1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những đặc điểm thẩm mỹ trong truyện ngắn nguyễn ngọc tư (LV00912)

119 468 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thế nhưng, hiện tại công việc nghiên cứu truyện ngắn của chị nói chung và nghiên cứu những giá trị thẩm mỹ trong truyện ngắn của chị có vẻ chưa tương xứng với những sáng tác thường xuyên

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

===***===

PHẠM THỊ LÂM

NHỮNG ĐẶC ĐIỂM THẨM MỸ TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN NGỌC TƯ

Chuyên ngành: Lí luận văn học

Mã số: 60 22 01 20

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Phùng Ngọc Kiếm

HÀ NỘI – 2013

Trang 2

Qua cuốn luậ PGS

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 7 năm 2013

Tác giả

Phạm Thị Chinh

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 10

Chương 1: MÔI TRƯỜNG SÁNG TÁC VÀ NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐẶC ĐIỂM THẨM MỸ TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN NGỌC TƯ 10

1.1 Văn hóa, làng quê và con người Nam Bộ 10

1.2 Đổi mới văn học và sự hình thành hệ thống những giá trị thẩm mỹ mới của văn học Việt Nam sau 1975 14

1.2.1 Vận động đổi mới trong văn học 14

1.2.2 Hệ thống các giá trị mới được hình thành 17

1.3 Quan niệm của Nguyễn Ngọc Tư về con người, cuộc sống và văn chương 20

1.3.1 Quan niệm về con người của Nguyễn Ngọc Tư 20

1.3.1.1 Con người sống là luôn hi vọng 20

1.3.1.2 Con người sống là để yêu thương 22

1.3.1.3 Con người sống luôn chân thành 23

1.3.1.4 Hạnh phúc là biết trân trọng những gì mình có 24

1.3.1.5 Nỗi đau sinh ra từ thù hận 25

1.3.2 Quan niệm của Nguyễn Ngọc Tư về cuộc sống 26

1.3.2.1 Sống vô tư không mong được đáp đền 26

1.3.2.2 Gia đình là yếu tố quan trọng nhất trong cuộc đời mỗi con người 27

1.3.2.3 Sống giản dị, thanh thản 28

1.3.2.4 Có ý thức về bản thân 28

1.3.3 Quan niệm của Nguyễn Ngọc Tư về văn chương 29

1.3.3.1 Văn chương bắt nguồn từ cuộc sống 29

1.3.3.2 Viết theo cảm xúc của mình 30

1.3.3.3 Cái tôi nhà văn là cái tôi cô đơn 32

Trang 5

Chương 2: CÁI ĐẸP VÀ CÁI CAO CẢ TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA

NGUYỄN NGỌC TƯ 34

2.1 Cái đẹp 34

2.1.1 Khái niệm cái đẹp 34

2.1.2 Biểu hiện của cái đẹp trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư 36

2.1.2.1 Những con người giàu tình yêu thương và luôn khao khát được yêu thương 36

2.2.2.2 Những con người thủy chung như nhất 44

2.2 Cái cao cả 47

2.2.1 Đặc trưng thẩm mỹ về cái cao cả 47

2.2.2 Biểu hiện của cái cao cả trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư 49

2.2.2.1 Con người giàu lòng nghĩa hiệp 50

2.2.2.2 Con người giàu đức hi sinh 54

Chương 3: CÁI BI VÀ CÁI CẢM THƯƠNG TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ 61

3.1 Cái bi 61

3.1.1 Khái niệm cái bi 61

3.1.2 Cái bi trong hệ thống thẩm mỹ mới 63

3.1.3 Cái bi trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư 65

3.1.3.1 Bi kịch gia đình 66

3.1.3.2 Bi kịch tình yêu 75

3.1.3.3 Bi kịch về sự cô đơn 83

3.2 Cái cảm thương 92

3.2.1 Đặc trưng của cái cảm thương 92

3.2.2.1 Đồng cảm với nỗi đau thân phận 94

3.2.2.2 Đề cao lẽ sống tình thương 102

KẾT LUẬN 108

TÀI LIỆU THAM KHẢO 110

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Văn học nói riêng và nghệ thuật nói chung có nhiệm vụ sáng tạo ra các giá trị thẩm mỹ Tuy nhiên điều đó còn phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh, nhu cầu của cuộc sống trong từng thời kỳ và tài năng của các nghệ sĩ, nhà văn

Từ sau Cách mạng Tháng tám cho đến trước năm 1975, do hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, vận mệnh của dân tộc, của cộng đồng được đặt lên trên số phận của cá nhân Bởi vậy ý thức về cộng đồng, về dân tộc được đặt lên hàng đầu Văn học tập trung thể hiện cảm hứng anh hùng cách mạng: cái đẹp, cái hùng, cái cao cả chiếm ưu thế hơn, thậm chí lấn át các vẻ đẹp thẩm mỹ khác

Từ sau năm 1975 đất nước trở lại thời bình Những nhận thức và quan niệm mới về hiện thực và con người dẫn tới sự thay đổi trong quan niệm về các chuẩn mực thẩm mỹ Lúc này tất cả các giá trị thẩm mỹ đều được các nhà văn khai thác và phản ánh trong tác phẩm của mình Bên cạnh cái đẹp còn có cái xấu, bên cạnh cái hùng còn có cái bi

Các giá trị thẩm mỹ do quan điểm, tư tưởng, tài năng của nhà văn chi phối Các nhà văn không chỉ nắm bắt nhu cầu của cuộc sống mà còn sáng tạo

ra thế giới nghệ thuật để thu hút, hấp dẫn người tiếp nhận, hướng con người tới cái đẹp, đi theo cái đẹp, tiếp nhận cái đẹp Trong giai đoạn văn học đương đại, nhiệm vụ sáng tạo các giá trị thẩm mỹ rất quan trọng Bởi vậy việc tìm hiểu các giá trị thẩm mỹ trong sáng tạo của các nhà văn rất có ý nghĩa

1.2 Nguyễn Ngọc Tư đã trở thành một hiện tượng của văn học Đồng Bằng Sông Cửu Long nói riêng và của nền văn học Việt Nam nói chung Những bài viết tìm hiểu, nghiên cứu về sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư thường xuyên được đăng tải trên các sách nghiên cứu, các trang web,các phương tiện thông tin đại chúng Tìm hiểu những đặc điểm thẩm mỹ trong truyện ngắn

Trang 7

Nguyễn Ngọc Tư giúp người viết hiểu thêm về những đóng góp của chị vào nền văn học Việt Nam, đồng thời giúp người viết nâng cao năng lực và chất lượng công việc của bản thân

2 Lịch sử vấn đề

Nguyễn Ngọc Tư là một nhà văn trẻ có khối lượng tác phẩm khá lớn chỉ trong một thời gian ngắn Đồng thời chị đã được trao tặng nhiều giải thưởng văn học có uy tín cũng như nhận được nhiều sự yêu mến và kì vọng lớn lao từ độc giả Do đó, có lẽ không quá võ đoán khi khẳng định Nguyễn Ngọc Tư đã đạt được những thành công nhất định, hình thành một phong cách Nam Bộ đặc sắc trong sáng tác Thế nhưng, hiện tại công việc nghiên cứu truyện ngắn của chị nói chung và nghiên cứu những giá trị thẩm mỹ trong truyện ngắn của chị có vẻ chưa tương xứng với những sáng tác thường xuyên xuất hiện của nhà văn này Theo sự tìm hiểu của người viết, chưa có một luận văn nào (cấp Đại học hay Sau Đại học) nghiên cứu những đặc điểm thẩm mỹ trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư Để tìm hiểu lịch sử vấn đề chúng tôi tiến hành thu thập, phân loại, phân tích những ý kiến đánh giá của các nhà nghiên cứu phê bình, của công chúng khi tiếp cận truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư Các nguồn tư liệu chủ yếu được thu thập trên các trang web văn học như: Viet-studies, E-văn, Vietnamnet, Văn nghệ sông Cửu Long…, trên các

tờ báo giấy uy tín như: Văn nghệ, Nghiên cứu văn học, tạp chí nhà văn, Văn học tuổi trẻ, Thanh Niên, Người lao động, Tiền Phong, Công an nhân dân…và chúng tôi còn tham khảo trên các diễn đàn văn học, blog cá nhân của tác giả và những nhà văn, nhà nghiên, các công trình nghiên cứu,…để có thêm tư liệu

Xuất hiện lần đầu tiên với tập truyện “Ngọn đèn không tắt” (2000)

Nguyễn Ngọc Tư ngay lập tức chiếm được cảm tình của đông đảo độc giả bằng một văn phong nhẹ nhàng, một tâm hồn trong trẻo, một tài hoa mộc mạc

Trang 8

đầy nắng gió Phương Nam Từ sự hứng khởi ban đầu đó, người đọc tiếp tục

chào đón những tập truyện khác của chị như: Giao thừa (2003), Nước chảy

mây trôi (2004), và đặc biệt là Cánh đồng bất tận (2005) với một sự thích thú

đặc biệt Truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư hàm chứa một nghịch lý: đề tài sáng tác của chị không mới chỉ là những câu chuyện đời thường của những người nông dân bình dị quê mùa, thế nhưng những câu chuyện đơn sơ mà hấp đẫn ấy vẫn lôi cuốn được người đọc bởi cái nhìn nhân hậu, bởi nghĩa tình của một người viết trẻ vừa ngây thơ lại vừa chín chắn, hiền lành đấy nhưng không kém phần bản lĩnh

Như đã nói ở trên số lượng các bài viết tìm hiểu truyện ngắn của

Nguyễn Ngọc Tư nhất là sau khi Cánh đồng bất tận xuất hiện, khá dồi dào với những sắc thái tình cảm khác nhau, đặc biệt là với những phong cách và cấp độ khác nhau Sở dĩ có hiện tượng này bởi người viết có thể là nhà nghiên cứu, nhà phê bình văn học chuyên nghiệp hay đơn thuần chỉ là một độc giả yêu thích văn chương Những nhận định trái chiều về Nguyễn Ngọc Tư bắt

đầu xuất hiện khi tập truyện ngắn “Cánh đồng bất tận” ra đời, kéo theo đó là

nhiều ý kiến đánh giá, nhận xét khác nhau về Nguyễn Ngọc Tư và những ý kiến đánh giá, nhận xét này được đăng tải rộng rãi trên các báo tạo thành một

“hiện tượng văn học” đáng chú ý năm 2005 Cũng có ý kiến cho rằng đây là

một chiêu thức tiếp thị sách, một chiêu thức để đánh bóng tên tuổi của tác giả,

chứ thật sự “Cánh đồng bất tận” không có giá trị đến mức để báo chí phải tốn

hao giấy mực đến như vậy Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận năm 2005 là một năm đánh dấu những thành công vang dội của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư và cũng là một năm đời sống văn học của nước ta có nhiều sôi động và khởi sắc đáng kể Tựu trung có hai luồng ý kiến: Một bên ủng hộ lối viết dữ dội và khốc liệt, ủng hộ việc khai thác và phản ánh hiện thực một cách trần trụi và

sát ván, nghĩa là ủng hộ một Nguyễn Ngọc Tư “mới” Còn một bên lại cảm

Trang 9

thấy tiếc nuối vì chị đã đánh mất đi chất trong trẻo, nhẹ nhàng nhân hậu, ân tình của mình trong những sáng tác trước đó Và từ sự kiện này, bỗng dưng người ta bối rối khi muốn xếp chị đứng vào một kiểu loại nhà văn chuyên sáng tác theo một phong cách nhất định nào đó Thế nhưng, chính tác giả

cũng thừa nhận “Cánh đồng bất tận” cũng chỉ là việc “xen canh”, một ngả rẽ

bất ngờ để thử thách và làm mới bản thân Có khác chăng chỉ là Nguyễn Ngọc

Tư đã chuyển điểm nhìn sáng tác quen thuộc của mình, để từ đó có thể nhìn thấy những mặt đen tối, xấu xa, dữ dằn, khốc liệt của nông thôn Nam Bộ, trong đó những người nông dân dốt nát, nghèo khổ vừa là nạn nhân vừa là thủ phạm Chính việc chuyển đổi đột ngột giọng điệu này khiến những độc giả đã quá quen thuộc với lối viết hiền lành, mộc mạc của Nguyễn Ngọc Tư bị sốc

