựa hên thuế sử dụng đất nôngnghiệp là diện tích, hạng đất và định suất thuế “Thuế đối với đất ở, đất xây dựngcông trĩnh không liên quan đến thuế sử dụng đất nông nghiệp nhưng định mức thuếlại căn cứ vào mức thuế sử dụng đất nông nghiệp vừa không họp lý, vừa phức tạp.”17
Hạng đất được xây dựng từ năm 1992, qua quá trĩnh đô thị hóa trở nên lạc hậu
Nhiều vùng nông thôn đã trở thảnh thị trấn nhưng tiêu chuẩn điều chỉnh không đượcpháp luật về thuế nhà, đất hiện hành hướng dẫn rõ ràng Đồng thời hạng đất tính thuếđược xác định căn cứ vào năm yếu tố như “chất đất và độ phì của đất; yếu tố về vị trí;
Trang 2318 Xem thêm Phan Công Trận, Luận văn tốt nghiệp: Thuế sử dụng đất nâng nghiệp, Trường Đại học càn
Thơ-Khoa Luật-Khóa 33 (2007-2011), tr.16-21.
19 Trang thông tin điện tử Vãn phòng quốc hội: Thuyết minh chi tiết về dự án Luật thuế nhà, đẩt,
http://diithaoonline.auochoi.vn/du-thao-luat/du-thao-luat-nha- 11 lat/BC-thuvet-minh-k-h-ổ.DOC [truy cập
ngày 30-9-2010].
NGHIÊN CỨU LUẬT THUẾ sử DỤNG ĐẮT PHI NÔNG NGHIỆP
địa hình; điều kiện khí hậu, thời tiết; điều kiện tưới tiêu.”18 Căn cứ tính theo hạng đấtchỉ phù họp với việc phân loại để thu thuế sử dụng đất nông nghiệp, không phù họpvới đất ở, đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp
về thuế suất được tính bằng kilôgam thóc trên một hécta của từng hạng đất
căn cứ vào mục đích sử dụng, khả năng thu hoa lợi trên đất Quy định mức thuế caonhất bằng 32 lần thuế sử dụng đất nông nghiệp, về hình thức dễ gây ấn tượng là thuếđất đối với đất ở, đất xây dựng công trình quá cao nhưng thực chất lại là thấp vì lợinhuận tạo ra từ đất ở, đất xây dựng công trình có thể hom nhiều làn so với lợi nhuận
từ đất nông nghiệp Đặc biệt vùng giáp ranh giữa thành thị và nông thôn thường cócác mức thuế chênh lệch rất lớn Mức thuế đất phi nông nghiệp được áp dụng bằng từ
1 đến 32 lần mức thuế sử dụng đất nông nghiệp cao nhất trong vùng, nếu tính ra sốtiền phải nộp trên lm2 là rất thấp “Ví dụ mức thuế sử dụng đất nông nghiệp cao nhất
là 650 kg thóc/1 ha/năm (tương đương với 0,065kg thóc/m 2 /năm) Với giá thóc tính
thuế khoảng 4.000 đồng/kg thì thuế đất phải nộp đối với lm2 đất ở vị trí số 1, đườngloại 1, đô thị loại đặc biệt sẽ là 0,065 (kg) X 4.000 (đồng/kg) X 32 (lần) = 8.320đồng/m2/năm, trong khi giá cao nhất của loại đất này theo khung giá của Chính phủ là67.500.000 đồng/m2 thì số thuế phải nộp hàng năm chỉ bằng 0,0123% giá đất Mứcthuế sử dụng đất nông nghiệp thấp nhất là 0,008kg thóc/m2/năm, theo đó, thuế đấtphải nộp đối với lm2 đất ở nông thôn sẽ là 0,008 (kg) X 4.000 (đồng/kg) X 1 (lần) =
32 đồng/m2/năm, tương ứng với giá đất thấp nhất theo khung giá của Chính phủ là2.500 đồng/m2 thì số thuế phải nộp hàng năm bằng 1,28% giá đất”19
Thuế đối với đất ở, đất xây dựng công trình được tính bằng thóc theo giá thuế
sử dụng đất nông nghiệp vụ cuối năm trước liền kề năm thu thuế đối với đất ở, đấtxây dựng công trình, thiếu tính thuyết phục, gây nhiều thắc mắc cho người nộp thuế
Trong khi giá đất ở, đất xây dựng công trình tăng lên nhanh chóng, còn giá thóc chỉgiữ nguyên hoặc xuống thấp, từ đó mức thuế đối với đất ở, đất xây dựng công trìnhtính theo giá thóc càng chênh lệch theo hướng nghịch với giá thực tế của đất ở, đấtxây dựng công trình, “vừa gây thất thu cho ngân sách nhà nước, vừa không đảm bảoyêu cầu động viên công bằng, họp lý giữa những người sử dụng đất vào những mục
Trang 24Bộ Tài chính-Vụ Chính sách tài chính, Thuế tài sản-Kinh nghiệm thể giới và hướng vận dụng tại Việt Nam,
NXB Chính trị quốc gia, 2003, te 161.
