Tuy nhiên, lịch sử, văn hoá vùng đất giàu đẹp này vốn rất phong phú, do đó vẫn còn nhiều đề tài, vì lý do này hay lý do khác cha đợc quan tâm nghiên cứu khai thác hết, trong đó phải kể
Trang 13 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 7
4 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu 8
ơng 2 : Hoằng Hoá trong phong trào Cần Vơng chống Pháp 22
2.1 Vài nét về chiếu Cần Vơng và phong trào yêu nớc chống
Pháp ở Thanh Hoá từ cuối 1885 đến đầu 1886 222.2 Nghĩa quân Hoằng Hoá ra đời và phát triển 242.3 Một số trận đánh tiêu biểu của nghĩa quân Hoằng Hoá
2.3.1 Trận tham gia phối hợp đánh úp thành Thanh Hoá 28
2.3.2 Trận bao vây, tập kích huyện lỵ Bút Sơn 312.4 Hoằng Hoá với cuộc khởi nghĩa Ba Đình 36
2 4.1 Vài nét về cuộc khởi nghĩa Ba Đình 36 2.4.2 Vai trò của Hoằng Hoá trong cuộc khởi nghĩa Ba Đình 402.5 Những nhân vật tiêu biểu ở Hoằng Hoá tham gia phong trào
Trang 2Lời nói đầu
Hoằng Hoá là vùng đất "địa linh nhân kiệt", là cái nôi khoa bảng lừng danh của
xứ Thanh - nơi hội tụ nhiều truyền thống tốt đẹp của lịch sử dân tộc, trong đó có truyền thống yêu nớc và cách mạng Trong những năm vừa qua lịch sử và văn hoá vùng đất này luôn giành đợc sự quan tâm nghiên cứu của nhiều học giả, nhiều nhà khoa học tên tuổi vốn là những ngời con của quê hơng Hoằng Hoá Rất nhiều công trình nghiên cứu, nhiều
đầu sách có giá trị đã đợc xuất bản trong thời gian vừa qua và bớc đầu đã đợc d luận nhân dân trong và ngoài huyện đón nhận nồng nhiệt Tuy nhiên, lịch sử, văn hoá vùng
đất giàu đẹp này vốn rất phong phú, do đó vẫn còn nhiều đề tài, vì lý do này hay lý do khác cha đợc quan tâm nghiên cứu khai thác hết, trong đó phải kể đến một giai đoạn lịch
sử đầy sôi động và hào hùng của nhân dân Hoằng Hoá cuối thế kỷ XIX, đó là phong trào yêu nớc chống Pháp hởng ứng chiếu Cần Vơng.
Trớc thực tiễn trên, trong quá trình điền dã su tầm t liệu để hoàn thành khoá luận tốt nghiệp đại học, chúng tôi, cũng là một ngời con của quê hơng Hoằng Hoá anh hùng,
đã quyết định chọn đề tài: "Hoằng Hoá trong phong trào Cần V ơng chống Pháp" nh một nghĩa cử cao đẹp đối với mảnh đất đã sinh ra mình.
Trong quá trình tiến hành công trình này, bản thân chúng tôi đã nhận đợc sự giúp
đỡ to lớn và quý báu của các cơ quan, đơn vị sau: Phòng Địa chí - Th viện Thanh Hoá; Bảo tàng - Th viện huyện Hoằng Hoá, th viện Trờng Đại học Hồng Đức, Khoa Lịch sử - Trờng đại học Vinh, đặc biệt phải kế đển sự giúp đỡ quý báu, sự chỉ bảo tận tình chu đáo của thầy Phan Trọng Sung - giảng viên Khoa Lịch sử - Trờng Đại học Vinh, sự giúp đỡ, cung cấp về mặt t liệu của nhà giáo Lê Trung Tấn, nguyên chuyên viên Ban nghiên cứu
và biên soạn lịch sử tỉnh Thanh Hoá
Qua đây chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các cơ quan đơn vị, quý thầy cô đã quan tâm giúp đỡ để khoá luận này đợc hoàn thành
Thực hiện đề tài này, chúng tôi hy vọng rằng sẽ góp một phần nhỏ bé của mình vào việc biên soạn lịch sử Hoằng Hoá giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.
Do hạn chế về t liệu và thời gian, cũng nh do năng lực còn có hạn nên chắc chắn khoá luận của chúng tôi sẽ không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Sự góp ý chân thành của bạn bè, sự chỉ giáo của các thầy cô và các bậc cao niên tinh thông kinh sử sẽ là
động lực quan trọng giúp chúng tôi ngày càng hoàn thiện năng lực học tập và nghiên cứu khoa học của mình Chúng tôi luôn chờ đợi ý kiến đóng góp, định hớng của quý vị và các bạn.
Xin chân thành cảm ơn !
Tác giả.
Trang 3Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Phong trào Cần Vơng chống Pháp cuối thế kỷ XIX là một phong trào yêu nớc diễn ra sôi nổi, rầm rộ với quy mô rộng lớn Mặc dù phong trào bị thất bại nhng nó đợc coi là "chiếc cầu nối giữ vững sự liên tục trong cuộc đấu tranh vũ trang bảo vệ và khôi phục nền độc lập dân tộc trờng kỳ của nhân dân ta" [11; 152] Thất bại của phong trào cũng để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu cho các nhà yêu nớc cách mạng sau này
Là một địa phơng có vị trí chiến lợc quan trọng và truyền thống yêu nớc lâu đời, ngay từ những ngày đầu khi chiếu Cần Vơng đợc ban ra, nhân dân Hoằng Hoá đã sôi nổi hởng ứng tham gia và đã có những đóng góp quan trọng trong phong trào Cần Vơng ở Thanh Hoá cuối thế kỷ XIX Vậy phong trào ở Hoằng Hoá đã diễn ra nh thế nào, có những đặc điểm gì? Nên đánh giá vai trò
vị trí của phong trào này nh thế nào trong phong trào chung của tỉnh Thanh Hoá cho thoả đáng?