Thế nhưng theo dõi những tác phẩm ra đời sau “Cánh đồng bất tận”, chúng

tôi thấy một Nguyễn Ngọc Tư của nông thôn Nam Bộ hiền lành với những nỗi đau, nỗi buồn phảng phất với những số phận nhỏ bé thiệt thòi, với những mối tình lỡ làng, trắc trở muôn thuở, vẫn cái giọng nhỏ nhẹ đó, có thể buồn hơn, bi quan hơn, tỉnh táo hơn nhưng vẫn là một giọng điệu văn chương bình dân, hào sảng mà chỉ vùng đất Nam Bộ mới sản sinh ra được

Xem xét tình hình nghiên cứu truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư, chúng tôi nhận thấy có không ít những bài viết có giá trị khoa học Tiêu biểu và sớm

nhất có thể kể đến bài viết “Nguyễn Ngọc Tư, đặc sản Miền Nam” của

GS.Trần Hữu Dũng tháng 02/2005 trên Báo Diễn Đàn Xem xét truyện ngắn của chị một cách tường tận và thấu đáo trên cả phương diện nội dung và nghệ thuật, Trần Hữu Dũng đặc biệt đề cao tài năng sử dụng ngôn ngữ Nam Bộ của Nguyễn Ngọc Tư, ông đánh giá đó là cái riêng đặc sắc không thể trộn lẫn với

bất cứ một nhà văn nào khác, như một “đặc sản Miền Nam” Bằng tất cả sự

yêu mến chân thành, bên cạnh sự nhìn nhận và tán thưởng tài năng của chị Trần Hữu Dũng cũng cảnh báo những nguy cơ có thể khiến nhà văn trẻ này đi vào lối mòn trong sáng tác

Trang 10

Huỳnh Công Tín với bài viết “Nguyễn Ngọc Tư, một nhà văn trẻ Nam

Bộ” ngày 15/04/2006 trên trang web “Văn nghệ Sông Cửu Long” đánh giá

cao khả năng xây dựng những hình tượng không gian Nam Bộ trong truyện

ngắn của Nguyễn Ngọc Tư và thừa nhận: “Đặc biệt vùng đất và con người

Nam Bộ trong các sáng tác của chị được dựng lại bằng chính chất liệu của nó

là ngôn từ và văn phong nhiều chất Nam Bộ của chị” Huỳnh Công Tín cũng

đánh giá cao khả năng miêu tả tâm lí nhân vật hết sức sắc sảo của Nguyễn Ngọc Tư Công bằng với điều kiện và hoàn cảnh sáng tác của Nguyễn Ngọc

Tư, ông cũng yêu cầu chúng ta có cái nhìn thông cảm hơn khi những vấn đề chị quan tâm còn nhỏ nhặt và chưa có tầm bao quát Ông cũng khẳng định cái quý cần phải phát huy ở chị chính là chất Nam Bộ trong sáng tác

Trên mục “Phê bình” của trang web “E-văn” ngày 14/06/2006 có đăng

bài viết của Trần Phỏng Diều với tựa đề “Thị hiếu thẩm mỹ trong truyện ngắn

Nguyễn Ngọc Tư” Với cách hiểu “đi tìm thị hiếu thẩm mỹ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư thực chất là là đi tìm những hình tượng văn học trong sáng tác của tác giả Các hình tượng văn học này cứ trở đi trở lại và trở thành ám ảnh khôn nguôi, buộc người viết phải thể hiện ra tác phẩm của mình”, Trần

Phỏng Diều đã chỉ ra thị hiếu thẩm mỹ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư thể hiện qua ba hình tượng: hình tượng người nghệ sĩ, hình tượng người nông dân và hình tượng dòng sông Sau khi phân tích vẻ đẹp của từng hình tượng, Trần Phỏng Diều cũng đánh giá rất cao văn phong mộc mạc, cách viết như nói của Nguyễn Ngọc Tư Theo anh, nếu như chị đánh mất đi vùng thẩm mỹ này thì đồng thời cũng làm mất đi rất nhiều giá trị thẩm mỹ trong tác phẩm của mình

Chúng tôi cũng chú ý tới hai bài viết tìm hiểu một số khía cạnh về không gian và thời gian nghệ thuật trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư

Đó là bài viết “Không gian sông nước trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc

Trang 11

Tư” (11/2006) của Thụy Khuê và bài viết “Thời gian huyền thoại trong truyện ngắn “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư” (07/2007) của Mai Hồng

cùng đăng trên trang web “Viet- studies” Nhìn chung Thụy Khuê thống nhất

ý kiến cho rằng Nguyễn Ngọc Tư đã xây dựng được một không gian Nam Bộ với ruộng đồng sông nước đặc sắc trong tác phẩm của mình, góp phần to lớn vào việc phục vụ cho ý đồ nghệ thuật của tác giả Việc chỉ ra kiểu thời gian

huyền thoại trong truyện ngắn “Cánh đồng bất tận” cũng là góc nhìn mới lạ

của Mai Hồng trong việc tìm hiểu truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư ở nước ta hiện nay

Phạm Thái Lê với bài viết “Hình tượng con người cô đơn trong truyện

ngắn Nguyễn Ngọc Tư” đăng trên “Tạp chí Văn nghệ quân đội” (02/2009)

cũng chỉ ra “mô típ người nghệ sĩ cô đơn” thường thấy trong truyện ngắn của

chị trong hành trình cô đơn và vô vọng để đi tìm cái đẹp ở đời, chấp nhận đánh đổi và hi sinh, kể cả tình yêu và hạnh phúc, Phạm Thái Lê rút ra kết

luận: “cũng đề cập đến nỗi cô đơn của con người nhưng chúng tôi nhận thấy

quan niệm của Nguyễn Ngọc Tư rất khác Cô đơn luôn luôn là nỗi đau, là bi kịch tinh thần lớn nhất của con người Nhưng đọc truyện ngắn Nguyễn Ngọc

Tư, chúng ta cảm nhận được rất rõ niềm cô đơn mà không thấy sự bi quan tuyệt vọng Nhân vật của chi tự ý thức về sự cô đơn Họ chấp nhận bởi họ tìm thấy trong nỗi đau ấy một lẽ sống Và trong nỗi đau ấy, họ vươn lên làm người Cô đơn trong quan niệm của Nguyễn Ngọc Tư là động lực của cái đẹp, cái thiện”

Nhìn chung tình hình nghiên cứu Nguyễn Ngọc Tư ở nước ta hiện nay còn chưa hệ thống Đa phần là các bài viết được đăng trên các báo với tinh thần giới thiệu một tập truyện vừa xuất bản, hay phê bình một truyện ngắn cụ thể nào đó Chiếm đại đa số những tài liệu mà chúng tôi thu thập được là những bài phỏng vấn Nguyễn Ngọc Tư, những bài viết kể lại những kỉ niệm

Trang 12

hay những lần gặp gỡ chị ở Cà Mau Chúng tôi nhận thấy có rất ít những bài phê bình truyện ngắn của chị trên bình diện khái quát mà đa số tập trung vào

truyện ngắn “Cánh đồng bất tận”, đa phần đều là những ý kiến cảm nhận,

những tranh luận trên các diễn đàn nhiều hơn là công trình nghiên cứu khoa học thật sự

Không thể nói tư liệu về Nguyễn Ngọc Tư ít ỏi, nhưng trước sự đa dạng của các ý kiến cũng như các nguồn tư liệu, chúng tôi hướng tới tinh thần tỉnh

táo, khách quan để “gạn đục khơi trong”, tìm ra những tư liệu, bài viết có giá

trị có thể kế thừa khi tiến hành luận văn này

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.2 Nhiệm vụ

3.2.1 Trình bày những đặc điểm thẩm mỹ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc

Tư trong quan hệ với đời sống, với tác giả và thể loại

3.2.2 Trên cơ sở đó chỉ ra những đặc điểm nổi bật trong phong cách truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư, góp thêm ý kiến khẳng định vị trí của Nguyễn Ngọc Tư trong văn học Đồng Bằng Sông Cửu Long cũng như những đóng góp đáng ghi nhận của chị với văn học hiện đại Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng

Luận văn đặt trọng tâm vào tìm hiểu hệ thống những đặc điểm thẩm mỹ

trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư trong quan hệ với đời sống, với tác giả và

thể loại

Trang 13

4.2 Phạm vi

Luận văn tập trung khảo sát truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư chủ yếu

trong tập “Cánh đồng bất tận” ( NXB Trẻ - 2005), ngoài ra còn khảo sát một

số tập truyện khác: Giao thừa (NXB Trẻ - 2003), Biển người mênh mông, (NXB Kim Đồng- 2003) Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư (NXB Văn hóa Sài Gòn - 2005)

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng kếp hợp các phương pháp nghiên cứu sau:

5.1 Phương pháp hệ thống

Nghiên cứu các đặc điểm thẩm mỹ trong các tác phẩm của một tác giả cần có một cái nhìn hệ thống, lí giải sự tương tác, chuyển hóa giữa các phẩm chất thẩm mỹ, cũng như đánh giá được đầy đủ giá trị và ý nghĩa của từng đặc trưng thẩm mỹ

5.2 Phương pháp thống kê

Luận văn thực hiện việc khảo sát, phân loại, thống kê những cứ liệu nhằm gia tăng sự chính xác, cụ thể, thuyết phục cho những vấn đề lí luận mà chúng tôi đưa ra

5.3 Phương pháp so sánh

Để khẳng định những nét tiêu biểu, riêng biệt trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, chúng tôi sử dụng phương pháp so sánh, đối chiếu trên cả hai chiều đồng đại và lịch đại So sánh đồng đại để thấy được điểm giống và khác nhau của Nguyễn Ngọc Tư và các nhà văn cùng thời, từ đó thấy được những nét riêng độc đáo của chị So sánh lịch đại để thấy được sự tiếp thu truyền thống văn học dân tộc và sự cách tân mới mẻ của Nguyễn Ngọc Tư trong việc thể hiện những giá trị thẩm mỹ

6 Đóng góp mới của luận văn

Bước đầu xác định và lí giải hệ thống các giá trị thẩm mỹ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Các giá trị thẩm mỹ ấy có vai trò quan trọng giúp người

Trang 14

đọc có nhìn nhận, cảm thụ sâu sắc hơn về cuộc sống, con người đồng thời giúp nhà văn truyền tải được những thông điệp của mình tới bạn đọc

Cách thể hiện những giá trị thẩm mỹ trong tác phẩm văn học gắn với cái nhìn, quan niệm của nhà văn về cuộc sống, về con người Trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư cái bi là cái được thể hiện đậm đặc hơn các giá trị giá trị thẩm mỹ khác Điều đó cho thấy tấm lòng của nhà văn: trân trọng, cảm thông, thương xót đối với cuộc sống, số phận của những người nông dân Nam

Bộ nói riêng và người nông dân Việt Nam nói chung

Cách hiểu và đánh giá của luận văn về những giá trị thẩm mỹ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư hi vọng sẽ trở thành tư liệu tham khảo cho những người yêu thích truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, đồng thời giúp tác giả luận văn có thêm kinh nghiệm trong cảm thụ và đánh giá tác phẩm văn học

