1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm ngôn ngữ trong truyện ngắn nguyễn ngọc tư

61 1,5K 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 672,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lịch sử phát triển vùng đất phương Nam của Tổ quốc cũng đi liền với các cuộc chiến tranh dai dẳng, kéo dài, quyết liệt, mà hẳn các cuộc đấu tranh trong nội bộ một đất nước sẽ dẫn theo sự

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Văn chương là nghệ thuật ngôn từ Đó là ngôn từ của tác phẩm văn học, của thế giới nghệ thuật, kết quả sáng tạo của nhà văn Tác phẩm nghệ thuật không phải là sự sao chép cuộc sống một cách đơn giản một chiều, mà đã được khúc xạ qua lăng kính của tác giả Sức mạnh của các tác phẩm văn chương chính là việc vận dụng ngôn ngữ một cách điêu luyện, tài hoa của mỗi nhà văn, nhà thơ

Ngôn ngữ là công cụ, là chất liệu cơ bản của văn học, vì vậy văn học được gọi là loại hình nghệ thuật ngôn từ Macxim Gorki khẳng định: “Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học”

Trong tác phẩm, ngôn ngữ văn học là một yếu tố quan trọng thể hiện cá tính sáng tạo của nhà văn Mỗi nhà văn phải là tấm gương sáng về mặt hiểu biết sâu sắc ngôn ngữ nhân dân, cần cù lao động để trau dồi ngôn ngữ trong quá trình sáng tác

Nguyễn Ngọc Tư là một nhà văn trẻ (sinh năm 1976), quê quán ở Cà Mau Chị sinh ra và lớn lên ở vùng đất Mũi Chị xuất hiện trên văn đàn như một “hiện tượng” khá đặc biệt Có thể nói hiếm có nhà văn nào mới bước vào nghề đã gặt hái nhiều thành công đến như vậy Các giải thưởng cao quý chị nhận được đã khẳng định được điều đó

- Giải nhất cuộc vận động sáng tác văn học tuổi 20 lần thứ I với tác phẩm “Ngọn đèn không tắt”, năm 2000

- Giải B do Hội nhà văn Việt Nam trao tặng cho tập truyện “Ngọn đèn không tắt”, năm 2001

Trang 2

- Tặng thưởng dành cho tác giả trẻ, do ủy ban toàn quốc liên hiệp các hội Văn học nghệ thuật Việt Nam trao tặng cho tập truyện “Ngọn đèn không tắt”, năm 2000

- Là một trong mười gương mặt trẻ tiêu biểu năm 2003 do TW Đoàn trao tặng

- Giải văn học ASEAN trao tặng năm 2008

Một yếu tố quan trọng góp phần làm nên giá trị cho các tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư đó là do sử dụng ngôn ngữ đậm màu sắc Nam Bộ Nhờ vậy chị đã đem đến cho bạn đọc những cảm nhận mới mẻ và sâu sắc về cuộc sống

và con người phương Nam Có thể nói, Nguyễn Ngọc Tư là nhà văn “đặc sản Nam Bộ”

Xuất phát từ những lí do trên chúng tôi chọn đề tài: Đặc điểm ngôn ngữ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư Thực hiện đề tài này giúp bản thân

người viết có thêm kinh nghiệm tập dượt nghiên cứu khoa học, kết quả nghiên cứu thu được sẽ phục vụ tốt hơn cho việc nghiên cứu, học tập sau này của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Nguyễn Ngọc Tư đã trở thành cái tên quen thuộc đối với bạn đọc yêu thích văn chương Việt Nam, đặc biệt là các độc giả miền Nam bởi văn phong chân chất, giản dị của chị

Hiện nay có rất nhiều ý kiến, bài viết, công trình nghiên cứu, phê bình xoay quanh truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư đăng tải trên các tạp chí (chẳng hạn Tạp chí nghiên cứu văn học, Tạp chí xuân Mậu Tý) hay các báo (báo Văn nghệ, báo Cần Thơ) và cả trên các diễn đàn trên mạng internet (đặc biệt là trang web “Văn học và giáo dục” do Trần Hữu Dũng quản lý, trong đó có hẳn

“tủ sách Nguyễn Ngọc Tư”) Qua đó, bạn đọc có cái nhìn tổng quan về truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư nói chung, về ngôn ngữ của chị nói riêng

Trang 3

Tuy vậy, chưa có một chuyên luận, một công trình nghiên cứu hay một

đề tài khoa học nào nói về Đặc điểm ngôn ngữ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư Vấn đề ngôn ngữ trong các truyện ngắn của chị chỉ được trình bày

một cách riêng lẻ, rời rạc trong các bài báo, bài phê bình, hay các cuộc thảo luận khoa học Sau đây chúng tôi xin điểm qua lịch sử nghiên cứu vấn đề về ngôn ngữ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư

Trần Hữu Dũng cho rằng: “…Cái đầu tiên làm cho người đọc choáng váng (một cách thích thú) là nồng độ phương ngữ miền Nam trong truyện của Nguyễn Ngọc Tư Nếu bạn đọc là người nam và nhất là bạn đã xa quê hương lâu năm, thì chỉ những chữ mà Nguyễn Ngọc Tư dùng cũng đủ làm bạn sống lại những ngày thơ ấu xa xôi ấy Từ vựng của Nguyễn Ngọc Tư không quý phái hay độc sáng (như của Mai Ninh chẳng hạn), nhưng đối nghịch đó là một từ vựng dân dã, lấy thẳng từ cuộc sống chung quanh” [16.2]

Tác giả Kiệt Tấn trong bài viết Chất thơ trong “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư nhận định: “Một thứ ngôn ngữ giàu sức gợi cảm, gợi hình”, “Ngôn ngữ tác phẩm cũng rất giàu hình ảnh so sánh”, “Một đặc điểm nổi bật nữa của ngôn ngữ trong “Cánh đồng bất tận” đó là ngôn ngữ giàu nhịp điệu”

Tiến sĩ Huỳnh Công Tiến trong cuốn Cảm nhận bản sắc Nam Bộ cũng

có những đánh giá cao ngôn ngữ truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư: “Ngôn từ trong tất cả truyện ngắn của chị, từ ngôn ngữ dẫn truyện đến ngôn ngữ nhân vật nhất là ngôn ngữ nhân vật đều khá thuần chất Nam Bộ Số lượng từ ngữ Nam Bộ trong tác phẩm của chị khá lớn Đặc điểm này tạo nên ở truyện chị một văn phong riêng mà nhiều người cảm thấy yêu thích”

Bản thân Nguyễn Ngọc Tư cũng tâm sự: “Tôi không cố ý sử dụng nhiều phương ngữ, từ địa phương Tôi viết như vậy vì chỉ có ngôn ngữ ấy mới lột tả được hết cái tình của người dân quê ”

Trang 4

Như vậy qua những bài báo, bài nghiên cứu trên chúng tôi nhận thấy

vấn đề Đặc điểm ngôn ngữ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư đã được đề

cập tới ở những mức độ khác nhau, hoặc gián tiếp, hoặc trực tiếp Tuy nhiên những bài báo, bài nghiên cứu đó chưa đặt đặc điểm ngôn ngữ thành vấn đề riêng biệt, chưa khảo sát toàn diện, hệ thống và còn tản mạn Chính vì vậy trên cơ sở tiếp thu kết quả nghiên cứu của những người đi trước, tác giả khóa luận mong muốn ở mức độ nhất định sẽ khám phá ngôn ngữ của Nguyễn

Ngọc Tư ở ba bình diện: Ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp Qua đó giúp cho tác

giả khóa luận hiểu rõ hơn về truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư nói chung và ngôn ngữ trong truyện của chị nói riêng

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Khóa luận Đặc điểm ngôn ngữ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư

có đối tượng nghiên cứu là các đặc điểm ngôn ngữ ở ba bình diện: Ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp qua một số tập truyện tiêu biểu:

-Tập truyện Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư (Nhà xuất bản Văn hóa Sài

Gòn, năm 2005)

-Tập truyện Ngọn đèn không tắt (Nhà xuất bản Trẻ, năm 2006)

-Tập truyện Cánh đồng bất tận (Nhà xuất bản Trẻ, năm 2006)

-Tập truyện Giao Thừa (Nhà xuất bản Trẻ, năm 2006)

