Luật Thuế Sử dụng đất phi nông nghiệp có nhiều quy định khác biệt so với Pháp lệnh Thuế nhà, đất như cách tính thuế, mức thuế đối với đất trong hạn mức và vượt hạn mức, phạm vi điều
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU 2
1.2 NỘI DUNG, PHÂN LOẠI QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THUẾ 6
1.2.2.1 Theo tính chất kinh tế của thuế được phân thành 2 loại 7
1.3 MộT SỐ NỘI DUNG VỀ THUẾ SỬ DỤNG ĐẤT PHI NÔNG NGHIỆP 8
1.4 QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VỀ THUẾ 12
3.2 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC TRIỂN KHAI THỰC HIỆN LUẬT THUẾ
3.2.1 Phương hướng nâng cao hiệu quả quản lý thuế 24 3.2.2 Những giải pháp đẩy mạnh công tác triển khai thực hiện Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp ở
3.2.2.1 Tăng cường công tác chấm bộ thuế sử dụng đất phi nông nghiệp 24 3.2.2.2 Thực hiện kiểm tra kê khai thuế chống sót lọt hộ 25 3.2.2.3 Nâng cao vai trò trách nhiệm của UBND xã, thị trấn trong thực hiện Đề án Ủy nhiệm thu 26
3.2.2.5 Nâng cao nhận thức pháp luật về thuế cho mọi đối tượng trong xã hội 27 3.2.2.6 Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin sử dụng phần mềm quản lý thuế SDĐPNN 27
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦUQua hơn 25 năm đổi mới, đất nước ta đã có nhiều thay đổi to lớn, trước hết là sự đổi mới về tư duy kinh tế, chuyển đổi từ cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đa dạng hóa nền kinh tế nhiều thành phần, đa phương hóa quan hệ kinh tế quốc tế Với mục tiêu thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế luôn đi đôi với việc thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội gắn với bảo vệ môi trường, qua thời gian đổi mới, nền kinh tế nước ta đã đạt được những thành tựu nhất định Một trong những nỗ lực của Đảng và Nhà nước ta là việc từng bước hoàn thiện
hệ thống pháp luật trên tất cả mọi lĩnh vực nhất là hệ thống chính sách pháp luật thuế tạo môi trường bình đẳng trong sản xuất kinh doanh, thực hiện công bằng xã hội, phát huy vai trò và hiệu quả của thuế trong đời sống kinh tế xã hội Đến nay hệ thống chính sách thuế của nước ta đã hình thành khá đầy đủ bao quát được hầu hết các nguồn thu, áp dụng phù hợp với mọi thành phần kinh tế đáp ứng với từng thời kỳ phát triển kinh tế của đất nước
Năm 2010 Luật Thuế Sử dụng đất phi nông nghiệp (SDĐPNN) được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 7, khóa XII, ngày 17/6/2010, có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2012 và thay thế Pháp lệnh Thuế nhà, đất năm 1992 Luật Thuế Sử dụng đất phi nông nghiệp có nhiều quy định khác biệt so với Pháp lệnh Thuế nhà, đất như cách tính thuế, mức thuế đối với đất trong hạn mức và vượt hạn mức, phạm vi điều chỉnh, chế độ miễn giảm thuế… Phạm vi điều chỉnh của Luật Thuế Sử dụng đất phi nông nghiệp mở rộng đến tất cả đối tượng SDĐPNN trong xã hội, từ các tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất đến các hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất vào mục đích sản xuất kinh doanh hoặc để ở Năm 2012 là năm đầu tiên thi hành Luật thuế mới, phạm vi và đối tượng kê khai rộng, số hộ lớn nên khi đi vào triển khai thực hiện ngành Thuế gặp không ít khó khăn, vướng mắc Do đó, để triển khai thành công chính sách thuế SDĐPNN trên địa bàn trong năm đầu tiên thực sự đi vào đời sống xã hội,
