1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Truyện ngắn nguyễn ngọc tư từ góc nhìn thi pháp học

118 1,3K 20

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 618,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kiệt Tấn là một trong những người nghiên cứu, đánh giá khá công phu về sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư, qua hai bài viết: bài thứ nhất là “Cái rầu bất tận của Nguyễn Ngọc Tư” đề cập đến các

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo

Tr ờng đại học vinh

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1.1 Những ai quan tâm đến đời sống văn học trong những năm gần

đây, hẳn đã rất quen thuộc với cái tên Nguyễn Ngọc Tư Tuy mới bước vàolàng văn nhưng chị đã sớm khẳng định được tài năng và bản lĩnh của mình.Chị đã thể nghiệm mình ở các thể loại bút kí, tạp văn, song được đánh giácao nhất ở lĩnh vực truyện ngắn Đặc biệt là vừa qua, chị đã vinh dự đượcnhận giải thưởng văn học ASEAN 2008 Có thể nói, trên địa hạt văn họcMiền Nam còn khá khiêm tốn, Nguyễn Ngọc Tư xuất hiện như một đột phá,

và giờ đây, tên tuổi của chị không chỉ có ý nghĩa đối với một vùng miền màcòn có ý nghĩa đối với bạn đọc của cả nước và khu vực Chị được đánh giá làngười có công đưa văn học nước ta bước ra khỏi ranh giới nhỏ hẹp của mộtquốc gia, dân tộc để hoà vào dòng chảy chung của văn học thế giới (NguyênNgọc)

Tuy truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư thu hút được sự chú ý cao,nhưng đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu toàn diện, có quy môlớn và xứng tầm với tài năng đó Phần lớn là những bài giới thiệu, những ýkiến nhận xét đánh giá được in rải rác trên các tạp chí, các báo, báo điện tử,tập trung chủ yếu ở phần nội dung phản ánh hiện thực của tác phẩm Chọnhướng nghiên cứu truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư từ góc nhìn thi pháp học,chúng tôi không cho đây là một cách tiếp cận toàn diện, nhưng phần nào mở

ra một hướng nghiên cứu mới và có ý nghĩa cho sáng tác của tác giả trẻ này

1.2 Đồng thời với chất trẻ, mới, lạ, Nguyễn Ngọc Tư đã nhanh chóng

trở thành một hiện tượng gây nhiều tranh cãi, thậm chí là tranh cãi gay gắt,

đặc biệt là sau Cánh đồng bất tận - tập truyện đạt giải thưởng của Hội Nhà

văn Việt Nam 2006 Bạn đọc thì say mê, cuốn hút, còn Tỉnh uỷ Cà Mau, nơichị sống và công tác, thì quyết định “kiểm điểm nghiêm khắc”, trục xuất ra

Trang 3

khỏi quê hương Chị vấp phải một “tai nạn nghề nghiệp” không đáng có.Điều đáng nói là qua những cuộc tranh luận, bàn cãi, tính “có vấn đề” của lýluận, phê bình văn học, tiếp nhận văn học của nước ta bấy lâu đã bộc lộ rõ vàđặt ra yêu cầu bức thiết về một sự định hướng đúng đắn Vượt lên trên những

ý kiến khen chê mang tính chất cá nhân, bóc tách khỏi những cảm xúc bồngbột nhất thời, giải quyết đề tài này là việc làm cần thiết, góp phần xác địnhchân giá trị cho những sáng tác của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư

1.3 Từ sau 1986, sự đổi mới tư duy nghệ thuật, sự mở rộng phạm trù

thẩm mĩ trong văn học khiến bức tranh truyện ngắn Việt Nam không những

đa dạng về đề tài, phong phú về nội dung mà còn có nhiều thể nghiệm, cáchtân về thi pháp Mỗi nhà văn đều lí giải cuộc sống từ một góc nhìn riêng, vớinhững cách xử lí chất liệu ngôn từ riêng Vì vậy, giải quyết đề tài này còncho thấy những đóng góp của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư trên chặng đườnghiện đại hoá của văn học Việt Nam và đồng thời góp phần nhận diện nhữngđặc điểm cơ bản của truyện ngắn Việt Nam đương đại

2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

Cho đến nay, các ý kiến đánh giá về tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tưkhá đa dạng, phong phú, bao gồm nhiều luồng ý kiến khen chê khác nhaunhưng tập trung chủ yếu ở mảng truyện ngắn

2.1 Người ta thấy có một khoảng cách rất rõ giữa Nguyễn Ngọc Tư

trong các truyện ngắn trước và sau Cánh đồng bất tận Từ tập truyện đầu tay

Ngọn đèn không tắt đến các tập Biển người mênh mông, Giao thừa và Nước chảy mây trôi, điểm dễ thấy là Nguyễn Ngọc Tư thường viết về những

câu chuyện nhỏ nhẹ, man mác buồn Những câu chuyện ấy đề được kể rấtchân thành, giản dị với một văn phong hồn nhiên, đầy phương ngữ của đồng

bằng Nam Bộ Chị được gọi là “nhà văn của xóm rau bèo” (Quang Vinh), là

“đặc sản Miền Nam” (Trần Hữu Dũng), được đánh giá là người “điềm đạm

mà thấu đáo” trên từng trang viết (Dạ Ngân) Các tác phẩm của chị gắn liền

Trang 4

với ruộng đồng lam lũ, với cảnh sông nước Miền Tây và những con người thìhiền lành, thẳng thắn, bộc trực và đầy tình nghĩa.

Về tập truyện ngắn Nước chảy mây trôi, Minh Phương nhận xét:

“Những truyện ngắn này được tác giả khai thác nhẹ nhàng mà sâu sắc Ngườiviết không đặt vấn đề trong sự va đập gay gắt của hoàn cảnh và cùng khôngđẩy tới tận cùng những xung đột quyết liệt của tính cách mà đi sâu vào tâmtrạng nhân vật làm nổi bật chủ đề và bộc lộ những phẩm chất tốt đẹp của conngười” [68] Nhà văn Dạ Ngân đánh giá: “Nguyễn Ngọc Tư giỏi ở chỗ cáitưởng không có gì mà Tư cũng viết được, lại viết rất có duyên, rất nhân hậu.Đọc cái nào xong cũng phải nhoẻn cười sung sướng, sung sướng mà lại ứanước mắt” [56]

Tác giả Hoàng Thiên Nga qua bài báo đăng trên Văn Nghệ số 39, ngày

24/9/2005 đánh giá cao tài năng và phẩm chất của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư:

“Truyện Nguyễn Ngọc Tư hấp dẫn từ đầu đến cuối, tới dấu chấm hết vẫn cònthấy ngòi bút tác giả bình thản như đôi chân vàng chưa đuối sức sau cuộcchạy maratong ” [53]

Kiệt Tấn là một trong những người nghiên cứu, đánh giá khá công phu

về sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư, qua hai bài viết: bài thứ nhất là “Cái rầu

bất tận của Nguyễn Ngọc Tư” đề cập đến các tác phẩm Ngọn đèn không tắt

và Cánh đồng bất tận, bài thứ hai là “Sông nước Hậu Giang và Nguyễn

Ngọc Tư” điểm tới các tác phẩm là Giao thừa và Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư.

Tác giả đã đi vào cắt nghĩa, lí giải chiều sâu của tập truyện “Ngọn đèn khôngtắt” từ bối cảnh xã hội- lịch sử của đất nước ta bắt đầu từ những năm chốngPháp, chiến tranh chống Mỹ - Quốc - Cộng đến những ngày đầu đổi mới.Trên nền bối cảnh đó, các nhân vật hiện lên một nỗi buồn hiu hắt, tâm lý thấtvọng não nề

Nhìn chung, đối với các tập truyện ra đời trước Cánh đồng bất tận,

các ý kiến đánh giá còn tương đối khiêm tốn, rải rác và lẻ tẻ Người ta thấyvăn Nguyễn Ngọc Tư toát lên một vẻ đẹp của đồng quê nhẹ nhàng mà thấm

Trang 5

thía, buồn man mác Chị cần có một sự làm mới mình, cần có cái gì đó dữdội hơn, quyết liệt hơn

2.2 Chỉ một năm sau Nước chảy mây trôi, Cánh đồng bất tận ra đời.

Đây là một đột phá, một sự làm mới mình mà không cầu kỳ, không màu mè,

phức tạp Cánh đồng bất tận chính là sự lớn dần, sự chuyển đổi tự nhiên

trong tư tưởng của một Nguyễn Ngọc Tư tài năng và hồn hậu đã gắn bó máuthịt với ruộng đồng lam lũ, với mảnh đất mà chị hiểu sâu xa tường tận hơn cả

so với bất kỳ vùng đất nào khác Tập truyện này đã đặc biệt thu hút được sựchú ý của dư luận trong và ngoài nước Các ý kiến khen có, chê có, nhưng đa

số thiên về khẳng định tài năng văn chương của Nguyễn Ngọc Tư Một số

bài không đồng tình với lối viết mới của chị như “Im lặng thở dài” của bác

sỹ Đỗ Hồng Ngọc (báo Tuổi trẻ, 30/11/2005) hay bài “Nói nhỏ cho Tư

nghe” của doanh nhân Lê Duy (báo Văn nghệ Trẻ - 16/4/2006), tỏ ý lên

giọng kẻ cả xem nhẹ tài năng, thậm chí là trình độ học vấn của Nguyễn Ngọc

Tư Hoặc như bài “Bênh vực truyện đạo văn - đạo đức hay văn hoá” của Lý Nguyên Anh (báo Văn nghệ Trẻ số 40, 1/10/2006) nhân việc dư luận xung quanh hai truyện ngắn Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư và Dòng

sông tật nguyền của Phạm Thanh Khương có sự giống nhau, đã hạ một câu:

“Nhân đây cũng nói thêm rằng, dù vì lý do nào đi chăng nữa, dù ai hết lời tándương đi chăng nữa, tôi cũng coi hai truyện ngắn đồng sàng dị mộng ấy là

những tác phẩm hết sức tật nguyền” [3] Tác giả Bùi Việt Thắng trong “Bài

học văn chương từ Cánh đồng bất tận” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 7/2006 nhận xét: “Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư còn quá non nớt, chưa

đủ bản lĩnh nghệ thuật, và phải chăng chính Nguyễn Ngọc Tư quá sớm khisống trong ánh hào quang do dư luận tạo nên và đặc biệt Tư còn quá ít kinhnghiệm sống, một nền văn hoá cần thiết” [81] Về phương diện ngôn ngữ,Bùi Việt Thắng nhận xét: “văn viết Nguyễn Ngọc Tư rất gần với văn nói”[81] Ông đưa ra những dẫn chứng cụ thể là các tác giả Nam Bộ như BìnhNguyên Lộc, Nguyễn Quang Sáng là những nhà văn Nam Bộ một trăm phần

Trang 6

trăm nhưng họ vẫn là nhà văn chung của độc giả cả nước Từ những phântích và nhận xét chủ quan của mình, ông đi đến kết luận: “Nguyễn Ngọc Tưđang đi từ trong kênh rạch ra biển lớn, thiết nghĩ, nhà văn phải có ý thức laođộng nghệ thuật nhiều hơn nữa để cho tác phẩm của mình trở thành tài sảnquốc gia” [81]

Ngược lại với những ý kiến trên, đa số các bài viết tập trung làm nổibật vẻ đẹp, sự cuốn hút của tác phẩm từ cốt truyện, câu chữ, cho đến nội

dung đầy tính nhân văn Chẳng hạn Nguyên Ngọc qua bài “Không gian…của

Nguyễn Ngọc Tư” đăng trên báo Sài Gòn Tiếp Thị số ra ngày 1/2/2008 đã

đánh giá rất cao về Cánh đồng bất tận Ông coi Cánh đồng bất tận là một

trong số những tác phẩm hiếm hoi có thể đưa văn học ta ra với thế giới, bướcvào hội nhập: “Để mà tính chuyện đi ra thế giới, tức là cái mà người ta gọi là

mở rộng không gian văn học, và như thế là không gian đất nước, ra với thếgiới, với bàng dân thiên hạ, […] thì theo tôi văn học hiện đại ta có thể có

mấy cái: Số đỏ của Vũ Trọng Phụng là một, một số truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp là hai, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh là ba, và nay là Cánh

đồng bất tận […] Với Cánh đồng bất tận, văn chương ta bước vào toàn cầu

hoá hôm nay một cách đường hoàng, cùng và ngang bằng với những giá trịnghệ thuật và nhân văn của toàn cầu” [58] Trước đó, trong một bài báo có

nhan đề “Còn có rất nhiều người cầm bút có tư cách”, nhà văn Nguyên

Ngọc cũng đã khen ngợi Tư: “Cô ấy như một cái cây tự nhiên mọc lên giữarừng tràm hay rừng đước Nam Bộ vậy, tươi tắn lạ thường, đem đến cho vănhọc một luồng gió mát rượi, tinh tế mà chân chất, đặc biệt “Nam Bộ” mộtcánh như không, chẳng cần chút cố gắng nào cả như các tác giả Nam Bộ đitrước” [57]

Điểm qua những bài viết trên, cho thấy Nguyễn Ngọc Tư và nhữngtruyện ngắn của chị thực sự gây nhiều sóng gió Nhưng văn chương muônthủa đứng giữa hai bờ dư luận khen chê Việc nhà văn sáng tác ra một tácphẩm văn học, khi nó đến được với công chúng bạn đọc rồi thì số phận đứa