7 Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Môi trường sáng tác và những yếu tố ảnh hưởng đến đặc điểm

thẩm mỹ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư

Chương 2: Cái đẹp và cái cao cả trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư

Chương 3: Cái bi và cái cảm thương trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư

Trang 15

NỘI DUNG Chương 1: MÔI TRƯỜNG SÁNG TÁC VÀ NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐẶC ĐIỂM THẨM MỸ TRONG

TRUYỆN NGẮN NGUYỄN NGỌC TƯ

Nhà văn trước khi trở thành tác giả văn học thì họ đã là con của một vùng đất, một quê hương, một gia đình Đối với người cầm bút, để có một vùng đất gắn bó gan ruột, trở thành chất liệu cho cuộc đời sáng tác của mình quả là một điều may mắn Mảnh đất đó thường là nơi mà họ được sinh ra và lớn lên, là quê hương máu thịt Quê hương là mạch nguồn cảm xúc vô tận,

cứ viết mãi viết mãi vẫn thấy chưa thoả mãn với tình yêu họ đã dành cho mảnh đất thân thương đó Tuy nhiên để thành công về quê hương thì không phải ai cũng làm được Có lẽ Nguyễn Ngọc Tư là một trong số ít những

người cầm bút làm được điều đó Nguyễn Ngọc Tư sinh ra và lớn lên ở Cà

Mau thuộc Đồng bằng sông Cửu Long trong một gia đình thuần nông Mảnh đất nơi chị sinh ra và trưởng thành như một chất men, chất xúc tác để chị thỏa sức sáng tác Đọc truyện của Nguyễn Ngọc Tư - những ai chưa một lần đặt chân tới vùng đất này đều có thể khám phá và cảm nhận rất rõ về con người, thiên nhiên nơi đây Nắng gió, sông nước, cánh đồng, đất trời, con

người vùng đất phương Nam là những “mạch nước ngầm” chảy mãi trong

văn chương của chị

1.1 Văn hóa, làng quê và con người Nam Bộ

Một trong những tiền đề quan trong góp phần hình thành nên những đặc điểm thẩm mỹ trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư có nguồn gốc và

cơ sở sâu xa là những yếu tố văn hóa mang đặc trưng riêng của vùng đất và con người nơi đây So với Trung Bộ và Bắc Bộ thì Nam Bộ là vùng đất còn

rất “trẻ” cả về địa lí lẫn lịch sử văn hoá (ở đây chúng tôi nhìn nhận ở góc độ

Trang 16

tương quan giữa ba miền trên toàn vẹn lãnh thổ từ khi bắt đầu có cư dân người Việt sinh sống) Tuy nhiên, với khoảng trên 300 năm hình thành và phát triển, Nam Bộ đã dần tạo nên một hình ảnh đẹp cả về đời sống xã hội lẫn đời sống văn hoá

Trước hết, nói về tính cách cũng như cách đối nhân xử thế của con người, có thể thấy điểm nổi trội nhất của người Nam Bộ là cách suy nghĩ bộc

trực, phóng khoáng và luôn “sống hết mình” vì người khác (Thật ra về những

những nét tính cách này của người Nam Bộ, không phải người Việt Nam sống trên các vùng, miền khác không có Tuy nhiên, ở đây chúng tôi muốn nhấn mạnh đến những nét nổi trội và ưu thế nhất góp phần làm nên cá tính riêng của con người ở mỗi vùng, miền…trên lãnh thổ nước ta mà thôi) Bên cạnh

đó, người Nam Bộ trong suy nghĩ và lời nói cũng thể hiện một cái gì đó rất

bộc trực và thẳng thắng Nói như nhà văn Sơn Nam đó là “tinh thần phóng

khoáng thực tế, ghét những lí luận quanh co Cứ nói thẳng để xem chuyện đó

ra sao Muốn gì thì nói phứt nó ra Họ ghét những cuộc tranh luận về lí thuyết chính trị hoặc lí thuyết siêu hình, và có thành kiến cho rằng kẻ dùng quá nhiều lí luận là “lẻo mép”, gian xảo Họ thích nói chuyện vui, chuyện có đầu có đuôi, những giai thoại khôi hài Nói “lí luận” là “buồn ngủ” Nói

chuyện quanh co là kém thành thật” [41] Vì thế, trong giao tiếp ứng xử có

người cho rằng người Nam Bộ nói chuyện có khi “bụm miệng không kịp” vì chuyện gì cũng “huỵt tẹt” cũng “bốp chát”, “rổn rảng”, “có sao nói vậy”…

điều này đã góp phần hình thành nên một thứ ngôn ngữ rất đặc trưng trong giao tiếp, nói năng của người Nam Bộ Ngôn ngữ ca dao dân ca Nam Bộ thể hiện rất rõ điều này

- Gió đưa bụi chuối tùm lum

Má dữ như hùm ai dám làm dâu

- Dao phai kề cổ, máu đổ tui không màng

Trang 17

Chết tui, tui chịu chứ buông nàng tui hổng buông

- Anh về em nắm vạt áo la làng Anh phải bỏ chữ thương, chữ nhớ giữa làng cho em

- Lòng qua như sắt, nói chắc một lời Bạc tiền chẳng trọng, chỉ trọng người tình chung

Đọc truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu ta cũng thấy những

nét đẹp và đặc trưng của người Nam Bộ cũng được nhà thơ miêu tả rất sâu sắc qua hàng loạt nhân vật đầy dũng khí và đầy nghĩa tình Lục Vân Tiên, Hớn Minh, Vương Tử Trực…là những nhân vật được xây dựng trên tinh thần

“Nhớ câu kiến ngãi bất vi, Làm người thế ấy cũng phi anh hùng” Có thể thấy,

người Nam Bộ trong sinh hoạt còn có chút “quê mùa”, “thô kệch” tuy nhiên

họ cũng rất biết thế nào là “kiến nghĩa bất vi vô dõng dã, lâm nguy bất cứu

mạc anh hùng” Phải chăng vì thế, mỗi khi nhắc đến người dân Nam Bộ, có

một điều rất thú vị là không biết tự lúc nào người ta lại ưu ái và trìu mến gọi

đó là người “rất Nam Bộ” hay “Nam Bộ rặt” rất ngộ nghĩnh và đáng yêu

Nam Bộ là vùng đất với những sông ngòi chằng chịt, những ao hồ và ruộng đồng mênh mông… Do cấu tạo tự nhiên có tính đặc thù như thế nên có thể thấy phương tiện đi lại của người dân người Nam Bộ, nhất là ở những vùng quê nông thôn chủ yếu là ghe, xuồng… Những yếu tố này đã tác động trực tiếp đến cách xây dựng và miêu tả hiện thực và con người trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư Người đọc dễ dàng bắt gặp trong cách thể hiện của chị mọi sinh hoạt và đời sống của con người đều mang dấu ấn của vùng đất phù sa sông nước như: ruộng đồng, kinh rạch, dòng sông, con đò, ghe xuồng, chợ nổi… Nói đến Nam Bộ cũng là nói đến cái nôi của nghệ thuật cải lương Người Nam Bộ vốn rất mê cải lương, hay hát những bài vọng cổ cũng như quý trọng những người nghệ sĩ Những người nghệ sĩ đã đem lời ca tiếng hát của mình để phục vụ bà con sau một ngày lao động vất vả Cuộc sống sinh

Trang 18

hoạt của người dân Nam Bộ thường gắn liền với những cuộc hát hò vui chơi

mà họ gọi là “đờn ca tài tử” thắm đượm tình làng nghĩa xóm… Có thể nói, tất

cả những yếu tố trên là kho cứ liệu văn hóa dồi dào, là nguồn cảm hứng mãnh liệt giúp Nguyễn Ngọc Tư xây dựng và khắc họa hình tượng con người mang đậm chất văn hóa Nam Bộ

Hiện nay, khi đất nước đã thật sự bước vào quỹ đạo chung của xu thế hội nhập và toàn cầu hóa; nhắc đến vùng đất Nam Bộ đặc biệt là các tỉnh thuộc miền Tây Nam Bộ (trong đó có Cà Mau) có một sự thật làm mọi người phải xót xa, đó là: tuy vùng đất này là vựa lúa, vựa lương thực lớn nhất nước nhưng mặt bằng dân trí và trình độ học vấn của người dân thì lại thấp nhất nước Theo đánh giá của các cơ quan quản lý về giáo dục và văn hóa thì đồng

bằng sông Cửu Long là “vùng trũng” về giáo dục của cả nước Đây có thể nói

là một thực trạng đau lòng Chính thực trạng này làm nảy sinh nhiều vấn nạn, gây ra nhiều bi kịch của con người nơi đây Và đó cũng là một trong những đặc điểm quan trọng góp phần tạo nên cách nhìn và thể hiện con người với những ước mơ và khát vọng đời thường, nhỏ nhoi trong hàng loạt truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư Những con người vì thất học nên cái nghèo, cái đói cứ mãi đeo đuổi Để sinh tồn họ phải lăn lộn, phải bươn chải quanh năm trên ruộng đồng, sông nước thậm chí phải đánh đổi cả thân xác Như vậy, có thể nói do được sống và lớn lên trên mảnh đất Nam Bộ, những nét tính cách trong văn hóa ứng xử cũng như ngôn ngữ của cha ông đã ăn sâu vào tiềm thức của

Nguyễn Ngọc Tư Vì thế, khi sáng tác, những nét văn hóa “rặt Nam Bộ” ấy đã

đi vào trang viết của chị một cách tự nhiên như một điều tất yếu không thể nào khác được

Trên đây là vài nét về văn hóa, làng quê và con người Nam Bộ nói chung và Đồng Bằng Sông Cửu Long nói riêng Những đặc điểm này đặc biệt

là những nét văn hóa và tính cách con người nơi đây có ảnh hưởng không nhỏ

Trang 19

tới việc thể hiện những đặc trưng thẩm mỹ trong các sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư

Một nhân tố nữa phải nhắc tới khi tìm hiểu thể những đặc trưng thẩm mỹ trong các sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư đó là sự đổi mới văn học và sự hình thành hệ thống những giá trị thẩm mỹ mới của văn học Việt Nam sau 1975

1.2 Đổi mới văn học và sự hình thành hệ thống những giá trị thẩm mỹ mới của văn học Việt Nam sau 1975

1.2.1 Vận động đổi mới trong văn học

Văn học Việt Nam trong thế kỉ XX đã diễn ra ba mốc đổi mới lớn lao Đầu thế kỉ XX, Văn học thoát khỏi phạm trù trung đại qua giai đoạn giao thời 1900- 1930 và bước hẳn sang một nền văn học hiện đại, nhập vào dòng chảy chung của căn học thế giới với những thành tựu mang tính cách mạng giai đoạn 1930- 1945 Cách mạng tháng Tám thành công (1945) mở ra một giai

đoạn mới trong lịch sử dân tộc, văn học đã làm một cuộc “đổi đời” và bền bỉ

gắn với sứ mạng cổ vũ chiến đấu, bảo vệ tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội trong suốt 30 năm (1945- 1975) Đại thắng mùa xuân năm 1975 đã chấm dứt một giai đoạn lịch sử đau thương của dân tộc, kể từ đây đất nước bước vào một chặng đường mới, khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh, từng bước phát triển theo quy luật của đời sống hòa bình Sau 1975, văn học đã làm một cuộc đổi mới trọng đại Cái mốc 1986 đã trở thành một một điểm khởi đầu mới chưa từng có cho một dòng chảy sâu rộng cho đến hết thế kỉ XX

và tiếp diễn đương đại sang đầu thế kỉ XXI Mỗi một cuộc đổi mới như thế cũng đồng thời với sự thay đổi của hệ thống giá trị thẩm mỹ