NGHIÊN CỨU LUẬT THUẾ sử DỤNG ĐẮT PHI NÔNG NGHIỆP
đích khác nhau”20 Thêm vào đó, về phương thức thu thuế Pháp lệnh thuế nhà, đấthiện hành được xác định theo thuế sử dụng đất nông nghiệp mà thuế sử dụng đấtnông nghiệp ghi thu bằng thóc nhưng thu bằng tiền theo giá thóc của ủy ban nhândân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định cho từng mùa vụ đã dẫn đếnthiếu công bằng trong việc động viên thuế, có trường họp cùng hạng đất có cùng địnhsuất thuế, nhưng giá thóc giữa các địa phương khác nhau, nên việc quy định giá thócthu của các địa phương khác nhau, tạo thêm sự bất bình đắng trong chính sách thu
Cụ thể miền núi cao hơn miền xuôi vì giá thóc thu thuế ở miền núi, trung du thườngcao hơn ở vùng đồng bằng và miền xuôi, lúc thiên tai mất mùa phải nộp thuế nhiềuhơn lúc mùa vụ bình thường do giá thóc lúc mất mùa cao hơn lúc mùa vụ bìnhthường Giá thóc trên thị trường ở các thời điểm khác nhau cũng gây khó khăn chocông tác thu thuế và không khuyến khích người dân nộp thuế sớm
Ngoài ra, chính sách thuế đối với đất ở, đất xây dựng công trình chưa có sựđiều tiết cao đối với những đối tượng có quyền sử dụng diện tích đất lớn Căn cứ tínhthuế không có sự phân biệt giữa việc sử dụng đất trong hạn mức và vượt hạn mức,không phân biệt giữa người có một nhà hoặc một thửa đất với người có nhiều nhàhoặc sử dụng nhiều thửa đất và cũng không phân biệt giữa người có đất đưa vào khaithác sử dụng đúng tiến độ với người có đất nhưng bỏ hoang, không đưa vào khai thác
sử dụng Để khuyến khích sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả và hạn chế đầu cơ về đấtcần quy định mức thuế phân biệt đối với các trường họp trên để đảm bảo công bằng
Thủ ba, về việc xét miễn, giảm thuế, Pháp lệnh thuế nhà, đất hiện hành quy
định miễn thuế đối với gia đình thương binh loại 1/4, loại 2/4; gia đình liệt sĩ đượchưởng chế độ trợ cấp của Nhà nước, nhưng không miễn giảm đối với các đối tượng làngười có công với cách mạng như người hoạt động cách mạng trước ngày 19 tháng 8năm 1945; người hưởng chính sách như thương binh hạng 1/4, 2/4; bệnh binh 1/3,dẫn đến chưa công bằng trong quá trình thực hiện
Nhu vậy sau gần hai mươi năm được thực hiện Pháp lệnh thuế nhà, đất hiện
hành, về cơ bản đã đạt được các mục tiêu, yêu cầu đề ra khi ban hành Pháp lệnh, bêncạnh đó chính sách thuế nhà, đất hiện hành đã bộc lộ một số hạn chế cần được tiếptục hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nướctrong tình hình mới Nhìn chung Pháp lệnh thuế nhà, đất hiện hành chưa phát huy
Trang 25NGHIÊN CỨU LUẬT THUẾ sử DỤNG ĐẮT PHI NÔNG NGHIỆP
đầy đủ tác dụng là một công cụ quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước trong việc sửdụng, khai thác thế mạnh từ đất đai Những hạn chế, tồn tại trên đây của Pháp lệnhthuế nhà, đất hiện hành đòi hỏi phải nghiên cứu một hình thức thuế thống nhất đếđảm bảo tác dụng như một đòn bẫy quản lý kinh tế vĩ mô hom chỉ là tạo một nguồnthu đơn thuần cho ngân sách nhà nước
Chính vì vậy, việc hoàn thiện chính sách thuế đối với đất phi nông nghiệp làmột nhu càu cấp thiết, cụ thể như sau:
Thủ nhất, về đối tượng chịu thuế, càn sửa đổi đối tượng chịu thuế là các loại
đất thuộc nhỏm đất phi nông nghiệp cho phù họp với Luật đất đai hiện hành
Thứ hai, cần thay đổi căn cứ tính thuế theo giá đất và thuế suất cho phù họp
với quy định Luật đất đai hiện hành, đồng bộ với các chính sách thu về đất khác, đảmbảo công bằng giữa các đối tượng nộp thuế và giữa các vùng khác nhau, áp dụng biểuthuế lũy tiến đối với đất ở, quy định cụ thể về việc thu thuế đối với những trường họp
có nhiều đất ở để góp phần hạn chế đầu cơ về đất đai
Thứ ba, về chính sách miễn, giảm thuế cần bổ sung thêm một số đối tượng
chính sách xã hội, đối tượng ưu đãi đầu tư cho phù họp với quy định pháp luật đầu tưhiện hành, đồng thời bổ sung nguyên tắc miễn, giảm thuế để đảm bảo thực hiện thốngnhất trên toàn quốc
1.2.3 Sự cần thiết của thuế sử dụng đất phi nông nghiệp đối với nền kinh tế Việt Nam
Quán triệt chủ trương, quan điểm chỉ đạo của Đảng về việc tiếp tục xây dựng
và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đối mới chính sách pháp luật
về đất đai Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày ngày 30 tháng 01 năm 2008 của Hội nghịlần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá X về tiếp tục hoàn thiện thể chế
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã yêu cầu là ”Hoàn thiện chính sách
thuế đoi với hoạt động kinh doanh bẩt động sản, đẩt được giao nhưng không đưa vào
sử dụng theo cam kết và các trường hợp sở hữu, sử dụng nhà, đất vư0 quả hạn mức quy định, ngăn chặn những con sốt giá do đầu cơ bất động sản, đặc biệt là đất đai ”
Thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW, Quốc hội khoá 12 đã đưa Luật thuế sử dụng đấtphi nông nghiệp vào chương trình xây dựng pháp luật của Quốc hội
Thực hiện Chương trình cải cách hệ thống thuế đến năm 2010 Ngày 06 tháng
12 năm 2004, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 201/2004/QĐ-TTg về
việc phê duyệt chương trình cải cách hệ thống thuế đến năm 2010 là “Xây dựng hệ
Trang 26Trang thông tin điện tử Vãn phòng quốc hội: Thuyết minh chi tiết về dự án Luật thuế nhà, đẩt,
http://duthaoonline.cmochoi.vn/du-thao-luat/du-thao-lnat-nha- 11 lat/BC-thuvet-minh-k-h-6.DOC [truy cập ngày 30-9-2010].
NGHIÊN CỨU LUẬT THUẾ sử DỤNG ĐẮT PHI NÔNG NGHIỆP
thống chính sách thuế đồng bộ, có cơ cẩu hợp ỉỷ phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, gắn với hiện đại hoá công tác quản lý thuế nhằm đảm bảo chinh sách động viên thu nhập quốc dân, đảm bảo nguồn lực tài chỉnh phục vụ
sự nghiệp công nghiệp hoả, hiện đại hoá đất nước; góp phần thực hiện bình đẳng, công bằng xã hội và chủ động trong hội nhập kinh tế quốc tế ”
Sau gần hai mươi năm thực hiện Pháp lệnh thuế nhà, đất hiện hành, cơ bản đãđạt được các mục tiêu, yêu cầu đề ra khi ban hành Pháp lệnh Bên cạnh đó, chínhsách thuế nhà, đất hiện hành đã bộc lộ một số hạn chế càn được tiếp tục hoàn thiện đểđáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước ương tình hĩnhmới, như về đối tượng chịu thuế còn chưa phù hcrp với việc phân loại đất đai theo quyđịnh của Luật đất đai hiện hành, không phù họp với tình hình kinh tế - xã hội hiện
nay và sự phát triển của thị trường bất động sản về căn cứ tính thuế còn dựa trên cơ
sở thuế sử dụng đất nông nghiệp, về chính sách miễn, giảm thuế chưa đảm bảo đủtính bao quát, công bằng, họp lý giữa các đối tượng được huởng chính sách miễn,giảm thuế từ Nhà nước
“Qua tổng kết đánh giá tình hình thực hiện Pháp lệnh thuế nhà, đất hiện hànhcho thấy, Pháp lệnh thuế nhà, đất năm 1992 bao gồm 29 Điều, trong đó: cần bãi bỏ
17 Điều, bao gồm các điều từ Điều 9 đến Điều 12 và từ Điều 15 đến Điều 27 (về kêkhai, nộp thuế; xử lý vi phạm, khen thưởng; khiếu nại, thời hiệu; tổ chức thực hiện vàđiều khoản cuối cùng) nhằm đảm bảo phù hợp với các quy định của Luật quản lýthuế Cần phải sửa đổi, bổ sung 10 Điều: bao gồm các điều từ Điều 1 đến Điều 5 (vềđối tượng chịu thuế, người nộp thuế, đối tượng không chịu thuế); từ Điều 6 đến Điều
8 (về căn cứ tính thuế); Điều 13 và Điều 14 (về miễn giảm thuế) để phù họp với thựctiễn và phù họp với các quy định của Luật Đất đai, Luật Đầu tư và các chính sách thukhác liên quan đến đất đai hiện hành.”21
Theo quy định tại Điều 84 Hiến pháp năm 1992 và Điều 1 Nghị quyết số51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội về việc sửa đổi, bổ sungmột số điều của Hiến pháp năm 1992 thì việc sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế thuộcthẩm quyền của Quốc hội Như vậy, để xây dựng hệ thống thuế đồng bộ, phù họp vớichủ trương của Đảng, chiến lược cải cách thuế, yêu cầu thực tiễn và các Luật có liênquan, cần thiết phải ban hành Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp
Trang 27Lê Văn Tứ, Thời báo kinh tế Sài Gòn: Thuế nhà, đất là thuế gì vậy?,
http://www.thesaigontimes.vn/Home/diendan/vkien/23496/ [truy cập ngày 30-9-2010].