5 Phương pháp nghiên cứu

Trang 5

Thực hiện đề tài này tác giả khóa luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:

-Phương pháp thống kê, phân loại

-Phương pháp phân tích

-Phương pháp tổng hợp

6 Đóng góp của khóa luận

Về mặt lí luận: Thấy được đặc sắc trong việc sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn Ngọc Tư qua một số tập truyện tiêu biểu

Về mặt thực tiễn: Giúp ích cho công việc học tập, giảng dạy ngôn ngữ nói chung, từ vựng nói riêng

7 Bố cục

Khóa luận có bố cục như sau:

Mở đầu

Nội dung

Chương 1 Mấy vấn đề về lý thuyết

Chương 2 Đặc điểm ngôn ngữ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư Kết luận

Tài liệu tham khảo

Trang 6

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT

1.1 Sự hình thành vùng đất và con người Nam Bộ

Vùng đất Nam Bộ chia thành ba khu vực: Đông Nam Bộ, Sài Gòn-nay gọi là thành phố Hồ Chí Minh và Tây Nam Bộ Có thể khái quát một số nét về

sự hình thành khu vực này như sau:

1.1.1 Miền Đông Nam Bộ

Đông Nam Bộ bao gồm 8 tỉnh, thành phố (tương đương cấp tỉnh) là Bình Phước, Bình Dương, Tây Ninh, Đồng Nai, Bà Rịa- Vũng Tàu, Bình Thuận, Ninh Thuận với diện tích 34904,2 2

km , chiếm hơn 10,5% diện tích tự nhiên của toàn quốc, dân số của vùng là 10441,2 nghìn người, chiếm 14,9% dân số của cả nước

Đây là một vùng đất mới trong lịch sử phát triển của đất nước, là khu vực tập trung nhiều đô thị nằm giữa các tỉnh Nam Trung Bộ và Nam Tây Nguyên, những vùng giàu tài nguyên đất đai, rừng và khoáng sản

Phía Tây và Tây Nam nằm kề đồng bằng Châu thổ sông Cửu Long, vùng có tiềm năng lớn về nông nghiệp, lương thực, thực phẩm và cây ăn quả, vùng sản xuất lương thực, thực phẩm lớn nhất của nước ta Phía Đông và

Trang 7

Đông Nam giáp biển, giàu tài nguyên hải sản, dầu mỏ, khí đốt và là nơi duy nhất khai thác dầu mỏ của Việt Nam

Hiện nay, Đông Nam Bộ có điều kiện thuận lợi để xây dựng hệ thống cảng biển nước sâu (cảng Vũng Tàu- Thị Vải) tạo thành những cửa biển thông

ra bên ngoài, lại gần đường hàng hải quốc tế dọc theo biển Đông vào loại nhộn nhịp nhất ở khu vực Châu Á- Thái Bình Dương Điều này tạo cho vùng

có vị thế quan trọng đối với cả nước và khu vực Phía Bắc và Đông Bắc, vùng giáp cao nguyên, trung phần có tiềm năng lớn về cây công nghiệp (dài ngày, ngắn ngày), có tài nguyên rừng vào loại giàu nhất cả nước và trữ lượng khoáng sản, thủy năng phong phú

Với vị trí này, Đông Nam Bộ là đầu mối giao lưu của các tỉnh phía Nam với cả nước và quốc tế thông qua mạng lưới đường bộ, đường sông và đường hàng không

Chính vì vùng Đông Nam Bộ có vị trí thuận lợi như vậy nên ngay từ xa xưa đây cũng là vùng đất hứa hẹn nhiều cư dân Bắc Trung Bộ đến khẩn hoang, lập ấp Nhiều câu ca dao được truyền tụng phổ biến cho đến ngày nay,

mà ai trong lớp con cháu Nam Bộ cũng thuộc lòng:

“Nhà Bè nước chảy chia hai

Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về”

Đây cũng là địa bàn có sức hút mạnh mẽ lực lượng lao động Do vậy, thành phần cư dân của vùng này có tính chất đa dạng, đến từ nhiều vùng miền khác nhau của đất nước, bên cạnh cộng đồng cư dân Nam Bộ đã định cư lâu đời và những tộc người thiểu số bản địa có mặt lâu đời hơn ở đây

1.1.2 Sài Gòn _ nay là thành phố Hồ Chí Minh

Sài Gòn là trung tâm chính trị, kinh tế, một trung tâm giao dịch quốc tế

và du lịch lớn của cả nước Vị trí quan trọng của Sài Gòn không chỉ được khẳng định ở thời điểm hiện tại mà cả trong quá khứ Sài Gòn nằm ở vị trí

Trang 8

trung tâm của vùng Đông Nam Á, được ví như “hòn ngọc Viễn Đông” của vùng

Thành phố Hồ Chí Minh với số dân 4,9 triệu người, mật độ dân số là

388 người/km2(năm 1999), là thành phố lớn nhất của cả nước Đây là thành phố có cơ sở hạ tầng rất thuận lợi cho việc tổ chức các mối liên hệ kinh tế - xã hội (bao gồm cảng, sân bay, mạng lưới đường sá, thông tin liên lạc, vào loại tốt nhất cả nước) Trong tương lai dân số thành phố Hồ Chí Minh có thể đạt 6-7 triệu người

Như vậy, việc dân cư tập trung quá đông, đến từ nhiều vùng miền, khiến cho sự giao tiếp của người Việt ở khu vực diễn ra thường xuyên liên tục Do đó tính chất phương ngữ Nam Bộ ở Sài Gòn có thể bị biến đổi, không còn giữ những đặc trưng “ban đầu” của một số vùng, một số tỉnh ở Nam Bộ

1.1.3 Đồng bằng sông Cửu Long

Đồng bằng sông Cửu Long bao gồm 12 tỉnh: Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bến Tre, Bạc Liêu,

Cà Mau, Kiên Giang và An Giang, diện tích tự nhiên là 39569,9 2

km với dân

số khoảng 16,1 triệu người (năm 1999)

Đây là vùng tận cùng phía Tây Nam của tổ quốc, có bờ biển dài trên 736km và nhiều đảo, quần đảo như Phú Quốc, Thổ Chu với khoảng

360000 2

km , vùng đặc quyền kinh tế giáp biển Đông và vịnh Thái Lan

Là một trong những đồng bằng Châu thổ rộng lớn và phì nhiêu ở Đông Nam Á và thế giới Đồng bằng sông Cửu Long là vùng sản xuất lương thực lớn nhất và cũng là vùng thủy sản, vùng cây trái nhiệt đới lớn của nước ta Lại

là vùng nằm giữa một khu vực kinh tế năng động, liền kề với vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, vùng phát triển năng động nhất của Việt Nam và gần các nước Đông Nam Á (Thái Lan, Singgapo, Malaixia…) đó là những thị trường và đối tác đầu tư quan trọng Đồng bằng sông Cửu Long còn nằm

Trang 9

trong khu vực có đường giao thông hàng hải và hàng không quốc tế quan trọng giữa Nam Á và Đông Á cũng như với châu Úc và các quần đảo khác trong Thái Bình Dương Vị trí này hết sức quan trọng cho giao lưu kinh tế Cũng như Đông Nam Bộ và Sài Gòn, với những điều kiện thuận lợi như trên, đồng bằng sông Cửu Long cũng là nơi thu hút nhiều dân cư từ khắp các vùng đến xây dựng kinh tế, tạo nên sự đa dạng, phong phú cho ngôn ngữ của vùng Sự pha trộn, ảnh hưởng, tiếp thu ngôn ngữ của các lưu dân Việt vùng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ đã làm cho phương ngữ Nam Bộ cũng có sự thay đổi

Tiểu kết: Môi trường mới đã tạo nên một hoàn cảnh mới, từ đó cũng

làm thay đổi ở lớp cư dân người Việt ở Nam Bộ một tính cách mới, một tư duy khác trước Những đặc trưng văn hóa mới cũng được hình thành song song với những đặc điểm ngôn ngữ mới Sự giao lưu giữa các cư dân Việt mới chuyển đến với dân bản địa đã làm cho phương ngữ Nam Bộ “ban đầu”

đối với tiếng Việt, phương ngữ địa lí là những biến thể địa lí của nó

Trong lòng mỗi địa phương lại có những thổ ngữ riêng, tức là những biến thể của tiếng địa phương ở những khu vực địa lí hẹp hơn như một tỉnh, một huyện, thậm chí một làng