Trang 3tạo tiền đề cho những năm tiếp theo đòi hỏi việc tổ chức triển khai thực hiện sao cho vừa đảm bảo đúng Luật Quản lý thuế, đúng quy trình kê khai vừa đạt kết quả với thời gian sớm nhất Do đó, xuất phát từ mục tiêu nêu trên với những kiến thức học tập nghiên cứu chương trình Trung cấp Lý luận Chính trị - Hành chính B.70; các Luật thuế, Tạp chí Thuế nhà nước, các văn bản quy phạm pháp luật của ngành thuế và kết hợp với kinh nghiệm qua thực tiễn công
tác, bản thân quyết định chọn đề tài: “Giải pháp đẩy mạnh công tác triển khai thực hiện Luật Thuế Sử dụng đất phi nông nghiệp” làm tiểu luận tốt nghiệp
cuối khóa Qua nghiên cứu viết đề tài này giúp cho bản thân củng cố kiến thức
đã học, vận dụng vào thực tiễn công tác để từ đó tham gia đề xuất với đơn vị về một số giải pháp nhằm quản lý tốt hơn nguồn thu này trong tương lai tại Chi cục Thuế huyện Châu Thành, góp phần cho đơn vị luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao cho
Trang 4
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THUẾ
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THUẾ
1.1.1 Khái niệm và vai trò của thuế
1.1.1.1 Khái niệm
Thuế là khoản đóng góp bắt buộc của các pháp nhân, thể nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định, không mang tính chất hoàn trả trực tiếp, nhằm sử dụng cho mục đích chung toàn xã hội
1.1.1.2 Vai trò của Thuế
- Thuế là nguồn thu chủ yếu của của ngân sách nhà nước: Một nền tài chính quốc gia lành mạnh phải dựa chủ yếu vào nguồn thu từ nội bộ nền kinh tế quốc dân
- Thuế là công cụ góp phần điều chỉnh các mục tiêu kinh tế vĩ mô: Chính sách thuế được đặt ra không chỉ nhằm mang lại số thu đơn thuần cho ngân sách
mà yêu cầu cao hơn là qua thu, góp phần thực hiện chức năng việc kiểm kê, kiểm soát, quản lý hướng dẫn và khuyến khích phát triển sản xuất, mở rộng lưu thông đối với tất cả các thành phần kinh tế theo hướng phát triển của kế hoạch nhà nước, góp phần tích cực vào việc điều chỉnh các mặt mất cân đối lớn trong nền kinh tế quốc dân
- Thuế góp phần bình đẳng, đảm bảo sự công bằng xã hội: Hệ thống thuế được áp dụng thống nhất giữa các ngành nghề, các thành phần kinh tế, các tầng lớp dân cư để đảm bảo sự bình đẳng và công bằng xã hội
- Thuế là công cụ kiểm tra, kiểm soát các hoạt động sản xuất kinh doanh:
Để thu thuế được đầy đủ cho ngân sách nhà nước thì ngành thuế phải dùng các biện pháp khác nhau để nắm vững được ngành nghề, mặt hàng kinh doanh cũng như doanh số của các doanh nghiệp
Trang 5- Thuế là công cụ để phân phối lại thu nhập giữa các cá nhân trong xã hội: Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, khoảng cách giàu nghèo giữa các cá nhân trong xã hội ngày càng có xu hướng gia tăng Đây là một
“Khiếm khuyết” lớn mà nền kinh tế thị trường - bản thân nó không tự giải quyết được Hậu quả của vấn đề này không chỉ ảnh hưởng đến đạo đức và công bằng xã hội mà còn tạo nên sự đối lập về quyền lợi giữa các tầng lớp dân cư trong cộng đồng
1.1.2 Hệ thống thuế ở Việt Nam
Hệ thống thuế của Việt Nam là một hệ thống thuế bao gồm hơn 9 loại thuế và hơn 100 loại phí và lệ phí được quản lý tập trung
Mọi nguồn thu từ thuế và phí, lệ phí đều do Quốc hội hoặc Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành bằng luật và pháp lệnh và được thực hiện bởi Tổng cục Thuế thông qua các cơ quan thu trực thuộc là các Cục thuế, Chi cục Thuế; Tổng cục Hải quan thông qua các cơ quan trực thuộc là Cục Hải quan, Chi cục Hải quan Đối với phí và lệ phí, các cơ quan thu thuộc các bộ, ngành, chính quyền địa phương có liên quan được ủy quyền thu
Về danh nghĩa, mức thuế (thuế suất) do Quốc hội quy định Song trên thực tế, các mức thuế là do Chính phủ đề nghị với sự tư vấn của Bộ Tài chính