23 Trang thông tin điện tử Tạp chí thuế: Không đánh thuế nhà, đồi tên luật ở phút 89,
NGHIÊN CỨU LUẬT THUẾ sử DỤNG ĐẮT PHI NÔNG NGHIỆP
Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp lúc đầu xây dựng dự thảo được đặt tên
là Luật thuế nhà, đất vì đối tượng chịu thuế được xác định bao gồm nhà, đất “Tuynhiên, nhìn lại lịch sử thuế nước ta, điều dễ nhận thấy là thuế đất, thời xưa gọi là thuếđiền, tức là thuế đất nông nghiệp xuất hiện sớm nhất Điều đáng lưu ý là trong lịch sửhàng ngàn năm các vưcmg triều phong kiến, không thấy có ghi nhận nào về thuế nhà
Từ Cách mạng tháng tám năm 1945 tới nay, nước ta cũng chưa bao giờ thu thuế nhà.Trong cuộc cải cách thuế năm 1951, Nhà nước đã ban hành một loạt thuế mới thaycho tất cả các thuế cũ, trong đó có thuế nông nghiệp thu vào đất nông nghiệp, không
cỏ thuế nào thu vào nhà Năm 1992, Pháp lệnh thuế nhà đất được ban hành Tuy tênPháp lệnh như thế, nhưng ngay mở đầu đã quy định: “Tạm thời chưa thu thuế nhà vàchưa quy định về thuế nhà” Hiện nay thuế nhà, đất chỉ có tên, thực tế vẫn chỉ thuthuế đất Đó là lịch sử, ngẫu nhiên hay có những nguyên nhân khách quan ? Tiếcrằng, cho đến nay, chưa có công trình nghiên cứu nào lý giải hiện tượng này”22
Đồng thời, “trong báo cáo giải trình tiếp thu, Chủ nhiệm ủy ban Tài chính Ngân sách Phùng Quốc Hiển cho biết quan điểm của ủy ban thường vụ Quốc hội và
-đa số Đại biểu quốc hội là chưa nên đưa nhà ở vào diện chịu thuế “Việc áp dụng thuế
nhà ở tại thời điếm hiện nay chưa có sự đồng thuận cao ”, ông Hiến khắng định “Mặt khác, khi nền kinh tế của Việt Nam chưa thực sự on định, đời sống người dân còn nhiều khỏ khăn, việc áp dụng thuế nhà ở sẽ tác động đến tâm lý và làm tăng thêm nghĩa vụ tài chinh đổi với một bộ phận rất lớn người dân Cũng theo ủy ban thường
vụ Quốc hội một trong những mục tiêu áp dụng thuế đối với nhà ở là nhằm góp phànhạn chế đầu cơ nhà ở, song trên thực tế, giá trị nhà ở gắn liền với giá trị đất và thựcchất, về cơ bản vẫn là đầu cơ đất Mặt khác, ủy ban thường vụ Quốc hội cho rằng,việc áp dụng công cụ thuế để điều tiết đối với thị trường nhà, đất là cần thiết nhưngchỉ có thể góp phần làm hạn chế đầu cơ Xuất phát từ việc chưa đưa nhà ở vào diệnchịu thuế, đa số ý kiến Đại biểu quốc hội tán thành việc sửa tên luật thành Luật thuế
sử dụng đất phi nông nghiệp để đảm bảo thống nhất giữa tên gọi và nội dung củaluật.”23
http://www.tapchithue.com/cistl3911— khong-danh-thue-nha-doi-ten-luat-o-phut-89.htm [truy cập ngày
30-9-2010 ].
Trang 28NGHIÊN CỨU LUẬT THUẾ sử DỤNG ĐẮT PHI NÔNG NGHIỆP
Và theo quy định tại Điều 84 Hiến pháp năm 1992 và Điều 1 Nghị quyết số51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội về việc sửa đổi, bổ sungmột số điều của Hiến pháp năm 1992 thì việc sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế thuộcthẩm quyền của Quốc hội Nhu vậy, để xây dựng hệ thống thuế đồng bộ, phù họp vớichủ trưomg của Đảng, chiến lược cải cách thuế, yêu cầu thực tiễn và các Luật có liênquan, cần thiết phải ban hành Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp
Từ những lý do nêu trên Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp đã được Quốchội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 7 thông quangày 17 tháng 6 năm 2010
1.2.4 Việc xây dựng Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp dựa trên các mục tiêu, yêu cầu
Qua việc đánh giá ưu nhược điểm của chính sách thuế nhà, đất hiện hành vànhững đòi hỏi thực tế về điều kiện kinh tế xã hội ở nước ta kết họp chiến lược cảicách hệ thống thuế đến năm 2010 của Chính phủ đề ra ngày 06-12-2004, Thủ tướngchính phủ đã ban hành Nghị Quyết số 201/2004/QĐ-TTg về phê duyệt chương trìnhcải cách hệ thống thuế đến năm 2010, theo đó, chính sách thuế liên quan đến tài sản
là đất sẽ được hoàn thiện theo hướng mở rộng đối tượng chịu thuế để bảo đảm côngbằng giữa các tổ chức, cá nhân có quyền sử dụng tài sản là đất Như vậy việc xâydựng chính sách thuế đối với đất không những nhằm đạt những mục tiêu tổng quátnói chung trong chiến lược cải cách hệ thống thuế, mà còn phải thực hiện được nhữngmục tiêu cụ thể phù họp với chức năng vai trò của thuế đối với đất Để góp phần vàoviệc thực hiện có hiệu quả các mục tiêu nói trên, thì chính sách thuế đất nói chung vàthuế sử dụng đất phi nông nghiệp nói riêng là một hạt nhân góp một phàn quan trọng.Chính vì vậy khi xây dựng Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp có những nguyêntắc, mục tiêu, nhiệm vụ riêng phù họp với chức năng, vai trò của một chính sách thuếđối với đất đai, đồng thời cũng phải phù họp với các nhiệm vụ và mục tiêu chung củatoàn hệ thống thuế
“Theo quy định của Luật ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, Chínhphủ đã thành lập Ban soạn thảo để nghiên cứu, xây dựng Luật thuế sử dụng đất phi
Trang 29Trang thông tin điện tử Vãn phòng quốc hội: Thuyết minh chi tiết về dự án Luật thuế nhà, đẩt,
ngày 30 10-2010].