Các phương ngữ có sự khác nhau ở giọng nói, cách phát âm, từ ngữ, phong cách, ngữ pháp…không đồng đều nhau Ở phương diện ngữ âm, từ ngữ, sự khác nhau giữa các phương ngữ lớn hơn so với phương diện ngữ pháp Sự khác nhau này không do nguồn gốc ngôn ngữ mà do điều kiện địa lí,

Trang 10

xã hội hình thành Cho nên nói một cách chung nhất, phương ngữ là một chuỗi các nét biến dạng địa phương từ ngôn ngữ toàn dân do những tác động của các yếu tố địa lí, xã hội

Nước ta có địa hình 3/4 là đồi núi, với những dãy núi cao, những quả đồi thoai thoải đã gây không ít những khó khăn cho người dân trong việc đi lại, thông thương và giao tiếp với nhau Mặt khác nước ta lại kéo dài theo hình chữ S (từ bắc vào nam chiều dài gần 2000km), việc giao lưu, tiếp xúc của người dân bị hạn chế Bên cạnh đó sự phân chia lãnh thổ thành các vùng, miền để tiện cho việc quản lí hành chính cũng là một nguyên nhân khiến cho tâm lí ngại đi lại, ngại tiếp xúc của người dân có điều kiện phát triển Bởi vì mỗi vùng có cách sinh hoạt, phong tục, tập quán, cách sử dụng ngôn ngữ khác nhau

Có thể nói với địa hình, lãnh thổ như vậy làm cho tiếng Việt toàn dân bị

cô lập, giao tiếp trong nội bộ các vùng, miền phát triển và đây là nguyên nhân khiến tiếng Việt thống nhất phát triển theo những khuynh hướng khác nhau Mặt khác ý thức làng, xóm cũng dần tạo cho người dân một tâm lí sống thu mình, khép kín, ít giao tiếp Do vậy tiếng Việt bị chia cắt là một tất yếu

Lịch sử phát triển vùng đất phương Nam của Tổ quốc cũng đi liền với các cuộc chiến tranh dai dẳng, kéo dài, quyết liệt, mà hẳn các cuộc đấu tranh trong nội bộ một đất nước sẽ dẫn theo sự chia cắt giữa các vùng miền, đồng thời tạo nên những diện mạo xã hội khác nhau ở các vùng làm cho ngôn ngữ dân tộc cũng phát triển theo những mô hình xã hội ở các vùng đó

Không thể không nhắc đến cuộc phân tranh giữa hai họ Trịnh - Nguyễn

ở đàng trong - đàng ngoài, và cuộc phân tranh của vua Lê - chúa Trịnh Các cuộc phân tranh tương tàn này đã đẩy người dân vào con đường khốn khó, sự phân biệt, kì thị, không dám tiếp xúc với người dân ở đàng khác Cuộc sống của họ bị tù túng, kìm kẹp trong khuôn khổ của mỗi vùng, miền Do đó tiếng

Trang 11

Việt toàn dân không thống nhất được Chỉ đến khi Nguyễn Ánh lấy lại Phú Xuân, thống nhất đất nước (năm 1802) thì sự giao lưu, tiếp xúc giữa đàng trong và đàng ngoài mới diễn ra bình thường

Nhưng sự giao lưu ấy chưa được bao lâu thì Nguyễn Ánh lại “cõng rắn cắn gà nhà”, thực dân Pháp nhảy vào xâm lược nước ta, chấm dứt những năm tháng trị vì ngắn ngủi của nhà Nguyễn Với chính sách cai trị tàn bạo về chính trị, kinh tế, văn hóa… thực dân Pháp đã đẩy nhân dân ta vào thân phận nô lệ Trong điều kiện đất nước có giặc ngoại xâm, ngôn ngữ của dân tộc sẽ không

có điều kiện để phát triển, thậm chí còn bị kìm hãm Bọn chúng đã rất thâm độc khi chia nước ta thành ba miền với ba thể chế chính trị khác nhau: Chế độ bảo hộ ở Bắc kỳ, chế độ nửa bảo hộ ở Trung kỳ và trực trị ở Nam kỳ Sự chia cắt về thể chế hành chính và những luật lệ cai trị khác nhau đã góp phần tô đậm sự chia cắt trong tiếng Việt

Ngày 19/8/1945, cách mạng tháng tám thành công, non sông đất nước Việt Nam thu về một mối Nhân dân ba miền kề vai, sát cánh trong công cuộc xây dựng cuộc sống mới thì đế quốc Mỹ tiến hành xâm lược nước ta biến nước ta thành thuộc địa của chúng Nhân dân Việt Nam phải chịu cảnh “một

cổ hai tròng” Lúc này đất nước tạm thời bị chia cắt làm hai miền, miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiến hành chiến tranh chống đế quốc

Mỹ xâm lược Ngôn ngữ giữa hai miền đã có sự khác nhau, nay trong hoàn cảnh mới càng bộc lộ sự khác nhau rõ hơn

Ngày 30/4/1975, lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên nóc nhà Dinh Độc Lập đất nước ta hoàn toàn thống nhất nhưng ngôn ngữ thì đã bị phân thành các phương ngữ rõ rệt

Như vậy, sự phân chia lãnh thổ, chính trị- hành chính do lịch sử để lại

là nguyên nhân chính dẫn đến sự hình thành nên phương ngữ Nam Bộ Ngoài

ra, đó còn là do sự chia cắt về mặt địa lí, dẫn đến tâm lí vốn có ở những người

Trang 12

Việt trước đây như ngại giao lưu, tiếp xúc, có cơ hội để phát triển, đó cũng là nguyên nhân đưa đến sự hình thành phương ngữ

1.2.2 Phân chia phương ngữ

Mặc dù tiếng Việt bị chia thành các phương ngữ khác nhau nhưng nhìn chung nó vẫn là một ngôn ngữ có sự thống nhất cao Người dân vẫn có thể giao tiếp với nhau, hiểu nhau và hứng thú khi nói chuyện với nhau Tại sao chúng tôi lại cho rằng người dân ở các vùng, miền có cách sử dụng phương ngữ khác nhau lại hứng thú khi giao tiếp với nhau là bởi: ý nghĩa các từ họ sử dụng không giống nhau, gây ngạc nhiên cho tất cả mọi người ở mỗi miền Ví

dụ người miền Bắc không thể hiểu cái cà ràng, cái đờn mà người miền Nam

gọi là cái gì? nhưng những ai đã từng sống ở miền Nam đều hiểu đó là cái bếp

và cái đàn

Tuy vậy, để phân chia phương ngữ, các nhà ngôn ngữ học đã dựa vào các bình diện khác nhau của ngôn ngữ để chia tiếng Việt thống nhất ra làm các vùng phương ngữ khác nhau

Căn cứ vào sự khác biệt ngôn ngữ ở bình diện ngữ âm có thể chia tiếng Việt thành bốn vùng phương ngữ lớn, đó là các vùng phương ngữ: Phương ngữ Bắc Bộ, phương ngữ Bắc Trung Bộ, phương ngữ Nam Trung Bộ và phương ngữ Nam Bộ, cụ thể:

Vùng phương ngữ Bắc Bộ bao gồm các tỉnh Bắc Bộ và Thanh Hóa (tuy nhiên cách phát âm, sử dụng từ ngữ của Thanh Hóa vẫn ảnh hưởng của phương ngữ Bắc Trung Bộ vì Thanh Hóa có vị trí địa lí là điểm giao thoa giữa vùng Bắc Bộ và vùng Bắc Trung Bộ)

Vùng phương ngữ Bắc Trung Bộ bao gồm các tỉnh từ Nghệ An đến Thừa Thiên Huế

Vùng phương ngữ Nam Trung Bộ bao gồm các tỉnh từ Đà Nẵng đến Bình Thuận

Trang 13

Vùng phương ngữ Nam Bộ bao gồm ba khu vực là Đông Nam Bộ, Sài Gòn và Tây Nam Bộ, tính từ Bình Phước, Tây Ninh đến mũi Cà Mau