Chúng tôi thiết nghĩ: việc đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu phong trào yêu
n-ớc chống Pháp ở Hoằng Hoá cuối thế kỷ XIX không chỉ đa lại những đóng góp về lý luận khoa học mà còn có ý nghĩa thực tiễn to lớn Từ đó giúp chúng
ta có đợc cái nhìn toàn diện đầy đủ hơn về diện mạo của phong trào Cần Vơng trong cả nớc Những bài học lịch sử quý giá rút ra từ phong trào yêu nớc ở Hoằng Hoá trong giai đoạn lịch sử này không chỉ có ý nghĩa đối với phong trào yêu nớc của toàn tỉnh và cả nớc lúc bấy giờ mà đối với công cuộc bảo vệ quê hơng ngày nay nó vẫn còn có những giá trị nhất định
Sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Hoằng Hoá anh hùng giàu truyền thống yêu nớc và cách mạng, đồng thời lại là sinh viên ngành Lịch sử năm cuối, đối với tôi việc nghiên cứu - biên soạn lịch sử địa phơng là một công việc tuy có phần mới mẻ nhng rất hữu ích vì nó tập cho tôi làm quen với kinh nghiệm, ph-
Trang 4ơng pháp nghiên cứu lịch sử để tiến tới phục vụ cho việc nghiên cứu - biên soạn cũng nh giảng dạy lịch sử địa phơng sau này Từ kết quả nghiên cứu của
đề tài, chúng tôi cũng hy vọng sẽ góp một phần nhỏ bé của mình vào việc biên soạn lịch sử Hoằng Hoá giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Với ý nghĩa khoa học và thực tiễn nêu trên, chúng tôi chọn đề tài:
"Hoằng Hoá trong phong trào Cần Vơng chống Pháp" làm khoá luận tốt
nghiệp của mình
2 Lịch sử vấn đề
Phong trào Cần Vơng là một phong trào yêu nớc diễn ra trong một khoảng thời gian tơng đối dài (1885 - 1896) với quy mô rộng lớn nên từ trớc
đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu đợc công bố
Trớc tiên là các tác phẩm của thực dân Pháp nh: "Lịch sử quân sự Đông Dơng", các bài nghiên cứu của viên chỉ huy ngời Pháp trong công cuộc "bình
định" phong trào Cần Vơng Tiếp đó là các tác phẩm của Quốc sử quán triều Nguyễn, "Việt Nam sử lợc" của Trần Trọng Kim
Sau cách mạng tháng Tám 1945, đặc biệt sau 1954, hàng loạt các công trình nghiên cứu có đề cập đến phong trào Cần Vơng đã đợc công bố nh:
"Lịch sử 80 năm chống Pháp" của Trần Huy Liệu, Nxb Văn - Sử - Địa, HN, 1957; "Chống xâm lăng" của Trần Văn Giàu, Nxb Xây dựng, HN, 1957; "Lịch
sử Việt Nam (1858 đến cuối thế kỷ XIX)" của Hoàng Văn Lân - Ngô Thị Chính, QIII, tập 1, Nxb Giáo dục, HN, 1979; "Lịch sử Việt Nam", tập II của
UB KHXH do Nguyễn Khánh Toàn chủ biên, Nxb KHXH, HN, 1989
Các công trình nghiên cứu trên đều cố gắng tập trung làm sáng tỏ diễn biến chính, đặc điểm, tính chất, nguyên nhân thất bại, ý nghĩa lịch sử của phong trào Cần Vơng chống Pháp cuối thế kỷ XIX Một số công trình đó cũng
đã phần nào đề cập đến phong trào yêu nớc chống Pháp ở các địa phơng trong nớc, trong đó ít nhiều có phong trào ở Thanh Hoá và Hoằng Hoá
Trang 5Tại Thanh Hoá trong những năm gần đây, cũng nh nhiều địa phơng khác, việc nghiên cứu - biên soạn lịch sử địa phơng đã và đang đợc đẩy mạnh
và trở thành một nhu cầu thực sự quan trọng, có ý nghĩa giáo dục to lớn đợc nhiều cấp, nhiều ngành ở địa phơng quan tâm, chú ý Trên thực tế, trong những năm vừa qua Thanh Hoá đã có nhiều công trình nghiên cứu lịch sử có chất lợng cao nh "Địa chí Thanh Hoá", "Lịch sử Thanh Hóa", "Danh sỹ Thanh Hoá và việc học thời xa", "Lịch sử Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá"
Đối với huyện Hoằng Hoá nhiều công trình có chất lợng cao cũng đã và
đang đợc tiến hành biên soạn nh: "Lịch sử Đảng bộ Hoằng Hoá", 2 tập, "Địa chí văn hoá Hoằng Hoá", "Hoằng Hoá 20 năm xây dựng, đổi mới và phát triển" và sắp tới là "Lịch sử phong trào yêu nớc chống Pháp của nhân dân Hoằng Hoá cuối thế kỷ XIX" Một số làng xã của huyện cũng đã biên soạn lịch sử địa phơng mình nh: Lịch sử xã Hoằng Lộc, Hoằng Quang, Hoằng Tiến Lịch sử làng Hội Triều (Hoằng Phong), Nguyệt Viên (Hoằng Quang)
Về phong trào yêu nớc chống Pháp hởng ứng chiếu Cần Vơng của nhân dân Hoằng Hoá cho đến nay có đợc một số công trình nghiên cứu lịch sử đề cập đến Đặc biệt là những công trình, những bài nghiên cứu sau:
- "Nghĩa quân Hoằng Hoá với phong trào Cần Vơng và khởi nghĩa Ba
Đình" Báo cáo khoa học nhân kỷ niệm 100 năm khởi nghĩa Ba Đình - Tài liệu
đánh máy lu trữ tại th viện huyện Báo cáo này đã trình bày những nét cơ bản nhất về phong trào yêu nớc chống Pháp ở Hoằng Hoá cuối thế kỷ XIX (từ trang 4 đến trang 12)
- "Khởi nghĩa Ba Đình và phong trào yêu nớc kháng Pháp của nhân dân Thanh Hoá cuối thế kỷ XIX" - Nxb Thanh Hoá 1992 Tập kỷ yếu này đã chọn
đăng 3 bài về phong trào ở Hoằng Hoá (các trang từ 100 đến 109 và từ 118
đến 125)
Trang 6- "Địa chí văn hoá Hoằng Hoá", Ninh Viết Giao (chủ biên), Nxb KHXH, HN, 2000, cũng đã dành hẳn một mục: "Hoằng Hoá với phong trào Cần Vơng cứu nớc" từ trang 213 đến 224.
- "Phong trào yêu nớc chống Pháp của nhân dân Nông Cống cuối thế kỷ XIX (1885 - 1895)" - BNCLS Đảng Thanh Hoá, 1987 cũng đã đề cập đến vai trò và sự phối hợp của nghĩa quân Cần Vơng Hoằng Hoá trong phong trào Cần Vơng Thanh Hoá ở các trang 23, 69, 70
- "Từ Ba Đình đến Hùng Lĩnh" của Đinh Xuân Lâm, Trịnh Thu - Nxb Thanh Hoá 1985 cũng đề cập đến phong trào ở Hoằng Hoá và các lãnh tụ nghĩa quân của huyện (ở các trang 15, 19, 28, 38, 44, 111, 112, 113 )
- "Lịch sử Đảng bộ và phong trào cách mạng của nhân dân Hoằng Hoá" tập 1, Nxb Thanh Hoá, 1995 trong chơng 1, phần 2 đã dành 2 trang (20 và 21) nói về phong trào yêu nớc chống Pháp ở Hoằng Hoá
- "Võ tớng Thanh Hoá trong lịch sử" của Trần Văn Thịnh Nxb QĐND
1998 cũng dành 2 trang nói về Nguyễn Đôn Tiết và Cao Bá Điển
Nhìn chung các công trình nghiên cứu trên đây dù ít hay nhiều, trực tiếp hay gián tiếp đã đề cập đến nhiều khía cạnh của đề tài chúng tôi lựa chọn nghiên cứu Song cha có một công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống, nhiều vấn đề vẫn cha đợc làm sáng tỏ nh: cha trình bày, khôi phục lại một cách có hệ thống các sự kiện tiêu biểu, những diễn biến chính, cha thấy hết đ-
ợc vai trò vị trí cũng nh rút ra đợc những bài học kinh nghiệm cần thiết từ phong trào yêu nớc của nhân dân Hoằng Hoá cuối thế kỷ XIX Các công trình trên mới chỉ dừng lại ở các tài liệu do các nhà nghiên cứu lịch sử địa phơng
điền dã, su tầm và ghi chép giản lợc Một số khác cũng chỉ tồn tại dới dạng các báo cáo tham luận tại Hội thảo khoa học và hầu nh chỉ đợc quan tâm khi diễn ra các hoạt động kỷ niệm, ngày lễ
Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu đợc đề cập trên sẽ là cơ sở ban
đầu vô cùng quý giá, là nguồn t liệu bổ sung cần thiết để chúng tôi tiến hành
Trang 7nghiên cứu một cách sâu sắc và có hệ thống hơn, góp phần hoàn thành khoá luận tốt nghiệp của mình.