NGHIÊN CỨU LUẬT THUẾ sử DỤNG ĐẮT PHI NÔNG NGHIỆP
nông nghiệp Và đã xác định năm mục tiêu, yêu cầu cơ bản khi xây dựng Luật thuế sửdụng đất phi nông nghiệp”24, cụ thể:
Một là, Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp giúp tăng cường quản lý nhà
nước đối với đất phi nông nghiệp, khuyến khích tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụngđất tiết kiệm, có tác dụng làm tăng hiệu quả sử dụng đất và đầu tư trên đất phi nôngnghiệp, công cụ hữu hiệu làm giảm tình trạng đầu cơ bất động sản và tích trữ tiền tiếtkiệm của dân vào bất động sản, bằng cách đánh thuế cao trường hợp có quyền sử dụngdiện tích đất phi nông nghiệp thuộc đối tượng chịu thuế sử dụng đất phi nông nghiệpnhưng không sử dụng đúng mục đích quy định, hay sử dụng lãng phí, hiệu quả thấp,khuyến khích thị trường bất động sản phát triển lành mạnh Ngoài ra Luật thuế sửdụng đất phi nông nghiệp còn có khả năng điều chỉnh quy hoạch đô thị, bố trí lại dân
cư bằng cách đánh thuế cao vào nơi cần giảm dân, cần giảm giá đất và ngược lại
Hai là, một số quy định trong Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp kế thừa
một số quy định của pháp luật hiện hành về thuế liên quan đến thuế sử dụng đất phinông nghiệp còn phù họp Đồng thời khắc phục những mặt hạn chế của Pháp lệnhthuế nhà, đất hiện hành, nâng cao tính pháp lý của pháp luật về thuế nhà, đất trên cơ
sở bổ sung mới và kế thừa các quy định còn phù họp
Ba là, các quy định trong Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp không quá kỹ
thuật, phức tạp, phải rõ ràng, dễ thực hiện, dễ quản lý Điều 84 của Hiến pháp năm
1992, được sửa đổi, bổ sung năm 2001 đã đặt ra nguyên tắc: Quốc hội có nhiệm vụ vàquyền hạn “quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế” Do vậy, nghĩa vụ đóng thuếcủa mọi cá nhân và tổ chức phải được luật hóa chi tiết, cụ thể Neu đứng ở góc độngười nộp thuế, là người trực tiếp chịu gánh nặng về chính sách thuế sử dụng đất phinông nghiệp, theo quan điểm của người viết thì người nộp thuế có quyền đòi hỏichính đáng là sau khi đọc xong Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, có thể tínhtoán, có thể ước tính được rằng mình phải nộp bao nhiêu tiền thuế sử dụng đất phinông nghiệp Chính vì vậy quy định của Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp phảitheo hướng rõ ràng, không quá phức tạp, như vậy giúp cho việc thực hiện chính sáchthuế dễ thực hiện và dễ quản lý Song không có nghĩa là quy định của Luật thuế sửdụng đất phi nông nghiệp lại rất ngắn gọn hay chỉ quy định chung chung, điều nàykhông đúng với quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008,
Trang 30TS Dương Anh Sơn, Viện chiến lược, chính sách tài nguyên và môi trường: Luật thuế nhà, đất: Sự cần thiết
ban hành và một số nội dung cơ bản, thiet-ban-hanh-va-mot-so-noi-dưng-co-ban [truy cập ngày 01-11-2010].
http://www.isponre.gov.vn/homc/dien-dan/426-luat-thiie-nha-dat-sii-can-26 TS Dương Anh Sơn, Viện chiến lược, chính sách tài nguyên và môi trường: Luật thuế nhà, đẩt: Sự cần thiết
ban hành và một so nội dung cơ bản, thiet-ban-hanh-va-mot-so-noi-dưng-co-ban [truy cập ngày 01-11-2010].
http://www.isponre.gov.vn/homc/dien-dan/426-luat-thue-nha-dat-su-can-NGHIÊN CỨU LUẬT THUẾ sử DỤNG ĐẮT PHI NÔNG NGHIỆP
gây khó khăn cho người thực hiện, đặc biệt là ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và nghĩa
vụ cơ bản của công dân khi thực hiện nghĩa vụ nộp thuế, và có khả năng dẫn đến việcquy định của nghị định, thông tư hướng dẫn sẽ dài nhiều hom quy định trong luật
Bon là, các quy định trong Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp phải tiếp cận
với thông lệ quốc tế về thuế đất, tạo điều kiện thuận lợi cho việc hội nhập quốc tế Cóquan điểm cho rằng “chương trình xây dựng luật của một số nước trên thế giới đã bỏloại thuế đối với tài sản, nên Quốc hội cần cân nhắc việc đưa Luật thuế sử dụng đấtphi nông nghiệp vào chương trình xây dựng luật”25 Song theo quan điểm của ngườiviết cho rằng, việc một số nước bỏ thuế tài sản không có nghĩa là Quốc hội Việt Namkhông nên xây dựng và ban hành loại thuế này, bởi mỗi quốc gia có những đặc trưngriêng Hơn nữa, các quốc gia khác bỏ thuế tài sản nhưng có thể có những loại thuếkhác thay thế cho thuế tài sản Ngược lại, “vẫn có quốc gia không những duy trì màcòn tăng thuế đối với thuế tài sản như Hàn Quốc.”26 Vì vậy, không thể vì lý do một sốquốc gia bỏ thuế tài sản mà Việt Nam chậm triển khai việc xây dựng và ban hànhLuật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp là loại thuế đối với đất đai mang tính chất thuếtài sản Chính vì vậy, việc xây dựng Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp là phùhọp với thông lệ quốc tế về thuế đất, tạo điều kiện thuận lợi cho việc hội nhập quốctế
Cuối cùng, Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp phải động viên họp lý sự
đóng góp của người sử dụng đất phi nông nghiệp, nhất là những đối tượng sử dụngđất vượt hạn mức quy định vào ngân sách nhà nước, đây là cách thức để điều tiết mộtphần chi phí của người giàu trong sử dụng đất phi nông nghiệp để góp phần tạo côngbằng về quyền sử dụng đất vốn là tài sản của toàn dân
1.2.5 Quan hệ pháp luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp 1.2.5.1 Chủ thể
Quan hệ pháp luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp là quan hệ hình thànhgiữa một bên là cơ quan nhà nước có thẩm quyền và bên kia có nghĩa vụ nộp thuế,phát sinh trong quá trình các chủ thể này thực hiện nghĩa vụ nộp thuế sử dụng đất phinông nghiệp vào ngân sách nhà nước Như vậy chủ thể tham gia vào quan hệ pháp
Trang 31Trường Đại học luật Hà Nội, Giáo trình Luật thuế Việt Nam, NXB Tư pháp, 2005, tr.270.