Sự phân chia các vùng phương ngữ chỉ mang tính chất tương đối bởi sự khác biệt trong cách sử dụng ngôn ngữ giữa các vùng không lớn, người dân giữa các vùng có thể dễ dàng giao tiếp với nhau Sự phân chia vùng phương ngữ Nam Bộ chủ yếu dựa trên sự khác biệt về vị trí địa lí, xã hội của các khu vực Cách phát âm giữa các vùng Nam Trung Bộ và Nam Bộ có sự khác nhau

ở mức độ không đáng kể

Có rất nhiều luồng ý kiến khác nhau khi phân chia phương ngữ tiếng Việt căn cứ vào bình diện ngữ âm Có ý kiến gộp bốn vùng phương ngữ trên thành hai hoặc ba vùng nhưng lại có ý kiến cho rằng nên tách bốn vùng phương ngữ thành năm vùng Chúng tôi sử dụng ý kiến được nhiều người chấp nhận hơn cả là chia ngôn ngữ thành bốn vùng phương ngữ lớn

Căn cứ vào bình diện từ vựng- ngữ nghĩa, tiếng Việt được chia thành hai vùng phương ngữ lớn là phương ngữ Bắc Bộ và phương ngữ Nam Bộ Bởi

vì, vốn từ vựng Trung Bộ có thể giống từ vựng phương ngữ Nam Bộ hoặc giống từ vựng của phương ngữ Bắc Bộ, chỉ có một số lượng nhỏ các từ vựng

là tiếng gốc của phương ngữ Trung Bộ Ngược dòng thời gian trở về thời kì

xa xưa (hay nói cách khác là theo dòng lịch sử trở về trước) tổ tiên của người Nam Bộ chính là người Việt của vùng Bắc Trung Bộ Họ đã khai khẩn đất hoang, lập đồn ấp ở miền Nam Các luồng di dân khổng lồ từ miền Trung Bộ vào trong Nam Bộ để làm ăn sinh sống, đến với vùng đất hứa ngày càng nhiều Cùng với quá trình di dân là quá trình giao thoa trong cách sử dụng ngôn ngữ giữa người dân Nam Bộ bản địa và những người dân di cư Dần dần lớp từ vựng của những người dân di cư ăn sâu vào đời sống của người Nam

Bộ

Trang 14

Trong hai vùng phương ngữ Nam Bộ và phương ngữ Bắc Bộ thì vùng phương ngữ Bắc Bộ được coi trọng và đề cao hơn Bởi đây là ngôn ngữ của tổ tiên người Việt, nó đã có từ lâu đời, được hình thành và phát triển qua bao biến động và thăng trầm của lịch sử Phương ngữ Bắc Bộ được coi là ngôn ngữ chuẩn, ngôn ngữ toàn dân, được các nhà văn, nhà thơ sử dụng để sáng tác nên các tác phẩm văn chương, được dùng trong các văn bản hành chính và pháp luật…Nó được sử dụng trong hầu hết các hoạt động chính trị - xã hội của đất nước Phương ngữ Bắc Bộ nói riêng, tiếng Việt nói chung là niềm tự hào của người Việt bởi một đất nước có diện tích nhỏ bé, kinh tế kém phát triển lại có một ngôn ngữ riêng của dân tộc mình, trong khi đó một cường quốc kinh tế như nước Mỹ lại không có ngôn ngữ riêng của dân tộc mình, phải mượn ngôn ngữ của nước Anh (trước khi giành độc lập, 13 bang của Mỹ

là thuộc địa của nước Anh) Vì vậy khi tiến hành quá trình chuẩn hóa tiếng Việt, các nhà nghiên cứu đều cho rằng tiếng Việt chuẩn được xây dựng trên

cơ sở phương ngữ Bắc Bộ, lấy tiếng Hà Nội làm chuẩn Các chuẩn mực này được thể hiện trong các cuốn từ điển như từ điển tiếng Việt, từ điển chính tả phổ thông, …

Tuy vậy cũng không nên quá đề cao phương ngữ Bắc Bộ mà xem nhẹ phương ngữ Nam Bộ Việc tìm hiểu phương ngữ Nam Bộ có ý nghĩa đặc biệt, góp phần vào việc chuẩn hóa tiếng Việt, làm phong phú thêm kho tàng ngôn ngữ của tiếng Việt toàn dân, tạo cho lời ăn tiếng nói của người dân Việt Nam thêm đa dạng, phong phú Việc chuẩn hóa tiếng Việt không phải diễn ra một cách chung chung trừu tượng mà có sự kế thừa, tiếp thu những mặt tích cực, loại bỏ các yếu tố tiêu cực của các phương ngữ nói chung, phương ngữ Nam

Bộ nói riêng làm cho tiếng Việt ngày càng giàu đẹp, trong sáng Để làm được điều đó bản thân mỗi chúng ta phải không ngừng trau dồi, học tập, nghiên cứu

Trang 15

ngôn ngữ của dân tộc để làm cho ngôn ngữ dân tộc ngày càng trong sáng, chuẩn mực

1.3 Đặc điểm của phương ngữ Nam Bộ

Mỗi một phương ngữ đều có một đặc điểm riêng, một cách thức sử dụng ngôn ngữ riêng Phương ngữ Bắc Bộ được coi là tiếng Việt toàn dân, là chuẩn mực trong cách phát âm, sử dụng từ ngữ, câu văn… chung cho người Việt, phương ngữ Trung Bộ lại được coi là tiếng Việt của người Trung Bộ và phương ngữ Nam Bộ được xem là tiếng Việt của người Nam Bộ

Ngôn ngữ thay đổi là do tác động của nhân tố thời gian và nhân tố không gian Có thể nói như vậy là bởi ở bình diện không gian sự tác động của

vị trí địa lí- xã hội khác nhau sẽ dẫn đến cách sử dụng ngôn ngữ khác nhau Ở bình diện thời gian cũng vậy, thời gian thay đổi cách sử dụng ngôn ngữ cũng thay đổi (đây là sự vận động chuyển biến của thời gian) Ví dụ thời hiện đại xuất hiện một số từ ngữ mới mà thời trước không có như “bóc lịch”, “chát chít”, “nối mạng”, “internet”… Nói như Ssaussure: “Người ta quên nhân tố thời gian, vì nó không cụ thể bằng nhân tố không gian Nhưng thật ra, chính

do nó mà có sự phân hóa ngôn ngữ Tính đa dạng địa lí phải được phiên dịch

ra thành tính đa dạng trong thời gian”

Như vậy, lịch sử thay đổi theo thời gian thì phương ngữ được hình thành theo thời gian cũng biến đổi Trong quá trình di dân (hay không có quá trình di dân) sự biến đổi này cũng diễn ra như một tất yếu ở cả phương ngữ Nam Bộ, phương ngữ Bắc Bộ hay phương ngữ Trung Bộ

Nói tới đặc điểm của phương ngữ là nói tới ba bình diện: Ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp Đề cập đến vấn đề phương ngữ Nam Bộ chúng tôi cũng nhắc

đến ba bình diện đó (Sự khác biệt của phương ngữ Nam Bộ với tiếng Việt chuẩn cũng diễn ra theo hướng đó)

1.3.1 Đặc điểm của phương ngữ Nam Bộ trên bình diện ngữ âm

Trang 16

Ở bình diện ngữ âm, sự khác biệt ngữ âm học của phương ngữ Nam Bộ

so với tiếng Việt chuẩn (phương ngữ Bắc Bộ), phương ngữ Trung Bộ diễn ra trên các thành phần của âm tiết, phụ âm đầu, thanh điệu, phần vần

Với thành phần phụ âm đầu, có hiện tượng sai biệt như hiện tượng không phát âm được các âm quặt lưỡi: /s-/, hay phụ âm môi- răng: /v-/, phụ

âm đầu lưỡi: /z-/, phần lớn người Nam Bộ có cách phát âm như sau:

/ş-/ thành /s-/, chữ quốc ngữ ghi “s” thành “x”

/v-/, /-z-/ thành /j-/, chữ quốc ngữ ghi “v”, “d, gi” thành “d”

Thành phần phụ âm đệm /-w-/ trong phương ngữ Nam Bộ không có Với khuôn vần [-wa:-] chữ viết ghi “-oa”, người đồng bằng sông Cửu Long có khuynh hướng phát âm khác, chữ viết ghi “a