3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
a) Đối tợng nghiên cứu
Đối tợng của đề tài là phong trào yêu nớc chống Pháp của nhân dân Hoằng Hoá trong những năm từ giữa 1885 đến đầu 1887 Do đó chúng tôi chủ yếu đi sâu tìm hiểu, phân tích các vấn đề có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới đối tợng đã xác định trên
b) Phạm vi nghiên cứu
Đề tài đợc giới hạn trong thời gian từ tháng 7 năm 1885 đến đầu năm
1887 Tức là nghiên cứu phong trào yêu nớc của nhân dân Hoằng Hoá từ khi chiếu Cần Vơng đợc ban ra đến khi cuộc khởi nghĩa Ba Đình thất thủ Đây là phần trọng tâm của đề tài, tuy nhiên để trình bày một cách có hệ thống hơn, cũng nh để thấy đợc vai trò ví trí của phong trào yêu nớc chống Pháp của nhân dân Hoằng Hoá trong phong trào ở Thanh Hoá lúc bấy giờ, trong quá trình thực hiện đề tài chúng tôi cũng sẽ đề cập tới nhiều sự kiện trong phong trào Cần Vơng Thanh Hoá có liên quan đến Hoằng Hoá Bên cạnh đó, trớc khi nghiên cứu trực tiếp phần trọng tâm của đề tài chúng tôi thiết tởng cũng cần phải khái quát một số nét lớn về vị trí địa lý, truyền thống yêu nớc cũng nh tình hình Hoằng Hoá trớc khi có chiếu Cần Vơng Tuy nhiên, về cơ bản đề tài
đợc xác định trong một khoảng không gian xác định là huyện Hoằng Hoá
Việc giới hạn đề tài trong phạm vi hẹp nh vậy sẽ giúp chúng tôi có điều kiện nghiên cứu một cách sâu hơn, nhằm rút ra một số nhận xét, đánh giá xác
đáng về phong trào yêu nớc chống Pháp của nhân dân Hoằng Hoá cuối thế kỷ XIX Đây chính là mục đích cuối cùng mà đề tài cần đạt đến
4 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu
Trang 8Nguồn t liệu thứ nhất phải kể đến là các tài liệu do Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Đảng Thanh Hoá tổ chức biên soạn nh:
- "Khởi nghĩa Ba Đình và phong trào yêu nớc kháng Pháp của nhân dân Thanh Hoá cuối thế kỷ XIX", 1992
- "Niên biểu lịch sử Thanh Hoá", 1998
- "Phong trào yêu nớc chống Pháp của nhân dân Nông Cống cuối thế kỷ XIX (1885 - 1895)"
Thứ hai là các nguồn sử liệu của các nhà sử học nghiên cứu về lịch sử Thanh Hoá nh: "Từ Ba Đình đến Hùng Lĩnh" 1997 của Đinh Xuân Lâm và Trịnh Nhu; "Võ tớng Thanh Hoá trong lịch sử", 1998 của Trần Văn Thịnh;
"Thanh Hoá trong tay bạn", 1997 của Phan Bảo và Nguyễn Hữu Chúc
Thứ ba là các nguồn t liệu lịch sử dân tộc có tính chất tham khảo hoặc ít nhiều có liên quan đến đề tài nh: "Lịch sử 80 năm chống Pháp", 1957 của Trần Huy Liệu; "Chống xâm lăng", 1957, QIII của Trần Văn Giàu, "Lịch sử Việt Nam (1858 - cuối thế kỷ XIX)", 1979, QIII của Hoàng Văn Lân, Ngô Thị Chính; "Tên làng xã Việt Nam đều thế kỷ XX" của tác giả Dơng Thị The - Phạm Thị Hoa dịch và biên soạn
Tuy nhiên đây là đề tài lịch sử riêng về Hoằng Hoá nên chúng tôi chủ yếu su tầm các t liệu do chính địa phơng Hoằng Hoá tổ chức biên soạn hoặc s-
u tập đợc có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến đề tài nh:
Trang 9- "Nghĩa quân Hoằng Hoá với phong trào Cần Vơng và khởi nghĩa Ba
Đình Thanh Hoá (1886 - 1887), 1986, Báo cáo tham luận tại Hội thảo khoa học kỷ niệm 100 năm khởi nghĩa Ba Đình của Huyện uỷ - UBND Huyện Hoằng Hoá
- "Địa chí văn hoá Hoằng Hoá", 2000, Ninh Viết Giao chủ biên, Nxb KHXH, HN
- "Lịch sử Đảng bộ và phong trào cách mạng của nhân dân Hoằng Hoá,
b) Phơng pháp nghiên cứu
Nguồn sử liệu thực hiện đề tài này không nhiều, hơn nữa đó hầu hết là những công trình đợc thực hiện cách đây từ 10 đến 15 năm về trớc, nhiều quan
điểm, sự kiện cha tiếp cận đợc với những thành tựu mới của khoa học lịch sử
Do vậy việc lựa chọn phơng pháp nghiên cứu là một vấn đề hết sức quan trọng quyết định đến kết quả cuối cùng của khoá luận Vì thế khi nghiên cứu đề tài này, chúng tôi đã lựa chọn phơng pháp lịch sử và phơng pháp lôgic, phơng pháp so sánh, xác minh phê phán t liệu lịch sử và phơng pháp điền dã su tầm lịch sử địa phơng
Trên cơ sở của những t liệu thu thập đợc, đặc biệt là các t liệu có liên quan đến đề tài, công việc của chúng tôi hoàn toàn không phải là lắp ghép, sao
Trang 10chúng tôi suy ngẫm, phân tích, khái quát bằng "ngôn ngữ lịch sử" của bản thân nhằm biến thành cái riêng của mình Các tài liệu đó chỉ là cơ sở để thực hiện đề tài này.
5 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, nội dung chính của khoá luận đợc trình bày trong 2 chơng nh sau:
Trang 11Nội dung
Chơng 1 Hoằng Hoá - vị trí địa lý và truyền thống yêu nớc.