NGHIÊN CỨU LUẬT THUẾ sử DỤNG ĐẮT PHI NÔNG NGHIỆP
luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp có thể phân thành hai nhóm là cơ quan nhànước đại diện cho nhà nước với tư cách là chủ thể quyền lực và chủ thể có nghĩa vụnộp thuế sử dụng đất phi nông nghiệp
a/ Cơ quan nhà nước có thấm quyển tham gia vào quan hệ pháp luật thuế sử dụng đẩtphi nông nghiệp
“Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tài sản đặc biệt của quốcgia, luôn gắn liền với địa giới hành chính, vì vậy việc quản lý, thu thuế đối với đấtkhông thể tách rời hoạt động quản lý của cơ quan quản lý nhà nước ở các cấp chínhquyền địa phương là ủy ban nhân dân các cấp.”27
Sự có mặt của hệ thống cơ quan thuế và kho bạc nhà nước trong các quan hệpháp luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp là tất yếu, cụ thể tại Điều 8 Luật thuế sửdụng đất phi nông nghiệp quy định rõ tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có quyền sử dụngđất phi nông nghiệp có nghĩa vụ đăng ký, khai, tính và nộp thuế tại cơ quan thuếhuyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi có quyền sử dụng đất Nhưng ngoài cơquan ngoài cơ quan quản lý chuyên ngành còn có sự tham gia chặt chẽ của các cơquan chính quyền nhà nước ở địa phương, đó là ủy ban nhân dân các cấp Do bảnchất là thuế tài sản, thuế có liên quan đến đất là nguồn thu mang tính chất địa phương,
vì vậy chính quyền địa phương rất quan tâm đến việc chỉ đạo hoạt động quản lý đấtđai, quy định giá tính thuế đất và tổ chức quản lý thu thuế Theo Điều 32 Luật ngânsách nhà nước năm 2002 quy định các khoản thu về đất và các khoản thuế có liênquan đến đất là những khoản được để lại toàn bộ cho ngân sách địa phương Điều nàyphần nào giải thích cho sự tham gia của cơ quan chính quyền nhà nước ở địa phươngvào các quan hệ pháp luật thuế có liên quan đến việc sử dụng đất, cụ thể là thuế sửdụng đất phi nông nghiệp Đặc biệt đối với thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, ủy bannhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tham gia vào quan hệ pháp luật thuế
sử dụng đất phi nông nghiệp ngay từ khâu quy định giá đất theo mục đích sử dụnglàm căn cứ tính thuế sử dụng đất phi nông nghiệp Như vậy từ quy định về giá đấttheo mục đích sử dụng làm căn cứ tính thuế, từ đó cơ quan thuế huyện, quận, thị xã,thành phố thuộc tỉnh nơi người nộp thuế đăng ký thuế và khai thuế sẽ xác định số tiềnthuế cụ thể đế người nộp thuế có nghĩa vụ phải nộp Đồng thời, ủy ban nhân dân cáccấp còn tham gia vào vào quan hệ pháp luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp ở khâuxét miễn thuế, giảm thuế Vì theo quy định của Luật quản lý thuế thì cơ quan quản lý
Trang 32Trường Đại học luật Hà Nội, Giáo trình Luật thuế Việt Nam, NXB Tư pháp, 2005, tr.259.
29 Điều 1 Luật quản lý thuế năm 2006. NGHIÊN CỨU LUẬT THUẾ sử DỤNG ĐẮT PHI NÔNG NGHIỆP
thuế ừong đó có ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm thực hiện việc xét miễnthuế, giảm thuế đối với các đối tượng thuộc diện được miễn thuế, giảm thuế theo quyđịnh pháp luật
b/ Chủ thể cỏ nghĩa vụ nộp thuế
Theo Điều 4 Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp quy định: “Người nộp
thuế là tố chức, hộ gia đình, cả nhân có quyển sử dụng đất thuộc đoi tượng chịu thuế quy định tại Điầỉ 2 của Luật này.
Trường hợp to chức, hộ gia đình, cả nhân chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì người đang sử dụng có nghĩa vụ nộp thuế”
Theo quy định trên thì chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế sử dụng đất phi nôngnghiệp bao gồm các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có quyền sử dụng hoặc đang sửdụng đất phi nông nghiệp Quyền sử dụng đất phi nông nghiệp được thể hiện bằngGiấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền vớiđất hoặc thể hiện bằng thực quyền, tức là người đang sử dụng đất phi nông nghiệpthuộc đối tượng chịu thuế đất phi nông nghiệp
1.2.5.2 Khách thể
Khách thể của quan hệ pháp luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp là căn cứ
tính thuế sử dụng đất phi nông nghiệp Và “căn cứ tỉnh thuế sử dụng đất phi nông
nghiệp là những yếu tố cho phép xác định được sổ thuế các chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế phải nộp vào ngân sách nhà nước ” 28 Để xác định số lượng thuế sử dụng đất phinông nghiệp mà người có quyền sử dụng đất phi nông nghiệp phải nộp thuế, cần phảidựa vào ba yếu tố là diện tích đất tính thuế, giá của lm2 đất và thuế suất
1.2.5.3 Nội dung quan hệ pháp luật
Nội dung quan hệ pháp luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp bao gồm quyđịnh về quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ pháp luật thuế sử dụng đất phi
nông nghiệp Người viết xây dựng mục “Nội dung quan hệ pháp luật” của Luật thuế
sử dụng đất phi nông nghiệp dựa trên quy định của Luật quản lý thuế năm 2006 dophạm vi điều chỉnh của Luật quản lý thuế năm 2006 được áp dụng cho các loại thuế.29
Từ các quy định về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ pháp luật vềthuế được Luật quản lý thuế quy định, người viết cụ thể thành những quy định về
Trang 33NGHIÊN CỨU LUẬT THUẾ sử DỤNG ĐẮT PHI NÔNG NGHIỆP
quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ pháp luật về thuế sử dụng đất phinông nghiệp Nội dung của quan hệ pháp luật của thuế sử dụng đất phi nông nghiệpgồm quyền, nghĩa vụ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và quyền, nghĩa vụ củachủ thể có nghĩa vụ nộp thuế sử dụng đất phi nông nghiệp
a/ Qựyền và nghĩa vụ của cơ quan nhà nước có tham quyền tham gia vào quan hệ pháp luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp
Đối với cơ quan nhà nước có thẩm quyền có quyền yêu cầu người nộp thuếcung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến việc xác định số tiền thuế phải nộp; kiểm trathuế, thanh tra thuế; ấn định số tiền thuế sử dụng đất phi nông nghiệp phải nộp saukhi tính thuế; cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về thuế; xử phạt vi phạmpháp luật về thuế theo thẩm quyền; công khai trên phương tiện thông tin đại chúngcác trường họp vi phạm pháp luật về thuế sử dụng đất phi nông nghiệp Đồng thời cónghĩa vụ tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về thuế sử dụng đất phi nôngnghiệp; kiểm tra việc thực hiện pháp luật về thuế; xử lý vi phạm và giải quyết khiếunại, tố cáo liên quan đến việc thực hiện pháp luật về thuế sử dụng đất phi nông nghiệptheo thẩm quyền
b/ Quyền và nghĩa vụ của chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế
Đối với chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế sử dụng đất phi nông nghiệp có quyềnđược hướng dẫn thực hiện việc nộp thuế sử dụng đất phi nông nghiệp; cung cấp thôngtin, tài liệu để thực hiện nghĩa vụ, quyền lợi về thuế; yêu cầu cơ quan quản lý thuếgiải thích về việc tính thuế, ấn định thuế; được giữ bí mật thông tin theo quy định củapháp luật; hưởng các ưu đãi về miễn thuế, giảm thuế theo quy định của pháp luật vềthuế sử dụng đất phi nông nghiệp; được bồi thường thiệt hại do cơ quan quản lý thuế,công chức quản lý thuế gây ra theo quy định của pháp luật; yêu cầu cơ quan quản lýthuế xác nhận việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế sử dụng đất phi nông nghiệp củamình; khiếu nại, khởi kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính liên quan đếnquyền và lợi ích họp pháp của minh; tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật của côngchức quản lý thuế và tổ chức, cá nhân khác trong quá trinh thực thi chính sách phápluật về thuế sử dụng đất phi nông nghiệp Bên cạnh đó chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế
sử dụng đất phi nông nghiệp còn có nghĩa vụ đăng ký thuế sử dụng đất phi nôngnghiệp; khai thuế chính xác, trung thực, đầy đủ và nộp hồ sơ thuế đúng thời hạn; chịutrách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực, đầy đủ của hồ sơ thuế sửdụng đất phi nông nghiệp; nộp tiền thuế đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm; chấp
Trang 34NGHIÊN CỨU LUẬT THUẾ sử DỤNG ĐẮT PHI NÔNG NGHIỆP
hành quyết định, thông báo, yêu cầu của cơ quan quản lý thuế, công chức quản lýthuế theo quy định của pháp luật; chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ thuế theo quyđịnh của pháp luật trong trường họp người đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo
ủy quyền thay mặt người nộp thuế thực hiện thủ tục về thuế sử dụng đất phi nôngnghiệp sai quy định
1.2.6 Khái quát sơ bộ về Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp
Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp gồm 4 chương, 13 Điều Cụ thể là:
a/ Chương I: Những quy định chung (từ Điều 1 đến Điều 4) Chương này xác định
phạm vi điều chỉnh, đối tượng chịu thuế, đối tượng không thuộc diện chịu thuế, ngườinộp thuế sử dụng đất phi nông nghiệp
- về đối tượng chịu thuế bao gồm đất ở, đất sản xuất kinh doanh phi nông
nghiệp và đất phi nông nghiệp quy định tại Điều 3 của Luật này sử dụng vào mụcđích kinh doanh
- về đối tượng không thuộc diện chịu thuế, bao gồm: Đất sử dụng vào các mục
đích, lĩnh vực hoạt động sau đây không vì mục đích kinh doanh là đất sử dụng vàomục đích công cộng; đất do các cơ sở tôn giáo sử dụng; đất làm nghĩa trang, nghĩađịa; đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối và mặt nước chuyên dùng; đất có công trình làđình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ Đất xây dựng trụ sở cơ quan nhà nước, tổchức xã hội, đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh
- Người nộp thuế là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có quyền sử dụng đất thuộcđối tượng chịu thuế quy định tại Điều 2 Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp
Trường họp chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữunhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận) thìngười đang sử dụng đất là người nộp thuế Và quy định người nộp thuế trong một sốtrường họp cụ thể: Trường họp được Nhà nước cho thuê đất để thực hiện dự án đầu
tư Đối với người có quyền sử dụng đất cho thuê đất theo họp đồng thuê quyền sửdụng đất Trường họp đất đã được cấp Giấy chứng nhận nhưng đang có tranh chấp.Trong trường họp nhiều người cùng có quyền sử dụng một thửa đất Và người cóquyền sử dụng đất góp vốn kinh doanh bằng quyền sử dụng đất mà hình thành phápnhân mới có quyền sử dụng đất thuộc đối tượng chịu thuế quy định tại Điều 2 củaLuật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp
Trang 35Bậc thuế Diện tích đất chịu thuế (m ) Thuế suất (%)
Trong đó, hạn mức diện tích đất ở làm căn cứ tính thuế là hạn mức giao đất ởđối với trường họp được giao đất mới hoặc hạn mức công nhận đất ở đối với trườnghọp đang sử dụng đất theo quy định của ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộcTrung ưomg, kể từ ngày Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp có hiệu lực thi hành
Trang 36NGHIÊN CỨU LUẬT THUẾ sử DỤNG ĐẮT PHI NÔNG NGHIỆP
Đối với đất ở nhà nhiều tầng nhiều hộ ở, nhà chung cư, áp dụng mức thuế suất
là 0,03% Đối với đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp bao gồm cả hai trườnghọp là được Nhà nước giao hoặc cho thuê Áp dụng mức thuế suất là 0,03% đối vớiđất được sử dụng và mức thuế suất là áp dụng mức thuế suất 0,15% đối với đất sửdụng không đúng mục đích, đất chưa sử dụng theo đúng quy định Trường họp đấtcủa dự án đầu tư phân kỳ theo đăng ký của nhà đầu tư được cơ quan nhà nước cóthẩm quyền phê duyệt thì không coi là đất chưa sử dụng và áp dụng mức thuế suất0,03%, để điều tiết đối với đất sử dụng không đúng mục đích, đất bỏ hoang chưa sửdụng, khuyến khích sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả và góp phần hạn chế đầu cơ vềđất Đồng thời quy định đối với đất lấn chiếm áp dụng mức thuế suất chung là 0,2%,không áp dụng quy định về hạn mức đối với diện tích lấn chiếm, đây là quy định mớitrong chính sách thuế đối với đất đai hiện nay ở nước ta, quy định mức thuế suất đốivới diện tích đất lấn chiếm nhưng không công nhận tính họp pháp của diện tích lấnchiếm