Trang 7

con tinh thần đó không còn nằm trong tầm kiểm soát của người sáng tạo ra

nó nữa Song những tác phẩm đứng giữa sự khen chê của dư luận đó chính lànhững tác phẩm thu hút được đông đảo sự chú ý của bạn đọc nhất, và nhưvậy nó đã có một đời sống phong phú và có ý nghĩa rồi

2.3 Có thể nói, truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư được tiếp cận và lý

giải từ nhiều khía cạnh khác nhau Ở phương diện nội dung, có rất nhiều bàiviết đi sâu phân tích, tìm hiểu về nhân vật và nội dung hiện thực được phảnánh trong tác phẩm Qua đó, hoặc là nhằm đối chiếu nội dung hiện thực trongtác phẩm với hiện thực đời sống bên ngoài để đánh giá mức độ chân thực củatác phẩm; hoặc là để khẳng định giá trị và nhân cách, bản lĩnh của nhà vănNguyễn Ngọc Tư như giá trị nhân văn, tài phân tích tâm lý nhân vật, cáchnhìn lạc quan về con người và cuộc sống…

Bên cạnh lối tiếp cận ở phương diện nội dung, một số bài viết đã bướcđầu tìm hiểu tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư ở kết cấu, ngôn ngữ, không

gian, thời gian… nhưng phần lớn chỉ tập trung ở tác phẩm Cánh đồng bất

tận Bài viết "Cánh đồng bất tận, nhìn từ mô hình tự sự và ngôn ngữ trần thuật” của tác giả Đoàn Ánh Dương (Tạp chí Văn học số 2, 2007) là một

cách tiếp cận truyện ngắn Cánh đồng bất tận từ góc nhìn cấu trúc

Tác giả Hoàng Thiên Nga qua bài “Đọc Nguyễn Ngọc Tư qua Cánh

đồng bất tận” cũng đã cắt nghĩa sự hấp dẫn từ đầu đến cuối của truyện ngắn

này bằng lối viết “không cũ mòn, không nhàm chán, mạch văn liên kết chặtchẽ bởi vô số chi tiết hình ảnh thú vị, cốt truyện hình thành theo dòng suytưởng của nhân vật xưng tôi, nhẫn nhịn, lặng lẽ mà xuyên mỗi lúc một sâu,phơi mở tận đáy tâm hồn, tính cách, số phận con người” [53]

Bài “Thời gian huyền thoại trong Cánh đồng bất tận của Nguyễn

Ngọc Tư”, tác giả Mai Hồng đã khá tiêp cận Cánh đồng bất tận từ góc độ

không gian, thời gian như là một điểm “làm mới” trong chặng đường sáng

tác của Nguyễn Ngoc Tư: “Cánh đồng bất tận viết về thời gian của kiếp

người du mục qua những miền nhân cách, tính cách, số phận con người

Trang 8

Không gian trong truyện không có gì mờ ảo, vì nó là một không gian mà sựsống phủ lớp áo bàng bạc bất tận Nhưng thời gian của truyện đã được ảo hoámột cách thông minh và tự nhiên/ ngẫu nhiên Màu sắc huyền thoại của thờigian cộng với ý nghĩa phổ quát của cốt truyện, nhân vật làm cho tác phẩmchuyển tải được một hiện thực vĩnh cửu của con người” [33]

2.4 Sau Cánh đồng bất tận, người đọc tiếp tục theo sát bước đường

sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư, hồi hộp và kì vọng đón nhận những đứa continh thần của chị ra đời Ngày 12/9/2008, sau khi được đăng tải nhiều kỳ trênbáo Sài Gòn Tiếp Thị, Nhà xuất bản Trẻ chính thức phát hành tập truyện

ngắn Gió lẻ và chín câu chuyện khác Tập truyện ngắn này cũng gây được

dư luận với nhiều sự cảm nhận khác nhau, người khen không ít, người chê

cũng nhiều, thậm chí là khắt khe, lo ngại Phần lớn người ta đã đưa Gió lẻ và

chín câu chuyện khác để so sánh với “cái bóng” của Cánh đồng bất tận.

Người ta thấy có hai Nguyễn Ngọc Tư khác nhau qua hai tập truyện: “Có

người không đồng tình, cho rằng, qua Gió lẻ Ngọc Tư không còn là đặc sản

của một vùng đất đã làm nên Nguyễn Ngọc Tư Từ phong cách, ngôn ngữ,

chi tiết đã mất đi bóng dáng của Cánh đồng bất tận ” (Võ Đắc Thanh,

“Nguyễn Ngọc Tư: Tôi như kẻ đẽo cày giữa đường, Người Đô Thị”, số 35) Người quen với Nguyễn Ngọc Tư chân quê dung dị, bảo Gió lẻ khác chị xưa

quá, “như cô gái chân quê một bước đi ra thành thị, với câu chữ làm duyênlàm dáng” [51]

Nhìn chung, các bài viết nhận xét, đánh giá về các sáng tác củaNguyễn Ngọc Tư tương đối nhiều Tuy nhiên, vì chỉ bó hẹp trong phạm vinhững bài báo nhỏ, những bài viết giới thiệu nên các tác giả chỉ nêu đượcnhững vấn đề nổi bật, dễ nhận thấy, cảm thấy mà mà chưa phải là nhữngnghiên cứu mang tính chất chuyên sâu, tìm hiểu cặn kẽ, thấu đáo vấn đề Vẫnchưa có một bài viết nào có cái nhìn khái quát và xuyên suốt những chặngđường sáng tác của chị Một số bài viết còn nặng về cảm xúc cá nhân, mangtính chất như một lời tri ân, đồng cảm với tác giả Chính vì vậy trong luận

Trang 9

văn này, dưới góc nhìn thi pháp học, chúng tôi sẽ đi sâu tìm hiểu về truyệnngắn Nguyễn Ngọc Tư một cách khái quát và khoa học hơn.

3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư từ góc nhìn thi pháp học,chúng tôi giải quyết các nhiệm vụ sau:

Trước tiên, tìm hiểu về quan nịêm nghệ thuật của Nguyễn Ngọc Tư, vìquan niệm nghệ thuật của mỗi nhà văn có vai trò chi phối đối với các phươngdiện nghệ thuật khác như cốt truyện, nhân vật, ngôn ngữ…

Sau đó, chúng tôi sẽ đi sâu tìm hiểu về các phương diện nghệ thuậtkhác như điểm nhìn trần thuật, ngôn ngữ, giọng điệu để thấy được đặcđiểm riêng biệt, độc đáo của truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư

4 PHẠM VI KHẢO SÁT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4.1 Phạm vi khảo sát

Giải quyết đề tài này, phạm vi khảo sát của chúng tôi là những tậptruyện ngắn đã xuất bản của Nguyễn Ngọc Tư:

- “Gió lẻ và 9 câu chuyện khác” (Nhà xuất bản Trẻ - 2008)

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu cơ bản của luận văn là phương pháp khảosát, thống kê, phân loại

Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng các phương pháp phân tích - tổng hợp,cấu trúc - hệ thống để làm rõ các luận cứ, luận điểm và phương pháp so sánh

- đối chiếu để thấy được cái mới mẻ, độc đáo của Nguyễn Ngọc Tư cũng nhưthấy được đặc điểm chung của truyện ngắn Việt Nam đương đại

5 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN

Trang 10

Luận văn đi sâu nghiên cứu truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư dưới gócnhìn thi pháp học, cung cấp một cách tiếp cận mới mang tính khái quát,khoa học, phù hợp với bản chất của văn học Qua đó hiểu thêm truyện ngắnNguyễn Ngọc Tư cùng với những đóng góp của nhà văn trẻ này trên chặngđường hiện đại hoá của văn học Việt Nam.

6 CẤU TRÚC LUẬN VĂN

Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung

luận văn được trình bày trong ba chương:

Chương 1: Quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Ngọc Tư

Chương 2: Thế giới nhân vật và cảnh sắc Nam Bộ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư

Chương 3: Tổ chức trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư

Trang 11

Chương 1 QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ 1.1 Quan niệm nghệ thuật về con người

1.1.1 Khái niệm

Phạm trù quan niệm nghệ thuật đã được các nhà thi pháp Nga đề xuất

từ đầu thế kỉ XX, về sau được M Bakhtin nâng cao và ngày nay đang trở

thành tài sản của thi pháp học hiện đại Trong cuốn Dẫn luận thi pháp học,

Trần Đình Sử nêu lên định nghĩa: “Quan niệm nghệ thuật về con người là sự

lí giải, cắt nghĩa, sự cảm thấy con người đã hoá thân thành các phương tiện,biện pháp thể hiện con người trong văn học, tạo nên giá trị thẩm mỹ cho cáchình tượng văn học” [72, 41] Ông cũng đã xác định thêm rằng, không phải

là bất cứ cách cắt nghĩa, lí giải nào về con người cũng là quan niệm nghệthuật về con người, mà chỉ là những cắt nghĩa có tính phổ quát, tột cùngmang ý vị triết học, nó thể hiện cái giới hạn tối đa trong việc miêu tả con

người Tác giả Nguyễn Thị Bích Hải trong cuốn Thi pháp Thơ Đường (Nhà

xuất bản Thuận Hoá) cho rằng: “Quan niệm nghệ thuật của con người là mộtphạm trù quan trọng trong tác phẩm văn học Nó hướng ta nhìn về đối tượngchủ yếu là văn học, trung tâm của quan niệm thẩm mỹ là người nghệ sỹ.Hình tượng nghệ thuật (nhân vật – con người) xuất hiện trong văn học baogiờ cũng mang tính quan niệm, tức là miêu tả, phản ánh thể hiện nhân vậtbao giờ cũng mang tính quan niệm của tác giả ” [22]

Như vậy, quan niệm nghệ thuật về con người là nguyên tắc cảm nhậnthẩm mỹ về con người, nằm trong cách miêu tả, thể hiện của tác giả qua tácphẩm Nói cách khác, quan niệm nghệ thuật về con người là cách cắt nghĩa,cách đánh giá, lý giải của nhà văn về tính cách, số phận, tương lai của conngười thông qua hệ thống hình thức nghệ thuật mà nhà văn sáng tạo ra trongtác phẩm

Trang 12

Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học có chịu ảnh hưởngquan niệm về con người của triết học, chính trị, tôn giáo, đạo đức, pháp luật,nhưng không đồng nhất với các quan niệm đó mà là một sáng tạo nghệ thuậtriêng của nhà văn Là sản phẩm sáng tạo của chủ thể nhà văn, nhưng quanniệm nghệ thuật về con người cũng đồng thời là sản phẩm của văn hoá, tưtưởng, sản phẩm của lịch sử Quan niệm nghệ thuật về con người là mộtcông cụ cần thiết để xem xét văn học Qua đó, nó giúp chúng ta đánh giáchiều sâu trong việc khám phá về con người của một nhà văn, sự đột phánhững giới hạn thông thường so với những người đi trước Xem xét quanniệm nghệ thuật về con người của nhà văn giúp chúng ta đi sâu vào thực chấtsáng tạo của họ, cắt nghĩa, lí giải cái hay, cái đẹp của tác phẩm Có thể nói,quan niệm nghệ thuật về con người là chiếc chìa khoá để giúp chúng ta hiểuđược phong cách sáng tạo của người nghệ sĩ và đánh giá đúng thành tựu vănhọc của nhà văn Quan niệm nghệ thuật về con người biểu hiện trong toàn bộcấu trúc của tác phẩm văn học (như đề tài, chủ đề, kết cấu, cốt truyện )nhưng biểu hiện tập trung trước hết ở nhân vật, bởi vì “nhân vật văn học làcon người được miêu tả, thể hiện trong tác phẩm bằng phương tiện văn học”

[63, 61]

1.1.2 Sự thay đổi quan niệm nghệ thuật trong văn học sau năm 1975

Sau 1975, đặc biệt từ 1986, trước yêu cầu bức thiết về sự đổi mới mộtcách toàn diện và sâu sắc của đời sống thì văn học - một trong những hìnhthái ý thức xã hội tất yếu cũng làm mới mình để đáp ứng yêu cầu này Lẽ dĩnhiên, bất cứ thời đại nào, văn học cũng không bao giờ xa rời tiêu chí tốithượng Chân - Thiện - Mĩ Tuy nhiên, nhu cầu người đọc hôm nay đòi hỏi ởvăn học một sự “trở mình” để làm tốt hơn thiên chức và sứ mệnh của nó

Quan niệm nghệ thuật về con người chính là dấu hiệu chủ yếu để nhận

ra sự vận động, đổi mới của một nền nghệ thuật mới Một nền nghệ thuậtmới bao giờ cũng ra đời cùng với con người mới, với cách hiểu mới về conngười hoặc bắt đầu bằng việc suy nghĩ lại các khám phá nghệ thuật của

Trang 13

những người đi trước Có người còn coi quan niệm con người tạo thành nhân

tố vận động của nghệ thuật, thành bản chất nội tại của hình tượng nghệ thuật.Quả là sự vận động của đời sống làm nảy sinh quan niệm mới về con người,

và cách miêu tả con người bằng cách hiểu mới sẽ làm đổi mới văn học

Như vậy, xét đến cùng, lịch sử văn học là lịch sử của những quan niệmkhác nhau về con người Văn học chiến tranh đã tạo dựng thành công kiểucon người sử thi, biểu trưng cho cộng đồng Cuộc kháng chiến đã đem lạicho con người vẻ đẹp lí tưởng mà nói như A Niculin, nhân vật được "tắmrửa sạch sẽ và bao bọc trong bầu không khí vô trùng" (nhân vật của NguyễnMinh Châu) Nhân vật luôn trùng khít với địa vị xã hội của mình và luôn ởtrạng thái đơn trị, nhất phiến Văn học sau 1975 hướng đến khám phá và tạodựng con người thế sự - đời tư, con người cá nhân với những phức tạp và bí