1.1 Vị trí địa lý
Hoằng Hoá là mảnh đất gắn bó hữu cơ với tỉnh Thanh Hoá, một tỉnh mà
"không một đờng qua lối lại nào của nó không vang lên tiếng va chạm của giáo gơm thuở trớc" [14, 2] Nằm ở phía Đông của xứ Thanh, thuộc hạ lu của sông Mã, Hoằng Hoá là một huyện ven biển, phía Đông giáp biển, phía Tây giáp các huyện Thiệu Hoá, Vĩnh Lộc, phía Bắc giáp huyện Hậu Lộc, phía Nam giáp huyện Quảng Xơng, phía Tây Nam giáp thành phố Thanh Hoá và một phần huyện Đông Sơn
Xét theo vĩ độ và kinh độ trên mặt địa cầu thì "Hoằng Hoá ở vĩ tuyến
19050'50'' Bắc ở Lạch Trào đến 19030'30'' vĩ độ Bắc ở núi Sơn Trang và từ kinh
độ 105059'50'' ở ngã ba Bông đến 105059'30'' ở lạch Trờng" [9, 15]
Quan sát địa hình Hoằng Hoá chúng ta thấy: trừ phía Đông là biển còn lại ba phía đều có sông Mã bao bọc Đây là vùng châu thổ đợc bồi đắp trên nền đất cũ do hiện tợng biển lùi và sự lắng đọng của phù sa sông Mã, sông Chu Nhìn chung có thể chia mảnh đất Hoằng Hoá thành hai vùng chính:
Vùng ven biển: bờ biển Hoằng Hoá kéo dài từ cửa Lạch Trờng đến cửa Lạch Trào dài 12km "Thanh Hoá có nhiều cửa biển nhng chỉ có hai cửa Hội Triều (Lạch Triều) và Y Bích (Lạch Trờng) nếu có việc cầu kíp thì hai huyện Hoằng Hoá và Hậu Lộc giữ vị trí xung yếu" [2, 8] Các xã ven biển gồm 8 xã thuộc tổng Ngọc Chuế cũ (Hoằng Yến, Hoằng Tiến, Hoằng Hải, Hoằng Tr-ờng, Hoằng Đông, Hoằng Thanh, Hoằng Ngọc, Hoằng Phụ) Đây là một dải
Trang 12đất khá cát rộng, hẹp không đều, độ màu mỡ cũng không đều đợc hình thành bởi các dòng hải lu xuôi ngợc dọc bờ biển
Vùng đồng bằng: bao gồm tất cả các xã còn lại thuộc 7 tổng trớc đây (Từ Minh, Bái Trạch, Hành Vĩ, Bút Sơn, Dơng Thuỷ, Dơng Sơn, Lỗ Hơng) Những giải thích về vùng biển Hoằng Hoá có thể cắt nghĩa cho cả địa bàn toàn huyện Bởi lẽ nhiều xã trớc đây là biển nh xã Hoằng Phong, Hoằng Thắng, khi biển rút đi cùng với quá trình lịch sử địa lý, đến một thời gian nào
đó hình thành vùng đồng bằng trũng mà hễ có ma to nếu không có đê là ngập nớc Vùng đất cao cũng có nhng rất ít, chỉ có mấy làng ven núi Sơn Trang (xã Hoằng Khánh), một số làng ở Hoằng Trung
Tóm lại bộ mặt địa hình Hoằng Hoá bằng phẳng, phì nhiêu, bộ mặt địa hình ấy không phải chỉ do thiên nhiên tạo ra mà phần lớn cảnh quan của đồng bằng, độ màu mỡ của đồng bằng, sự sầm uất, trù mật của xóm làng còn mang dấu vết của bàn tay, trí não của con ngời Hoằng Hoá trong chiều dài lịch sử tạo nên một vùng quê giàu đẹp rất đỗi tự hào
Địa hình Hoằng Hoá nh đã nói trên nhìn chung là bằng phẳng Nhng nơi đây không chỉ có những cánh đồng bao la, những bãi biển cát trắng chạy dài mà còn có những ngọn núi xen kẽ nh núi Kim Trà (Sơn Trang hay Nghĩa Trang) thuộc xã Hoằng Khánh, núi Linh Trờng (Kim Chuế, Trờng Lệ, Lạch Trờng hay núi Hà Rò) nằm ở ba xã Hoằng Yến, Hoằng Hải, Hoằng Trờng; núi Băng Sơn (Mộc Sơn, núi Bng) thuộc xã Hoằng Sơn; núi Ngọc Hàm Rồng (núi Nít) thuộc xã Hoằng Long Mỗi vùng là mỗi thắng cảnh gắn với bao kỳ tích chiến đấu và xây dựng của tiền nhân nên núi nào cũng tiềm ẩn những nét tinh hoa, khát vọng, nỗi niềm của con ngời Hoằng Hoá, vẻ đẹp, đức cần cù, trí tuệ thông minh của nhân dân Hoằng Hoá Một số ngọn núi có vị trí đặc biệt quan trọng nh núi Kim Trà, núi Trờng, núi Ngọc Dãy Kim Trà ở phía phía Bắc làm ranh giới với Vĩnh Lộc, Hà Trung sẽ án ngữ các đợt gió mùa Đông Bắc vào mùa đông Còn dãy Linh Trờng nằm ở phía Đông có đỉnh cao nhất là 205m,
Trang 13có mỏm đá ăn ra biển nh mũi hài sẽ ngăn chặn xu hớng dịch chuyển của Lạch Trờng về phía Nam giữ thế ổn định lâu dài cho bờ biển Hoằng Hoá Các núi thấp và nhỏ điểm xuyết cho Hoằng Hoá trù mật trữ tình, phối hợp với dòng sông Mã bao bọc cùng hệ thống sông ngòi chảy ngang dọc nh sông Cung nối liền cửa biển Lạch Trờng và Lạch Trào Sông Tuần chảy giữa huyện nối thành mạng lới giao thông đờng thuỷ lên rừng, xuống biển dễ dàng.