mà cụ thể hơn nữa là Tổng cục Thuế Đối với một số sắc thuế, như thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, Quốc hội cho phép Chính phủ tự điều chỉnh khi cần thiết Riêng các phí và lệ phí là nguồn thu của chính quyền địa phương, chính quyền địa phương có quyền quyết định mức thu
Các sắc thuế cơ bản trong hệ thống thuế hiện nay bao gồm: Thuế Giá trị gia tăng; thu nhập doanh nghiệp; tiêu thụ đặc biệt; xuất khẩu, thuế nhập khẩu; thu nhập cá nhân; sử dụng đất nông nghiệp; sử dụng đất phi nông nghiệp; tài nguyên; bảo vệ môi trường
Ngoài các sắc thuế trên, hiện nay còn có 73 loại phí và 42 loại lệ phí đang áp dụng được quy định tại Pháp lệnh phí, lệ phí số 38/2001/PL-UBTVQH10 ngày 28/8/2001 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
Trang 61.2 NỘI DUNG, PHÂN LOẠI QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THUẾ
1.2.1 Nội dung
Tổ chức bộ máy quản lý thu thuế Nhà nước được tổ chức thống nhất từ trung ương đến địa phương, cùng thực hiện nhiệm vụ tổ chức thực hiện các Luật thuế trong cả nước
Tính thống nhất và hệ thống trong tổ chức bộ máy thu thuế được thể hiện
ở các điểm sau:
- Hệ thống thu thuế nhà nước thực hiện chức năng quản lý thống nhất trong cả nước về công tác thu thuế và các khoản thu khác của ngân sách nhà nước đối với tất cả các thành phần kinh tế; không một tổ chức hay cá nhân nào được đứng ra tổ chức thu thuế nếu không được sự ủy quyền của cơ quan thuế
- Các nghiệp vụ thu thuế và các khoản thu khác đối với các đối tượng nộp thuế được chỉ đạo và tổ chức thực hiện thống nhất trong toàn ngành thuế nhằm đảm bảo chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật thuế và các chế độ thu khác
- Cơ quan thuế các cấp được tổ chức theo một mô hình thống nhất Việc quản lý biên chế, cán bộ, kinh phí chi tiêu, thực hiện các chính sách đối với cán
bộ cũng như tiêu chuẩn nghiệp vụ của cán bộ thuế được thực hiện thống nhất trong toàn ngành thuế
Cơ quan thuế địa phương chịu sự lãnh đạo song trùng của Bộ trưởng Bộ Tài chính và Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh
Các cơ quan thuế từ trung ương đến địa phương nằm trong hệ thống các
cơ quan nhà nước, có tư cách pháp nhân
Quản lý nhà nước về thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế bao gồm: Đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế; thủ tục hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế; xoá nợ tiền thuế, tiền phạt; quản lý thông tin về người nộp thuế; kiểm tra thuế, thanh tra thuế; cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế;
xử lý vi phạm pháp luật về thuế; giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế
Trang 7Về nguyên tắc quản lý thuế: Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách
nhà nước Nộp thuế theo quy định của pháp luật là nghĩa vụ và quyền lợi của mọi tổ chức, cá nhân Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tham gia quản
lý thuế Việc quản lý thuế phải bảo đảm công khai, minh bạch, bình đẳng; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người nộp thuế
1.2.2 Phân loại
1.2.2.1 Theo tính chất kinh tế của thuế được phân thành 2 loại
- Thuế trực thu: Thuế trực thu là loại thuế mà Nhà nước thu trực tiếp vào phần thu nhập của các pháp nhân hoặc thể nhân Tính chất trực thu thể hiện ở chỗ người nộp thuế theo quy định của pháp luật đồng thời là người chịu thuế Thuế trực thu trực tiếp động viên, điều tiết thu nhập của người chịu thuế Ở nước ta thuộc loại thuế này gồm: Thuế thu nhập doanh nghiệp; thuế thu nhập cá nhân; thuế sử dụng đất nông nghiệp; thuế sử dụng đất phi nông nghiệp