ẩn của nó Nhà văn cắt nghĩa sự tồn tại của con người không phải ở vị thếnhà đạo đức, nhà tuyên huấn mà là nhà triết học, nhà tư tưởng Con ngườiđược nhìn ngắm từ nhiều toạ độ nên nhiều chiều, đa nhân cách, vừa có "rồngphượng lẫn rắn rít, thiên thần và ác quỷ" và nhìn chung, nó toàn diện và sâusắc hơn Văn học giai đoạn 1945 – 1975 khám phá con người thống nhấthoàn toàn với yêu cầu của lịch sử, khám phá và ngợi ca những con người tiêntiến, con người anh hùng, lí tưởng Còn trong văn học sau 1975 nhà văn đãphát hiện và bổ sung thêm một hình thức mới của mối quan hệ con ngườilịch sử Bên cạnh con người chủ nhân của lịch sử còn có con người nạn nhân,bên cạnh con người lịch sử xuất hiện con người cá nhân Sự thức tỉnh của ýthức cá nhân dẫn đến sự đòi hỏi phải quan tâm đến mỗi con người và từng sốphận

Khi văn xuôi nghiêng về cảm hứng thế sự, lấy con người làm đốitượng miêu tả, nó phát hiện ra các toạ độ mới của con người, các mối quan

hệ phong phú và bí ẩn giữa con người và thế giới xung quanh, thì con ngườigiai cấp được bổ sung bằng con người nhân loại Sau năm 1975, con người

tự nhiên, con người tâm linh được đề cập đến nhiều hơn trong văn học Ví dụ

Trang 14

các tác phẩm Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng, Đùa của tạo

hoá của Phạm Thị Hoài, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh

Sự nhận thức lại con người trong quan niệm nghệ thuật tất yếu sẽ dẫnđến những thay đổi trong thế giới nhân vật của các nhà văn sau 1975 Trongvăn xuôi trước năm 1975, các nhân vật được nhận diện theo lập trường cáchmạng, có thể dễ dàng xếp họ vào các nhân vật chính diện hay phản diện, tíchcực hay tiêu cực Các nhân vật lại được khuôn vào những khung hình củatầng lớp xã hội – giai cấp Hệ thống nhân vật được phân chia theo tầng lớpnghề nghiệp, vị trí xã hội hoặc lứa tuổi (nông dân, công nhân, trí thức, người

mẹ, người phụ nữ ) Văn học thời kỳ đổi mới, khi đã vượt qua giới hạn chậthẹp và cứng nhắc của cái nhìn con người và thể hiện nhân vật như trên, đã

mở ra sự đa dạng, phong phú dường như vô tận trong thế giới nhân vật Rấtkhó có thể đưa ra một bản phân loại hay liệt kê nào đó có khả năng bao quátđược thế giới nhân vật trong văn xuôi hiện nay Nhưng có thể dẽ dàng nhận

ra khá nhiều loại nhân vật mới, vốn chưa có hoặc ít có trong văn học trướcnăm 1975: con người tâm linh, con người bi kịch, con người cô đơn, conngười tha hóa, con người đa sự, nhiều ưu tư, con người nhân loại Đó chỉ làmột vài kiểu loại nhân vật được phân chia theo nhiều tiêu chí khác nhautrong văn xuôi đương đại Nếu như trước đây, khắc hoạ tính cách điển hìnhtheo quan niệm điển hình hoá của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa làmục tiêu hướng tới của các nhà văn trong xây dựng nhân vật thì nay nhân vậtkhông còn lệ thuộc vào chức năng thể hiện tính cách, nhà văn có quyền lựachọn và sáng tạo tự do đối với nhân vật của mình

“Văn học sau 1975 ngày càng đi tới một quan niệm trọn vẹn và sâu sắc

hơn về con người mà nền tảng triết học và hạt nhân cơ bản của quan niệm ấy

là tư tưởng nhân bản Con người vừa là điểm xuất phát, là đối tượng khámphá chủ yếu, vừa là cái đích cuối cùng của văn học, đồng thời cũng là điểmquy chiếu, là thước đo giá trị của mọi vấn đề xã hội, mọi sự kiện mà biến cốlịch sử” [47]

Trang 15

1.2 Quan niệm nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư

1.2.1 Cái nhìn độc đáo về con người

1.2.1.1 Con người nhỏ bé, cô đơn

Con người trong văn học hôm nay được nhìn nhận và đánh giá trongmối quan hệ đa chiều, với đầy đủ mọi góc cạnh và sự phong phú phức tạpcủa nó Con người nhỏ bé, cô đơn là kết quả của sự tự ý thức của con người

cá nhân cá thể trong hoàn cảnh xã hội, sự cảm thấy của nhân vật trong khiđối diện với cuộc đời mênh mông rộng lớn và đầy bất hạnh khổ đau Khôngphải đến Nguyễn Ngọc Tư thì con người nhỏ bé, cô đơn mới xuất hiện trongvăn học Con người nhỏ bé, cô đơn, xuất hiện trong văn học phương Tây từtrong các sáng tác của Sêkhốp, Puskin, Gôgôn , trong văn học Việt Nam từthời trung đại với các sáng tác của Nguyễn Du, Đặng Trần Côn, Đoàn ThịĐiểm Tuy nhiên, quan niệm về con người nhỏ bé, cô đơn trong mỗi thờiđại, mỗi quốc gia dân tộc có sự khác nhau, và dĩ nhiên trong mỗi nhà văncũng vậy

Nguyễn Ngọc Tư từng nói: “Trong cõi văn chương, tôi là đứa cực kỳ

cô đơn Nên tôi rất dễ dàng để nhân vật của mình sống trong cô đơn tậncùng, trong hoang hoải, chán chường Tôi cũng như những con người trong

Cánh đồng bất tận, sống giữa nhiều người, sống giữa cộng đồng, sống giữa

biển người nhưng có cảm giác như bị bỏ rơi ” [44] Không chỉ trong Cánh

đồng bất tận mà hầu hết những nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư

đều là những con người nhỏ bé, cô đơn Họ là những người nghệ sỹ hoá thânvào nhân vật trên sân khấu nhưng đêm về lại khắc khoải nỗi cô đơn thân

phận như Đào Hồng, ông Chín (Cuối mùa nhan sắc), chị Diệu (Làm má đâu

có dễ), San (Bởi yêu thương); những người đàn ông có tuổi cô đơn như ông

Hai (Cái nhìn khắc khoải), ông Sáu (Biển người mênh mông); những cô gái

có chút nhan sắc, khi về già vẫn một mình cô đơn như dì Thấm (Mối tình

Trang 16

năm cũ), Điệp (Bởi yêu thương), chị Hảo (Hiu hiu gió bấc); đặc biệt, cả

những đứa trẻ cũng thấm thía và đau khổ bởi nỗi cô đơn, lẻ loi của kiếp

người (như hai chị em Điền và Nương trong Cánh đồng bất tận, thằng Sói và

“Em” trong truyện Ấu thơ tươi đẹp, thằng Củi trong truyện Sầu trên đỉnh

Puvan, nhân vật “Em” trong truyện Gió lẻ) Truyện ngắn Gió lẻ là một khám

phá tận cùng nỗi cô đơn của con người

Nguyễn Ngọc Tư cũng như các tác giả khác khi viết về vùng đồngbằng Nam Bộ, chú ý đến những con người bình thường trong xã hội, songchị vẫn có một cách tiếp cận khác xuất phát từ quan niệm con người cô đơn,

bé nhỏ Như tác giả Vũ Long nói: “Câu chuyện của chị cho ta một cái nhìn, ởmột góc độ khác về những con người bình dân trong xã hội cũng là lúc tôingỡ là câu chuyện thời xa xưa, chính xác hơn là một chút ngỡ ngàng, bây giờ

mà cũng có những mảnh đời vậy” Trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, conngười cảm thấy nhỏ bé, cô đơn bởi vì nhiều nguyên nhân: vì cuộc sốngnghèo khổ, quanh năm làm lụng vất vả nhưng không đủ ăn, không đủ để cấtdựng nổi một mái nhà; vì con người lưu lạc, trôi nổi nay đây mai đó giữacuộc đời mênh mông rộng lớn; vì thấy thân phận tủi nhục và bế tắc; hay vìlòng người bạc bẽo, đổi thay Có lúc họ cũng có những mơ ước, khát khao vềcuộc sống no đủ, tình yêu, hạnh phúc, và một mái ấm gia đình, khao khátlàm vợ, làm mẹ, nhưng ước mơ mãi mãi vẫn chỉ là mơ ước Họ rơi vào sự lạclõng cô đơn, sự nhàm chán và cô độc giữa cuộc đời mà không cách gì thoát

ra được

Trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, chúng ta bắt gặp một thế giớinhân vật là những con người nghèo khổ, họ ở tận cùng của xã hội Họ quanhnăm làm lụng vất vả mệt nhọc nhưng cũng không đủ ăn, không đủ sống Như

người đàn ông làm nghề nuôi vịt chạy đồng trong truyện Cái nhìn khắc

khoải, sống một mình, không nhà cửa, không người thân Người đàn ông đến

cái tuổi đáng lẽ ra phải được sum họp quây quần với con cháu, nhưng ôngvẫn cô độc, chỉ có con vịt xiêm tên Cộc làm bạn, hơn thế nữa, ông coi nó như

Trang 17

con, như người bạn tâm tình tri kỷ Ông chăm sóc, vuốt ve, nói chuyện với

nó như với người Vì cái nghèo nên con người ta đã cô đơn lại càng trở nên

cô độc hơn: “Nghề nuôi vịt mà, nghèo, lang thang, đeo mang người nữa,không đành” [89, 51] Nghèo mà không cưới được người thương: “thằng Hếtđược, hiền, giỏi giang, chịu khó lại hiếu thảo Nhưng nó nghèo quá, thân sơthất sở không một cục đất chọi chim ” [89, 31] Những nhân vật trongtruyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư đều là những con người nghèo khổ, đều có sốphận long đong, vất vả, những thân phận trôi nổi, lưu lạc, nhưng tác giảkhông chủ ý miêu tả cái nghèo Viết về cái nghèo là một đề tài không mới.Văn học Việt Nam đã có những thành tựu khó có thể vượt qua trong việc thểhiện cái nghèo Không ai có thể hình dung về thân phận nghèo khổ, đói rách,tủi cực của người nông dân Việt Nam trước Cách mạng bằng việc đọc những

tác phẩm của Ngô Tất Tố, Nam Cao, Nguyễn Công Hoan v.v Cũng viết về

những người nông dân nghèo khổ nhưng Nguyễn Ngọc Tư không đi vào táihiện cái nghèo cùng với những tình huống bi kịch, những số phận cá nhân,

mà tác giả chủ yếu làm nổi bật cách những con người đó sống và đối diệnvới cái nghèo như thế nào, những suy nghĩ, tâm tư tình cảm và quan hệ của

họ với xã hội ra sao

Miêu tả cảm thức về sự cô đơn, có lúc tác giả để cho nhân vật tự ngẫmnghĩ và so sánh thân phận mình với những con vật, nghe sao mà chua xót,cho thấy kiếp người thật nhỏ bé biết bao: “ hồi đó phải tao sanh ra hột gà

hột vịt còn có nghĩa hơn sanh ra con gái như mày” (Làm má đâu có dễ),

“Ngồi một mình cũng buồn, tôi phải kiếm một việc gì đó để làm để khỏi phải

mơ biến thành vịt” (nhân vật Sáng trong Một dòng xuôi mải miết), “Biết nó

hư thân như vậy, má thà sanh cái hột gà, hột vịt còn hơn” (Một mối tình) Có

lúc, tác giả đã đẩy nhân vật của mình lên đến tột đỉnh của nỗi cô đơn, khi họkhông còn biết nói tiếng người, cô đơn và nhớ con người ngay cả khi ở giữa

thế giới loài người (Cánh đồng bất tận, Gió lẻ) Có những truyện ngắn được

tác giả dẫn dắt bằng lời đề từ thể hiện nỗi đau xót, cô đơn đến da diết, riết

Trang 18

róng của phận người: “Ngày ngày kẹt giữa đám đông, chen chúc trên nhữngcon đường đông nghịt người, nhiều khi tôi giật mình, trời ơi, họ kia, đồngloại mình kia, sao mình lại cô đơn đến rã rời / Lúc ấy, tôi có một cảm giác

kỳ lạ, chỉ mình trên đời này, chỉ một mình Chẳng ai là tri âm, chẳng ai

cả ” (Biển người mênh mông) Hay lời đề từ của truyện Cái nhìn khắc

khoải: “Một ngày khác thường của tuổi hai mươi - tuổi bè bạn, tuổi vui chơi,

tôi lùa mười sáu con vịt - một trong những gia tài của má tôi - ra đồng, mưađầm đìa vào mùa Tôi thường ngồi ở bờ ruộng, mắt trông chừng bầy vịt,không cho chúng lân la đến những đám mạ muốt xanh, và da diết thèmngười, thèm được nói chuyện/ Bây giờ, quay quanh tôi bao nhiêu là người,tôi lại thèm cảnh đồng nước vắng tanh ” [89, 48] Có thể nói, những số phậntrong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư là những con người sống giữa mọingười, nhưng cô đơn khắc khoải, cô độc đến hoang hoải, chán chường