Không tách khỏi dòng chảy chung của văn học dân tộc, trong thế kỉ XX, cho đến trước năm 1975, văn xuôi đã trải qua hai cuộc đổi mới Đầu thế kỉ

XX, khi nước ta đã trở thành một bộ phận của thế giới hiện đại, đưa văn học

Trang 20

vào quỹ đạo chung của văn học thế giới đã trở thành yêu cầu cấp bách, văn xuôi đã thoát khỏi sử truyện Sự đổi mới diễn ra trong sự hình thành một đội ngũ các nhà văn mới Tư tưởng phương Tây du nhập vào đã dần thay thế các thể loại có tính chức năng của văn học trung đại Và mọi điều kiện văn hóa –

xã hội đã hội tụ đủ cho sự ra đời của một quan niệm văn học mới Văn học

không còn nhằm “trước thư lập ngôn”, thể hiện “tâm, chí, đạo”, di dưỡng tinh

thần và giáo dục con cháu Quan niệm mới này chỉ có thể có được khi viết văn được quan niệm là một nghề, viết để sinh nhai Trạng thái tâm lí đô thị

“đòi hỏi ở văn học đời sống bình thường, hàng ngày, rất văn xuôi Nó không

chỉ ảnh hưởng, tác động, mà thực sự bẻ lái cho cả nền văn học” [38, tr 225]

Sự đổi mới trong nửa đầu thế kỉ XX cũng đã cho thấy một quá trình thế tục hóa, đại chúng hóa Đáng chú ý là cho đến trước những năm 30, ở những điểm khởi sự, trong văn xuôi đã xuất hiện cái bi trong tiểu thuyết Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách và cái hài trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan Có thể xem đây là hai nhu cầu tinh thần cơ bản, chứng thực cho quy luật hài hòa trong sự vận động thẩm mỹ hiện đại Những điều kiện được hình thành trong giai đoạn giao thời đã tạo ra một sự bùng phát – đỉnh điểm đổi mới mang tính cách mạng của văn học Việt Nam trước cách mạng tháng Tám: Văn học hiện thực phê phán, Văn học lãng mạn với thơ Mới và Tự lực văn đoàn Thời kì mặt trận dân chủ (1936- 1939) là một minh chứng điển hình cho sự chín muồi điều kiện đổi mới và vận động tự thân của ý thức văn học Riêng trong lĩnh vực văn xuôi, có thể nói đến sự đa dạng mà ít nhất theo tiêu chí phương pháp sáng tác người ta đã khái quát thành 2 khuynh hướng hiện thực phê phán và lãng mạn với những tên tuổi lớn như: Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Thạch Lam, Nguyên Hồng… Quá trình hiện đại hóa văn học ở đầu thế kỉ XX cũng diễn ra sự kế thừa các phạm trù thẩm mỹ truyền thống và sự xuất hiện các phạm trù thẩm mỹ mới Sự đa dạng của các phẩm

Trang 21

chất thẩm mỹ trong văn xuôi đầu thế kỉ XX đã đặt nền tảng cho sự phát triển

đa dạng các đặc trưng thẩm mỹ về sau này

Tính bước ngoặt của sự đổi mới văn học trong giai đoạn 1945- 1975 đã được các nhà nghiên cứu khẳng định Nếu như văn học trước 1945 cho thấy

sự phong phú, đa dạng bắt nguồn từ sự giao tranh, khai mở của một quá trình sinh thành phức tạp của tính hiện đại, thì kể từ sau năm 1945 sự phong phú đa dạng của văn học trong bước đường đổi mới đã diễn ra từ sự kế thừa, phát huy những tiền đề và cả những đỉnh cao phù hợp với quan hệ mới của văn

nghệ đối với sự nghiệp cách mạng của toàn dân tộc, trong tính “bất thường”

của văn học thời chiến Sự phong phú đa dạng của văn học 1945- 1975 có cơ

sở từ sự thay đổi lớn trong quan niệm văn học mang tính đặc thù Sự xuất

hiện của con người quần chúng đã “bẻ lái’ văn học vận động theo khuynh hướng sử thi: “Đó không chỉ là kỉ nguyên biến con người nô lệ thành con

người tự do, làm chủ vận mệnh của mình, mà còn là thời đại biến con người nhỏ bé, rời rạc, yếu đuối trong xã hội cũ thành con người của dân tộc, của đoàn thể, của sự nghiệp chung”, “Cách mạng mở ra một chân trời mới bao la cho con người tự vươn lên khẳng định mình Chỉ trong sự nghiệp chung đó, con người mới cảm thấy hạnh phúc, tự do, có tầm quan trọng và có ý nghĩa Người ta vào cách mạng như đi trẩy hội Cái chung lấn át cái riêng, đời sống chính trị lấn át đời sống hằng ngày Hay nói cách khác, đời sống chung được cảm nhận như là đời sống riêng của mỗi người” [51, tr.225-226] Văn học nói

chung, văn xuôi nói riêng đã tập trung thể hiện những giá trị thẩm mỹ theo quan niệm ấy Cái đẹp, cái cao cả trở thành đặc trưng thẩm mỹ bao trùm toàn

bộ văn học Việt Nam 1945 - 1975

Sau 1975 đặc biệt là từ Đại hội VI (1986) của Đảng Cộng Sản Việt Nam, với nghị quyết 05 về văn hóa văn nghệ, đã tạo ra một động lực lớn, tích cực hóa vận động đổi mới của văn học Các nhà nghiên cứu đã tương đối

Trang 22

thống nhất mốc 1986 đến đầu những năm 90 của thế kỉ XX là chặng đường

đổi mới đột khởi của văn xuôi, và khái niệm “thời kì đổi mới” với ý nghĩa lịch

sử đã xác nhận tính cách mạng của chặng đường này Từ khoảng đầu những năm 90 của thế kỉ XX đến nay, văn xuôi tuy không có những đột phá cao trào như chặng đường trước; song sau một khoảng thời gian có phần chững lại, văn xuôi tiếp tục vận động theo hướng ngày càng phồn tạp, đa dạng hơn Có thể kể ra những tên tuổi tiêu biểu làm nên diện mạo văn xuôi Việt Nam trong thời kì này: Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Lê Lựu, Bảo Ninh, Nguyễn Huy Thiệp, Chu Lai, Phạm Thị Hoài, Dương Hướng, Dương Thu Hương, Dạ Ngân, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Bình Phương, Hồ Anh Thái, Đỗ Hoàng Diệu,…Và đặc biệt phải kể đến Nguyễn Ngọc Tư

Văn học đổi mới trên cơ sở một hệ thống thẩm mỹ mới đã khác trước

1.2.2 Hệ thống các giá trị mới được hình thành

Hệ giá trị thẩm mỹ được thể hiện trong quan niệm nghệ thuật của mỗi nhà văn, phản ánh lí tưởng thẩm mỹ của thời đại Sau 1975, văn học mà đặc biệt là văn xuôi đến khoảng giữa những năm 80 của thế kỉ XX đã vận động theo một mô hình lí tưởng, quan niệm thẩm mỹ khác trước Điều đó cũng có nghĩa là hệ giá trị thẩm mỹ cũ đã không còn phù hợp với nhu cầu của thời đại

đã được thay thế bằng một hệ giá trị thẩm mỹ mới Vận động này là đòi hỏi tất yếu của lịch sử

Hệ giá trị thẩm mỹ của văn học cách mạng 1945- 1975 mang tính cao

cả thuần khiết, đơn trị Đặc trưng này xuất phát từ đòi hỏi tất yếu của lịch sử

Hệ giá trị cao cả thuần khiết, đơn trị phù hợp với nhu cầu của một dân tộc đang trong cuộc đấu tranh sống còn để giữ gìn độc lập, tự do Trong bối cảnh lịch sử- xã hội đặc thù thời chiến, giá trị cộng đồng, tập thể lấn át giá trị cá nhân, cá nhân tìm thấy giá trị của mình, khẳng định mình trong lí tưởng chung Giá trị cá nhân đồng nhất vào giá trị lớn lao của Tổ quốc, nhân dân, cách

Trang 23

mạng…Nhận định về hệ giá trị trong văn học cách mạng 1945-1975, Trần

Đình Sử viết: “Nhìn chung văn học cách mạng đã phát huy cao độ ý thức về

hệ thống giá trị cộng đồng mạnh mẽ, cao thượng, giàu tính chiến đấu, lạc quan, yêu đời…Hệ thống giá trị văn hóa cá nhân (nhiều khi bị hiểu lầm là

“chủ nghĩa cá nhân”), văn hóa giải trí, hưởng thụ chưa có điều kiện phát triển và thừa nhận hay ít ra là chưa được đánh giá cao” [51, tr.306] Cái cao

cả thuần khiết chi phối, quy tụ và chuyển hóa mọi giá trị thẩm mỹ khác tạo nên tính đơn trị của hệ hình giá trị sử thi

Đến thời kì đổi mới sau 1975, phù hợp với vận động của lịch sử- xã hội

từ thời chiến chuyển sang thời bình, chịu sự tác động của quy luật kinh tế thị trường và thích ứng với nhu cầu đa dạng hóa của tiếp xúc, giao lưu trong thời

mở cửa, môt hệ giá trị thẩm mỹ mới đã được hình thành trong văn xuôi Đó là

sự chuyển đổi từ hệ giá trị cao cả thuần khiết, đơn trị sang hệ giá trị đời thường phồn tạp, đa trị

Sự chuyển đổi hệ giá trị thẩm mỹ trong văn xuôi sau 1975 phản ánh quy luật vận động lịch sử của ý thức thẩm mỹ Văn học thời nào, ở đâu thì cũng thể hiện những khát vọng giá trị mà người nghệ sĩ hướng tới, từ những vấn đề cụ thể của đời sống thực tại Đời sống thay đổi, tất nhiên những khát vọng ấy cũng đổi thay Hệ giá trị của đời sống không còn như trước, hệ giá trị thẩm mỹ trong ý thức nghệ thuật tất yếu phải biến đổi Thực tế mối quan hệ giữa văn học và đời sống, văn học và công chúng trong những năm sau ngày giải phóng, thống nhất đất nước đã cho thấy sự lệch pha giữa quan niệm giá trị trong ý thức nghệ thuật vốn có với nhu cầu thẩm mỹ của xã hội đang chuyển mình mạnh mẽ Các cây bút văn xuôi khao khát được cắt nghĩa, lí giải đời sống trong trạng thái phồn tạp vốn có của nó Ở đó, mọi điều đều có thể, các giá trị phải được trải qua nhiều trạng huống khác nhau của đời sống trước khi biến thành thứ ánh sáng chân thực trong lòng người đọc Các giá trị tiêu

Trang 24

cực xuất hiện dày đặc, ở nhiều sắc thái Bởi hệ giá trị trong quan niệm của người nghệ sĩ đã trở nên đa chiều, đa dạng cho nên chúng thể hiện trong cấu trúc kí hiệu đa nghĩa, nhiều khả năng tiếp nhận

Trong văn xuôi đổi mới sau 1975, mọi chi tiết, mọi sự kiện của đời sống phồn tạp đã được đặt vào một hệ quy chiếu thẩm mỹ mới, không còn là cái nhìn đơn chiều, đơn diện, vì thế những giá trị nhân sinh đã hiện hình trong tính đa trị cố hữu của nó Tuy nhiên, đời thường phồn tạp, đa trị không có nghĩa là các giá trị cao cả của cuộc sống con người được thay thế bằng cái hỗn tạp, “phi lí tưởng” Các giá trị đều có quyền tồn tại và thể hiện những khát vọng khác nhau của cuộc sống con người