Với khuôn vần [-w-] chữ viết ghi “-ua”, người đồng bằng sông Cửu Long có khuynh hướng phát âm khác,chữ viết ghi “ư”

Sự kết hợp giữa âm đệm với hai phụ âm đầu: thanh hầu /h-/ hoặc gốc lưỡi /k-/ đều được phát âm thành một âm xát, hữu thanh, môi [w-]

Với khuôn vần khác có sự chuyển đổi nguyên âm /-e/ thành [-i-], người đồng bằng Nam Bộ phát âm không phân biệt được trường độ của âm chính /-a-/ trong các khuôn vần có chung âm là bán nguyên âm

Về thanh điệu: Tiếng Việt chuẩn bao gồm sáu thanh điệu được khu biệt bởi hai đặc điểm: Cao độ (thanh cao: ngang (), ngã (~), sắc (|); thanh thấp: huyền (`), hỏi(?), nặng (.)), và đường nét âm điệu (đường nét âm điệu bằng phẳng (ngang , huyền); không bằng phẳng (ngã, hỏi, sắc, nặng) Phương ngữ Nam Bộ chỉ bao gồm năm thanh điệu vì người Nam Bộ thường phát âm thanh ngã, thanh hỏi thành một thanh trung gian, mà nhiều người cho là thanh hỏi Giải thích về hiện tượng khác biệt trong phát âm của người đồng bằng Nam Bộ có rất nhiều luồng ý kiến khác nhau nhưng tựu chung lại có hai ý kiến được nhiều người chấp nhận hơn cả:

Trang 17

Thứ nhất: Xuất phát từ việc thiên về khuynh hướng chọn sự dễ dãi, thoải mái trong cách phát âm của người Nam Bộ

Thứ hai: Cách phát âm này xuất phát từ tính cách của người Nam Bộ chân chất, giản dị, chịu ảnh hưởng của lối sống dân dã, gắn liền với môi trường sông nước đã có từ lâu đời

Sự khác biệt về ngữ âm của phương ngữ Nam Bộ vừa góp phần làm phong phú cho ngôn ngữ dân tộc, vừa gây ra những khó khăn nhất định: Đó là tình trạng viết sai lỗi chính tả diễn ra một cách phổ biến không chỉ ở học sinh

mà còn xảy ra ở một bộ phận trí thức (một cách rất đáng tiếc)… đây là điều cần phải sớm khắc phục để giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt

1.3.2 Đặc điểm của phương ngữ Nam Bộ trên bình diện từ vựng- ngữ nghĩa

Căn cứ vào hệ thống từ vựng trong phương ngữ Nam Bộ, chúng tôi nhận thấy từ vựng của phương ngữ Nam Bộ có một số đặc điểm sau:

1.3.2.1 Lớp từ ngữ Nam Bộ chính gốc

Đây là lớp từ ngữ riêng của phương ngữ Nam Bộ, không thấy xuất hiện

ở các phương ngữ khác Lớp từ này mang đậm bản sắc của vùng đất Nam Bộ Tuy vậy chúng chỉ được lưu hành trong nội bộ một vùng nên rất dễ gây khó khăn cho người tiếp nhận, thậm chí gây ra những ngộ nhận, hiểu lầm đáng tiếc Vì vậy khi sử dụng lớp từ ngữ này cần thận trọng lựa chọn để hợp với

ngữ cảnh được nói tới

Dưới đây, chúng tôi điểm qua một số từ ngữ riêng của người Nam Bộ:

- Các từ chỉ phương tiện di chuyển trên sông, rạch như vỏ lãi (loại

phương tiện dùng để di chuyển, có chiều dài khoảng 5-6m, chiều ngang tương

đối nhỏ, chỉ rộng vừa khoảng hai người ngồi), trẹt (có hình chữ nhật, nông

đáy, đầu và đuôi bằng, thường được dùng để chở lúa hoặc máy công cụ hay

Trang 18

chở khách qua lại hai bờ kênh, rạch), tam bản (một loại ghe, được làm từ ba

tấm ván lớn ghép lại)

- Các từ chỉ sản vật của miền Nam như nóp (bao đệm được đan bằng

cọng bàng, có kích cỡ vừa với khổ người, dùng trong kháng chiến chống Pháp

ở Nam Bộ, hoặc dùng khi đi đồng, đi ghe phải ngủ đêm, thay cho cả chiếu và

màn), đệm (loại chiếu đan bằng cọng bàng được giã dẹp dùng để lót ngồi, nằm hoặc lót phơi đồ), tụng (túi đệm rất lớn được đan từ cọng bàng giã dẹp, dùng để đựng trái cây hoặc một số sản phẩm thủy sản như cua, ghẹ, sò), bông súng (loại bông mọc dưới ao hồ, lá lớn tròn, hoa nở như hoa sen nhưng cánh nhọn), cà ràng (kiềng, bếp lò bằng đất nung, dạng dài có phần đặt củi hoặc

cào than)

- Các từ chỉ hoạt động, tính chất gắn với vùng miền như nhậu (uống rượu với nhau, từ dùng có ý nghĩa bình dân, thân mật), chém vè (trốn trong bụi rậm hoặc trầm mình dưới nước), chơi điệu (đối xử đúng đẹp làm vừa lòng người), quẹo (ngoặt, rẽ sang một phía khác)

- Các từ mượn của tiếng nước ngoài theo cách riêng của người Nam Bộ

như hủ lô (xe lu, phương tiện di chuyển bằng hai ống trong lớn, chậm, dùng

để cán làn đường), bi da (bi-a, trò chơi dùng cơ thụt những quả bi trên một mặt bàn, có băng chận), lô can (lô canh), bẹc ma năng (thường xuyên, liên tục, không có sự gián đoạn, ngưng nghỉ), giấy can kê (giấy than, giấy có phết

một lớp muội đen hoặc xanh dùng để nhân bản, can hay đồ lại)…

- Các từ phản ánh cuộc sống riêng của con người, vùng đất Nam Bộ Đặc trưng của người Nam Bộ là rất thích nghe cải lương, ca cổ, nhạc tài tử,

với các kép chánh, đào hát, đào con, nghệ sĩ, tuồng, gánh hát, đoàn cải lương, vai diễn, hát, đào chính, nghiệp ca hát, giọng ca …họ là những người

dân yêu, say mê loại hình nghệ thuật này Ngoài ra đó còn là cách gọi tên, cách xưng hô giữa mọi người trong gia đình và ngoài gia đình của người Nam

Trang 19

Bộ cũng rất đặc biệt, chẳng hạn như gọi theo thứ bậc trong gia đình ( hai, ba, sáu bảy, ) đi kèm với tên riêng (già Hai Chi, ông Ba Già, chế Hai, dì Út Hên…) hoặc trong gia đình hay ngoài xã hội đều có cách gọi là cậu, mợ, dì, chú… Đối với cách xưng gọi không quá phân biệt ngôi thứ như ở miền Bắc ví

dụ để chỉ người già, người cao tuổi trong gia đình đều gọi chung là ông, không phân biệt là cố, cụ, kỵ Ngoài ra còn có cách sử dụng hàng loạt các từ

ở ngôi ba số ít như: Thằng chả, ảnh, ổng, tui,…trong cách xưng hô cũng là

một nét đặc sắc của phương ngữ Nam Bộ về mặt từ vựng, ngữ nghĩa

- Lớp đơn vị gồm nhiều từ được nói thành thói quen như những tổ hợp

từ, quán ngữ, thành ngữ…mang dấu ấn Nam Bộ như: Chuột té thạp gạo, kệ

mồ, no lòi bản họng, gắt củ kiệu, chạy thụt sình, bá vơ bá nạp, bá đế bá xàm, ràn cung mây, lùm đùm lề đề, trật bánh chè, đói ngoeo râu, cà xịch cà đụi, báI xái bài xai, hỏi đon hỏi ren, líp bản họng…

1.3.2.2 Lớp từ ngữ Nam Bộ có nguồn gốc từ phương ngữ Trung Bộ

Như ở trên đã nói, tổ tiên của người Nam Bộ vốn là người Việt ở Bắc Trung Bộ, nên có hiện tượng tương đồng giữa việc sử dụng từ ngữ của hai vùng Số lượng các từ ngữ Nam Bộ có nguồn gốc từ phương ngữ Trung Bộ

rất lớn ví dụ các từ má (mẹ), cậy (nhờ), bắp (ngô)…các từ này cũng được

người dân ở miền Bắc sử dụng phổ biến Đây là sự giao thoa trong việc sử dụng từ ngữ giữa các phương ngữ