- Thuế gián thu: Thuế gián thu là loại thuế mà Nhà nước sử dụng nhằm động viên một phần thu nhập của người tiêu dùng hàng hóa, sử dụng dịch vụ thông qua việc thu thuế đối với người sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ Tính chất gián thu thể hiện ở chỗ người nộp thuế và người chịu thuế không đồng nhất với nhau Thuế gián thu là một bộ phận cấu thành trong giá cả hàng hoá, dịch vụ do chủ thể hoạt động sản xuất, kinh doanh nộp cho Nhà nước nhưng người tiêu dùng lại là người phải chịu thuế Ở nước ta thuộc loại thuế này bao gồm: Thuế giá trị gia tăng, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt
Sự phân loại thuế thành thuế trực thu và thuế gián thu có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng chính sách pháp luật thuế
1.2.2.2 Theo đối tượng đánh thuế
Theo cách phân loại này thuế được chia thành:
- Thuế đánh vào hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ như thuế giá trị gia tăng
Trang 8- Thuế đánh vào sản phẩm hàng hoá như thuế xuất nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt
- Thuế đánh vào thu nhập như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập
cá nhân
- Thuế đánh vào tài sản như thuế nhà, đất
- Thuế đánh vào việc khai thác hoặc sử dụng một số tài sản quốc gia như thuế tài nguyên, thuế sử dụng đất, sử dụng vốn của ngân sách nhà nước
có nhiều đất, đất vượt hạn mức, sử dụng đất không đúng mục đích, quy định và đất lấn chiếm
Việc xây dựng đối tượng không chịu thuế SDĐPNN được dựa trên cơ sở
kế thừa các quy định của Pháp lệnh nhà, đất trước đây và bổ sung thêm một số loại đất cho phù hợp với các văn bản pháp luật về đất đai Ngoài ra, một số đối tượng thuộc diện được miễn thuế nhà, đất trước đây nay đã được chuyển sang đối tượng không chịu thuế SDĐPNN theo quy định này, do đó các trường hợp này sẽ được giảm bớt các thủ tục về đăng ký, kê khai thuế và quản lý thuế
1.3.1 Công thức tính thuế
Căn cứ tính thuế SDĐPNN là thuế suất và giá tính thuế
Trang 9Thuế suất có sự khác nhau theo loại đất, mục đích sử dụng đất và diện tích đất vượt hạn mức.
Đối với đất ở (bao gồm cả trường hợp sử dụng để kinh doanh), thuế suất
áp dụng theo biểu thuế lũy tiến từng phần như sau:
- Phần diện tích trong hạn mức có thuế suất 0,03%/m²
- Phần diện tích vượt không quá 3 lần hạn mức sẽ có thuế suất 0,07%/m²
- Phần diện tích vượt trên 3 lần hạn mức có mức thuế là 0,15%/m²
Ngoài ra, đất ở nhà nhiều tầng nhiều hộ ở, nhà chung cư, công trình xây dựng dưới mặt đất áp dụng mức thuế suất 0,03%
Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp, đất phi nông nghiệp sử dụng vào mục đích kinh doanh, đất của dự án đầu tư phân kỳ theo đăng ký của nhà đầu tư được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt áp dụng mức thuế suất 0,03%
Đất sử dụng không đúng mục đích, đất chưa sử dụng theo đúng quy định
áp dụng mức thuế suất 0,15%
Đất lấn, chiếm áp dụng mức thuế suất 0,2%
Trường hợp đất ở đang sử dụng trước ngày 01/01/2012 chưa được cấp Giấy chứng nhận thì không áp dụng hạn mức mà toàn bộ diện tích đất ở tính thuế của người nộp thuế theo quy định tại Luật Đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành áp dụng theo thuế suất đối với diện tích đất trong hạn mức
Hạn mức đất được thực hiện theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh Hạn mức ở các địa bàn khác nhau trong cùng tỉnh cũng có thể được quy định ở mức khác nhau (Ví dụ: Cùng 1 huyện Châu thành nhưng ở thị trấn thì hạn mức đất thổ cư hiện nay là 300m2, các xã còn lại là 600 m2)
1.3.2 Giá tính thuế
Trang 10Giá tính thuế được xác định bằng diện tích đất tính thuế nhân với giá của 1m² đất.