- về đăng ký, khai, tính và nộp thuế Các quy định về kê khai và nộp thuế đã
được quy định cụ thể tại Luật quản lý thuế, do đó Luật thuế sử dụng đất phi nôngnghiệp chỉ quy định “người nộp thuế thực hiện đăng ký, khai, tính và nộp thuế nhà,đất theo quy định của pháp luật về quản lý thuế” Ngoài ra, để đảm bảo thực hiện mụctiêu khi xây dựng Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp là góp phần hạn chế đầu cơđất đai, Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp quy định thêm việc đăng ký, khai, tính
và nộp thuế đối với trường họp có quyền sử dụng nhiều thửa đất ở như sau: Ngườinộp thuế đăng ký, khai, tính và nộp thuế tại cơ quan thuế huyện, quận, thị xã, thànhphố thuộc tỉnh nơi có quyền sử dụng đất Trường họp người nộp thuế có một hoặcnhiều thửa đất ở vượt hạn mức thì người nộp thuế được lựa chọn một nơi có thửa đất
ở vượt hạn mức để xác định diện tích vượt hạn mức của các thửa đất Sau đó, ngườinộp thuế lập tờ khai tổng họp theo mẫu quy định để xác định tổng diện tích các thửađất ở có quyền sử dụng và số thuế đã nộp, gửi cơ quan thuế nơi người nộp thuế đã lựachọn để xác định hạn mức đất ở để nộp phần chênh lệch giữa số thuế phải nộp theoquy định của Luật này và số thuế đã nộp
Giá tính thuế được áp dụng theo giá đất của từng huyện, quận, thị xã, thànhphố thuộc tỉnh tại nơi có thửa đất
Trang 37NGHIÊN CỨU LUẬT THUẾ sử DỤNG ĐẮT PHI NÔNG NGHIỆP
c/ Chương III: Miễn thuế, giảm thuế (từ Điều 9 đến Điều 11)
- về miễn thuế (Điều 9 Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp) Trên cơ sở kế
thừa Pháp lệnh thuế nhà, đất hiện hành, Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp có quyđịnh miễn, giảm thuế đối với các trường hợp được quy định tại Pháp lệnh thuế nhà,đất hiện hành Ngoài ra, Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp bổ sung quy địnhmiễn thuế đối với một số đối tượng Cụ thể quy định tại Điều 9 Luật thuế sử dụng đấtphi nông nghiệp
- về giảm thuế nhà, đất (Điều 10 Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp).
Pháp lệnh thuế nhà, đất hiện hành chỉ quy định giảm thuế cho đối tượng nộpthuế có khó khăn về kinh tế do bị thiên tai, địch hoạ, tai nạn bất ngờ Kế thừa nộidung về giảm thuế hiện hành, Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp quy định giảmthuế cho người nộp thuế gặp khó khăn do sự kiện bất khả kháng nếu giá trị thiệt hại
từ 20% đến 50% tổng giá trị nhà ở, đất chịu thuế (trường hợp giá trị thiệt hại ừên50% thì được miễn thuế) Đồng thời, để đảm bảo công bằng giữa các đối tượng làthương binh, liệt sỹ, bệnh binh, con của liệt sỹ, Luật thuế sử dụng đất phi nôngnghiệp quy định giảm 50% số thuế phải nộp đối với các trường hợp là thương binhhạng 3/4, 4/4; người hưởng chính sách như thương binh hạng 3/4, 4/4; bệnh binhhạng 2/3, 3/3; con của liệt sỹ không được hưởng ừợ cấp hàng tháng V.V
- về nguyên tắc miễn, giảm thuế (Điều 11 Luật thuế sử dụng đất phi nông
nghiệp)
Pháp lệnh thuế nhà, đất hiện hành chưa có quy định về nguyên tắc miễn, giảmthuế Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp quy định một số nguyên tắc miễn, giảmthuế, đây là một trong những quy định mới trong chính sách thuế đối với đất đai hiệnnay ở nước ta, nhằm đảm bảo việc thực hiện miễn, giảm thuế được thống nhất Cụ thểcác nguyên tắc miễn, giảm thuế được quy định tại Điều 9 Luật thuế sử dụng đất phinông nghiệp
d/ Chương IV: Điều khoản thi hành (Điều 12 và Điều 13 Luật thuế sử dụng đất phi
nông nghiệp)
Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp bãi bỏ Pháp lệnh thuế nhà, đất năm
1992 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh thuế nhà, đất năm
1994, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2012
Quy định nhiệm vụ của Chính phủ là quy định chi tiết và hướng dẫn thi hànhnhững nội dung cần thiết của Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp
Trang 38TS Lê Thị Nguyệt Châu, Giáo trình luật thuế, Trường Đại học càn Thơ, 2006, tr.13.
31 Khoản 1 Điều 4 Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp.
32 Điều 192 Bộ luật dân sự năm 2005.
NGHIÊN CỨU LUẬT THUẾ sử DỤNG ĐẮT PHI NÔNG NGHIỆP
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG CỤ THẺ LUẬT THUẾ SỬ DỤNG ĐẤT PHI NÔNG NGHIỆP
2.1 Người nộp thuế
2.1.1 Khái niệm
“Người nộp thuế là cá nhân, tổ chức thuộc đối tượng nộp thuế theo quy địnhcủa pháp luật thuế và các tố chức, cá nhân khác có trách nhiệm khấu trừ và nộp thuếthay cho đối tượng nộp thuế Tùy theo từng loại thuế mà người nộp thuế có thể là mộtngười hoặc có thể là một người hoặc có thể là nhiều người.”30
Từ khái niệm chung, ta suy ra được khái niệm về người nộp thuế sử dụng đất
phi nông nghiệp Theo đó, “người nộp thuế sử dụng đất phi nông nghiệp là cả nhân,
tẻ chức thuộc đổi tượng nộp thuế theo quy định của Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp ”
Cụ thể người nộp thuế sử dụng đất phi nông nghiệp bao gồm ba chủ thể là “cánhân, hộ gia đình và tổ chức có quyền sử dụng đất phi nông nghiệp thuộc đối tượngchịu thuế thuộc quy định tại Điều 2 Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp.”31
2.1.2 Nội dung cụ thể về quy định người nộp thuế
Theo Khoản 1 Điều 4 Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp thì tổ chức, hộgia đình, cá nhân (sau đây gọi chung là người nộp thuế) có quyền sử dụng đất phinông nghiệp thuộc đối tượng chịu thuế quy định tại Điều 2 Luật thuế sử dụng đất phinông nghiệp đều phải nộp thuế sử dụng đất phi nông nghiệp Như vậy người nộp thuếthực hiện nghĩa vụ nộp thuế sử dụng đất phi nông nghiệp đối với Nhà nước khi có