1.3.2.3 Lớp từ ngữ Nam Bộ có nguồn gốc từ từ ngữ toàn dân

Lớp từ ngữ được dùng trong tất cả các văn bản của nhà nước từ văn bản hành chính, công vụ, cho đến các văn bản khoa học, pháp luật…là lớp từ ngữ chuẩn mực, mang tính toàn dân Do vậy ảnh hưởng của lớp từ toàn dân này đến các từ ngữ Nam Bộ là một điều tất yếu Có thể kể đến các lớp từ chịu ảnh hưởng sau:

Trang 20

- Lớp từ cổ ít được dùng trong tiếng Việt chuẩn nhưng lại được dùng

rất phổ biến trong phương ngữ Nam Bộ Chẳng hạn như hương dũng (hương dõng, lính địa phương ở làng, xã thời phong kiến), nhà thương (bệnh viện),

dơ (bẩn), mầng (mừng), ngộ (dễ nhìn), thơ (thư)… lớp từ cổ này mang sắc

thái bình dân, không trang trọng, cao sang, được lưu truyền và sử dụng đến ngày nay

- Lớp từ gồm các từ biến âm Đây là từ có số lượng lớn, được sử dụng khá phổ biến trong đời sống sinh hoạt của người dân Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng biến âm của từ, có thể do thói quen phát âm của người

Nam Bộ mà dần hình thành có tính hệ thống như: Tánh (tính), chánh (chính), thiệt (thật), vầy (vậy), đờn (đàn), kinh (kênh), thúi (thối), trết (trét), trừng (trành), thu đủ (đu đủ), chằm bẳm (chăm bẵm), lìu khìu (lều khều), nhơn (nhân), nhỡn quan (nhãn quan), tròm trèm (thòm thèm), …hoặc do vấn đề kiêng kị hay kị húy như huỳnh (hoàng), võ (vũ)…

- Lớp từ gồm các từ biến nghĩa Các từ này vốn là từ toàn dân nhưng đã

bị biến nghĩa, người Nam Bộ dùng với nghĩa gốc, chẳng hạn chích dùng trong

la om sòm, được nuôi để lấy trứng và thịt), vịt phá bầy (vịt lớn độ một tháng,

Trang 21

đủ khả năng tự kiếm sống riêng), vịt sen (vịt lông trắng, có đốm xám hoặc toàn xám, được nuôi để lấy trứng và thịt), vịt ta (vịt lông trắng, con to hơn vịt tàu, nhưng nhỏ hơn vịt xiêm, được nuôi để lấy trứng và thịt), vịt tàu (vịt nhỏ con, thường nuôi thành đàn, được nuôi để lấy trứng và thịt), vịt xiêm (ngan,

loại vịt con lớn đi chậm chạp, có màu lông đen, hoặc xanh đen, đầu có mào

thịt đỏ được nuôi lấy thịt ), vịt xiêm lai (vịt xiêm lai với vịt khác lông, ít đen hơn và có khoang cổ, được nuôi lấy thịt), vịt xiêm cồ (vịt xiêm trống, lớn con

và già, cân nặng có thể lên đến 4,5kg), vịt bắc thảo (trứng vịt được ướp gia vị lâu, khi xắt ra lòng trắng có màu vàng trong, lòng đỏ hơi có màu đen), vịt trà cuống (trứng vịt có vẻ ngoài màu xanh da trời nhạt)

Tóm lại, sự phong phú của hệ thống các từ ngữ của phương ngữ Nam

Bộ đã góp vào kho tàng ngôn ngữ chung một khối lượng từ ngữ đồ sộ, làm giàu có thêm ngôn ngữ dân tộc (đặc biệt là các từ gắn liền với môi trường sông nước)

1.3.3 Đặc điểm của phương ngữ Nam Bộ trên bình diện ngữ pháp

Trên bình diện ngữ pháp, không có những khác biệt lớn giữa phương ngữ Nam Bộ và phương ngữ toàn dân Đáng lưu ý là hiện tượng nói lái- hiện tượng phổ biến trong nhận thức của người Nam Bộ Các nhà nghiên cứu cho rằng: Ngôn ngữ và tư duy có mối quan hệ biện chứng với nhau, ngôn ngữ thể hiện tư duy, tư duy được thể hiện bằng vỏ vật chất bên ngoài của ngôn ngữ Đúng như vậy, hiện tượng nói lái của người Nam Bộ đã thể hiện tư duy lôgic, trí tưởng tưởng phong phú, sự liên tưởng bất ngờ, sự lạc quan yêu đời theo cách riêng của người Nam Bộ

Tiểu kết: Như vậy, đặc điểm lịch sử, địa lý, văn hóa xã hội của vùng đất

Nam Bộ đã chi phối đến cách sử dụng phương ngữ của vùng Trong xu hướng hội nhập, giao thoa giữa các phương ngữ, phương ngữ Nam Bộ tiếp thu các

Trang 22

yếu tố tích cực của các phương ngữ khác, loại bỏ các yếu tố tiêu cực để làm giàu thêm vốn từ vựng của vùng

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN NGỌC TƯ

2.1 Bình diện ngữ âm

Trang 23

Phương ngữ mỗi miền có cách phát âm riêng, những biến thể phát âm bộc lộ rõ trong giao tiếp bằng ngôn ngữ hằng ngày Nhưng trong ngôn ngữ viết do yêu cầu phải chuẩn chính tả nên không thấy lộ ra các biến thể phát âm Nói như vậy không có nghĩa là khi sáng tạo nên các tác phẩm văn học nhà văn, nhà thơ phải tuyệt đối tuân thủ các quy tắc chính tả Cần phải nhận thấy rằng, trong văn chương để miêu tả cách nói riêng của từng nhân vật ở những địa bàn khác nhau, nhà văn phải khai thác các biến thể phát âm bằng cách ghi lại trung thực cách phát âm của các nhân vật rồi thể hiện chúng trên bề mặt con chữ, để thấy được đặc trưng sử dụng ngôn ngữ của các nhân vật theo các vùng, miền khác nhau, chịu ảnh hưởng của cách phát âm của mỗi vùng, miền

ấy

Có thể nhận thấy trong các truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư, số lượng các biến thể phát âm của bình diện ngữ âm không nhiều, nhưng khi tiếp cận với các biến thể phát âm đó, bạn đọc đều dễ dàng nhận thấy đó là những biến thể ngữ âm của vùng đất Nam Bộ - nơi nuôi dưỡng và tạo cảm hứng cho tài năng văn chương Nguyễn Ngọc Tư

Thông qua cách phát âm riêng của các nhân vật trong truyện và trong chính ngôn ngữ của chị, chúng tôi nhận thấy ở bình diện ngữ âm, truyện ngắn

của chị xuất hiện ba loại biến thể: Biến thể phụ âm đầu, biến thể phần vần và biến thể thanh điệu

2.1.1 Biến thể phụ âm đầu

Những biến thể phụ âm đầu xuất hiện trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc

Tư không phải hiện tượng tiêu biểu cho biến thể ngữ âm Qua khảo sát, chúng

tôi thống kê được một số trường hợp biến thể phát âm phụ âm đầu sau: hỏng, hông/ không, giở/ mở, thẹo/ sẹo, day/ quay, bừng/ lừng, xào/ sào , dòm/ nhòm, chi/ gì…

Trang 24

Các tập truyện có tỉ lệ phần trăm các biến thể phụ âm đầu trong tổng số biến thể ngữ âm như sau: Tập truyện “Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư ” xuất hiện 39/131 phiếu, chiếm 29,8%; tập truyện “Ngọn đèn không tắt” có 10/65 phiếu, chiếm 15,4%; tập truyện “Giao thừa”, có 32/222 phiếu, chiếm 14,4%; tập truyện “Cánh đồng bất tận” có 35/402 phiếu, chiếm 8,7%

Ví dụ 1: “Mấy ông bạn cùng tổ công tác vừa đọc truyện “Mối tình nho nhỏ” của Nguyễn Ngọc Thọ vừa khóc, “hỏng có nhà văn nào được như nó, viết truyện ngắn mà ai cũng mê, thuộc lòng như bài ca cải lương, đám cưới, đám giỗ, đám ma đều được đem ra làm văn nghệ hết” [13,74]