Diện tích đất tính thuế là diện tích đất thực tế sử dụng (trường hợp có quyền sử dụng nhiều thửa đất thì là tổng diện tích các thửa đất tính thuế) Trường hợp được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để xây dựng khu công nghiệp thì diện tích đất tính thuế không bao gồm diện tích đất xây dựng kết cấu
hạ tầng sử dụng chung
Đối với đất ở nhà nhiều tầng nhiều hộ ở, nhà chung cư, bao gồm cả trường hợp vừa để ở, vừa để kinh doanh thì diện tích đất tính thuế của từng tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được xác định bằng hệ số phân bổ nhân với diện tích nhà (công trình) của từng tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng
Giá của 1m² đất là giá đất theo mục đích sử dụng do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định và được ổn định theo chu kỳ 5 năm, kể
từ ngày 01/01/2012 Trường hợp trong chu kỳ ổn định có sự thay đổi về người nộp thuế hoặc phát sinh các yếu tố làm thay đổi giá của 1m2 đất tính thuế thì không phải xác định lại giá đất cho thời gian còn lại của chu kỳ
1.3.3 Kê khai thuế
Người nộp thuế được cơ quan thuế cấp mã số thuế để thực hiện kê khai, nộp thuế SDĐPNN (trừ trường hợp đã được cấp mã số thuế theo quy định của Luật quản lý thuế thì sử dụng luôn mã số thuế này để kê khai và nộp thuế SDĐPNN)
Việc khai thuế được thực hiện theo nguyên tắc sau:
- Người nộp thuế có trách nhiệm khai vào Tờ khai thuế (mẫu số SDDPNN áp dụng đối với hộ gia đình, cá nhân hoặc mẫu số 02/TK-SDDPNN
01/TK-áp dụng cho tổ chức) các thông tin liên quan đến người nộp thuế và thửa đất chịu thuế Đối với hồ sơ khai thuế đất ở của hộ gia đình và cá nhân, UBND cấp
xã xác định các chỉ tiêu tại phần xác định của cơ quan chức năng trên tờ khai và chuyển cho Chi cục Thuế để làm căn cứ tính thuế Đối với hồ sơ khai thuế của
Trang 11tổ chức, trường hợp cần làm rõ một số chỉ tiêu liên quan làm căn cứ tính thuế theo đề nghị của cơ quan Thuế, cơ quan Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm xác nhận và gửi cơ quan Thuế Đối với kỳ tính thuế năm 2012, thời hạn thu hồi tờ khai chậm nhất đến ngày 30/6/2012.