quyền sử dụng đất phi nông nghiệp thuộc đối tượng chịu thuế, về quy định “nếu có
quyền sử dụng đất phi nông nghiệp thì phát sinh nghĩa vụ nộp thuế sử dụng đất phinông nghiệp”, đây được xem là một quy định mang “tính mở” của Luật thuế sử dụngđất phi nông nghiệp đối với đối tượng nộp thuế Bởi lẽ, theo pháp luật dân sự thì chủthể “có quyền sử dụng đất” tức chủ thể đó “có quyền khai thác công dụng, hưởng hoalợi, lợi tức từ đất đai”32, như vậy sẽ có hai loại chủ thể xuất phát từ quy định về người
có quyền sử dụng đất theo pháp luật dân sự, bao gồm: Thủ nhất, chủ thể đó được Nhà
Trang 39NGHIÊN CỨU LUẬT THUẾ sử DỤNG ĐẮT PHI NÔNG NGHIỆP
nước xác nhận có quyền sử dụng đất bằng chứng thư pháp lý xác lập mối quan hệ hợppháp giữa Nhà nước và người có quyền sử dụng đất là Giấy chứng nhận quyền sửdụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là
Giấy chứng nhận) Thủ hai, chủ thể đó tự xác lập quyền sử dụng đất thực tế, tức đang
sử dụng đất thực tế, khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ đất đai
Như vậy theo quy định trên thì người nộp thuế sử dụng đất phi nông nghiệp
phải có một trong hai dấu hiệu: Một là, người nộp thuế đang sử dụng đất thực tế Hai
là, người nộp thuế có Giấy chứng nhận đối với diện tích đất chịu thuế sử dung đất phi
nông nghiệp bất kể có sử dụng hay không Hai dấu hiệu này tuy khác nhau nhưng cóđiểm chung là đối tượng làm phát sinh nghĩa vụ nộp thuế là diện tích đất phi nôngnghiệp đang được sử dụng hoặc được xác định trên Giấy chứng nhận
Ngoài việc nêu quy định chung về cách xác định người nộp, Luật thuế sử dụngđất phi nông nghiệp còn quy định rõ người nộp thuế trong một số trường họp, cụ thể:
2.1.2.1 Trong trường hợp thuê đẩt
Có hai trường họp phát sinh nghĩa vụ nộp thuế sử dụng đất phi nông nghiệp từngười nộp thuế là trường họp thuê đất từ Nhà nước để thực hiện dự án đầu tư và
trường họp người có quyền sử dụng đất từ họp đồng thuê đất dân sự
a/ Thuê đất từ Nhà nước để thực hiện dự án đầu tu
Theo pháp luật đất đai hiện hành thì trường họp được Nhà nước cho thuê đất
để thực hiện dự án đầu tư thì người thuê đất là người nộp thuế Người thuê đất trongtrường họp này là người đứng tên ừên Quyết định cho thuê đất của cơ quan Nhà nước
có thẩm quyền cho thuê đất (bao gồm Quyết định cho thuê đất của ủy ban nhân dântỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định cho thuê đất đối với tổ chức, cơ sởtôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài vàQuyết định cho thuê đất của úy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộctinh quyết định cho thuê đất đối với hộ gia đình, cá nhân; giao đất đối với cộng đồngdân cư) và người có nhu cầu thuê đất để thực hiện dự án đầu tư
Có ý kiến cho rằng không nên thu thuế đối với đất được Nhà nước cho thuê,
bởi vì: Thứ nhất, căn cứ tính thuế sử dụng đất phi nông nghiệp và căn cứ tính tiền
thuê đất về cơ bản là như nhau, đều dựa vào diện tích sử dụng đất thuê và thuế suất,
do đó Nhà nước đã thu tiền thuê đất mà thu thuế đất nữa sẽ trùng lắp Thứ hai, người
được Nhà nước cho thuê đất nộp tiền thuê đất hàng năm không có đầy đủ các quyềnnhư trường họp được Nhà nước giao đất thu tiền sử dụng đất và trường họp được Nhà
Trang 40NGHIÊN CỨU LUẬT THUẾ sử DỤNG ĐẮT PHI NÔNG NGHIỆP
nước cho thuê đất nộp tiền thuê đất một lần Đồng thời, Luật thuế sử dụng đất phi
nông nghiệp quy định “người được Nhà nước cho thuê đất để thực hiện các dự án
đầu tư” phải nộp thuế, trong khi các đối tượng thuê đất đã phải trả tiền thuê đất định
kỳ hoặc hàng năm, nếu áp dụng thêm loại thuế này sẽ không thu hút được nhà đầu tưvào các dự án, làm hạn chế mục tiêu thúc đấy phát triển kinh tế xã hội chung theo yêucầu Mặt khác, nếu áp dụng loại thuế này đối với các nhà đầu tư là doanh nghiệp thìcác doanh nghiệp vẫn được khấu trừ khoản thuế này khi kê khai nộp thuế doanhnghiệp dẫn đến mục đích điều tiết sử dụng và tăng thu ngân sách dẫn không có tácdụng
Song theo quan điểm người viết thì việc thu thuế đối với đất được Nhà nước
cho thuê là phù họp, đảm bảo tính công bằng trong việc sử dụng đất bởi vì, theo quyđịnh của Luật đất đai hiện hành thì để có quyền sử dụng đất (kể cả đất ở, đất sản xuấtkinh doanh) thì người sử dụng đất đều phải trả tiền, trường họp được Nhà nước giaođất thì phải nộp tiền sử dụng đất, trường họp nhận chuyển nhượng từ người khác cóquyền sử dụng đất họp pháp thì phải trả tiền chuyển nhượng, trường họp được Nhànước cho thuê đất thì phải trả tiền thuê đất Do đó, nếu chỉ thu thuế đối với đất ở, đấtđược Nhà nước giao đất mà không thu thuế với đất được Nhà nước cho thuê là không
b/ Thuê đất từ hợp đong thuê đẩt dân sự
Người có quyền sử dụng đất cho thuê đất theo hợp đồng thì người nộp thuếđược xác định theo thỏa thuận trong họp đồng Theo quy định vừa nêu thì Luật thuế
sử dụng đất phi nông nghiệp áp dụng nguyên tắc thỏa thuận bình đắng trong giaodịch dân sự, để xác định chủ thể có nghĩa vụ thực hiện việc nộp thuế, theo đó tronghọp đồng thuê quyền sử dụng đất phi nông nghiệp đất giữa bên cho thuê và bên thuê,phải có nội dụng xác định rõ chủ thể nào có nghĩa vụ phải nộp thuế sử dụng đất phinông nghiệp
Nếu trong họp đồng thuê quyền sử dụng đất phi nông nghiệp không có thỏathuận về người nộp thuế thì người có quyền sử dụng đất là người nộp thuế Như vậyngười nộp thuế trong trường họp này được xác định là người đang sử dụng đất thực tếhay người có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sảnkhác gắn liền với đất, vấn đề này chưa được Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệpquy định rõ Tuy nhiên theo quan điểm người viết thì người nộp thuế sử dụng đất phi