Ví dụ 2: “Chú Sa nói liền: Ghé, ghé chớ, hổng ghé chỗ này thì biết đi đâu” [14,31]

Ví dụ 3: “Ông đi vài bước ông day lại nhìn Thương (cho chắc là nó đứng đây, và có thiệt trên đời) ngước về phía trời sao, rồi ngó thằng Thàn, ông cười, để miệng muốn méo sao thì méo “Tía kiếm có con Cải rồi, dễ ợt à mầy ơi”.[13,10]

Các tập truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư đều có các biến thể phụ âm

đầu, trong đó các biến thể “hông, hỏng, hổng/ không” chiếm số lượng nhiều

nhất và được sử dụng rộng rãi nhất Tập truyện “Truyện ngắn Nguyễn Ngọc

Tư ” có 16 phiếu các biến thể phụ âm đầu; tập truyện “Ngọn đèn không tắt”

có 2 phiếu; tập truyện “Cánh đồng bất tận” có 22 phiếu; tập truyện “Giao thừa” có 12 phiếu Các biến thể phụ âm đầu trên được Nguyễn Ngọc Tư dùng vừa có ý nghĩa phủ định, vừa để hỏi nhưng phần lớn là được dùng để hỏi

Ví dụ 4: “Má chị Hoài hỏi sao đâm đầu vô thương chỗ đó, cô hỏi lại

“anh Hết hỏng được chỗ nào hả má” [13,31]

Ở đây chị Hoài hỏi má mình mà như hờn dỗi bởi người mà mình yêu thương lại không được má chấp nhận Từ “hỏng” xuất hiện trong câu trên như càng tô đậm sự hờn dỗi trong lòng cô, đồng thời như là một câu hỏi lớn, một

Trang 25

mối băn khoăn, nỗi niềm khắc khoải mà cô rất mong muốn nhận được câu trả lời từ má Chị Hoài muốn thuyết phục má chấp nhận tình duyên của hai người bởi Hết là người tốt chỉ phải cái tội nghèo Cái nghèo ám ảnh dai dẳng cuộc sống của người dân từ bao đời nay

Ví dụ 5: “Lương mà khùng? Hỏng dám đâu”.[11,46]

Từ “hỏng” được dùng trong văn cảnh trên nhằm phủ định ý kiến Bông cho rằng Lương bị khùng Ai cũng biết Lương không khùng, bởi vì một người khùng đâu biết trân trọng một người con gái vì hoàn cảnh xô đẩy mà phải bước vào con đường lầm lỗi, và đâu có thể suy nghĩ cho tương lai (sẽ dựng một căn nhà nho nhỏ, rồi lấy vợ) Sử dụng cụm từ “hỏng dám đâu” làm cho câu văn như có duyên hơn, đáng yêu hơn, cảm nhận được rõ rệt tình cảm chân thành Lương dành cho Bông

Có thể nói, tuy tần số xuất hiện của các biến thể phụ âm đầu không nhiều và cũng không phải là đặc trưng cho phong cách của Nguyễn Ngọc Tư, nhưng nhờ các biến thể này mà bạn đọc dễ dàng nhận thấy tính chất giản dị, mộc mạc và sinh động trong cách nói chuyện của người Nam Bộ Cách nói ấy gần gũi với tính cách xuề xòa, không cầu kì, không khách sáo khi giao tiếp ở Nam Bộ

Trong các biến thể phần vần thì các phát âm chệch chuẩn thường diễn

ra ở bộ phận âm chính và đó thường là hiện tượng rút ngắn độ mở của nguyên

âm Chúng tôi thống kê một số trường hợp như sau: Bịnh/ bệnh, lịnh/ lệnh, chánh/ chính, tánh/ tính, bí thơ/ bí thư, đờn/ đàn, thiệt/ thật, kinh/ kênh, biểu/

Trang 26

bảo, kiếng/ kính, chớ/ chứ, thơ/ thư, đương/ đang, sanh/ sinh, lãnh/ lĩnh, gởi/ gửi, vít/ vết, thúi/ thối, rún/ rốn…

Tập truyện “Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư”, các biến thể nguyên âm

có 74/131 phiếu, chiếm 56,5%, chủ yếu là các từ: Kinh, chớ, chánh, biểu, thiệt, thơ, kiếng …

Ví dụ 6: “Người xóm hẻm bảo nhau, làm nghệ sĩ coi vậy mà cầu kì thiệt, phức tạp thiệt, khó thiệt ” [11,145]

Ví dụ 7: “Những chiều ngang qua nhà, thấy bà Hai bắc cái ghế ngồi ngoài hàng ba là cậu cởi quần dài, tụt xuống mé kinh, lội qua khỏi đoạn đó mới ngoi ngóp lên bờ ” [11,151]

Người miền Nam thường phát âm chệch chuẩn /- e /, thành /- i /, đây có

thể là do thói quen phát âm có từ lâu đời, nó ăn sâu vào từng thớ thịt và mạch

máu của con người Nam Bộ Điều đó lí giải tại sao trong các sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư đều có hiện tượng biến thể phát âm nguyên âm “e” thành

“i” (chữ quốc ngữ), bởi lẽ chị cũng là người sinh ra và lớn lên ở miền Nam Tập truyện “Cánh đồng bất tận”, có 351/402 phiếu các biến thể phát âm

phần vần, tương đương 87,3%, chẳng hạn như: Thiệt, biểu, chớ, mùng, bịnh, sanh, tánh…

Ví dụ 8: “Người đàn ông cười hề hề, thề “Tôi nói láo cô Hai cho xe đụng chết ngắc”(Ngay lập tức Điền thì thầm: “Thằng chả ở dưới ghe kiếm đâu ra chiếc xe, nói dóc…”, và bằng cái vẻ ác cảm lạ lùng, thằng Điền biểu tôi nhìn khuôn mặt và tấm lưng trần chi chít những nốt ruồi của ông ta, bảo:

“Tại hồi đó má ổng mới sanh ổng ra quên lấy lồng bàn đậy, nên ruồi bu tùm lum”) [13,167]

Ví dụ 9: “Nhưng trưởng ấp Tư Mốt phải làm cho anh chàng hiểu đời anh có ý nghĩa với đất này như thế nào, thiếu anh người cù lao sống không nổi chớ chơi à” [13,20]

Trang 27

Trong số 351 lá phiếu chúng tôi thống kê được qua khảo sát các biến

thể phát âm phần vần của tâp truyện thì từ thiệt chiếm 60 phiếu, tiếp đến là từ biểu chiếm 39 phiếu, còn lại là các từ khác

Hai tập truyện còn lại, tỉ lệ các biến thể này cũng rất lớn, tập truyện

“Ngọn đèn không tắt” có 54/65 phiếu, chiếm 83,1%; tập truyện “Giao thừa”

có 177/222 phiếu, chiếm 79,7%

Có thể thấy thông qua các biến thể phát âm phần vần, Nguyễn Ngọc Tư

đã đưa chúng ta đến gần hơn với lời ăn tiếng nói hằng ngày của người Nam

Bộ Đây là một đặc sắc riêng trong cách phát âm chỉ có ở khu vực miền Nam

Đó được coi là một thói quen vốn có từ trước, và vẫn sử dụng thường xuyên trong cuộc sống hiện tại

Những biến thể này được Nguyễn Ngọc Tư đưa vào trong các tác phẩm một cách tự nhiên, chân thực, sinh động Nếu ai xa quê hương lâu ngày khi đọc các tác phẩm của chị sẽ càng thấy nhớ và yêu quê hương Nam Bộ sâu sắc hơn Nó như một lời thúc giục, một nhu cầu được giao tiếp với bất cứ ai là người Nam Bộ để cảm nhận được ý nghĩa của ngôn ngữ Nam Bộ khi được nói theo cách phát âm riêng của vùng, miền mình

2.1.3 Biến thể thanh điệu

Đây có lẽ là biến thể chiếm số lượng ít nhất trong bình diện ngữ âm Ở mỗi tập truyện các biến thể thanh điệu xuất hiện với tần số rất ít, cụ thể, tập truyện “Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư” có 18/131 phiếu, tương đương 13,7%; tập truyện “Giao thừa” có 13/222 phiếu, tương đương 5,9%; tập truyện “Cánh đồng bất tận” có 16/402 phiếu, tương đương 4%; tập truyện