Hoằng Hoá nằm ở trong khu vực nhiệt đới gió mùa nhng lại ở vùng biển nên hàng năm nhận đợc ba luồng gió chính: Gió mùa Đông Bắc, gió mùa Tây Nam và gió Đông Nam Cũng nh toàn tỉnh Thanh Hoá thời tiết Hoằng Hoá chia làm hai mùa rõ rệt: mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 10, nhiệt độ trung bình là 280C, có khi đến 400C, giông bão thờng xuyên xảy ra Mùa lạnh từ tháng 1 đến tháng 4 năm sau, có nhiệt độ trung bình là 200C, có khi giảm xuống 100C, khí hậu khô lạnh, có sơng mù
Với vị trí địa lý tự nhiên nh trên, Hoằng Hoá là huyện vừa có đờng biển, đờng sông, đờng bộ thuận lợi cho phát triển giao lu kinh tế, văn hoá với các huyện, các vùng xung quanh, đặc biệt là tuyến giao thông quan trọng: đ-ờng thiên lý Bắc vào Nam (ngày xa) và tuyến quốc lộ 1A song song với đờng sắt thống nhất chạy dài 9km từ Nghĩa Trang đến Hàm Rồng, hơn 30km đờng sông của các sông Mã, sông Bút, sông Cung
Tuy nhiên điều kiện địa lý nói trên cũng đa lại cho c dân Hoằng Hoá không ít khó khăn, nhất là khó khăn trong sản xuất nông nghiệp nh lũ lụt, hạn hán gây ảnh hởng tới mùa màng, làm h hỏng các công trình xây dựng khiến cho ngời dân nơi đây trong suốt quá trình lịch sử luôn vật lộn với điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt để sinh tồn
Về mặt địa lý hành chính, từ thời Hùng Vơng đến nay, Hoằng Hoá trải qua nhiều lần tên gọi đơn vị hành chính nh:
Thời Văn Lang - Âu Lạc, Hoằng Hoá thuộc bộ Cửu Châu, một trong 15
bộ của nớc ta lúc bấy giờ Sang thời Bắc thuộc, cũng nh nhiều địa danh khác,
Trang 14Hoằng Hoá bị phong kiến Trung Hoa đô hộ Trải hơn 1000 năm thống trị, chính quyền đô hộ đã nhiều lần thay đổi tên gọi đơn vị hành chính nh: thời thuộc Hán, đất đai Hoằng Hoá thuộc quận T Phố, đời Tam Quốc, Lữ Tấn là
đất huyện Kiến Sơ và Cao Ban Thời Nam Bắc triều sang thời Tuỳ đổi tên là Long An Đời thuộc Đờng đổi Long An thành Sung An (712), sau thành Sùng Bình
Vào năm 938 với chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Quyền đa đất những
ta giành lại độc lập tự chủ lâu dài Tiếp theo các nhà nớc Ngô - Đinh - Tiền Lê tìm cách bãi bỏ hẳn các tên gọi đơn vị hành chính cũ cũng nh chế độ quận huyện thời Bắc thuộc, chia nớc ta thành các đạo, phủ, trấn
Từ thế kỷ thứ X - XV, Hoằng Hoá thuộc đất hai huyện Cổ Đằng (Bắc Hoằng Hoá ngày nay) và Cổ Hoằng (Nam Hoằng Hoá) [1, 29]
Theo tác giả Đào Duy Anh trong cuốn "Đất nớc Việt Nam qua các đời" thì ở thế kỷ XV Thanh Hoá thuộc đạo Hải Tây, huyện Cổ Đằng đổi thành huyện Hoằng Hoá [1, 469] Cái tên Hoằng Hoá chính thức có từ đó
Riêng huyện Mỹ Hoá, sách Đại Nam nhất thống chí chép: "Năm Minh Mệnh thứ 19 (1838) lấy tổng Đại Lý, huyện Hậu Lộc, hai tổng Lỗ Hơng và D-
ơng Sơn huyện Hoằng Hoá và 3 xã thôn Bái Xuyên, Hà Thuỷ và Trung Tiết tổng Bút Sơn đặt làm huyện này" [9, 13] Đến năm 1924 bỏ huyện Mỹ Hoá, trả tổng Đại Lý cho Hậu Lộc, nhập 3 tổng còn lại vào huyện Hoằng Hoá
Hoằng Hoá theo "tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XX" có 7 tổng, 161 xã, thôn, trang, sở, đến 1948 có 8 tổng, 169 xã, thôn
Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, theo quy định của chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hoà, các phủ, huyện, châu đều gọi là huyện Các huyện chỉ điều chỉnh lại một số phần đất riêng Hoằng Hoá vẫn đủ 8 tổng và nhập thêm một làng của huyện Hậu Lộc là làng Trung Hoá nay là xã Hoằng Trinh Hiện nay Hoằng Hoá có 47 xã, thị trấn huyện lỵ là Bút Sơn
Trang 15Nh vậy mặc dù tên gọi và một số phần đất có sự chuyển dịch qua các thời kỳ nhng nhìn chung Hoằng Hoá vẫn luôn là địa bàn ổn định và phát triển liên tục qua các thời kỳ lịch sử.
1.2 Truyền thống yêu nớc
Gắn bó máu thịt với xứ Thanh, với Tổ quốc Việt Nam, Hoằng Hoá là nơi hội tụ nhiều truyền thống tốt đẹp của dân tộc nh: truyền thống tự lực tự c-ờng, sáng tạo, hiếu học đặc biệt là truyền thống yêu nớc rất đáng tự hào
Nằm ở phía Đông Bắc xứ Thanh, Hoằng Hoá có địa bàn chiến lợc hết sức quan trọng trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc Tại Hoằng Hoá trong lịch sử hàng nghìn năm giữ nớc của cha ông đã nhiều phen
"vang lên tiếng va chạm của giáo gơm thuở trớc"
Trong hơn 1000 năm Bắc thuộc, cùng với nhân dân Thanh Hoá và cả
n-ớc, nhân dân Hoằng Hoá không ngừng vơn lên kiên trì đấu tranh chống lại âm
mu đồng hoá của kẻ thù Điều đó đã tạo ra cho Hoằng Hoá một sắc thái riêng biệt, một truyền thống yêu nớc kiên cờng, là cơ sở cho các phong trào yêu nớc sau này
Ngay từ cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trng vào mùa xuân năm 40 bùng
nổ ở quận Giao Chỉ, nghĩa quân Hoằng Hoá đã có mặt ở trung tâm ban đầu của cuộc khởi nghĩa Thần tích làng Phú Hạng xã Tân Phú, huyện Quốc Oai tỉnh Hà Tây ghi rõ: "Ông Nguyễn Viên ở Hoằng Hoá giữ chức trởng doanh ở
Cổ Châu, lấy bà Trần Thị Lâm sinh đợc ả Lã sau đổi thành nàng Đê và ngời con trai tên là chàng Quốc Đến tuổi trởng thành ả Lã và chàng Quốc theo Hai Bà Trng khởi nghĩa và mất tại Cấm Khê Hình ảnh chị em ả Lã còn ăn sâu trong tâm khảm của nhân dân các vùng Hoài Đức (Hà Tây) và Gia Lơng (Hà Bắc)" [9, 183]