Con người cô đơn, bé nhỏ là một cách quan niệm, lý giải của NguyễnNgọc Tư về cuộc đời và con người Trong cuộc đời thật, chị là một kẻ côđơn, nên trong tác phẩm, những nhân vật của chị là những mảnh đời, nhữngthân phận cô đơn, lạc lõng, bé nhỏ

1.2.1.2 Con người trôi nổi, lưu lạc

Con người trôi nổi, lưu lạc là số phận của con người nhỏ bé Lưu lạcxảy ra như là một định mệnh khắc nghiệt, một số phận xẩy lặp của hầu hếtcác nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư Đây cũng chính là một đặcđiểm của con người vùng đồng bằng sông nước Miền Tây, nơi nhà văn sinh

ra và lớn lên, gắn bó Đồng thời, viết về những con người lưu lạc, sống trôinổi là cái duyên của nhà văn, như tâm sự của chị: “Hồi nhỏ tôi mê phim kiếmhiệp, có mấy anh chàng hiệp khách rày đây mai đó, gặp ai yêu nấy, gặp aiđánh nấy, tôi khoái Hai năm gần đây, tôi thường hay đi, đi bụi, gặp tối thìngủ, gặp đói thì ăn Và thời gian phần nhiều trên những chiếc xe đò, tôi nghĩ

về một câu chuyện về cuộc đi bất tận của những người không tên tuổi ”[14] Không phải đến Nguyễn Ngọc Tư thì con người trôi nổi, lưu lạc mới đi

Trang 19

vào trong văn học Văn chương của các tác giả đồng hương với chị như MạcCan, Nguyễn Ngọc Thuần, và trước đó nữa là Hồ Biểu Chánh, Sơn Nam,Đoàn Giỏi, đều bàng bạc cảm thức về con người lưu lạc Nhưng chỉ đếnNguyễn Ngọc Tư thì con người lưu lạc mới được thể hiện một cách đậm đặc

và day dứt tâm can người đọc, làm thức dậy những ám ảnh về thân phận conngười

Tập truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư có biết bao con người sống lưulạc, trôi nổi từ nơi này qua nơi khác Họ làm những nghề trôi nổi, sống nayđây mai đó như nghề nuôi vịt chạy đồng, lênh đênh trên những dòng sông,nghề bán hàng rong, bán vé số, nghề buôn bán chợ nổi, nghề theo gánh hát,người nghệ sỹ theo đoàn cải lương biểu diễn di động Con người lưu lạc,trôi nổi trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư có thể vì nhiều nguyên nhân

khác nhau như do để lạc mất nhau, do trốn chạy chính mình (Cánh đồng bất

tận, Duyên phận so le, Cái nhìn khắc khoải), bỏ đi và kiếm tìm người thân

(Cải ơi, Biển người mênh mông, Nhớ sông, Dòng nhớ), do chạy theo những đam mê tình yêu và ca hát, cái đẹp (Bởi yêu thương, Cuối mùa nhan sắc,

Một mối tình, Sầu trên đỉnh PuVan) Dường như trôi nổi, lưu lạc là cách

sống của những con người này Quan niệm con người trôi nổi, lưu lạc, nênkhông gian trong truyện Nguyễn Ngọc Tư hầu hết là không gian rộng lớn củanhững cánh đồng, dòng sông Cánh đồng ở đây chính là “cánh đồng cuộcđời”, là cõi nhân gian bất tận những vui buồn, hạnh phúc và hi vọng của kiếpngười Dòng sông ở đây cũng chính là một biểu tượng cho cuộc đời rộng lớnnhư thế, trong đó con người thì càng trôi nổi, lưu lạc lại càng cô đơn, bé nhỏ

Ba cha con trong truyện Cánh đồng bất tận sống cuộc đời du cư, lênh

đênh nay đây mai đó trên những dòng sông, khắp các cánh đồng Nơi họ đến

là những nơi không có dấu chân người, những cánh đồng khô bang dướinắng, “mùa du mục của chúng tôi kéo dài liên tục từ mùa mưa sang mùanắng rồi lại mưa” [89, 175] Những con người này sống lưu lạc không phảichỉ do yêu cầu của nghề nuôi vị chạy đồng, mà nguyên nhân chính là do họ

Trang 20

trốn chạy quá khứ, trốn khỏi những dấu tích mà người vợ bội bạc gây ra, haychạy trốn con người: “Đàn vịt đưa chúng tôi đi hết cánh đồng này đến cánhđồng khác Đôi khi không hẳn vì cuộc sống, chúng là vì cớ để chúng tôi sốngđời du mục, tới những chỗ vắng người Ở đó ít ai phát hiện ra sự khác thườngcủa gia đình tôi, và ít hỏi cái câu “Má mấy đứa nhỏ đâu?” [89, 173] Cũng cólần hai đứa trẻ tưởng sẽ chấm dứt được cảnh lưu lạc đó bằng mối tình giữangười cha và người đàn bà ở xóm Bàu Sen Nhưng rồi họ lại trượt dài theonhững dòng sông, triền miên, vô định, họ không phân biệt được “chúng tôi

bỏ đi hay chạy trốn” Hai đứa trẻ không hề biết rằng, chính trong những dặmđường lưu lạc đó, tâm hồn chúng đã lưu lạc, đánh mất sự bình thường từ lúcnào Trong tác phẩm, không chỉ ba cha con họ, mà tất cả những con ngườitrong truyện đều là những kiếp sống lưu lạc, mỗi người chỉ dạt vào câuchuyện một chốc lát, nhiệt thành thể hiện khát vọng sống mạnh mẽ bằng sựchấp nhận và đánh đổi, rồi lại trôi dạt đến một phương trời khác Chỉ mộtchút đó thôi, họ cũng kịp vẽ lên trong hình dung của người đọc một vấn đềnhân sinh nhức nhối Truyện được gắn kết bằng những phiến đoạn tâm lý,trong đó, mỗi phiến đoạn là một sân ga ghi dấu nỗi xót xa tê tái mà con tàuthời gian chỉ dừng đủ cho một thân phận tấp vào trong tấp tểnh hi vọng, đểrồi khi họ vừa kịp nhận ra đó không phải là “bến đợi” thì tàu đã lăn bánh

Nguyễn Ngọc Tư đã rất nhiều lần để cho nhân vật của mình lạc mất cảloài người, đến mức họ quên mất cả tiếng người, nhớ con người ngay cả khi

ở gần con người (Cánh đồng bất tận, Gió lẻ) Hai chị em Nương và Điền trong Cánh đồng bất tận vì theo cha sống trôi nổi, lênh đênh hết mùa này

qua mùa khác, chỉ toàn đến những nơi không có bóng người Ngay cả người

mà hằng ngày vẫn gần gũi với các em nhất là người cha thì đôi lúc “hơi kháccon người” vì lạnh lùng và tàn nhẫn quá mức Chính vì vậy mà họ có nhữngcảm xúc khác thường: “ nhiều lúc tôi hơi nhớ con - người Họ ở trong cáixóm nhỏ kia, chỉ cách chỗ chúng tôi dựng trại vài ba công đất Họ lúc nhúctrên thị trấn kia, [ ] Và họ ở gần ngay đây, họ vừa gặt lúa vừa nói chuyện

Trang 21

tục tĩu rồi cười vang bên bầy vịt đang rúc rích tìm thức ăn, nhưng tôi vẫnnhớ ” [89, 177].

Truyện ngắn Gió lẻ cũng là một biểu hiện của quan niệm con người

lưu lạc, không tên không tuổi Nhân vật cô gái lưu lạc giữa dòng người, chạytrốn khỏi quá khứ, chạy trốn khỏi con người Cũng như hai chị em Nương và

Điền trong Cánh đồng bất tận quên mất tiếng nói con người, chỉ biết nghe

những âm thanh xôn xao của lá và tiếng của vịt, cô gái ở đây cũng để lạc mấttiếng nói con người: “Tiếng nói của con vật không dùng để làm tổn thươngnhau, em nghĩ [ ] em nói theo tiếng của chim” [91, 147] Trong hành trìnhtrôi dạt, không nơi nào là đích đến, cô gặp hai kẻ đồng hành kém may mắnkhác, họ dần dần tìm lại tiếng nói người cho cô Nhưng rồi cô nhận ra mìnhmãi mãi đã bị chối bỏ hoàn toàn, không thể hoà nhập được với thế giới loàingười, khoảng cách với thế giới người ngày càng xa vời vợi đối với cô

Con người trôi nổi, lưu lạc xuất hiện trong tác phẩm của Nguyễn Ngọc

Tư là một cách cắt nghĩa, lý giải về con người của nhà văn Đối với NguyễnNgọc Tư, con người thật nhỏ bé, cuộc đời của họ mông lung, vô định, trôinổi, lạc loài, nhưng họ luôn luôn tìm kiếm và khát khao hạnh phúc, khôngnguôi nuôi dưỡng những ước mơ và khát vọng Những trang văn viết về conngười như vậy thẫm đẫm xót thương, khơi gợi những suy nghĩ về kiếp người,mang đậm tính nhân văn cao cả

1.2.1.3 Con người với những ước mơ, khát vọng

Một điều dễ nhận thấy trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư là sự vươntới những ước mơ và khát vọng của những con người nhỏ bé, bất hạnh Cuộcsống dù có nghèo đói, khó khăn vất vả, hay số phận nhiều trắc trở, éo le, dù ởtrong bất kỳ hoàn cảnh nào, nhân vật Nguyễn Ngọc Tư cũng toát lên nhữngniềm ước mơ và khát vọng tốt đẹp: khao khát được lấy người mình yêuthương, được làm mẹ, làm vợ, khao khát cuộc sống sum họp, đoàn tụ củamái ấm gia đình, sự đùm bọc, yêu thương nhau của tình làng nghĩa xóm, tình

Trang 22

đồng loại, hay là khát khao chinh phục cái đẹp, khát vọng dâng hiến, phục vụnghệ thuật

Không thể phủ nhận rằng con người ai cũng muốn mình có được hạnhphúc Nhân vật của Nguyễn Ngọc Tư cũng “khắc khoải” tìm kiếm hạnh phúccho mình Đọc văn của chị, ta bắt gặp những cô gái mang trong mình mộttrái tim khao khát yêu thương và được yêu thương, khao khát được làm vợ,làm mẹ, khao khát một mái ấm gia đình dù bình thường nhưng hạnh phúc:

“Buổi sáng chở mớ rau vườn ra chợ, mua ít thức ăn mang về nấu bữa cơmtrưa, chiều phụ chồng mần cỏ rẫy, chạng vạng chờ chồng từ ngoài đìa vácmột mớ bông súng bước vô nhà Và để được nghe con trai mình nói vớimình những câu chuyện chỉ để dàng nói cho má nó nghe thôi”, “thử thươngtôi đi, tôi sẽ giúp thằng Bầu nấu cơm, vá áo, giúp anh lau ống khói, châm dầucái đèn chong nhỏ, giữ cho ngọn lửa suốt đêm ngày le lói đỏ như giữ vạn

truyền thống nhà mình đã trăm năm nay” (Một mối tình) Những người đàn

ông cũng luôn “khắc khoải” trên hành trình tìm kiếm tình yêu, hạnh phúc:

“Con Cộc mổ vô ống quyển ông, rồi nhóng cần cổ dòm ông lom lom, có phảiông chờ bà đó quay lại không? Ông nhìn lên ngọn tràm và thấy mấy cái bôngvàng như vấy con sâu rọm đang dịu dàng rơi xuống Có phải chỉ cần nhìn lạimột chút, ông sẽ thấy ngọn khói bay lên không? Gió lùa lá chuối khô giống

hệt bước chân ai vây Ông mắc ngoài nhìn ” (Cái nhìn khắc khoải) Khát

khao hạnh phúc dường như là điều luôn thường trực trong mỗi người, kể cảnhững cô gái điếm, dù đã đi vào con đường lầm lạc nhưng họ vẫn luôn nghĩ

về gia đình, về chồng con: “Và Vĩnh để cô lại bên mình rất lâu, chỉ vì côluôn nấn ná chờ hết chương trình xem phim mới chịu trút áo xuống trướcmặt anh, đôi nam nữ trong bộ phim Hàn đã đến được với nhau, cô vui, nhưngkhi họ gặp trắc trở, nước mắt cô tràn trụa, cô còn buộc miệng chửi thề mỗikhi vai ác bắt đầu bày ra âm mưu thâm độc nào đó [ ] Vĩnh để cô ở lại lâu, vìlúc gần sáng cô nhớ con, nhớ chồng thường dịch ra mép giường chênh vênh

và khóc” (Sầu trên đỉnh Puvan). Hạnh phúc không chỉ là ước muốn của

Trang 23

những con người bình thường, mà còn là của những con người bệnh tật (như

chú Đời trong truyện Đời như ý), hay kể cả những người vừa “chết đi sống lại” (nhân vật chị Hậu trong truyện Một trái tim khô), tuy nhiên hạnh phúc