“Ngọn đèn không tắt” số lượng này eo hẹp chỉ với 1/65 phiếu, tương đương 1,5%

Khi phát âm, các nhân vật trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư không chỉ phát âm thanh ngã, thanh hỏi thành thanh trung gian là thanh hỏi

Trang 28

mà còn có các trường hợp phát âm chệch chuẩn khác Một số biến thể thanh

điệu xuất hiện trong truyện như: Trang trãi/ trang trải, rủ/ rũ, thể nào/ thế nào, nghỉ/ nghĩ, gúc/ gục, nhận/ nhấn, ngõ/ ngỏ, nghĩ/ nghỉ, chắc/ chặc, lổ chổ / lỗ chỗ, lả / lã, củ kỷ/ cũ kỹ, lổ/ lỗ, gở/ gỡ, ngẩm ngợi/ ngẫm ngợi, đãng/ đáng, sỏi/ sõi, miễu/ miếu, ngả/ ngã…

Ví dụ 10: “Sao tui thù con nhỏ đó quá trời, có nhà mà bỏ, có cha có mẹ

mà không thèm…cái thứ người đó, cho nó chết bờ chết bụi cũng đãng”[13,11]

Ví dụ 11: “Ai mà ngờ một bữa dì bỏ bà đi…Nhà cậu Nhớ cách nhà bà một quãng đường xóm, những bữa đi ngang nhà bà, bà Hai nghe giận nhói ngực khi thấy con gái mình khép nép đi bên cạnh chồng, mắt ráo lơ, ngó vô nhà như thể nước lả người dưng” [11,22]

Trong 48 phiếu thu được khi khảo sát các biến thể phát âm thanh điệu qua bốn tập truyện ngắn của chị, cho thấy, chiếm đại đa số vẫn là các biến thể thanh ngã (~) thành thanh hỏi (?) Tiêu biểu là tập truyện “Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư ”, chiếm tới 10/18 phiếu Như vậy có thể nói, tuy có nhiều biến thể thanh điệu khác nhưng chị vẫn trung thành với cách phát âm phổ biến người Nam Bộ không thể phát âm được thanh ngã

Tiểu kết: Trong truyện ngắn của mình, Nguyễn Ngọc Tư đã thể hiện

phần nào đặc điểm phát âm của người Nam Bộ, từ cách phát âm phụ âm đầu, phần vần cho đến cách phát âm thanh điệu Các cách phát âm này rất được dùng phổ biến trong phong cách khẩu ngữ miền Nam, từ thành thị cho tới nông thôn, từ các cuộc hội thảo khoa học đến các cuộc giao tiếp hằng ngày Việc sử dụng những biến thể phát âm trong truyện ngắn giúp cho tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư chân thật, sinh động gần với cách nói năng của người Nam Bộ, góp phần làm nên phong cách riêng của chị

2.2 Bình diện từ vựng

Trang 29

Hệ thống các lớp từ vựng rất đa dạng và phong phú, nhưng do khuôn khổ khóa luận có hạn, chúng tôi chỉ tập trung vào hai lớp từ sau: Từ địa phương và từ khẩu ngữ để thấy được cách sử dụng ngôn ngữ riêng, đặc sắc của Nguyễn Ngọc Tư

2.2.1 Từ địa phương

Nước ta có nhiều vùng, miền khác nhau, ở mỗi vùng lại có những điều kiện lịch sử- địa lí, hoàn cảnh sống khác nhau, nên cách sử dụng ngôn ngữ giữa các vùng cũng khác nhau Sự khác biệt diễn ra trên nhiều phương diện của ngôn ngữ, chúng tôi chỉ đề cập đến lớp từ địa phương

Từ địa phương ít được sử dụng trong các văn bản thuộc các phong cách ngôn ngữ như phong cách ngôn ngữ chính luận, hành chính hay khoa học, nhưng lại rất phổ biến trong phong cách ngôn ngữ sinh hoạt Đặc biệt, các từ địa phương sử dụng nhiều nhất trong giao tiếp hàng ngày của nhân dân ở mỗi địa phương nhất định Tuy vậy, trong văn chương các từ địa phương vẫn được nhà văn dùng để phản ánh cuộc sống, cách sinh hoạt của người dân để làm nổi bật đăc trưng của ngôn ngữ nhân vật theo từng vùng (phản ánh cuộc sống sinh động của người Nam Bộ)

Nam Bộ là quê hương của một số nhà văn nổi tiếng như: Hồ Biểu Chánh, Phạm Vân, Sơn Nam, Nguyên Hùng, Nguyễn Quang Sáng…các sáng tác của họ cũng xuất hiện nhiều các từ địa phương, đem đến cho bạn đọc nhiều khám phá mới mẻ về ngôn ngữ Nam Bộ

Nguyễn Ngọc Tư là nhà văn trẻ của Nam Bộ Chị đã kế thừa truyền thống văn chương của các nhà văn Nam Bộ đi trước Truyện ngắn của chị xuất hiện các từ địa phương với tần số cao Có thể kể đến một số từ địa

phương như: Cằn nhằn, té, càm ràm, hoài, xả giàn, cự đụt, mằn, nhậu, bới,

nà, ráng, ống quyển, mướn, bậy, hịch hạc, mủ mỉ, mần mần, khăn rằn, xài, cà

lơ, bưng, bồng, giả đò, ca, cải lương, lu, cà ràng, lái bông, khui, nhóc, rụm bà

Trang 30

chè, cương, thiếu điều, thớt mù u, rẻ rề, bển, khơi khơi, trộ, rầy, rượt, vẹt, ghe, chà, thương hồ, vọt miệng, cà chớn, khọm rọm, bầy hầy, mắc, rức, xà quần, rơ, rang, cần xé, vạc, bắt thèm, đọt…

Ví dụ 12: “Má tôi vọt miệng: Uả, chị có cháu à” [13,130]

Vọt miệng có nghĩa là buột miệng, tự nhiên thốt ra lời nói, do xúc cảm

tác động mà không kịp giữ lại, nén lại Câu nói của má do cảm xúc dâng trào, không kịp nghĩ gì khi đối diện với tình địch của mình, đã đánh trúng vào nỗi đau của nhân vật (tác giả gọi là dì), khi nhắc đến nỗi đau mất con của dì Dù

là không cố ý, nhưng đã khiến cho má phải ân hận day dứt cả đời Câu văn ngắn gọn nhưng dư âm của nỗi đau thì còn rất lớn

Ví dụ 13: “Có những chuyện chắc má biết, tại má hỏi vậy thôi, chớ Điệp lặn lội vô đây đâu phải để nói chuyện với má mấy câu lỉnh lảng như nước đìa” [11,10]

Cách so sánh mà tác giả dùng ở đây rất độc đáo, đậm màu sắc Nam Bộ

Lỉnh lảng là ở tình trạng ít gắn bó, gắn kết nhau, nước đìa là nước ở ao, đào

sâu có bờ chắn giữ nước để nuôi cá Như vậy câu nói trên có nghĩa Điệp lặn lội đến tìm mẹ đồng nghĩa với việc đã tha thứ cho má Điệp vì đã bỏ Điệp lại cho bà ngoại khi Điệp còn đỏ hỏn Cuộc nói chuyện của một đứa trẻ không biết đến tình yêu thương của má với má mình tất yếu sẽ ngượng ngùng, tẻ nhạt mà Nguyễn Ngọc Tư gọi là “lỉnh lảng như nước đìa”, những từ ấy đã phản ánh chính xác không khí cuộc nói chuyện giữa Điệp và má Cách dùng

từ ngữ rất quen thuộc với người dân Nam Bộ - đặc biệt là những cư dân sống

ở đồng bằng sông Cửu Long, cuộc sống gắn bó với kênh rạch, mương, đìa Lớp từ địa phương xuất hiện trong các truyện ngắn giúp Nguyễn Ngọc

Tư phản ánh đặc trưng cuộc sống của người miền Nam, đồng thời còn nhấn mạnh hơn đến tính chất riêng biệt về sản vật, địa danh, cách xưng hô, các hoạt động của miền đất này

Ngày đăng: 31/10/2015, 09:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w