Trang 16Thời thuộc Ngô vào năm 248, khi Triệu Trinh Nơng dẫy binh khởi nghĩa thì tại ngã ba sông Tuần (xã Hoằng Lý ngày nay) đã có đồn tiền tiêu của
Bà Triệu và quân của bà còn đóng ở bãi "Cồn Binh" ở Hoằng Giang và "Bãi Binh" ở Lộc Bồi - Hoằng Hợp Nhân dân nhiều nơi ở Hoằng Hoá cũng đã gia nhập vào đội quân khởi nghĩa của Bà Triệu Đến nay vẫn còn câu thơ lu truyền
ở Quỳ Chữ (xã Hoằng Quỳ) nh :
"Phờng ta, phờng tổ, tổ tiênNuôi quân Bà Triệu đã quen từng ngàyVoi ngựa trú ở mã này
Mỗi khi xung trận đánh dày quân Ngô"
[2, 19]
Năm 542, Lý Bý dựng cờ khởi nghĩa đuổi quân Lơng, nhân dân Hoằng Hoá đã góp phần xứng đáng vào cuộc khởi nghĩa này Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa đã đem đến cho nhân dân Hoằng Hoá những giây phút thanh bình của nhà nớc Vạn Xuân Nhiều danh tớng của cuộc khởi nghĩa Lý Bý nh Lý Thiên Bảo, Triệu Quang Phục đã đợc nhân dân Hoằng Hoá lập đền thờ để ghi nhớ công lao đánh giặc ở Hoằng Thành và Hoằng Phợng (ngày nay)
Trên dọc sông Tuần, sông Mã nhân dân vùng ven cũng đã đem thuyền chiến ủng hộ quân Ngô Quyền từ ái Châu qua đây đi đánh giặc Nam Hán tại sông Bạch Đằng
Dới thời phong kiến, Hoằng Hoá là địa bàn chiến lợc quan trọng đợc nhiều triều đại chú ý tới
ở thời Lý (1010 - 1225), trong nhiều lần cất quân đánh Chiêm Thành, các vua nhà Lý đã dừng lại ở Hoằng Hoá để tuyển thêm quân đánh giặc (1031,
1035, 1044) Bấy giờ Hoằng Hoá có nhiều tớng giỏi nh Lê Phụng Hiểu (xã Hoằng Sơn) đợc vua Lý Thái Tổ phong làm vũ vệ tớng quân Khi Thái Tổ qua
đời, các vơng gây biến, ông đã đánh dẹp đa Thái Tông lên ngôi, giữ yên triều
Lý Ông còn có công lớn lao trong việc dẹp giặc Chiêm Thành giữ yên bờ cõi
Trang 17phía Nam Danh tớng Nguyễn Tuyên (xã Hoằng Lộc) cũng có nhiều công lớn dới triều Lý, khi mất đợc phong làm phúc thần, đợc lập đền thờ tại quê hơng
Những năm kháng chiến chống quân Nguyên Mông và bọn giặc phơng Nam ở đời Trần, cửa Lạch Trờng là nơi đọ sức quyết liệt giữa quân triều đình với quân địch Nhiều làng xã quanh vùng đã nhanh chóng đóng bè mảnh, chặt cây vót nhọn để ủng hộ binh lính nhà vua Hoằng Hoá cũng đóng góp nhiều danh tớng giỏi cho cuộc kháng chiến chống Mông Nguyên nh Nguyễn Công
Đàn (xã Hoằng Thịnh) lập công lớn đợc nhà vua phong tới chức Phụ ký lang hầu đô tổng thống, khi mất đợc phong làm phúc thần, đền thờ hiện nay còn ở làng Đoan Vĩ (Hoằng Thịnh) Danh tớng Hoàng Phụng Thế có công bắt sống bọn phản loạn Phạm S Ôn, chiếm giữ Thăng Long, giúp nhà Trần thoát khỏi
sự xâm lợc của Chiêm Thành
Dới thời thuộc Minh, có lần nghĩa quân Lam Sơn vợt qua sông Mã ở Cổ
Đằng, Lê Lợi đã đợc nhân dân nhiều nơi giúp đỡ Về sau có ngời nh bà Hà Thị Cai ở Nghĩa Hng (xã Hoằng Xuân) đợc vua Lê ghi công lập đền thờ tởng niệm tại quê nhà gọi là đền Quốc Mẫu Hoặc có ngời đã trở thành danh tớng khai quốc công thần của nhà Lê nh: Lê Viện (Hoằng Thành) từng chỉ huy đánh thắng các trận Tuy Động, Chúc Động bao vây thành Đông Quan và hy sinh anh dũng (1426) Khi đất nớc thái bình đợc vua Lê Thái Tổ ban là "Hoàng Triều trận vong, " khen là "hết lòng tiết tháo" và truy tặng chức "Lê triều quận công"
Cuối năm Mậu Thân (1788), Quang Trung mang đại binh ra Bắc diệt giặc Thanh thì nhân dân vùng bến đò Đồng Lộng (xã Hoằng Tân) đã mang thuyền bè chở nghĩa quân vợt qua sông nhanh chóng
Kế tục và thừa hởng truyền thống vẻ vang đó, nửa sau thế kỷ XIX khi thực dân Pháp xâm lợc nớc ta, triều đình nhà Nguyễn đại diện cho thế lực phong kiến thối nát phản động, đầu hàng dâng nớc ta cho Pháp Không cam chịu làm nô lệ nhân dân nhiều nơi đã đứng lên chống thực dân Pháp xâm lợc
Trang 18Trong phong trào yêu nớc chống Pháp cuối thế kỷ XIX ở Thanh Hoá nhân dân Hoằng Hoá đã anh dũng đứng lên ngay từ những ngày đầu thực dân Pháp đặt chân lên đất Thanh Hoá, góp phần cùng nhân dân cả tỉnh làm nên phong trào Cần Vơng sôi nổi và rầm rộ cuối thế kỷ XIX.
1.3 Vài nét về phong trào yêu nớc ở Hoằng Hoá trong những năm từ 1858 đến 1884.
Nhân dân Hoằng Hoá vốn có truyền thống yêu nớc nên ngay từ giữa thế
kỷ XIX, khi thực dân Pháp đặt chân lên nớc ta, không khí chống Pháp đã dấy nên sôi nổi ở khắp nơi trong huyện, đặc biệt khi Pháp đánh chiếm Bắc Kỳ lần thứ nhất (1873) và lần thứ hai (1882), cùng với thái độ nhu nhợc đầu hàng của nhà Nguyễn, cũng nh nhiều nơi trong nớc, nhân dân các xã, thôn ở Hoằng Hoá sôi sục căm thù, tiêu biểu là trong giới nho sỹ
Là vùng đất khoa bảng danh tiếng của xứ Thanh nên lúc bấy giờ ở Hoằng Hoá có rất nhiều trờng t thục do các nhà khoa bảng địa phơng mở để dạy học: trờng Yên Vực của tú tài Nguyễn Nh Cơ, trờng Phù Quang của đốc học Lê Quýnh, trờng Bái Xuyên của tú tài Nguyễn Duy Tân, trờng Cự
Đà của cử nhân Nguyễn Đình Văn, trờng Nghi Am của cử nhân Nhữ Bá Sỹ, ờng Kim Đính của Nguyễn Đôn Tiết Tại những ngôi trờng này nếu nh trớc
tr-đây chỉ có các cuộc bình văn, đối thơ thì đến giai đoạn này đã trở thành nơi tập hợp nho sĩ trong huyện để bàn bạc về quốc sự Kể cả khi bình văn "ngời ta bàn nhiều đến binh th mà lớt qua phần kinh truyện" [3, 119] Vấn đề đợc tranh cãi bàn bạc nhiều nhất chủ yếu xoay quanh chủ trơng "hoà hay chiến với giặc Tây Dơng" [3, 119] Là những ngời đợc sinh ra từ cái nôi của truyền thống yêu nớc nên nho sỹ Hoằng Hoá luôn tỏ rõ khí tiết thanh cao, chính trực của mình và phần đông trong số họ đều chủ trơng đánh đuổi thực dân Pháp bảo vệ quê hơng đất nớc