- Hàng năm, người nộp thuế không phải thực hiện kê khai lại Nếu có sự thay đổi về người nộp thuế và các yếu tố dẫn đến thay đổi số thuế phải nộp (trừ trường hợp thay đổi giá 1m2 đất tính thuế) thì người nộp thuế phải kê khai và nộp hồ sơ khai thuế trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày phát sinh sự thay đổi
- Căn cứ Tờ khai của người nộp thuế đã có xác nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, cơ quan thuế tính, lập Thông báo nộp thuế (mẫu số 01/TB-SDDPNN) và gửi tới người nộp thuế chậm nhất là ngày 30/09 hàng năm Thời hạn nộp tiền thuế hàng năm chậm nhất là ngày 31/12 hàng năm Người nộp thuế được quyền lựa chọn nộp thuế một lần hoặc hai lần trong năm và phải hoàn thành nghĩa vụ thuế chậm nhất là ngày 31/12 hàng năm Trường hợp người nộp thuế đề nghị được nộp thuế một lần cho nhiều năm thì hạn nộp thuế chậm nhất là ngày 31/12 của năm đề nghị
- Đối với đất ở, cá nhân nộp thuế phải thực hiện lập tờ khai thuế cho từng thửa đất và nộp tại UBND cấp xã nơi có đất chịu thuế Nếu có thửa đất vượt hạn mức hoặc không có thửa đất nào vượt hạn mức nhưng tổng diện tích tất cả các thửa đất vượt hạn mức thì cá nhân lập tờ khai tổng hợp thuế nộp tại Chi cục Thuế nơi có thửa đất ở vượt hạn mức (trường hợp chỉ có 1 thửa đất vượt hạn mức) hoặc nơi cá nhân chọn để làm thủ tục kê khai tổng hợp Hạn nộp Tờ khai tổng hợp thuế là ngày 31/03 của năm dương lịch tiếp theo, trong đó người nộp thuế tự xác định phần chênh lệch giữa số thuế phải nộp theo quy định với số thuế phải nộp trên tờ khai đã kê khai và nộp ngay số thuế chênh lệch tăng thêm vào ngân sách nhà nước
Luật Thuế Sử dụng đất phi nông nghiệp là Luật Thuế mới, do vậy, trong quá trình triển khai thực hiện cần phải tập trung tuyên truyền, hướng dẫn những điểm mới của các chính sách thuế này đến mọi tầng lớp dân cư trong xã hội,
Trang 12giúp cho các tổ chức, cá nhân có liên quan nắm bắt kịp thời các quy định về đối tượng chịu thuế, không chịu thuế; cách tính thuế, kê khai, nộp thuế; chế độ miễn giảm thuế, những điểm mới và tính ưu việt của Luật Thuế mới so với các chính sách thu trước đây, đặc biệt là tính công bằng, hợp lý trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế với NSNN của chủ sở hữu và người sử dụng đất, nhất là đối tượng sử dụng đất vượt hạn mức quy định.
1.4 QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VỀ THUẾ
1.4.1 Quan điểm của Đảng về thuế
Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 được Quốc hội thông qua ngày 15/04/1992 quy định tại Điều 22: “Các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế phải thực hiện đầy đủ các nghĩa
vụ đối với Nhà nước, đều bình đẳng trước pháp luật, vốn và tài sản hợp pháp được Nhà nước bảo hộ” Điều 80: “Công dân có nghĩa vụ đóng thuế và lao động công ích theo quy định của pháp luật”
Văn kiện Đại hội Đảng lần XI về Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 về cải cách chính sách thuế: “…Tiếp tục hoàn thiện chính sách và
hệ thống thuế, cơ chế quản lý giá, pháp luật về cạnh tranh và kiểm soát độc quyền trong kinh doanh, bảo vệ người tiêu dùng, chính sách về tiền lương tiền công Thực hiện cân đối ngân sách tích cực, bảo đảm tỷ lệ tích lũy hợp lý cho đầu tư phát triển; phấn đấu giảm dần bội chi ngân sách ”
1.4.2 Quan điểm của Nhà nước về quản lý thuế
Thuế xuất hiện cùng với sự xuất hiện của Nhà nước và sự phát triển tồn tại của nền kinh tế hàng hoá tiền tệ Nhà nước sử dụng thuế như một công cụ để phục vụ cho việc thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của mình Lịch sử càng phát triển, các hệ thống thuế khoá, các hình thức thuế khoá và pháp luật thuế ngày càng đa dạng và hoàn thiện cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường, các khoản đóng góp của người dân cho Nhà nước được xác định và được quy định công khai bằng luật pháp của Nhà nước