đến với họ quả thật không dễ dàng gì: “chuyện tình này chắc bỏ lửng lơ nhưvậy thôi Hậu vẫn nói cái câu, “Nhâm đâu có hiều nhiều về tôi” để thay lời từchối Bởi Hậu gật đầu, hẳn nhiên hai người sẽ lấy nhau Sau bữa tiệc nho nhở

sẽ là đêm động phòng (chớ còn gì nữa) Nhâm sẽ phát hiện Hậu có một cáithẹo lớn trên vai Thể nào Nhâm cũng hỏi tại sao Mà Hậu không nghĩ rađược câu chuyện gì để nói Kể sự thật rằng một bữa đi qua cua Bún Bò, Hậu

bị đâm, sợ Nhâm sẽ đau Tuần trăng mật chưa bắt đầu đã lịm buồn, dở cười

dở mếu ” [89, 153] Hay như nhân vật hai chị em Điền trong truyện Cánh

đồng bất tận, vì sống trong một hoàn cảnh đặc biệt, thiếu tình thương, nên

tình cảm của các em rất đáng thương Không chỉ khao khát một cuộc sốngbình thường như những gia đình khác, có cha có mẹ, “có ông nội đểthương”, các em được cắp sách đến trường, mà còn là niềm khao khát đếncháy bỏng được sống giữa tình người, tình đồng loại Điều đó được thể hiệnbằng việc tác giả đã để cho hai chị em học cách yêu thương loài vịt, nghe vàhiểu tiếng của vịt, nói chuyện với vịt như với người, và tràn ngập là một nỗinhớ con - người, nhớ đồng loại

Có thể nói, trên mỗi trang văn của Nguyễn Ngọc Tư luôn thổn thứcnhững nỗi khát vọng, những ước mơ, kiếm tìm không mệt mỏi Nhân vậtNguyễn Ngọc Tư, từ những người đã một đời long đong lận đận cho đếnnhững đứa trẻ đang chập chững bước vào đời, từ những người bình thườngcho đến những người chẳng may bệnh tật, tất cả họ đều luôn tìm cách vươntới hạnh phúc, khát khao một mái ấm gia đình hay sự ấm áp của tình đời, tìnhngười Trên hành trình tìm kiếm và vươn tới những niềm khát vọng ấy, cólúc họ vấp phải những đấu tranh, giằng xé, những đau đớn, thậm chí phải trảgiá và đánh đổi Nhưng dù ở trong hoàn cảnh nào, niềm khát khao ấy cũng làsức mạnh nâng đỡ họ đứng lên và tiếp tục sống Đó cũng chính là phẩm chất

Trang 24

tâm hồn đáng quý của các nhân vật Nguyễn Ngọc Tư, là điểm dễ gây sựđồng cảm, lòng yêu mến hay xót xa, day dứt trước những số phận con người.Tuy nhiên, nhân vật của Nguyễn Ngọc Tư nhiều khi chỉ dừng lại ở sự khaokhát mà không có những hành động để đạt được những niềm mong ước đó.

Vì vậy, văn Nguyễn Ngọc Tư là trang văn của những nỗi niềm, nỗi đau, làthế giới tâm hồn, nội tâm của nhân vật Mỗi truyện ngắn như một lời tâm sựchân thành mà thấm thía, khơi gợi suy nghĩ của người đọc và có sức lay độngsâu xa

1.2.2 Quan niệm về nghề văn

Bạn đọc biết đến nhà văn Nguyễn Ngọc Tư qua những tác phẩm đầu

tay như Ngọn đèn không tắt, Ngổn ngang, Chuyện của Điệp nhưng phải đến Cánh đồng bất tận thì phong cách của chị mới thực sự nổi đình nổi đám.

Nguyễn Ngọc Tư là nhà văn của miệt vườn, nhà văn của đồng bằng sôngnước Nam Bộ, của mảnh đất Cà Mau yêu thương, nhiều tình nghĩa Chị đượcđánh giá là “Nhà văn của xóm rau bèo”, là “Đặc sản Miền Nam”, “Quả sầuriêng của trời” Sự việc Ban tuyên giáo tỉnh uỷ Cà Mau phê phán và kiểm

điểm tác giả của Cánh đồng bất tận quả là một “tai nạn nghề nghiệp” đối với

Nguyễn Ngọc Tư Lý do chị bị lãnh đạo tỉnh phê phán, cũng như những nhậnxét không đồng tình từ phía người đọc là: “Câu chuyện về mối quan hệ giađình, cha con trong truyện phản ánh không đúng cuộc sống, tâm tư ngườidân Cà Mau Cả những tội ác trong truyện cũng rất hoang đường” (anh VũBình Lương, Phó phòng bảo vệ chính trị Công an tỉnh Cà Mau), “Cần phải

có thực tiễn cuộc sống, cái đẹp, cái tốt, mà xã hội đang xây dựng và pháttriển Tất nhiên, cần phê phán cái chưa tốt, nhưng phải đúng hiện thực và cóđịnh hướng cho con người đến cái chân - thiện - mỹ” (Ban truyên giáo tỉnh

uỷ Cà Mau) Đối với nhà văn Nguyễn Ngọc Tư, đây là một sự việc mà côhoàn toàn không ngờ tới Dù đau nhưng cô vẫn đứng vững và đã chứng tỏmình thực sự là một cây bút đầy bản lĩnh

Trang 25

Nguyễn Ngọc Tư sáng tác nhiều về nông thôn, nhân vật của chị lànhững người lao động nghèo, những thân phận trôi dạt Văn của chị phần lớn

là những khoảng tối của nông thôn mà ít có những khoảng sáng, những biếnđổi và cái mới Về vấn đề này, để trả lời cho câu hỏi tại sao, chị nói: “Trongkhông gian tưởng tượng của tôi, thế giới mà tôi hình dung ra, cho đến bâygiờ chỉ là những nhân vật đó, những số phận đó” [21] Ở một nơi khác chịcũng nói: “Tôi nghĩ nếu nói tới hạnh phúc, sự vui vẻ, không ai thấy bối rối,người ta sẽ hiểu và cảm nhận ngay những điều đó Đơn giản như ta ngoácmiệng ra cười ha ha ha Chỉ có buồn, nỗi đau, người ta mới cần văn chươngchạm tới” [96]

Chị là nhà văn rất coi trọng cảm xúc trong mỗi trang viết của mình.Đối với chị, cảm xúc là chất kết dính trong toàn bộ sáng tác chứ không cầnđến bất kỳ một công thức hay kỹ thuật nào khác Chị nói một cách ví von:

“những cái bánh tôi làm trong lúc ngẫu hứng có lúc mặn lúc ngọt, lại khiếntôi hứng khởi hơn là cứ nhào nặn theo một thứ công thức nào đó”

Viết văn là phải luôn tìm ra được cái mới, nhà văn luôn phải tự làmmới mình Điều này thì ai đã từng cầm bút và có trách nhiệm với nghề đều ýthức được Nhưng làm mới bằng cách nào là một câu hỏi không dễ và khôngphải ai cũng làm được Nguyễn Ngọc Tư là người luôn suy nghĩ nghiêm túc

và trăn trở với ngòi bút của mình Đối với chị, nhà văn không phải cứ nhấtđịnh giữ cho mình suốt đời một phong cách Chị là người luôn tự thách thứcmình để tìm ra những hướng đi mới, vượt qua những giới hạn mới chứ khôngbao giờ chịu giẫm chân một chỗ Mặc dù mảnh đất và con người Miền namđối với chị là một đề tài khai thác mãi không thôi, dù nó đã đưa lại cho chịnhiều thành công nhưng chị vẫn không chán “bóc tách mãi về miền quê củamình”, chị vẫn “có cảm giác mình chỉ chạm tới lớp ngoài của mảnh đất này”

mà thôi [43] Nhưng chị vẫn luôn tìm tòi, trăn trở để đưa đến cho bạn đọcnhững tác phẩm hay và hấp dẫn Chị nói: “Tôi nghĩ đến một giai đoạn nào đóngười ta cũng phải thay đổi, có lẽ đó cũng là quy luật tự nhiên thôi Ai tự tô

Trang 26

vẽ cho văn chương một sự màu mè quá đáng, giả tạo thì người đọc nhận ra

ngay” (theo Thể thao và Văn hoá, “Nguyễn Ngọc Tư: Văn học trẻ chưa có xu

hướng riêng”) Ở một nơi khác chị cũng nói: “Tôi muốn tuỳ nghi, sống vàviết, theo đúng như bản chất vô thường của mình ( ) Con cá quẫy để khoảbèo vì nó cần thở ở một khoảng rộng hơn” [14] Và thực sự chị đã có những

thể nghiệm và làm mới phong cách của mình ở Gió lẻ và chín câu chuyện

khác Điều quan trọng là độc giả có nhận ra và chấp nhận nó hay không Bởi

vì người đọc đã quen với một Nguyễn Ngọc Tư như ở Cánh đồng bất tận,

nên khi làm mới mình, chị gặp nhiều trở ngại Trả lời phóng viên báo Văn

nghệ Công an, ngày 15/02/2008: khi được hỏi Nguyễn Ngọc Tư có sợ “cái

bóng” của Cánh đồng bất tận lớn quá khiến chị khó vượt qua chính mình không, cô trả lời: “Tôi chỉ sợ cái bóng của Cánh đồng bất tận quá lớn, đến

nỗi người đọc sẽ không nhìn thấy tôi Trên cuộc hành trình của đời mình, tôitình cờ rẽ vào một con đường nhỏ, tình cờ dựng cái rào, rồi thấy việc trèoqua cái rào do chính mình dựng lên là vô lý, nên tôi bỏ ngang, lại tiếp tục tìmmột con đường khác, nhưng bạn đọc thì cứ chờ tôi mãi ở cuối cái đường córào kia, bạn đọc không quan tâm tôi đã đi tới đâu, đã làm được gì” [43] Quả

thật đúng như sự e ngại của nhà văn, Gió lẻ và chín câu chuyện khác ra đời

đã làm cho người đọc thấy lạ quá, mới quá, có người còn không nhận ra đó làtác phẩm của nhà văn miệt vườn sông nước Nguyễn Ngọc Tư Nhưng đối vớiNguyễn Ngọc Tư thì đó chính là sự làm mới mình trong sáng tác, một sự làmmới không cầu kì, không màu mè, phức tạp Đó là một sự chuyển đổi hết sức

tự nhiên của một Nguyễn Ngọc Tư hồn hậu, luôn luôn khắc khoải về kiếp

nhân sinh, về những thân phận con người cô đơn, bé nhỏ Chị nói: “Cánh

đồng bất tận không đại diện duy nhất cho tôi Mười năm tôi viết những cái

mà người ta thích, giờ tôi viết những gì chính mình thích” [43] Tuy nhiênchị cũng tự biết mình cần phải tỉnh táo: “Viết văn mà cứ đòi lên dốc mãi thìcũng khó, mà làm gì có cái dốc nào cao đến thế, đôi khi cũng phải dừng lại,ngoảnh lại, thậm chí đi xuống rồi mới đi lên Mỗi tác phẩm hay là một món

Trang 27

quà tinh thần tặng cuộc sống rồi, và cái hay thì luôn có hạn, lấy đâu ra màtặng mãi?” [53] Đối với Nguyễn Ngọc Tư, sự chuyển đổi từ những trang văn

mang không khí nhẹ nhàng, buồn man mác trong Ngọn đèn không tắt, Biển

người mênh mông, Nước chảy mây trôi, đến không khí đầy những xót xa,

hằn học, thù hận, đậm đặc một nỗi buồn trong Cánh đồng bất tận, Gió lẻ và

chín câu chuyện khác là một sự chuyển đổi hết sức tự nhiên khi con người

không còn có thể hồn nhiên mơ mộng Nói như Nguyễn Ngọc Tư, đó là bởi

“già rồi mà”

Như vậy, đối với Nguyễn Ngọc Tư, nhà văn không phải là suốt đời cứgiữ mãi cho mình một phong cách viết, mà có thể thay đổi, tìm tòi những cáimới Chị đã có cố gắng để thay đổi thói quen, luôn thách thức để vượt quachính mình, dám thử sức ở những đề tài khó Sự làm mới này chính là từ nhucầu tự thân của nhà văn, đồng thời cũng xuất phát từ phía độc giả Chị từngnói mảnh đất và con người Miền Nam là nguồn sống phong phú bất tận chongòi bút của chị Song dù có thể chị không ngồi trên “cái chiếu” đó nữa thìcũng vẫn là một Nguyễn Ngọc Tư điềm đạm, thấu đáo, nặng nghĩa ân tìnhtrong trời đất, nhân gian, vẫn là một Nguyễn Ngọc Tư với những trăn trở ưu

tư thẫm đẫm tình người Sau tất cả những gì là sóng gió, bất an cũng nhưnhững niềm vui và hạnh phúc phía sau trang viết, đặc biệt là dư luận về

truyện ngắn Cánh đồng bất tận, chị vẫn cảm thấy con đường theo nghiệp viết lách của mình còn rất dài Cánh đồng bất tận đối với chị chỉ là “Một

chỗ dừng chân sau khi trèo lên mấy cái dốc dài [ ] Một cú tạt ngang,nghiêng ngó rồi đi Hay đơn giản chỉ là một cuốn sách trong nhiều cuốn sáchcủa một đời người viết” [21]

Tóm lại, trong quan niệm về nghề văn, chị là một người rất nghiêmkhắc trong sáng tác, có trách nhiệm cao với ngòi búi của mình Chị không dễđầu hàng những trở ngại, khó khăn, thậm chí là những đợt sóng lớn đối vớinghề viết văn của chị Có thể nói chị là một cây bút nữ đầy bản lĩnh, có quanniệm nghệ thuật rõ ràng Văn và đời, đối với chị hoàn toàn không tách bạch