Trang 19Trong số nho sĩ Hoằng Hoá đơng thời có một số là những nhà khoa bảng đỗ đạt cao từng ra làm quan thời Minh Mệnh, Tự Đức, còn lại là những nhà khoa mục ở hơng thôn Trớc sự xâm lợc của thực dân Pháp, đợc phong trào yêu nớc của nhân dân cổ vũ, số đông trong hàng ngũ quan lại Hoằng Hoá
đã biểu thị thái độ bất hợp tác với bè lũ thực dân phong kiến Họ vứt bỏ chức tớc, bổng lộc, thành quả của hàng mấy chục năm lều chõng, dùi mài kinh sử
để trở về quê hơng đem những hiểu biết của mình nhằm mu việc đánh giặc cứu nớc, cứu dân
Nhữ Bá Sỹ (1788 - 1867) từng là đốc học Thanh Hoá dới triều Tự Đức nhng chán nản công danh, ông đã cáo quan về quê dạy học Trờng Cát Xuyên (Nghi Am) của thầy Nhữ Bá Sỹ tập hợp đông đảo các nho sinh trong và ngoài huyện và trở thành nơi bàn bạc quốc sự nhiều nhất lúc bấy giờ Khi Pháp xâm lợc nớc ta Nhữ Bá Sỹ đã nhiều lần dâng sớ đề nghị đánh Pháp "Sớ của ông dài mấy vạn chữ, lời lẽ thống thiết có đủ mu thuật" [9, 283]
Năm 1865, khi đã 78 tuổi ông còn đi võng vào Nghệ An mu việc chống Pháp với văn thân tỉnh bạn Về quê hơng đang lo chuẩn bị đề phòng Pháp đến thì ông ốm nặng rồi mất Theo gơng ông các nho sỹ Hoằng Hoá và các nơi khác là học trò của ông đã tham gia và có vai trò quan trọng trong phong trào Cần Vơng chống Pháp sau này Tiêu biểu là Phạm Bành vừa là học trò vừa là con rể ông
Nguyễn Đôn Tiết (1836 - 1886) : Ông từng đỗ phó Bảng (1879) và làm tri huyện Đức Thọ (Hà Tĩnh) nhng khi Pháp đánh chiếm Bắc Kỳ lần hai (1882), ông đã cáo quan về quê liên hệ với văn thân tỉnh nhà cùng chí hớng để bàn kế sách đánh giặc khi chúng đặt chân lên quê hơng
Từ năm 1882 - 1884 ông đã đi khắp các vùng từ miền xuôi đến miền núi liên hệ gặp gỡ với hầu hết các văn thân sĩ phu và những ngời yêu nớc trong tỉnh đề bàn kế sách chống Pháp Ông đã trực tiếp gặp Tống Duy Tân ở Vĩnh Lộc, gặp Hà Văn Mao và Cầm Bá Thớc ở miền Tây Thanh Hoá, gặp Nguyễn
Trang 20Phơng ở Tĩnh Gia, Lê Khắc Tháo ở Đông Sơn Sau những cuộc gặp gỡ này, Nguyễn Đôn Tiết đã về quê tập hợp lực lợng chờ thời nổi dậy ứng nghĩa Với
uy tín của một vị đại khoa, ông đã nhanh chóng nhận đợc sự ủng hộ của văn thân sĩ phu và nhân dân huyện nhà, từ đó một phong trào yêu nớc chống Pháp của nhân dân Hoằng Hoá do ông làm chủ suý ngày một phát triển và đã gây đ-
ợc tiếng vang lớn trong những ngày đầu hởng ứng chiếu Cần Vơng
Bên cạnh các nhà khoa bảng đỗ đạt cao, ở Hoằng Hoá lúc bấy giờ còn
có các nhà khoa mục ở hơng thôn với khoảng "30 ngời" [3, 100], phần lớn là
tú tài ở các làng tổng Họ sống gần gũi nhân dân nên tiếp thu đợc sức mạnh và lòng yêu nớc của nhân dân một cách sâu sắc, sinh động Trên cơ sở ấy một khi
có giặc ngoại xâm kéo đến họ sẽ nhanh chóng tập hợp đợc nhân dân đứng lên cứu nớc Đó là những yếu tố đầu tiên trong việc tập hợp lực lợng ở cơ sở làm cho phong trào Cần Vơng ở Hoằng Hoá sớm đợc phát động và tổ chức
Khi đề cập đến tình hình ở Hoằng Hoá giai đoạn này cũng cần phải thấy
rõ vai trò của một lực lợng quan trọng sau này đóng góp vào các nghĩa quân Cần Vơng đó là những hơng binh - đội quân bán vũ trang ở nông thôn đợc lập
ra thời Tự Đức để "phòng bị khi quốc gia có việc" Tuy là những hơng binh phải làm việc theo nhiệm vụ của triều đình phong kiến nhng trên thực tế họ cũng là những nông dân nghèo khổ nên có tinh thần đấu tranh anh dũng và hăng hái chiến đấu cho chính nghĩa
Nh vậy, trớc khi có chiếu Cần Vơng tại Hoằng Hoá, từ văn thân sĩ phu cho đến mọi tầng lớp nhân dân đều đã thể hiện lòng căm thù giặc sâu sắc và luôn sẵn sàng t thế đứng lên chống lại kẻ thù khi chúng đặt chân lên mảnh đất quê hơng Ngày kinh thành Huế thất thủ, trong nhân dân Hoằng Hoá đã lu truyền những câu ca dao cổ vũ nh:
" Quân dân luyện tập binh đaoCàng ngày càng tiến mãi vào kinh đô"
Trang 21[3, 101]
Có thể nói, truyền thống yêu nớc bất khuất chống ngoại xâm của dân tộc, của quê hơng xứ sở và sự nhận thức sâu sắc nhạy bén về nghĩa vụ của mối ngời dân mất nớc là yếu tố t tởng quan trọng làm tiền đề cho phong trào nghĩa quân Hoằng Hoá ra đời, phát triển nhanh chóng khi chiếu Cần Vơng đợc ban
ra (7/1885)
Trang 22Sau gần 30 năm đánh chiếm, bằng chiến lợc lấn dần từng bớc cộng với
sự lừng chừng, thiếu quyết đoán, lúng túng rồi đi đến đầu hàng của triều Nguyễn, thực dân Pháp đã chiếm trọn nớc ta thông qua các điều ớc 1883 và 1884
Sau khi nhà Nguyễn đầu hàng, ngay tại triều đình, một nhóm quan lại yêu nớc tập hợp xung quanh Tôn Thất Thuyết vẫn bí mật chuẩn bị lực lợng để hành động khi thời cơ đến "Đêm 4 rạng sáng ngày mồng 5 tháng 7 năm 1885 (đêm 22 rạng sáng 23 tháng 5 năm ất Dậu), thừa lúc giặc Pháp có phần sơ hở,
ông đã hạ lệnh cho quân lính bất ngờ nổ súng tấn công kinh thành Huế" [10,
Trang 239] Nhng do sự chuẩn bị còn thiếu sót, giặc Pháp lại có u thế rõ rệt về vũ khí nên cuộc phản công đã không thành.