Trong bối cảnh cuộc sống đang diễn ra cuộc đấu tranh gian khổ và phức tạp giữa cái mới và cái cũ, cái tiến bộ và cái lạc hậu, giữa cái thiện và cái ác, giữa cái xấu và cái tốt, hiện thực cuộc sống phong phú ấy chính là mảnh đất màu mỡ để văn học, nghệ thuật phát triển, để văn nghệ sĩ đi sâu tìm tòi, sáng tạo thể hiện khát vọng và tư tưởng lớn, tâm hồn cao đẹp của dân tộc trong hoàn cảnh mới Nếu văn học, nghệ thuật không bám rễ sâu vào hiện thực đó, không mang được tâm thế của xã hội thì khó có tác phẩm tầm cỡ có giá trị

Sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư ra đời vào đúng thời điểm, chị đã hòa mình vào đổi mới Với cảm hứng thế sự, đời thường, các tác phẩm của chị tập chung phản ánh, đi sâu khai thác hiện thực cuộc sống của người nông dân vùng cực Nam của Tổ quốc Đó là hiện thực của cuộc sống hàng ngày với các quan hệ thế sự vốn đa đoan, đa sự, phức tạp, chằng chịt, đan dệt nên những mạch nổi và mạch ngầm của đời sống Hiện thực đó còn là đời sống cá nhân với những vấn đề riêng tư, số phận, nhân cách, khát vọng, bi kịch và hạnh phúc Đó còn là hiện thực trong tâm hồn con người Truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư đã phản ánh sâu sắc số phận cá nhân của con người, đã đặt ra vấn đề

Trang 25

hạnh phúc cá nhân của con người và khát vọng về một cuộc sống hạnh phúc Chị cũng là nhà văn viết thành công về nỗi cô đơn, nỗi đau, bi kịch và số phận bất hạnh của con người trong cuộc sống đời thường

1.3 Quan niệm của Nguyễn Ngọc Tư về con người, cuộc sống và văn chương

1.3.1 Quan niệm về con người của Nguyễn Ngọc Tư

Văn học nghệ thuật chính là sự phơi trải cái nhìn về con người Nhà văn có thể viết một tác phẩm không có hình bóng con người nhưng suy đến cùng lại nói về con người Có bao nhiêu nghệ sĩ thì có bấy nhiêu cách cắt nghĩa lý giải về con người Mỗi nhà văn khám phá con người một cách khác nhau và đặt ra những câu hỏi đại loại như: Con người đến từ đâu? Con người

đi về đâu? Con người như thế nào được gọi là chân - thiện - mỹ? Con người

như thế nào mới xứng danh con - người? Cho nên, khi nghiên cứu tác giả, tác

phẩm, nhân vật… cần soi chiếu và bắt nguồn từ quan niệm của nhà văn đó về con người Nghiên cứu quan niệm nghệ thuật về con người giúp chúng ta khám phá chiều sâu những biểu hiện chủ quan, sáng tạo của nhà văn, thấy được trình độ tư duy nghệ thuật của từng cá nhân cũng như của cả một thời đại văn học

Quan niệm nghệ thuật về con người là một tiêu chí quan trọng để đánh giá giá trị của một tác phẩm văn học Đồng thời, quan niệm nghệ thuật về con người được xem là nhân tố cơ bản, là điểm xuất phát cho mọi sự sáng tạo của nhà văn Sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư thể hiện những nét sắc sảo trong quan niệm nghệ thuật về con người Đây là một trong những chìa khóa quan trọng giúp giải mã các vấn đề trong tác phẩm của chị

1.3.1.1 Con người sống là luôn hi vọng

Trong cuộc sống không phải lúc nào con người cũng được hạnh phúc, suôn sẻ, thuận lợi Thực tế đầy rẫy những khó khăn, thách thức, gian khổ mà

Trang 26

con người phải đối mặt Do vậy, hi vọng luôn là sức mạnh giúp con người chịu đựng và vượt qua mọi khó khăn Dù đang phải chịu những khó khăn vất

vả, bất hạnh…nhưng các nhân vật trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư luôn mang trong mình niềm tin rằng cuộc sống sẽ tốt đẹp hơn, bất hạnh sẽ qua đi

và hạnh phúc đang chờ ở phía trước

Nguyễn Ngọc Tư đã từng nói: “Sống là luôn hi vọng… Hi vọng là liều

thuốc chữa được bách bệnh” [63, tr.113] Hàng loạt các tạp văn của chị:

Ngậm ngùi Hưng Mĩ, Thư từ quê, Đi qua những cơn bão khô, Chờ đợi những mùa tôm, Gió mùa thao thức…nói về những khó khăn mà người dân

đang phải chịu đựng: dịch cúm gia cầm, chôn vịt sống, bão tôm,…Những rủi

ro ấy khiến những người nông dân vốn đã chẳng giàu có gì nay lâm vào tình cảnh trắng tay Sạt nghiệp vì nuôi tôm, nuôi vịt, nợ ngân hàng lút đầu vậy mà

người ta vẫn cười: “Rầu cũng nghèo mà cười cũng nghèo, sao mình hỏng cười,

hỏng hi vọng cho đỡ khổ hả cô” (Đi qua những cơn bão khô) Nghĩ và làm

được như vậy đúng là nhờ tinh thần lạc quan “Lúa thất thì hi vọng trúng mùa

sau, giá rẻ như bèo thì cứ đinh ninh năm sau được giá Lứa này tôm chết thì chờ lứa sau Lúc thả bọc tôm như cây kim xuống đầm, vẫn hi vọng mai này

còn gặp lại chúng” (Đi qua những cơn bão khô) Những người nông dân

khiến tác giả phải ngạc nhiên: “Tôi nhận ra rằng, nông dân mình xưa nay có

món đặc sản độc lắm, nhờ món đó mà họ sống từ thế hệ này sang thế hệ khác,

từ đời này sang đời khác Đó là hi vọng” (Đi qua những cơn bão khô) Hi

vọng tạo ra sức mạnh giúp con người vượt lên khó khăn của thực tại, để tiếp tục sống và gây dựng tương lai Những người nông dân như ngọn cỏ bên đường, vẫn ngoi lên sống bền bỉ sau bao lần bị giông gió vùi dập Phải hi vọng để sống, để làm lụng, để chịu đựng và vượt qua

Sức mạnh của hi vọng còn được thể hiện khi Nguyễn Ngọc Tư xây dựng các nhân vật truyện ngắn Ở trong hoàn cảnh nào thì nhân vật của cô

Trang 27

vẫn không bi quan, không nghĩ đến cái chết, vẫn luôn hướng về nhưng điều tốt đẹp, về ngày mai Chính hi vọng đã tạo ra sức mạnh giúp họ vượt lên khó khăn thực tại để tiếp tục sống và gây dựng tương lai Đúng như Nguyễn Ngọc

Tư phát biểu: “Con người mà tắt hi vọng thì chết còn sướng hơn” Chính hi

vọng đã làm nên sức sống cho con người

1.3.1.2 Con người sống là để yêu thương

Nguyễn Ngọc Tư là nhà văn viết hay về tình yêu thương Với chị, yêu

thương là lẽ sống, niềm vui, là hạnh phúc: “Dù có yêu đơn phương (chắc là

cũng hơi buồn) nhưng bản thân việc yêu đã là sống, là vui” Chị yêu cha mẹ,

yêu quê hương, yêu những kỉ niệm tuổi thơ, yêu cái cửa sau nhà, yêu khoảng sân đầy nắng, yêu những con người tần tảo, vất vả…trên quê hương Chi thương cha mẹ tần tảo sớm hôm, thương người nông dân ngèo gặp nhiều bất

trăc, thương trẻ thơ bất hạnh…Chị đã nói khi trả lời phỏng vấn: “Người ta sẽ

nhận ra ai cũng có nhu cầu được ấm áp, yêu thương, ngay cả những người mạnh mẽ, tàn nhẫn nhất cũng mong muốn có một ngày được hoàn lương, một mái nhà yên ấm”

Nguyễn Ngọc Tư viết về tình yêu bình dị ấy rất say sưa, xúc động Các nhân vật của chị đa phần đều giàu tình yêu thương và luôn khát khao được yêu thương Họ sẵn sàng chở che, giúp đỡ người khác như nhân vật ông Sáu

trong Cái nhìn khắc khoải, Sáu Tâm trong Bởi yêu thương, ông già Chin Vũ trong Cuối mùa nhan sắc, ông Mười trong Mối tình năm cũ,…Họ như sinh

ra để ban phát yêu thương cho những người bất hạnh Những nhân vật khác thì luôn mong được sum họp, vui vầy dưới một mái ấm gia đình, được sống

trong tình yêu thương của cha mẹ Nương và Điền trong Cánh đồng bất tận

luôn phải sống trong cảnh thiếu thốn tình yêu thương của cha mẹ, hai tâm hồn

bị tổn thương ấy luôn khát khao được yêu thương

Là người giàu tình yêu thương, Nguyễn Ngọc Tư sợ sự vô cảm Chị

nói: “Tôi rất sợ lòng mình vô cảm Tôi cũng sợ y như vậy khi thấy những

Trang 28

người xung quanh tôi không còn biết yêu thương nữa” Khi không còn biết

yêu thương, con người sẽ trở nên lạnh lùng, tàn nhẫn và thế giới sẽ không còn những điều tốt đẹp Khi được hỏi về giá tri của lòng nhân hậu, sự yêu thương trong cuộc sống hôm nay và biểu hiện yêu thương của tuổi trẻ bây giờ có gì

khác lạ không, Nguyễn Ngọc Tư đã nói: “Nhiều người nhận xét người trẻ bây

giờ thực dụng, ít nhân hậu hơn thế hệ trước Tôi không tin là vậy Chẳng qua cuộc sống bây giờ bận rộn quá, cấp tập quá nên tình cảm yêu thương ít được thổ lộ Chớ thật ra nó vẫn còn nguyên trữ lượng như thế Thậm chí những biểu hiện của lòng quan tâm, trắc ẩn của người trẻ còn tìm được những cách bày tỏ mới, sâu sắc và đầy bất ngờ trong cuộc sống hôm nay Tôi nghĩ đừng bao giờ mất hi vọng vào tâm hồn người trẻ Bởi vì sau tất cả những bất đồng, những biểu hiện vô tâm nếu có, thì rồi ai cũng có nhu cầu được yêu thương

Mà muốn được vậy, phải biết chia sẻ lòng nhân từ, sự quan tâm từ chính tái tim mình trước nhất” [66] Quan niệm này của Nguyễn Ngọc Tư thể hiện

cách nhìn điềm tĩnh và tin cậy của chị vào thế hệ trẻ Khi được hỏi: “Cái ác

có phải là đề tài hấp dẫn với chị không?” Nguyễn Ngọc Tư trả lời: “Cái ác,

sự tàn nhẫn, thói vô tâm luôn làm tôi ghê sợ, hấp dẫn cái nỗi gì chớ? Tôi đã động tới cái ác vì có nó thì cái thiện, sự yêu thương, cái yếu ớt mong manh của những tình cảm tốt đẹp mới nổi lên được, để cho người ta nhìn thấy rõ hơn” [66] Như vậy đối với Nguyễn Ngọc Tư, viết về cái ác cũng là một cách

để tôn vinh cái thiện, ca ngợi tình yêu thương con người, để con người biết sống tốt đẹp hơn

1.3.1.3 Con người sống luôn chân thành

Người dân Nam Bộ có truyền thống coi trọng tình nghĩa Con người nơi đây đối đãi với nhau bằng tấm lòng, bằng nhân nghĩa Nguyễn Ngọc Tư cho rằng: Tình cảm phải chân thành, không khiên cưỡng, không giả dối Chị

cho rằng: “Tình cảm phải xuất phát từ tấm lòng mới quý” và sự giả dối rất

đáng sợ, nó khiến cho những người trung thực luôn cảm thấy khổ sở, bất an:

Trang 29

“Sẽ khổ sở rất dài khi ta thấy những cử chỉ yêu thương, tai ta nghe những lời

nói ngọt ngào mà ta biết tỏng tòng tong tất cả đều không thật”

Cô gái trong tạp văn Bùa yêu và con nhỏ thất tình đã từ chối đi kiếm

một cái bùa yêu để níu giữ người cô yêu thương dù cô rất muốn Cô cho rằng, nếu chỉ vì bùa yêu mà người đó quay lại với mình, nói những lời yêu thương ngọt ngào,…thì tất cả chỉ là giả dối Nếu cứ như vậy còn đau đớn hơn cả thất tình bởi tình cảm ấy có được là do bùa yêu chứ không phải tình yêu thật sự

Đọc Nguyễn Ngọc Tư dù là truyện ngắn hay tạp văn chúng ta đều thấy nổi bật và xuyên suốt trong các chặng đường sáng tác của chị thời gian qua tựu chung lại đều bộc lộ khá rõ suy nghĩ và mong muốn của nhà văn về một

“mối quan hệ tốt đẹp” giữa người và người trong cuộc đời Mối quan hệ ấy,

theo Nguyễn Ngọc Tư nhất thiết phải được nâng niu, phải được trân trọng và

gìn giữ cho dù thế giới này có “nóng”, có “phẳng” đến mức nào đi nữa Kiếp

người vốn ngắn ngủi vì thế đã là người thì phải đối đãi và cư xử với nhau cho đàng hoàng; con người trong ứng xử với nhau không nên và cũng không được

“trong tay có đá”; đã là người thì phải sống thành thật với chính mình, “phải

thành thật với con tim” và với những người xung quanh

Với tính cách thẳng thắn, bộc trực, người Nam Bộ ghét sự giả dối, nhất

là trong tình cảm Các nhân vật của Nguyễn Ngọc Tư đều bộc lộ tính cách đó

1.3.1.4 Hạnh phúc là biết trân trọng những gì mình có

Hạnh phúc là điều ai cũng mong mỏi Nhưng quan niện về hạnh phúc thì mỗi người mỗi khác Với người này hạnh phúc là giàu có, với người khác hạnh phúc lại là quyền lực, danh vọng, Với Nguyễn Ngọc Tư, hạnh phúc vô cùng giản dị, quan trọng nhất là mỗi người biết tự vừa lòng với cuộc sống của

mình, biết trân trọng những gì mình có Chị nói: Hạnh phúc không ở những

ngôi nhà sang trọng, tự mình thấy đủ, dù ở chòi tranh, vách lá, dù ở dạ cầu cũng vui”

Trang 30

Trong tạp văn Một Mái nhà kể về cuộc sống của một người bạn cũ

Nhìn và nghe cô bạn, tác giả nghĩ chắc bạn mình phải có cuộc sống vật chất đầy đủ nên mới vui vẻ hạnh phúc như vậy Nhưng khi đến nhà bạn chị ngỡ ngàng thấy căn nhà bé xíu, lợp lá cũ mèm nhìn thấy cả bầu trời, lá mục rơi cả vào chén nước…Cô bạn thì học hành lỡ dở, công việc hiện tại để sinh nhai cũng vất vả Nói chung dưới con mắt của người ngoài thì cuộc sống ấy khó có thể coi là hạnh phúc Nhưng cô bạn tên Bèo hoàn toàn thấy hài lòng Hạnh phúc với cô là chồng vo gạo, vợ nhặt rau, quây quần đầm ấm

Hạnh phúc còn là được yêu, được hi sinh cho người mình yêu thương

Ông già Chín Vũ trong Cuối mùa nhan sắc cả cuộc đời đã yêu thương đào

Hồng mà không hề mong được đáp trả Hạnh phúc với ông thật giản đơn: chỉ

cần được xum họp với bà ở nhà “Buổi chiều”, được gánh giúp bà gánh chè

một đoạn đường mỗi sáng…Ông nhận về mình tất cả những buồn tủi, thiệt thòi…chỉ cần người yêu hạnh phúc Vẻ đẹp của ông già Chín Vũ là vẻ đẹp của lòng cao thượng

1.3.1.5 Nỗi đau sinh ra từ thù hận

Người ta có thể đau vì nhiều lí do: vật chất thiếu thốn, tình yêu lỡ dở, gia đình không hạnh phúc…Nỗi đau có thể do những nguyên nhân khách quan những cũng có thể do chủ quan bản thân mỗi người tự gây ra cho mình

Nguyễn Ngọc Tư chịu ảnh hưởng của thuyết nhân quả của Phật giáo

Chị quan niệm: “Nhân quả không phải do trời giáng xuống, mà do chính lòng

người Những nỗi đau bắt nguồn từ lòng thù hận của con người Tư nghĩ con người nên mở lòng ra và sống nhân ái với nhau” Phật pháp chủ trương: “Hạn chế sân hận, trải rộng tình thương” Theo Nguyễn Ngọc Tư, nỗi đau của con

người là do họ nuôi dưỡng lòng thù hận ghen ghét,… lương tâm vì thế không được thanh thản Con người cần biết giải tỏa sân hận, học cách tha thứ, sống nhân ái bao dung độ lượng…Như thế mọi nỗi đau sẽ được giải tỏa, con người

sẽ tìm được hạnh phúc, cân bằng

Trang 31

Sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư có nhiều nhân vật là nô lệ của lòng thù

hận Tiêu biểu là người cha trong Cánh đồng bất tận Ông luôn mang trong

mình nỗi đau bị vợ phụ bạc Nỗi đau đó không được giải tỏa mà nó chất chứa trở thành lòng thù hận với những đứa con và với những người phụ nữ Ông như con thú bị thương liếm vào nỗi đau của mình và hành hạ những đứa con Ông ghét bỏ đứa con gái vì càng lớn nó càng giống mẹ Hai đứa con không những không được hưởng tình yêu thương mà còn trở thành nạn nhân của người cha đầy thù hận Ông rửa hận bằng cách quyến rũ rồi bỏ rơi những người đàn bà khác, để họ cảm nhận nỗi nhục nhã, ê chề của kẻ bị phụ bạc Ông mất cả hai đứa con chỉ vì chúng ghê sợ ý chí sắt đá của ông

1.3.2 Quan niệm của Nguyễn Ngọc Tư về cuộc sống

1.3.2.1 Sống vô tư không mong được đáp đền

Người Nam Bộ mang tinh thần trượng nghĩa, thấy việc thì giúp đỡ, không khoanh tay đứng nhìn, đã giúp ai là giúp vô tư, không vụ lợi như lời

Nguyễn Đình Chiểu đã nói: “Làm ơn há dễ trông người trả ơn”

Mang trong mình truyền thống đó, nhân vật của Nguyễn Ngọc Tư phát

biểu: “Sống ở trên đời, thấy việc thì phải làm mà làm cũng đừng nghĩ được

đền bù xứng đáng vì có những thứ quý giá lắm chẳng gì bù đắp được đâu”

(Qua cầu nhớ người) Hai Nhớ trong Qua cầu nhớ người thuê người làm

cây cầu bắc qua sông dài để bà con đi lại đỡ vất vả Đây là công việc tập thể

mà xã, huyện lắc đầu, còn anh một mình đứng ra làm Anh phải vay tiền ngân hàng, cầm cố nhà cửa Làm xong cầu, anh phải đi làm thuê, làm mướn khắp nơi để trả nợ Vậy mà, anh làm việc đó rất vô tư, không mong người dân Đội

Đỏ đền ơn

Ông già Chín Vũ trong Cuối mùa nhan sắc, Sáu Tâm trong Bởi yêu

thương là những người cả đời chỉ biết hi sinh, chăm sóc cho những người

mình yêu thương Họ nhận về tất cả những thiệt thòi, vất vả mà không hề đòi

Trang 32

hỏi được đáp đền Họ làm như vậy vì tình yêu thương Có lẽ những người được nhận tình yêu thương và hi sinh ấy cũng chẳng thể trả ơn hay bù đắp được vì nó quá lớn, quá thiêng liêng, không gì so sánh được Nó khiến cho người ta chỉ có thể trân trọng hết lòng chứ không thể trả vay sòng phẳng

1.3.2.2 Gia đình là yếu tố quan trọng nhất trong cuộc đời mỗi con người

Gia đình là chốn bình yên, thân thiết với mỗi người Ở đó ta có cha mẹ,

có những người thân yêu luôn hết lòng yêu thương giúp đỡ Gia đình là nguồn

hạnh phúc vô tận của mỗi con người

Nguyễn Ngọc Tư sinh ra ở nông thôn và lớn lên trong một gia đình hạnh phúc với những con người thật hồn hậu Chị hiểu hơn ai hết vai trò của gia đình vì thế chị rất trân trọng hạnh phúc gia đình Khi được hỏi giữa sự nghiệp văn chương và gia đình cái nào quan trọng hơn, Nguyễn Ngọc Tư

không ngần ngại trả lời luôn: “Nếu phải hi sinh gia đình vì sự nghiệp văn

chương thì mình thấy không đáng” [57] Bởi với chị gia đình là quan trọng

nhất Chị chỉ có một ước muốn giản dị là được chăm sóc chồng con, vun vén cho gia đình

Quan hệ gia đình, ba má, mảnh vườn, cái sân… là những đề tài gần gũi, quen thuộc của Nguyễn Ngọc Tư Đây là nguồn nuôi dưỡng tâm hồn chị, gieo vào lòng chị ước mơ, dạy chị những bài học làm người Những nơi đó cho chị cảm hứng văn chương dồi dào, khích lệ, động viên chị tiến tới Đó cũng là nơi dang tay đón chị lúc chị bị sơ sẩy trên con đường văn nghiệp đầy chông gai

Là nhà văn nhưng trước hết Nguyễn Ngọc Tư còn là một người phụ nữ yêu gia đình Đó là điều đáng quý ở chị bởi muốn là một nhà văn yêu thương con người thì trước hết phải biết yêu thương gia đình nhỏ bé của mình Nơi bình yên ấy sẽ tiếp thêm sức mạnh, tình yêu văn nghiệp, cho chị những trang văn thấm đẫm tình người, khơi gợi ở người đọc tình yêu thương gia đình, yêu quê hương, đất nước

Trang 33

1.3.2.3 Sống giản dị, thanh thản

Cuộc sống thời hiện đại cuốn người ta vào vòng xoáy bận rộn với những lo toan vật chất không có điểm dừng Đến một lúc nào đó con người thấy mệt mỏi và mong muốn có một cuộc sống giản đơn, thanh thản Nhưng không phải dể dàng mà có được điều ấy

Nguyễn Ngọc Tư đã suy nghĩ nhiều khi chứng kiến cuộc sống của Nguyệt và Bèo Nguyệt chẳng liên quan gì đến văn chương, cô sống thoải mái, thanh thản, ít vướng bận lương tâm, chỉ biết chăm sóc chồng con Người bạn tên Bèo cuộc sống còn nhiều khó khăn, nhà cửa dột nát, nghề nghiệp bấp bênh Vậy mà cô vẫn sống vui vẻ hạnh phúc, vẫn thấy yêu quý ngôi nhà và

cuộc sống hiện tại của mình Nhìn hai bạn tác giả nghĩ: “Cuộc sống đó nhiều

ngươi vẫn “khi dễ” là tầm thường, nhàm chán Rồi một đôi lần trong đời chợt rưng rưng nhận ra, muốn sống như vậy cũng không dễ” [63, tr.56]

So sánh với hai người bạn, Nguyễn Ngọc Tư thấy mình chưa sống được như họ Chị luôn phải suy nghĩ, lo toan, dằn vặt cõi văn chương Nó khiến chị không được một phút nhẹ lòng, thanh thản Do vậy, khi nhìn hai người bạn hạnh phúc, chị đã thèm muốn được như họ Chị nhận ra rằng có một mái nhà che nắng, che mưa, ở đó có những người yêu thương, khi đi mưa về có người đưa cái khăn lau đầu, thế là hạnh phúc lắm rồi Hạnh phúc giản đơn, bình dị thế, vậy mà con người ta không dễ kiếm tìm