Trang 13Các khoản thuế đóng góp của dân tạo thành quỹ tiền tệ của Nhà nước Cùng với sự hoàn thiện chức năng của Nhà nước, phạm vi sử dụng quỹ tiền tệ của Nhà nước ngày càng mở rộng Nó không chỉ đảm bảo chi tiêu để duy trì quyền lực của bộ máy nhà nước, mà còn để chi tiêu cho các nhu cầu phúc lợi chung và kinh tế Như vậy gắn liền với Nhà nước, thuế luôn là một vấn đề thời
sự nóng bỏng đối với các hoạt động kinh tế - xã hội và với mọi tầng lớp dân cư
Thuế là một trong những biện pháp tài chính bắt buộc nhưng phi hình sự của Nhà nước nhằm động viên một số bộ phận thu nhập từ lao động, từ của cải,
từ vốn, từ các chi tiêu hàng hoá và dịch vụ, từ tài sản của các thể nhân và pháp nhân nhằm tập trung vào tay Nhà nước để trang trải các khoản chi phí cho bộ máy nhà nước và các nhu cầu chung của xã hội Các khoản động viên qua thuế được thể chế hoá bằng luật
Từ năm 1990 đến nay, trải qua hơn 20 năm thực hiện cải cách thuế, chúng ta đã xây dựng được một hệ thống chính sách thuế bao quát được hầu hết các nguồn thu, áp dụng thống nhất đối với mọi thành phần kinh tế, từng bước thích ứng yêu cầu chuyển đổi nền kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Hệ thống chính sách thuế không ngừng được cải cách, bổ sung theo từng giai đoạn phát triển kinh tế của đất nước cụ thể như giai đoạn 2011-2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số 732/QĐ-TTg ngày 17-05-2011 về việc phê duyệt chiến lược cải cách
hệ thống thuế giai đoạn 2011-2020 với mục tiêu tổng quát là: “Xây dựng
hệ thống chính sách thuế đồng bộ, thống nhất, công bằng, hiệu quả phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; mức động viên hợp lý nhằm tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất trong nước và là một trong những công cụ quản lý kinh tế vĩ mô có hiệu quả, hiệu lực của Đảng
và Nhà nước Xây dựng ngành thuế Việt Nam hiện đại, hiệu lực, hiệu quả, công tác quản lý thuế, phí và lệ phí thống nhất, minh mạch, đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện dựa trên ba nền tảng cơ bản: Thể chế chính sách thuế minh bạch, quy trình thủ tục hành chính thuế đơn giản, khoa học phù hợp
Trang 14với thông lệ quốc tế; nguồn nhân lực có chất lượng, liêm chính, ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại, có tính liên kết, tích hợp, tự động hóa cao”.
Trên cơ sở các luật thuế, Tổng cục Thuế còn ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật về thuế nhằm làm cơ sở pháp lý về quản lý thu thuế
Trang 15Chương 2THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ SỬ DỤNG ĐẤT PHI NÔNG NGHIỆP TẠI CHI CỤC THUẾ HUYỆN CHÂU THÀNH TỪ NĂM 2012
+ Diện tích tự nhiên và dân số:
- Toàn huyện có diện tích tự nhiên 355,11 km2 gồm có 12 xã và 01 thị trấn Dân số 177.630 người (2007), trong đó có 04 dân tộc anh em: Kinh, Hoa, Chăm, Khơ-me Mật độ dân số 500 người/km2
- Cùng với sự phát triển của đất nước thời kỳ đổi mới, Đảng bộ, chính quyền, và nhân dân huyện Châu Thành đã có nhiều nỗ lực thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội Nhìn chung, kinh tế của huyện tăng trưởng khá nhanh
và ổn định, lĩnh vực văn hóa - xã hội và cải cách hành chính có nhiều chuyển biến khá tích cực, đời sống vật chất và tinh thần của người dân được nâng lên, quốc phòng - an ninh, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo
Tuy nhiên, những năm gần đây Châu Thành vẫn chịu sự ảnh hưởng về khủng hoảng kinh tế toàn cầu, khí hậu, thời tiết và dịch bệnh diễn biến phức