Trang 28

Chương 2 THẾ GIỚI NHÂN VẬT VÀ CẢNH SẮC NAM BỘ

TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN NGỌC TƯ

2.1 Các kiểu nhân vật

Văn học không thể thiếu nhân vật, bởi vì nhân vật chính là phươngtiện cơ bản giúp nhà văn khái quát hiện thực một cách hình tượng nhất GS.Trần Đình Sử định nghĩa: “Nhân vật văn học là khái niệm dùng để chỉ hìnhtượng các cá thể con người trong tác phẩm văn học - cái đã được nhà vănnhận thức, tái tạo, thể hiện bằng các phương tiện riêng của nghệ thuật ngôntừ” [74] Nói cách khác, nhân vật văn học là con người được miêu tả, thểhiện trong tác phẩm, bằng phương tiện văn học Nhân vật văn học chính là

mô hình về con người trong từng trường hợp cụ thể của tác giả, là nơi biểuhiện tập trung nhất quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn TheoPhêđin, nhân vật là một công cụ nhận thức “Công cụ” ở đây cần được hiểu ởchỗ mỗi nhân vật cung cấp một điểm nhìn riêng để khám phá đời sống Nộidung khái quát của nhân vật không chỉ là cái tính cách xã hội lịch sử vàmảng đời sống gắn liền với nó, mà còn là quan niệm về tính cách và cái tưtưởng mà tác giả muốn thể hiện Nhân vật là công cụ, cho nên việc tìm ranhân vật mới bao giờ cũng là chìa khoá để mở rộng các mảng đề tài mới Tácphẩm văn học là một sự sáng tạo chủ quan của người nghệ sỹ, có hư cấu,tưởng tượng, là quan niệm về con người và cuộc sống của nhà văn Nhân vậtvăn học cũng là một sáng tạo nghệ thuật, vì vậy không nên hiểu chúng nhưnhững con người có thật, yêu mến hay ghét bỏ, phán xét chúng như những kẻngoài đời

Trong tác phẩm, nếu xét về vai trò của nhân vật, có thể nói tới nhânvật chính, nhân vật phụ, nhân vật trung tâm Nếu xét về hệ tư tưởng, có thể

Trang 29

nói tới nhân vật chính diện, nhân vật phản diện Văn học Việt Nam từ saunăm 1975 đến nay mở ra một thế giới nhân vật muôn màu muôn vẻ, mỗi đứacon tinh thần của nhà văn là một đặc điểm riêng, với một tính cách, số phận

và tình cảm riêng Nguyễn Ngọc Tư qua các sáng tác truyện ngắn của mìnhcũng đã tạo nên được một thế giới nhân vật riêng Có thể dễ dàng nhận thấynhững kiểu nhân vật mà nhà văn trẻ Nam Bộ này thường hướng tới để miêu

tả và chuyển tải quan niệm về con người, cắt nghĩa và lí giải đời sống là:nhân vật phụ nữ, nhân vật người nghệ sỹ và nhân vật trẻ em

2.1.1 Nhân vật phụ nữ

Có thể nói, nhân vật phụ nữ là kiểu nhân vật đông đảo, thường xuyênxuất hiện trong các truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư Dù là nhân vật chính haynhân vật phụ, dù xuất hiện nhiều hay ít, hầu như ở bất kì tác phẩm nào cũng

có các nhân vật nữ Việc miêu tả nhiều về nhân vật nữ cho thấy NguyễnNgọc Tư đã dành một sự quan tâm đặc biệt tới những con người vốn yếu ớt,

bé nhỏ, cần được che chở, yêu thương Đó cũng như là một sự cảm thông,chia sẻ của nhà văn đối với các nhân vật nữ

Trong truyện ngắn Việt Nam đương đại, người phụ nữ có một chỗđứng khá quan trọng, được các nhà văn chú ý khai thác thể hiện nhiều Họhiện lên trong tác phẩm là những con người đời tư, đời thường, trong mốiquan hệ với gia đình, với xã hội Nhân vật nữ trong truyện ngắn của NguyễnNgọc Tư mang đặc điểm, dáng dấp của những người phụ nữ nơi vùng đồngbằng sông nước Nam Bộ, cũng là nơi chị sinh ra và lớn lên Trên cơ sởnhững hình ảnh chân thật ấy, Nguyễn Ngọc Tư đã sáng tạo nên những conngười “sống” trong tác phẩm của chị, “cựa quậy” và day dứt mãi không thôitrong lòng người đọc

Nhân vật người phụ nữ hiện lên trong các sáng tác của Nguyễn Ngọc

Tư với đầy đủ những địa vị xã hội, họ có thể là những cô gái điếm, những côgái làm nghề tiếp viên ở quán bia, cũng có thể là những người nghệ sỹ, ngườitrí thức, từ những cô gái mới lớn với với những khát vọng yêu đương và

Trang 30

công danh sự nghiệp cho đến những người đã suốt một đời lận đận nhớthương Số phận biết bao người phụ nữ gặp trắc trở éo le, mà chủ yếu lànhững mối tình ngang trái, lận đận, tình duyên lỡ cỡ Có những người phụ nữ

đi lấy chồng khác mà không quên được người thương cũ như: Huệ (Huệ lấy

chồng) cô Thà (Lý con sáo sang sông), Giang (Nhớ sông); Có những người

yêu đơn phương, suốt đời giữ mãi một mối thương thầm như: dì Thấm (Mối

tình năm cũ), dì Út Thu Lý (Chiều vắng), chị Hảo (Hiu hiu gió bấc), Út Nhỏ

(Nhà cổ); Có những người con gái đã một lần lầm lỡ như Đậm (Giao Thừa), Nga (Đau gì như thể), cô gái làm nghề tiếp viên như San (Bởi yêu thương),

cô gái điếm như Sương (Cánh đồng bất tận); Đau đớn và xót thương hơn cả

là những người vợ bị chồng phụ bạc, họ ôm nặng mối hận thù như má của

Điệp (Chuyện của Điệp), thậm chí họ là nạn nhân giết người của chính chồng mình như chị Hậu (Một trái tim khô) Vẫn là những câu chuyện tình đầy éo

le, trắc trở, nhưng ở đây tác giả không tạo dựng một không khí xung đột gaygắt giữa các nhân vật hay giữa nhân vật với hoàn cảnh như các nhà văn khác.Nguyễn Ngọc Tư thường xuyên khai thác ở bề sâu tình cảm, đời sống nội

tâm, làm nổi bật tính cách của nhân vật Truyện ngắn Chuyện của Điệp khơi

tỏ thế giới nội tâm của ba người phụ nữ: Điệp, má Điệp, cô đào Hồng Lý.

Mỗi người đều có một số phận riêng đầy thương cảm Ba Điệp bỏ mẹ conĐiệp đi từ lúc Điệp mới mười tuổi Vì hận ba nên hai năm sau má Điệp cũng

bỏ nhà đi Người đàn bà trả thù sự bội bạc của chồng bằng cách khác thường:

“Má giận ba, nên thấy ai hơi giống ba là má cưới, cưới mà không yêu thương

gì người ta Vì vậy mà từ bấy đến nay đã chắp vá ba người chồng Vì vậy mà

má thấy Điệp là má khổ sở như nhìn lại bóng người phụ bạc xưa” [ 87] CònĐiệp thì hận má, nhưng khi số phận cho cô làm mẹ của một đứa trẻ bị bỏ rơi,rồi một ngày lại trớ trêu bắt cô phải trả lại đứa con ấy cho người ta, cô mớinhận ra nỗi đau của người mẹ khi phải dứt bỏ đứa con của mình Thấm thíanỗi đau của người làm mẹ, Điệp lại dễ rộng lòng tha thứ: “Ngoại dạy conphải biết tha thứ hết thảy cho mọi người, má á” Cảm động biết bao khi

Trang 31

người con bị mẹ bỏ rơi ấy, lúc ra về còn dặn với mẹ: “Má à, sáng nay má kêucon Giàu theo con ra đoàn, mấy bộ đồ của bé Bơ còn nguyên một giỏ ythinh, con gởi nó đem về cho má, mai mốt má sanh cho em bé mặc, nghenmá” [87]

Những người phụ nữ trong truyện Nguyễn Ngọc Tư dù ở bất kỳ hoàncảnh nào cũng toát lên những vẻ đẹp phẩm chất rất đáng kính phục Dì Út

Thu Lý (Chiều vắng) từ lâu đã thương thầm cậu Tư Nhớ - lại chính là anh rể

của mình Tình duyên lận đận, đến lúc về già rụng mấy cái răng rồi vẫn cònthương Vì thương người ta mà giả đò chết để cậu Tư Nhớ có cơ hội gặp lạichị gái của mình Cả ba con người gặp nhau mừng mừng tủi tủi trong nướcmắt, thương cho tuổi thanh xuân đã qua mất rồi Câu chuyện đơn giản, nhẹnhàng nhưng để lại một dư vị khó quên trong lòng người đọc về tình yêu,tình cảm của những con người phụ nữ bình thường, dung dị nhưng hết sứcmạnh mẽ, mạnh như dòng chảy của con sông quê hương Có những người

phụ nữ như Điệp trong truyện ngắn Bởi yêu thương, trước khi nhắm mắt

xuôi tay vì căn bệnh hiểm nghèo, còn trăn trở tìm cho chồng mình một ngườiđàn bà để thay mình làm trọn nghĩa phu thê Khó khăn lắm, đau đớn lắm, bởi

vì “Có phải là trao trái chanh trái bưởi cho nhau đâu mà là một người đàn bàtrao người mình yêu thương nhất cho một người đàn bà” [90]

Truyện ngắn Dòng nhớ là câu chuyện thực sự cảm động bởi số phận

và tình cảm của hai người đàn bà Cả hai đều gắn bó với một người đàn ông,nhưng không thù hận, ghen tuông như thường thấy mà họ là những ngườiphụ nữ giàu lòng nhân ái, thấu hiểu và vị tha Họ khổ không chỉ vì nghèođói, số phận đưa đẩy, trớ trêu mà còn bởi vì họ là những con người sống

nặng về tình cảm Một người đàn bà (gọi là dì) với tình yêu say đắm của tuổi

trẻ, bất chấp tất cả sự ngăn cản của mẹ chồng để chung sống với nhau Haingười có con với nhau, nhưng số phận rủi ro, đứa con nhỏ bò lọt sông chết

chìm Người đàn ông (gọi là ba) theo lời má, bỏ sông lên bờ cưới người vợ khác (gọi là má) Sau đó, thình thoảng dì trở lại neo ghe trên bến cũ để ngóng

Trang 32

ba, người chồng giờ đây đã tuột khỏi tay mình “Chuyện xảy ra lâu rồi,

nhưng người ta vẫn còn nhớ, vẫn còn cắm sào trước bến nhớ ba tôi, vậy màbiểu ba tôi quên cái rụp thì làm sao quên được” [89,126] Cắm sào thì cắmsào, đậu bến thì đậu bến, nhưng “người ta nhớ thương đứt ruột có thể chạy àolại để gặp nhau, nhưng vì lương tâm không làm được, đành ngồi đây ngó lên,

ngồi ở trên ngó xuống” [89,131] Còn người đàn bà là má, được mẹ chồng gả

ép, tuy ở gần chồng, sớm tối có nhau nhưng tâm hồn chồng thì đã vĩnh viễndành cho nơi khác: “Ông đang ở đây nhưng tâm hồn ông, trái tim ông, tấmlòng ông chảy tan vào dòng nước từ lâu rồi” [89, 124] Hai người phụ nữsống triền miên qua năm tháng cùng nỗi thương nhớ tơi bời, đồng thời họ

cùng đồng cảm với nỗi khổ tâm của nhau Và rồi má đã làm cái việc mà

không mấy ai làm được, đó là tìm người đàn bà tình địch về cho chồng mình:

“Má tôi vẫn không ngừng tìm dì, hỏi để làm gì, má tôi nói để cho dì hay vànói với dì, nếu sống mà không gần được, chừng nào chết, mời dì lên nằmtrên đất vườn nhà tôi” [89, 133] Người đàn bà muốn giúp cho chồng mìnhchấm dứt dòng nhớ, “Đó là nỗ lực cuối cùng má tôi làm để chấm dứt cáicảnh ba nằm bên má mà hồn vẫn hướng về những dòng sông miên manchảy” [89, 133] Nhưng liệu có được chăng khi dòng sông vẫn còn đó, connước vẫn trôi hoài, mà dòng người mênh mông bất tận biết đâu tìm kiếm?

Trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư, còn có bi kịch của nhữngngười phụ nữ luôn luôn khao khát được làm vợ, làm mẹ Làm mẹ vốn là mộtthiên chức của người phụ nữ, một điều tưởng như là hiển nhiên, bình thườngđối với những ai là phụ nữ Thế nhưng những người phụ nữ trong truyệnngắn Nguyễn Ngọc Tư đâu dễ dàng có được cái niềm hạnh phúc ấy, họ luônphải khao khát và đánh đổi, thậm chí là tuyệt vọng Nhân vật chị Diệu trong

truyện Làm mẹ có một mái ấm hạnh phúc bên người chồng thương yêu của mình nhưng không may chị bị khối u ở buồng trứng phải cắt bỏ dẫn đến

không thể có con Vậy là khát khao làm mẹ bấy lâu trở thành nỗi đau như xátmuối vào lòng chị Mỗi khi trẻ con đi qua cửa là một lần lòng chị quặn lại,

Trang 33

rối nùi Rồi chị quyết định thuê một người đẻ mướn, chị tìm đến chị Lànhvốn ở trọ nhà chị Chị Lành cũng là một phụ nữ nghèo khổ, làm nghề gánhnước mướn Chị cũng khát khao một mái ấm hạnh phúc, một đứa con mìnhđứt ruột đẻ ra Chị đã nghĩ đến cảnh bà con người ta dị nghị không chồng màlại có con, đã tự đấu tranh: “Chị coi việc mình cần tiền với lại một đứa connhư hai cánh tay Cánh tay nào cũng quan trọng, biết chọn sao bây giờ”,

“Nhưng khi chị nhìn thấy những giọt nước mắt rớt lộp độp xuống áo dì Diệu,chị cầm lòng không đậu, chị gật đầu” [90] Chính tình cảm giữa những conngười với nhau, nặng lòng nặng nghĩa, sự khát khao được làm mẹ, làm vợ đãđẩy họ lún sâu hơn vào vòng đau khổ Khi họ nghĩ đến việc đứa trẻ sẽ giống

ai, rồi khi vô tình họ nhắc đến “con của chị em mình” mà lòng đau rát ChịLành vẫn còn nguyên là con gái đó, nhưng người đời ai dễ buông tha? Cònchị Diệu thì đau đớn bởi vì có những thứ thiêng liêng không thể đổi chác,mua bán được: “Dì thèm biết bao nhiêu cái cảm giác che chở cho một sinhlinh sống trong mình, để được thèm tới cùng, tới chảy nước dãi món ngọt,món chua, để có thể cảm nhận từ trái tim chứ không phải bằng bàn tay đôibàn chân quẫy đạp bụng mình thon thót Đó là những thứ cảm giác thiêngliêng không vay mượn, thuê mướn được: cảm giác làm mẹ” [90] Hay như

người phụ nữ trong truyện Một mối tình, mặc dù chị có thể đóng nhiều vai

trên sân khấu, nhưng khi bước xuống cuộc sống đời thường, “có một vai dìthèm mà không ai cho đóng” đó là vai một người phụ nữ “bình thường, cóchồng, sống với nhau trong căn nhà xưa, cũ kỹ Buối sáng chở mớ rau vườn

ra chợ, mua ít thức ăn mang về nấu bữa cơm trưa, chiều phụ chồng mần cỏrẫy, chạng vạng chờ chồng từ ngoài đìa vác một mớ bông súng bước vônhà Và để được nghe con trai mình nói với mình những câu chuyện chỉ đểdành nói cho má nó nghe thôi Ừ, dì chỉ ước có vai bình thường vậy ” [90].Nghe đến những khao khát của người phụ nữ như thế này, người đọc làm saokhỏi rớt nước mắt xót xa, thương cảm

Trang 34

Một trong những nhà văn nữ cùng thế hệ 7X như Nguyễn Ngọc Tưđang được chú ý đến là nhà văn Đỗ Bích Thuý Đỗ Bích Thuý cũng viếtnhiều về những người phụ nữ nghèo khổ, bất hạnh với những phẩm chấtđáng trân trọng như sự nén chịu, nhẫn nại và đức hi sinh, đó là những người

phụ nữ nơi rẻo cao miền núi (Tiếng đàn môi sau bờ rào đá, Gió không

ngừng thổi) Nếu như Đỗ Bích Thuý ở vùng cực Bắc của Tổ quốc thì

Nguyễn Ngọc Tư lại ở cực Nam của Tổ quốc Những người phụ nữ trong

truyện của Nguyễn Ngọc Tư là những người có số phận éo le, mệnh bạc,

cuộc đời gặp nhiều trắc trở với những bi kịch trớ trêu, nhưng thẳm sâu trong tâm hồn họ vẫn luôn neo giữ những phẩm chất tốt đẹp như sự chịu đựng, lòng vị tha, bao dung, độ lượng, đức hi sinh

Những người nghệ sỹ là những anh kép hết thời như Sáu Tâm (Bởi yêu

thương), Quách Phú Thàn (Cải ơi), Phi (Biển người mênh mông), là cô gái

tiếp viên quán bia mê trở thành đào hát (Bởi yêu thương), là những người phụ nữ bình thường như chị Diệu, chị Thu Mỹ (Làm má đâu có dễ), Sa (Chuyện vui điện ảnh) Có những người nghệ sỹ chân chính, thực thụ, coi

việc ca hát, diễn xướng là cái nghiệp của mình, nhưng cũng có những ngườinghệ sỹ “bất đắc dĩ”, những người hát rong, những người có tâm hồn nghệ

sỹ, mê cải lương, yêu ca hát, thích đờn ca tài tử

Người nghệ sỹ trong truyện Nguyễn Ngọc Tư là những con người

nghèo khổ, thậm chí phải làm đủ nghề để chạy ăn từng bữa như bán hàng

rong, bán vé số, bán báo, bán chè và thường có số phận buồn Cuộc đờinghệ sỹ và cuộc đời thực của họ không trùng khít nhau, đôi khi đối lập với

Trang 35

nhau Trên sân khấu, họ cống hiến hết mình với nghệ thuật, họ say mê trongnhững vai diễn, say mê với lời ca tiếng hát, với niềm vui, nỗi buồn của nhânvật, nhưng khi cởi áo mũ ra, rửa trôi lớp phấn trên mặt đi, họ trở về là nhữngcon người bình thường với cuộc sống mưu sinh vất vả, với những nỗi đautrong sâu thẳm tận đáy lòng không dễ gì chia sẻ Người nghệ sỹ nhập vai vàonhân vật, sống cuộc đời của nhân vật, cùng khóc, cùng cười với khán giả,nhưng nỗi đau của họ thì không ai trong cuộc đời thật này có thể sẻ chiađược, “ thấy cười ha ha chưa chắc là vui, thấy rặn ra một đống nước mắtvậy mà hổng phải buồn Có lúc đang ở nhà lại muốn đi, có lúc đang hát trênsân khấu vậy tự nhiên thèm về nhà” Có khi cười đó, nhưng trong lòng thìngổn ngang, đau đớn: “Nhưng bao giờ anh cũng về nhà với khuôn mặt tươicười Cười không phải vì vui Anh nghĩ, may mình là nghệ sỹ, nếu không,

sao có thể cười giòn khi đang tan nát lòng đau” (nhân vật Sáu Tâm trong Bởi

yêu thương) Cũng có những người mang cả nỗi đau của đời mình lên sân

khấu, nhập thân vào nhân vật để dễ dàng bộc lộ nỗi niềm riêng mà bình

thường họ cứ phải dấu đi Những người nghệ sỹ như Điệp (Bởi yêu thương), Đào Hồng (Cuối mùa nhan sắc) đã cồng hiến hết công sức, tuổi thanh xuân

của mình cho nghệ thuật, nhưng cuối đời lại cô đơn, bệnh tật Có nhữngngười nghệ sỹ đi theo đoàn cải lương mấy chục năm trời, đến khi đoàn giảitán, họ vẫn không bỏ được nghiệp ca hát mà nghèo vẫn nghèo, nghèo đến nỗi

không có tiền cưới vợ, sống trôi nổi, cô đơn (nhân vật Thàn trong truyện Cải

ơi, nhân vật Phi trong truyện Biển người mênh mông) Có những ước mơ

hết sức bình dị nhưng làm cho người ta rớt nước mắt: “Bầu hỏi tôi thườngđóng vai gì, tôi kể, nhiều lắm, hiền có, ác có, mà toàn vai phụ không thôi

Tự dưng tôi nghe nỗi buồn chao chát trong lòng, tôi bảo, nhưng chỉ có mộtvai dì thèm mà không ai cho đóng, vai gì hả, vai một người bình thường, cóchồng, sống với nhau trong căn nhà xưa, cũ kỹ ” [90]

Tuy cuộc đời người nghệ sỹ có trải qua bao sóng gió, khổ cực đắngcay nhưng vẫn luôn yêu nghề, say mê với nghề Niềm say mê của họ không

Trang 36

gì có thể đổi chác hay dứt bỏ được Họ sẵng sàng hi sinh cả cuộc đời mình đểsống trọn kiếp cầm ca Đọc truyện Nguyễn Ngọc Tư, ta thấy dường như niềmđam mê ca hát là dòng máu đang chảy trong lồng ngực của những con ngườinơi đồng bằng sông nước Miền Tây này Mê ca hát, mê cải lương là huyết

quản, là khí thở từ bao đời nay của họ Truyện Cuối mùa nhan sắc cho thấy

lòng yêu nghề mãnh liệt của những con người đã “một thời vang bóng”, naycòn lại chút hơi tàn, họ cũng cố gắng dành trọn cho nghề Cả nhóm nghệ sỹcuối mùa đã tập hợp lại cất một cái nhà đặt tên là “Buổi chiều” để kiếm từngđồng tiền sống qua ngày, quan trọng hơn là để được cất lên lời ca tiếng hátvào mỗi đêm cho thoả lòng mong nhớ sân khấu “Sân khấu” của họ chỉ làmột khoảng sân rộng, khán giả chỉ là những người quẩn quanh ở thôn xóm,nhưng họ vẫn say sưa biểu diễn, “không micrô, nghệ sỹ ca bằng giọng củatrời cho ” [90] Những người nghệ sỹ yêu nghề, mê nghiệp ca hát đến mứcbản thân mang trọng bệnh nhưng vẫn nhất mực ra hát, đến khi họ ngã gụctrên sân khấu mới thôi: “Đào Hồng ốm sát chiếu nhưng vẫn đòi ra hát, ôngChín vẽ chân mày, tô phấn thoa son cho bà rồi dìu bà ra ghế Bà ngồi trênghế mà hát, bà hát cho thái hậu Dương Vân Nga trước ngổn ngang nợ nướctình nhà, hát cho nàng Quỳnh Nga bên cầu dệt lụa, cho nàng Thoại Thanhhiếu thảo róc thịt nuôi mẹ chồng, cho nàng Châu Long tảo tần nuôi Dương

Lễ, Lưu Bình ăn học và cho Tô Thị trông chồng hoá đá Vọng Phu ” [90]

Nhân vật Điệp trong truyện ngắn Chuyện của Điệp là một cô gái đi hát cải

lương từ năm mười sáu tuổi Dù chỉ chuyên đóng vai trẻ con nhưng cô vẫnyêu say mê những vai diễn của mình, bởi vì chính khi đó cô được hoá thânvào những nhân vật trẻ con bị bỏ rơi, cũng có số phận nghèo khổ, bất hạnhnhư đời cô vậy Niềm đam mê làm cho họ hân hoan hạnh phúc nhưng cũngđưa đến những đau khổ, bất hạnh tột cùng

Người nghệ sỹ trong truyện Nguyễn Ngọc Tư dù rơi vào bất cứ hoàncảnh nào vẫn cố giữ cho được bản chất đẹp đẽ của mình, sống có tình cónghĩa, chan chứa yêu thương Như lời tâm sự của anh Sáu Tâm với San trong

Trang 37

truyện ngắn Bởi yêu thương: “Có làm gì, đi đâu, chưa bao giờ tôi quên mình

là nghệ sỹ, nghệ sỹ là người của công chúng, người ta yêu mình bởi họ thấymình cao quý hơn họ, tôi không thể vì tiền mà sống hèn được Cô nhỏ, sau

này có trở thành đào hát, cô nhớ lời tôi nghen” [90] Hay như lời răn dạy của

ngoại trong Cuối mùa nhan sắc: “Con muốn diễn hay thì phải sống nhân

ngãi trước đã” [90] Người nghệ sỹ luôn cố gắng giữ hình ảnh đẹp đẽ của

mình, để cho khán giả yêu vai diễn trên sân khấu nhưng đồng thời cũng thấycon người thật ở ngoài cũng đẹp đẽ và đáng yêu như thế, để được tôn trọng,

để được yêu hơn, say hơn những câu hát cải lương, những vai diễn ThoạiThanh, Dương Vân Nga, Lưu Bình, Dương lễ, Lương Sơn Bá, Chúc AnhĐài Nhưng cuộc đời thì khắc nghiệt, khó khăn, làm sao trong cuộc sốngđời thường mà dễ dàng giữ được hình ảnh thanh tao, đẹp đẽ của mình nhưkhi ở trên sàn diễn Vì vậy, có những người chọn cách từ bỏ niềm đam mê ca

hát của mình vì đã lỡ bước sa chân như San: “Hỏi về giấc mơ trở thành đào

hát Nó cười đã bỏ lâu rồi Đi hát lỡ nổi tiếng, thí dụ thôi nghen, người ta biếtlúc trước tôi từng làm tiếp viên quán bia thì nhơ danh cả một giới nghệ sỹ,làm người ta mất cảm tình với cải lương, vậy khác nào hại cả nền sân khấu

nước nhà” (Bởi yêu thương); “Có người không lấy chồng cho thoả nghiệp”,

có người vì mê hát, vì theo đuổi sự nghệp mà phải thả con cho người ta, đến

nước nó không thèm nhìn mình nữa, như Đào Hồng (Cuối mùa nhan sắc), đào Hồng Lý (Chuyện của Điệp) Cảm động nhất có lẽ là câu chuyện của chị

Diệu trong truyện ngắn Làm má đâu có dễ Vì say mê nghề ca hát, chị bỏ

nhà theo đoàn hát từ năm mười bảy tuổi, “không cách chi mà giữ lại được,không cách chi chị quên giấc mơ xướng ca xiêm áo” Nhưng chị đã yêu phảimột người nghệ sỹ bội tình để lại cho chị đứa một con Chị đành phải đứtruột để con lại cho má khi nó chỉ vừa bảy tháng tuổi: “Hôm đó, nó đã bú chothật no rồi, chị ép cho no nữa Nó ngậm vú chị ngủ ngon lành Đặt con xuốnggiường, chị còn thấy cái miệng nhỏ xíu của nó mút mút Rồi từ đó chị khôngdám nhìn thêm lần nào nữa, sợ mãi mãi mình không thể nhấc chân đi Mà chị