Trong nhịp sống thời hiện đại con người luôn phải vội vã, chạy đua với thời gian để mong thỏa mãn nhu cầu vật chất, nhiều khi quên đi ý nghĩa đích thực của cuộc đời Đến một lúc nào đó, con người mới nhận ra rằng được sống thanh thản, không vướng bận lo toan, biết hài lòng vói cuộc sống là điều hạnh phúc nhất

1.3.2.4 Có ý thức về bản thân

Đối với người phụ nữ, đức hi sinh luôn được đánh giá cao Họ có thể hi sinh hết thảy niềm vui, sở thích vì chồng, vì con Nhưng nhiều khi điều đó trở

Trang 34

thành gánh nặng cho người phụ nữ, khiến họ luôn phải ở trong tình trạng phải

cố gắng, phải gồng mình lên, phải quên đi bản thân mình

Nguyễn Ngọc Tư quan niệm: “Thoải mái và vui vẻ, cảm giác bản thân

là quan trọng Gia đình, chồng con, văn chương là quan trọng, nhưng cảm giác bản thân quan trọng nhất Bởi mình có muốn sống thì mình sẽ sống vì gia đình, sống cho văn chương, cho những điều quan trọng kia nhiều hơn”

[12] Mới nghe, có thể lầm tưởng đó là sự ích kỉ Song, nếu suy nghĩ một chút

sẽ thấy chị có lý Bởi mỗi người, trước khi sống cho người khác phải biết quý cuộc sống của mình Để có thể chăm sóc, yêu thương người khác phải biết chăm lo cho bản thân mình Nếu một người yếu ớt, không có sức khỏe thì liệu

có thể chăm sóc, giúp đỡ cho những người mình yêu thương? Nếu bản thân cảm thấy vui, cảm thấy yêu đời, yêu cuộc sống thì họ cũng sẽ làm cho mọi người hạnh phúc, vui vẻ Một người mà tâm trạng buồn thì cố gắng đến đâu cũng không thể làm cho người khác vui trọn vẹn Phải tìm thấy ý nghĩa của cuộc sống thì con người mới biết cách sống

Nguyễn Ngọc Tư coi trọng cảm giác cá nhân Suy cho cùng, con người vất vả, lăn lộn mưu sinh cũng là để phục vụ cho các nhu cầu của bản thân Khi bản thân cảm thấy vui, hạnh phúc thì sự vất vả, lăn lộn ấy mới có ý nghĩa

Do vậy, muốn sống vì gia đình, vì sự nghiệp thì trước hết mỗi người phải tự chăm sóc lấy bản thân mình, nuôi dưỡng tinh thần, rèn luyện sức khỏe, ý chí

để có thể đưa tay ra mỗi khi người thân cần đến

1.3.3 Quan niệm của Nguyễn Ngọc Tư về văn chương

1.3.3.1 Văn chương bắt nguồn từ cuộc sống

Gamzatov đã từng nói: “Văn học không có ranh giới nhưng nhà văn

phải có quê hương” Chính ông đã cho cả thế giới biết đến cái làng nhỏ bé của

ông Trong chừng mực khiêm tốn hơn, Nguyễn Ngọc Tư cũng tạo nên được dấu ấn trong lòng bạn đọc về vùng đất và con người Nam Bộ Chị luôn tin

Trang 35

rằng văn chương bắt nguồn từ cuộc sống Đây cũng chính là quan niệm của

nhiều nhà văn đi trước Nam Cao nói: “Văn chương chỉ có thể là tiếng đau

khổ kia thoát ra từ những kiếp lầm than”, Vũ Trọng Phụng nói: “Tôi và các

nhà văn cùng chí hướng như tôi muốn tiểu thuyết là sự thực ở đời”

Đối với Nguyễn Ngọc Tư, quê hương luôn là nguồn mạch tình yêu, là

nơi tiếp sức, điểm tựa cho văn chương của chị: “Từ nơi này, tôi đã nhìn được

rất xa, đã sống với nhiều nơi, làm bạn với nhiều người, vậy cũng hạnh phúc lắm rồi” Cuộc sống xung quanh là chất liệu ngồn ngộn để chị đưa vào trang

viết, có lần trả lời phỏng vấn, Nguyễn Ngọc Tư nhận rằng chị sẽ “giãy chết

như con cá bị bắt ra khỏi nước” [11], nếu phải rời khỏi môi trường sống hiện

nay Và trong môi trường sống bộn bề, sôi động đó Nguyễn Ngọc Tư như cá gặp nước, thỏa thuê vẫy vùng với một thế giới văn chương của riêng mình Nam Cao từng nói: “Sống đã rồi hãy viết” Những trang văn của

Nguyễn Ngọc Tư chinh phục người đọc nhờ chị đã thực sự sống những điều chị viết Đằng sau giọng văn nhẹ nhàng, người ta thấy nỗi niềm, cuộc sống nhọc nhằn, lam lũ của con người đất Mũi Chị đã, đang và sẽ viết về quê hương, thương cái nghèo, cái khó, cái mộc mạc chân sơ của nơi mình sinh ra, lớn lên, nơi mình húp những ngụm nước mưa trong lành ở cái lu nước đầu ngõ, nơi mình hâm nồi cơm nguội buổi chiều, nướng khô cá lóc, cá sặt, nhấp

ly rượu cay mà thương quê đên lao lòng

1.3.3.2 Viết theo cảm xúc của mình

Văn chương là lĩnh vực của cảm xúc, tình cảm Tác phẩm là suy nghĩ, cảm xúc của nhà văn về cuộc sống Song nhiều người cũng cho rằng văn chương không đơn thuần chỉ có cảm xúc mà còn có lí trí, có tư duy của lí tính

để giúp nhà văn nhìn nhận đúng quy luật của cuộc sống và thể hiện chân thực vào tác phẩm của mình

Trang 36

Cho dù viết về mảng nào, lĩnh vực nào, thể loại nào thì với Nguyễn Ngọc Tư, điều quan trọng nhất vẫn là cảm xúc Cảm xúc thật từ đời sống chỉ

có được khi trực tiếp sống, thực sự hòa nhập với đời sống Nguyễn Ngọc Tư không muốn viết những gì mà chị không có cảm xúc Nguyễn Ngọc Tư từng tâm sự, chị lấy cảm hứng từ cuộc sống và số phận của những người dân nghèo, lam lũ, những người nghệ sĩ nghèo khổ bất hạnh, những đứa trẻ đáng thương, những người đàn bà tội nghiệp,…ở chính vùng quê Nam Bộ của chị Chính những tình cảm, số phận trớ trêu của họ đã tạo cảm xúc cho Nguyễn Ngọc Tư sáng tác

Theo Nguyễn Ngọc Tư: “Sáng tác thì cứ lúc nào thấy xúc động, đủ cảm

xúc, có suy nghĩ về cái mình trải qua, có nhu cầu phải viết, nếu không viết chắc…tự tử mất thì Tư viết thôi” [12] Văn chương của chị dung dị mà không

kém phần sâu sắc bởi nó được viết từ những cảm xúc thôi thúc trong lòng, không viết thì không chịu được Sáng tác là nhu cầu tự nhiên, do cảm xúc thôi thúc trong lòng không thể ép buộc

Chị bộc bạch: “Bao giờ khi bắt tay vào viết, tôi cũng nghĩ thoáng qua

tác phẩm mới này ai sẽ khen, và biết vài khuôn mặt những người chê Lần nào cũng nghĩ nhưng lần nào cũng viết như cảm xúc của mình bởi trước khi viết

cho ai đó thì tôi viết cho mình” [12] Ở một chỗ khác chị khẳng định: “Trong

văn chương, tôi thường không có kế hoạch gì, tùy vào cảm hứng” [67] “Tôi

là đứa viết văn không chuyên, dựa vào cảm xúc mà viết” [57] Trước sau chị

vẫn coi trọng cảm xúc, lấy cảm xúc làm điểm tựa cho văn chương

Những quan niệm này thấm nhuần vào ngòi bút của Nguyễn Ngọc Tư làm nên những trang văn giản dị, tự nhiên đầy ắp cảm xúc Đối với Nguyễn Ngọc Tư, viết văn trước hết là viết cho mình, viết để giải tỏa những chất chứa trong lòng Văn chương của chị làm xúc động người đọc bởi nó xuất phất từ tình cảm chân thật

Trang 37

1.3.3.3 Cái tôi nhà văn là cái tôi cô đơn

Nguyễn Ngọc Tư sớm cảm nhận và ý thức về cái khắc nghiệt của nghề văn, về sự cô đơn trong sáng tạo của người nghệ sĩ Chị cũng nhận mình là

người cô đơn Chị cũng phát hiện ra một thế mạnh của người phụ nữ “là phụ

nữ dễ nuôi cô đơn để viết” Bởi thế chị cũng rất biết cách tận dụng lợi thế này

để viết Theo chị sự cô đơn là cần thiết cho hành trình sáng tạo nghệ thuật Khi được hỏi: “Chị đã sống trong tâm trạng như thế nào cùng các nhân

vật của mình trong suốt hành trình câu chuyện Cánh đồng bất tận?”, Nguyễn

Ngọc Tư đã trả lời: “Trong cõi văn chương, tôi là đứa cực kì cô đơn Nên tôi

rất dễ dàng để nhân vật của mình sống trong cô đơn tận cùng, trong hoang

hoải, chán chường Tôi cũng như những con người trong Cánh đồng bất tận,

sống giữa nhiều người, giữa cộng đồng, sống giữa biển người nhưng có cảm giác như bị bỏ rơi” [22] Đây là xu hướng phổ biến của các nhà văn, các nghệ

sĩ Xuân Diệu chẳng hạn, ông sống thường trực trong nỗi cô đơn, cho nên thơ ông trở thành niềm khát khao giao cảm với đời Nguyễn Ngọc Tư đưa chủ đề

về nỗi cô đơn nghệ sĩ vào nhiều tác phẩm

Nhân vật Tư trong Lời cho má tìm kiếm người thân để trút bầu tâm sự,

để xả bớt tâm trạng cho nhẹ lòng hơn Tư than thở: “Làm nghề văn cô độc,

cực khổ quá má ơi” Chị thường đặt mình trong thế đối sánh với những người

bạn không liên quan gì đến văn chương và kết luận: “Người không viết văn

sướng hơn mình nhiều” bởi cuộc sống của họ rất đơn giản, chăm lo cho chồng

con, gia đình, không vướng bận suy nghĩ, day dứt về “những điều trông thấy”

“Còn tôi lúc nào cũng nghĩ nhiều lắm, toàn chuyện trời ơi đất hỡi, nghĩ coi

cho ông này gặp bà kia rồi yêu nhau như thế nào, rồi quan tâm bàn tán như thể chuyện nhà mình” [63] Nhìn cô bạn mà Tư thương cho mình: “Nguyệt thì chẳng bao giờ cô đơn như thế Nó dành cả một tâm hồn không vướng bận để quan tâm, chia sẻ, chu toàn hết thảy mọi chuyện lặt vặt của cuộc đời Còn tôi

Trang 38

thì đang đứng giữa biển văn chương mênh mang không biết đâu là bờ bến, đường đời cũng dở sống dở chín, chưa đâu tới đâu, hai vai chưa trọn vai nào” [63]

Trong cuộc sống bất cứ ai cũng chịu ảnh hưởng từ môi trường sống của mình đặc biệt là với một nhà văn, điều này càng rõ nét hơn Nam Bộ là xứ sở của sông rạch, thuyền ghe, của những miệt vườn cây trái, của những cánh đồng bao la…Do vậy người nơi đây sống gắn bó với thiên nhiên, ruộng đồng Đặc trưng này của môi trường sống đã hình thành nên con người Nam Bộ những tính cách rất đặc trưng: bộc trực, thẳng thắn, trọng nhân nghĩa, giàu lòng nghĩa hiệp, hào phóng, hiếu khách, đôn hậu,…Tuy nhiên, Nam Bộ là vùng đất kinh tế còn nhiều khó khăn, cuộc sống của con người nơi đây phụ thuộc phần lớn vào thiên nhiên, rồi những ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường,…tạo nên những thân phận, những cảnh đời bất hạnh, những con người với những nỗi đau của cuộc đời Khi tìm hiểu về đặc trưng thẩm mỹ trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư, luận văn tìm hiểu một số nét đặc trưng của vùng đất, văn hóa, con người Nam Bộ; những đổi mới của văn học sau 1975, đặc biệt là quan niệm của Nguyễn Ngọc Tư về con người, cuộc sống và văn chương để thấy được sự tác động của nó tới nhãn quan văn học của chị Chính những yếu tố này sẽ quy định mức độ đậm nhạt của các đặc trưng thẩm mỹ trong truyện ngắn của chị

Trong sáng tạo nghệ thuật, cách nhìn cuộc đời của nhà văn đóng vai trò rất quan trọng Cách nhìn thể hiện cách cảm thụ, tư duy, quan niệm về thế giới con người của nhà văn Mỗi nhà văn luôn cố gắng nắm bắt phần cốt lõi, bản chất của hiện thực Từ đó hướng tới việc khai thác, khám phá bản chất thẩm mỹ của đời sống, phát hiện ra cái đẹp, cái cao cả, cái bi, cái hài, cái cảm thương…và thể hiện chúng bằng những hình tượng nghệ thuật gợi cảm, sống động

Trang 39

Chương 2: CÁI ĐẸP VÀ CÁI CAO CẢ TRONG TRUYỆN

NGẮN CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ 2.1 Cái đẹp

2.1.1 Khái niệm cái đẹp

Cái đẹp là phạm trù trung tâm của mĩ học Vị trí đó không phải do các nhà lí luận xác lập mà do chính vai trò của cái đẹp trong đời sống quy định Điều đó cũng có nghĩa rằng cái đẹp trước hết chính là những đặc tính của thế giới tồn tại trong thiên nhiên, trong xã hội, trong sản xuất vật chất và tinh thần, trong nghệ thuật…Phạm trù cái đẹp bắt nguồn từ hiện thực, có cơ sở khách quan trong cuộc sống, nhưng đồng thời nó cũng là một hình thức khái quát của tư duy thể hiện nhận thức của con người về loại đặc tính thẩm mỹ này của các sự vật hiện tượng Nhận thức này bao gồm nhiều mặt Nhưng thông thường bắt đầu từ việc trả lời cho câu hỏi: Cái đẹp là gì? Do sự đa dạng của đối tượng cũng như do quan niệm, những cách tiếp cận khác nhau, đã có nhiều định nghĩa khác nhau về cái đẹp

Nhà mỹ học Hy Lạp cổ đại Aritxtốt, từ thế kỷ thứ IV trước Công

nguyên đã cho rằng: “Cái đẹp nằm trong kích thước và trong trật tự, bởi vậy,

không có vật nào quá nhỏ cũng như quá lớn mà lại có thể coi là đẹp” Nhà

mỹ học Phục Hưng người Ý Anbécti: “Cái đẹp là sự phù hợp, sự hoà nhịp

như thế nào đó giữa các phần trong cái tổng thể mà chúng tạo thành, sự hoà hợp và hoà nhịp này phải đáp ứng những số liệu chặt chẽ, đáp ứng sự tổ chức

và bài trí mà sự hài hoà - tức cái nguyên lý tuyệt đối và khởi nguyên của tự nhiên đòi hỏi” Hécđơ – nhà lý luận mỹ học người Đức thế kỷ XVIII thì lại

nói: “cốt lõi của toàn bộ cái đẹp là chân lý, bất cứ cái đẹp nào cũng cẫn dẫn

tới cái chân lý và điều thiện”

Theo Mác: “Súc vật chỉ nhào nặn vật chất theo trước đó và nhu cầu

giống loài nó Còn con người thì có thể áp dụng thước đo thích dụng cho

Trang 40

mọi đối tượng, do đó con người cũng nhào nặn vật chất theo quy luật cái đẹp” [5]

Vậy theo Mác cái đẹp gắn với bản chất sáng tạo của con người, gắn với quá trình hoàn thiện, hoàn mỹ của con người, gắn với sự tự sản sinh ra

chính con người

Với tư cách là nhà văn, M.Goorki lại định nghĩa: “Cái đẹp là sự phối

hợp các chất liệu khác nhau cũng như các âm, màu, từ ngữ - sao cho tác phẩm tạo ra có được một hình thức có thể tác động lên tình cảm và lí trí như một sức mạnh khơi dậy ở con người sự ngạc nhiên, lòng kiêu hãnh và niềm sung sướng trước khả năng sáng tạo của mình” [39, tr.148]

Trong Từ điển thuật ngữ văn học, có viết: “Cái đẹp là phạm trù mĩ học

xác định các hiện tượng theo quan điểm về sự hoàn thiện, xem các hiện tượng

đó như là có giá trị thẩm mỹ cao nhất Có thể xem các hiện tượng là đẹp khi với tính toàn vẹn cụ thể cảm tính của chúng thể hiện những giá trị nhân bản,

xã hội, do sự khẳng định giá trị của con người trong thế giới, chứng tỏ sự mở rộng giới hạn tự do của xã hội và của con người, thúc đẩy sự phát triển hài hòa của nhân cách, làm nảy sinh và bộc lộ ngày càng đầy đủ những sức mạnh

và năng lực của con người” [36, tr.41]

Và trong cuốn Mĩ học đại cương của Lưỡng quốc tiến sĩ Đỗ Văn Khang

cũng đã phân tích và đưa ra định nghĩa về cái đẹp: “cái đẹp là một phạm trù

cơ bản và trung tâm của mỹ học - Dùng để chỉ thực tại thẩm mỹ khách quan Thực tại này chúng ta biết được nhờ hệ thống cảm nhận phổ biến có tính xã hội sâu sắc dưới ánh sáng của lý tưởng thẩm mỹ chân chính, hệ thống cảm nhận thẩm mỹ phản ánh thực tại cái đẹp Đặc trưng ngôn ngữ của sự phản ánh đó là hình tượng Thành tựu cao nhất của sự phản ánh đó là nghệ thuật Cái đẹp bắt nguồn từ cái chân thật, và cái tốt, nó tảo chiếu bằng những rung động thẩm mỹ có sức cuốn hút, giúp cho con người định hướng Theo luật hoàn thiện, hoàn mỹ - tác động của cái đẹp là tác động có tính thanh cao, hài

Ngày đăng: 17/12/2015, 06:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Hạ Anh (19/01/2006), “Đọc tạp văn Nguyễn Ngọc Tƣ”: Quen mà lạ”, Báo Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc tạp văn Nguyễn Ngọc Tƣ”": Quen mà lạ”", Báo
[2]. Phạm Tuấn Anh (2009), Sự đa dạng thẩm mỹ của văn xuôi Việt Nam sau 1975, Luận án tiến sĩ, Đại học Sƣ phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự đa dạng thẩm mỹ của văn xuôi Việt Nam sau 1975
Tác giả: Phạm Tuấn Anh
Năm: 2009
[3]. Nguyễn Duy Bắc (2000), “Những sắc thái của cái bi trong văn học Việt Nam giai đoạn 1945- 1960”, Thông báo khoa học số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những sắc thái của cái bi trong văn học Việt Nam giai đoạn 1945- 1960
Tác giả: Nguyễn Duy Bắc
Năm: 2000
[4]. Nguyễn Thi Bích (2009), Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, Luận văn thạc sĩ, Đại học Sƣ phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư
Tác giả: Nguyễn Thi Bích
Năm: 2009
[5]. C.Mác - Ăngghen (1980), Tuyển tập (T1), Nxb Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập
Tác giả: C.Mác - Ăngghen
Nhà XB: Nxb Sự Thật
Năm: 1980
[6]. Nguyễn Minh Châu (1987), “Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa”, Báo Văn nghệ, (49, 50) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa”, Báo "Văn nghệ
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Năm: 1987
[7]. Cao Thoại Châu,“Một ít phương ngữ Nam Bộ”, http:// www.phongdiep.net Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một ít phương ngữ Nam Bộ
[8]. Phạm Vĩnh Cƣ (2001), “Thể loại bi kịch trong văn học việt nam thế kỉ XX”, Tạp chí Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thể loại bi kịch trong văn học việt nam thế kỉ XX”, Tạp chí
Tác giả: Phạm Vĩnh Cƣ
Năm: 2001
[9]. Trần Phỏng Diều (14/06/2006), “Thị hiếu thẩm mỹ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tƣ”, http://www.evan.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị hiếu thẩm mỹ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tƣ
[10]. Trần Phỏng Diều (02/04/2007), “Tính cách người Nam Bộ qua ca dao”, Văn hiến Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính cách người Nam Bộ qua ca dao”
[11]. Phong Điệp (06/11/2005), “Nguyễn Ngọc Tƣ - Tôi viết trong nỗi im lặng”, Báo Văn nghệ trẻ (45) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Ngọc Tƣ - Tôi viết trong nỗi im lặng”, Báo "Văn nghệ trẻ
[12]. Lam Điền (04/12/2005), “Nhà văn Nguyễn Ngọc Tƣ: đánh “ùm” một tiếng mà thôi”, Báo Tuổi trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Nguyễn Ngọc Tƣ: đánh “ùm” một tiếng mà thôi”, Báo
[13]. Trần Hữu Dũng (02/2005), “Nguyễn Ngọc Tƣ - Đặc sản Miền Nam”, Báo Diễn đàn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Ngọc Tƣ - Đặc sản Miền Nam”, Báo
[14]. Phạm Thuỳ Dương (01/2007), “Cảm hứng cảm thương trong sáng tác của Đỗ Bích Thuý và Nguyễn Ngọc Tƣ”, Tạp Chí Văn nghệ quân đội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cảm hứng cảm thương trong sáng tác của Đỗ Bích Thuý và Nguyễn Ngọc Tƣ”, Tạp Chí
[15]. Nguyễn Hà (2000), “Cảm hứng bi kịch nhân văn trong tiểu thuyết Việt Nam nửa sau thập niên 80”, Tạp chí Văn học (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cảm hứng bi kịch nhân văn trong tiểu thuyết Việt Nam nửa sau thập niên 80”, Tạp chí "Văn học
Tác giả: Nguyễn Hà
Năm: 2000
[18]. Hêghen (2005), Mĩ học (tập 1), Phan Ngọc dịch, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mĩ học
Tác giả: Hêghen
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2005
[19]. Hêghen (2005), Mĩ học (tập 2), Phan Ngọc dịch, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mĩ học
Tác giả: Hêghen
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2005
[20]. Nguyễn Thị Hiền (2010), Phong cách truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, ĐHSP Hà Nội 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư
Tác giả: Nguyễn Thị Hiền
Năm: 2010
[21]. Nguyễn Văn Huyên, Đỗ Huy (2004), Giáo trình Mỹ học đại cương, Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Mỹ học đại cương
Tác giả: Nguyễn Văn Huyên, Đỗ Huy
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
[22]. Nguyễn Tiến Hƣng (21/01/2006), “Nguyễn Ngọc Tƣ - Cô đơn lên dốc”, Báo Tiền Phong Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Ngọc Tƣ - Cô đơn lên dốc”, Báo

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w