Trang 38

thì không thể từ bỏ ước mơ của mình, trở thành cô đào hát nổi tiếng Làm sao

từ chối vai diễn đã từng chờ đợi, nàng Trưng Trắc oai hùng trong Tiếng

Trống Mê Linh” [90] Đau đớn, buồn tủi và nhớ con, “có lúc nhớ con đến

quay quắt, chị muốn bỏ hết, về nhà vùi mặt mình vào làn da thơm tho của nó,nhưng nghĩ đến vai diễn của mình, chị ghì lòng lại Đâu nè, Trưng Trắc đâu

có nữ nhi thường tình vậy” [90] Cái giá phải trả cho những vinh quang, chodanh tiếng trong những chút thành công của chị quả là quá đắt Để rồi đứacon mà chị đứt ruột đẻ ra không bao giờ kêu chị bằng má, không dùng nhữngđồng tiền mà chị phải rất lăn lộn, đổ mồ hôi mới kiếm được Vết thương lòng

cứ lâu lâu lại nhói lên trong chị khi chị đóng những vai phải kêu tiếng “má”:

“Có những lần giỗ Tổ, Đoàn giao cho chị đóng vai Tô Ánh Nguyệt trongtrích đoạn gặp lại thằng Tâm, lúc con trai mình mắng mỏ một hồi rồi bỏ đi,Nguyệt kêu, “Tâm, con đuổi má sao con?”, Lệ Thuỷ diễn xé lòng xé dạngười ta là vậy, nhưng với chị, chỉ câu nói đó thôi sao mà khó khăn quáchừng, tiếng má, nửa đời chị chưa được con gái mình kêu” [90] Và rồi chịphải chuyển sang đóng những vai hề mụ, vì “chỉ như thế chị không phải sắmnhững vai bà mẹ, không phải nghe bạn diễn với mình gọi là má à má ơi màlòng như cắt như đau” Đối với những người nghệ sỹ như chị, làm má quảthật “đâu có dễ”!

Viết về người nghệ sỹ, chúng ta thấy Nguyễn Ngọc Tư đã dành một sựquan tâm ưu ái đến những con người nhạy cảm nhất trong xã hội Tác giả đãkhắc họa vẻ đẹp tâm hồn nghệ sĩ ẩn hiện trong tính cách của những con

người vô danh giữa đời thường Cuộc đời người nghệ sỹ gặp nhiều cay đắng,

xót xa, nhưng chúng ta vẫn thấy ở họ toát lên một vẻ đẹp hết sức bình dị mà cao quý Đó là vẻ đẹp phẩm chất của những người nghệ sỹ, hơn nữa là những

con người nghệ sỹ vùng Đồng bằng sông nước Miền Tây Nam Bộ với sựthẳng thắn, chân tình, sống hết mình, yêu hết cỡ, nghĩa nặng tình sâu Đâycũng chính là vẻ đẹp nhân văn toát lên trong toàn bộ tác phẩm của NguyễnNgọc Tư

Trang 39

2.1.3 Nhân vật trẻ em

Khảo sát thế giới nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư chothấy trẻ em cũng là một đối tượng mà nhà văn quan tâm khám phá và thểhiện Đây là lứa tuổi của những yêu ghét, giận hờn, tủi hổ, lứa tuổi của nhiềumộng mơ, suy nghĩ Chọn kiểu nhân vật này, tác giả rất dễ dàng để cho cácnhân vật của mình bộc lộ cảm xúc, suy nghĩ trước cuộc đời

Nhân vật trẻ em trong tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư phần lớn lànhững đứa trẻ bơ vơ, bất hạnh, sinh ra và lớn lên không biết mặt cha mẹmình là ai, hoặc là bị mồ côi, hoặc là bị bỏ rơi, hoặc cũng có một gia đình

nhưng không êm ấm, bỏ đi Ở tập truyện Cánh đồng bất tận, có rất nhiều

các cô gái, các chàng trai yêu mà không dám ngỏ lời, sống lang thang phiêubạt, hay sống một mình trong cảnh nghèo khó cô đơn, hoặc mang trong lòngmối hận thù mà không dễ gì tha thứ được Bởi vì trước đây họ là những đứatrẻ bị người lớn bỏ rơi Những đứa trẻ mang trong lòng vết thương tình cảm,những đứa trẻ sa cơ, đi vào đường lầm lạc Tác giả cắt nghĩa nguyên nhâncủa những tội lỗi, lầm lạc, lòng hận thù, cuộc sống bất hạnh của những tâmhồn nhỏ nhoi kia chính là ở sự vô tâm, vô trách nhiệm của người lớn Nhưngtác giả không cố ý miêu tả hoàn cảnh những gia đình tan nát, nguyên nhâncủa sự đổ vỡ, bỏ nhau, mà chủ yếu tập trung làm nổi bật tâm lý của nhữngđứa trẻ có hoàn cảnh đặc biệt đó

Truyện Cỏ xanh diễn tả tâm lý của một đứa trẻ bị cha mẹ bỏ rơi bằng

một giọng kể khách quan, lạnh lùng Miên bị công an phương bắt giam, phạt

vì tội say rượu đánh người gây thương tích Em đánh ai? Là được người tathuê đánh một người phụ nữ: “Lúc người trong hẻm chạy túa ra coi đánhnhau thì nó đang xâu người đàn bà đó, đánh lấy đánh để, đánh như hả hê, haicon mắt tối sập, mùi rượu trong người phả ra hôi hổi”, “Lẽ ra thì không đếnnỗi nào, nhưng lúc nó say rồi sao tự nhiên nó muốn đánh bà ta quá Mà hễngười ta say thì kinh lắm, muốn là làm” [87] Hay khi người ta say chính làlúc tỉnh nhất? Một nỗi niềm vô thức nào đó sai khiến em đánh người ta cho

Trang 40

thoả nỗi lòng? Đó phải chăng chính là cách em trả thù cuộc đời đầy caynghiệt lạnh lùng này? Bởi vì trước đây em vốn là một cô bé hiền lành: “Hồinhỏ nó hiền lắm, Em bắt thằn lằn nhát, nó còn khóc, kiến hôi đái vô mắt, xótgần chết nó còn không giết ” [87].

Đối với trẻ con, không gì bằng sự vô tư, trong trẻo, hồn nhiên NhưngNguyễn Ngọc Tư đã để cho những đứa trẻ mới lớn này trải nghiệm vớinhững triết lý, thấm thía những nỗi đau, sự cô đơn, bé nhỏ trước cuộc đời

Hai đứa trẻ Giang và Thuỷ trong truyện Nhớ sông là những đứa trẻ bất hạnh

và đầy cảm động Năm Giang mười tuổi, má Giang mất sớm vì một tai nạnbất ngờ trên sông nước Hai chị em sống với cha trên một chiếc ghe trôi nổi

từ nơi này qua nơi khác bán hàng bông Nhà nghèo, hai chị em Giang khôngđược sống hồn nhiên vô tư như những đứa trẻ khác, không được cắp sáchđến trường mà theo ba má lênh đênh từ dòng sông này qua dòng sông kháckiếm ăn qua bữa Ký ức của Giang là những mảng kỷ niệm buồn của quákhứ: ngày mẹ mất, “Giang thấy rõ ràng, lúc cây xào trong tay má đang chỏivào thành xà lan trượt hướt lên, má ngã xuống, đầu má đập vào cái gờ sắt,đôi chân còn bíu vào ghe Rồi má cong lại như chiếc võng, hụp vào sông.Giang khóc điếng, bồng con Thuỷ lồm cồm bò về đằng sau lái Giang cònkịp nhìn thấy mái tóc má trôi xùm xoà phiêu diêu trong làn nước, rồi mấthút” [89, 113] Những tổn thương trong tâm hồn làm những đứa trẻ nhưGiang và Thuỷ không có được cuộc sống tự nhiên, thoải mái, chúng luôn bị

ám ảnh, bị đeo đẳng bởi những kí ức đau buồn của quá khứ Giang có mộtnỗi nhớ sông đến mức kỳ lạ: “Có lúc, vừa nghé lại bờ, chưa kịp buộc dây ghe

vô gốc mắm, do quẩn chân lâu ngày, Giang đã chạy lên bờ, chạy cuốc chạycuồng như vui như điên trên đất ” [89, 114] Đi lấy chồng rồi Giang lại càngnhớ ghe, nhớ thuyền da diết Dường như bến nước, con thuyền, dòng sôngchính là cuộc sống, là máu thịt, là tâm hồn em ở đó Bởi vì em lớn lên trênsông nước, và đó còn là nơi gửi gắm xương thịt của người mẹ thân yêu nữa.Những đứa trẻ mất mẹ như hai chị em Giang không những thiếu thốn đủ bề

Ngày đăng: 15/12/2015, 08:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Tâm An (2009), “Nguyễn Ngọc Tư của những cơn gió lẻ”, http://tuanvietnam.net Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Ngọc Tư của những cơn gió lẻ”
Tác giả: Tâm An
Năm: 2009
2. Lại Nguyên Ân (2004), 150 Thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 Thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc giaHà Nội
Năm: 2004
3. Lý Nguyên Anh (10/2006), “Bênh vực đạo văn - đạo đức hay văn hoá”, Văn nghệ Trẻ, (40) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bênh vực đạo văn - đạo đức hay văn hoá”,"Văn nghệ Trẻ
4. Hạ Anh (2006), “Đọc tạp văn Nguyễn Ngọc Tư quen mà lạ”, Thanh niên, ngày 19/11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc tạp văn Nguyễn Ngọc Tư quen mà lạ”, "Thanh niên
Tác giả: Hạ Anh
Năm: 2006
5. Thái Phan Vàng Anh (2008), “Ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Việt Nam đương đại”, Sông Hương, (237) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn ViệtNam đương đại”, "Sông Hương
Tác giả: Thái Phan Vàng Anh
Năm: 2008
6. Lê Duy Bắc (1998), “Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại”, Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại”
Tác giả: Lê Duy Bắc
Năm: 1998
7. M. Bakhtin (1992), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết (Phạm Vĩnh Cư dịch), Trường viết văn Nguyễn Du, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M. Bakhtin
Năm: 1992
8. Phan Quý Bích (2006), “Sức lôi cuốn của ngòi bút Nguyễn Ngọc Tư”, Văn nghệ Trẻ, (46) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sức lôi cuốn của ngòi bút Nguyễn Ngọc Tư”,"Văn nghệ Trẻ
Tác giả: Phan Quý Bích
Năm: 2006
9. Lê Phú Cường (2005), “Đọc tạp văn Trở gió của Nguyễn Ngọc Tư”, Thời báo Kinh tế Sài Sòn, ngày 4/11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc tạp văn "Trở gió" của Nguyễn Ngọc Tư”, "Thờibáo Kinh tế Sài Sòn
Tác giả: Lê Phú Cường
Năm: 2005
10. Phan Cự Đệ (2000), Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
11. Lam Điền (2005), “Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư: Đánh “ùm” một tiếng mà thôi!”, Tuổi trẻ, ngày 4/12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư: Đánh “ùm” một tiếng màthôi!”, "Tuổi trẻ
Tác giả: Lam Điền
Năm: 2005
12. Phong Điệp (2005), “Nguyễn Ngọc Tư: Tôi viết trong nỗi im lặng”, Văn nghệ Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Ngọc Tư: "Tôi viết trong nỗi im lặng"”
Tác giả: Phong Điệp
Năm: 2005
13. Nguyễn Đăng Điệp (11/2006) “Văn trẻ có gì mới?”, Sông Hương, (213) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn trẻ có gì mới?”, "Sông Hương
14. Võ Đắc Danh (2008), “Nguyễn Ngọc Tư - Tôi như kẻ đẽo cày giữa đường”, Người Đô Thị (35) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Ngọc Tư - Tôi như kẻ đẽo cày giữa đường”, "Người Đô Thị
Tác giả: Võ Đắc Danh
Năm: 2008
15. Trần Phỏng Diều (6/2006), “Thị hiếu thẩm mỹ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư”, Văn nghệ Quân đội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị hiếu thẩm mỹ trong truyện ngắn NguyễnNgọc Tư”
16. Hà Minh Đức (2003, chủ biên), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
17. Trần Hữu Dũng (2/2004), “Nguyễn Ngọc Tư - đặc sản Miền Nam”, Diễn Đàn, (137) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Ngọc Tư - đặc sản Miền Nam”, "DiễnĐàn
18. Trần Hữu Dũng (9/2005), “Về Cà Mau thăm Nguyễn Ngọc Tư”, Diễn Đàn, (154) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về Cà Mau thăm Nguyễn Ngọc Tư”, "DiễnĐàn
19. Đoàn Ánh Dương (2007), “Cánh đồng bất tận nhìn từ mô hình tự sự và ngôn ngữ trần thuật”, Nghiên cứu Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cánh đồng bất tận "nhìn từ mô hình tự sự vàngôn ngữ trần thuật”
Tác giả: Đoàn Ánh Dương
Năm: 2007
20. Lê Duy (4/2006), “Nói nhỏ cho Tư nghe”, Thời báo Kinh tế Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nói nhỏ cho Tư nghe”

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w