Trớc tình hình kinh thành Huế thất thủ, Tôn Thất Thuyết đã phải đa vua Hàm Nghi chạy ra phía Bắc để tính chuyện tiếp tục kháng chiến lâu dài Tại miền Tây Quảng Trị, Hàm Nghi đã hai lần xuống chiếu Cần Vơng (lần thứ nhất vào ngày 13/7, lần thứ hai tại Hà Tĩnh vào ngày 19/9/1885) kêu gọi văn thân sĩ phu và nhân dân cả nớc đứng lên chống Pháp
Thanh Hoá là một địa danh mà "không một đờng qua lối lại nào của nó không vang lên tiếng va chạm của giáo gơm thuở trớc" Vị trí chiến lợc của xứ Thanh còn đợc ghi nhận: "Bờ cõi tỉnh Thanh Hoá bốn phía cao sâu, mà đờng thuỷ đờng bộ thông đến 8 cõi trùng hiểm bao bọc phía ngoài, còn phía trong thì bằng phẳng rộng rãi Thiệt là chỗ làm cuống họng cho các tỉnh Bắc Kỳ hiện nay, mà tỉnh Thanh Hoá là nơi hình mạnh hớng vào, thế lớn nhóm lên vậy" [14, 15] Ngay cả khi ra chiếu Cần Vơng lần thứ hai, vua Hàm Nghi cũng
đã từng chỉ thị cho quan lại, binh sĩ và dân chúng: "Khi nào trừ khử đợc chúng (chỉ giặc Pháp) thì đến gặp trẫm Trẫm sẽ đóng đô tại Thanh Hoá Đây là một
địa điểm quý" [10, 12]
Với vị trí chiến lợc và bề dày truyền thống yêu nớc nh vậy nên từ những ngày đầu khi chiếu Cần Vơng đợc ban ra, nhân dân Thanh Hoá đã sôi nổi h-ởng ứng và đã có những đóng góp to lớn tô thắm thêm truyền thống chống ngoại xâm oai hùng của dân tộc
Ngay sau khi tiếp nhận chiếu Cần Vơng, dới sự lãnh đạo của các văn thân sĩ phu yêu nớc, nhân dân các địa phơng đã hăng hái đứng dậy tập hợp đội ngũ, tổ chức lực lợng sẵn sàng tiêu diệt giặc khi chúng xâm lợc quê hơng Trên phạm vi toàn tỉnh, từ miền biển lên miền núi, từ đồng bằng tới trung du
đã nhanh chóng hình thành một mạng lới các làng xã kháng chiến
ở đây cũng cần thấy rõ rằng: trong khi nhân dân sôi nổi hởng ứng chiếu Cần Vơng thì bọn quan lại đầu hàng lại có những hoạt động gây bất lợi cho
Trang 24phong trào Tổng đốc Nguyễn Thuật và án sát Vơng Duy Trinh ngày đêm mong chờ quân Pháp kéo tới tỉnh lỵ Chúng đã ngăn cản không cho bố chánh Nguyễn Khoa Luận tiến hành những chuẩn bị cần thiết để chống giặc khi chúng kéo tới Tuy nhiên bất chấp ý định đen tối của bọn quan lại phản động, văn thân sĩ phu và nhân dân các địa phơng đã nhất tề vùng dậy, quyết sống mái với quân thù Công tác chuẩn bị lực lợng diễn ra ở hầu khắp các địa phơng
từ miền biển đến miền ngợc
Tại Hậu Lộc, nghĩa quân đợc hình thành dới sự lãnh đạo của Phạm Bành và Hoàng Bật Đạt Cùng lúc đó tại Tĩnh Gia là Nguyễn Phơng, tại Nông Cống là Tôn Thất Hàm, Lê Ngọc Toản, tại Quảng Xơng là Đỗ Đức Mậu, Lãnh Phiên, tại Hà Trung có Lãnh Toại, Lãnh Phi, Đông Sơn có Lê Khắc Tháo, ở miền núi phía Tây có Hà Văn Mao, Cầm Bá Thớc
Nhìn chung, trên toàn tỉnh lúc đó đã hình thành một hệ thống làng xã kháng chiến dày đặc, đặc biệt từ đầu năm 1886, khi Trần Xuân Soạn đợc Tôn Thất Thuyết uỷ nhiệm phụ trách chung, ông đã lấy danh nghĩa vua Hàm Nghi phong chức cho các văn thân sĩ phu yêu nớc trong tỉnh và dần dần đi đến tập hợp thống nhất các lực lợng nghĩa quân trong toàn tỉnh đoàn kết chống Pháp
Cùng với văn thân sĩ phu và nhân dân toàn tỉnh sôi nổi hởng ứng chiếu Cần Vơng, là một địa phơng có truyền thống yêu nớc chống ngoại xâm, lại nằm sát tỉnh lỵ Thanh Hoá, do đó ngay từ những ngày đầu của chiếu Cần V-
ơng nhân dân Hoằng Hoá đã nhanh chóng hởng ứng và chuẩn bị lực lợng chống Pháp
2.2 Nghĩa quân Hoằng Hoá ra đời và phát triển
Tại Hoằng Hoá, ngay từ khi Pháp tấn công Bắc Kỳ lần thứ hai (1882) một số văn thân đã từ quan về quê dạy học và tìm cách chống Pháp Đến khi nhà Nguyễn ký hai điều ớc đầu hàng (1883, 1884) thì "hàng loạt văn thân sĩ phu, các nhà khoa bảng đã quay về địa phơng ứng nghĩa" [3, 4]
Trang 25Một trong những cơ sở đầu tiên của nghĩa quân Hoằng Hoá lúc bấy giờ
đợc thành lập tại làng Thọ Vực, tổng Bút Sơn, dới sự chủ trì của vị phó bảng Nguyễn Đôn Tiết vốn là tri huyện Đức Thọ - Hà Tĩnh đã cáo quan trở về để chống Pháp Lực lợng nghĩa quân ban đầu có khoảng 100 ngời" [5, 102] gồm
đinh tráng các làng trong tổng tham gia Về sau lực lợng nghĩa quân ở Tế Độ (xã Hoằng Phúc) do Lê Thế Khánh chỉ huy sát nhập thành cơ sở lớn, làng Tế
Độ đợc chọn làm nơi huấn luyện, tích trữ vũ khí, lơng thực
Cùng lúc đó, tại huyện Mỹ Hoá, cơ sở nghĩa quân đầu tiên cũng đợc thành lập ở làng Trinh Hà, tổng Dơng Sơn (xã Hoằng Trung) có khoảng 60 ngời do Lê Trí Trực chủ trì
Từ hai cơ sở trên lực lợng nghĩa quân đợc trải rộng ra trong hai huyện Hoằng Hoá và Mỹ Hoá cũ
Tại làng Trinh Sơn tổng Lô Hơng (Hoằng Giang), Cao Điển vốn là suất
đội vũ lâm của triều đình Huế cũng quay về quê nhà, lập một căn cứ nghĩa quân với khoảng 40 ngời ở núi Triêng, phần đông là thân nhân trong họ và một số làng khác có truyền thống thợng võ
Tại làng Hoằng Nghĩa, tổng Hành Vĩ (Hoằng Lộc), cử nhân Nguyễn Huy Võ đang làm quan tri huyện Bình Lục, Hà Nam và kế theo là ngời anh ruột, cử nhân Nguyễn Huy Cửu làm quan tri huyện Kim Anh (Vĩnh Phúc) đã trở về lập ra cơ sở nghĩa quân với trên 100 ngời tham gia
Tại làng Mỹ Đà, tổng Từ Quang (Hoằng Minh), cử nhân Lê Viết Huy vốn là bố chánh Nghệ An (thờng gọi là bố Mỹ) đã quay về cùng con là Lê Viết Trạc tập hợp nghĩa quân với khoảng 100 ngời
Tại làng Yên Vực, tổng Từ Quang (xã Hoằng Long) cử nhân Nguyễn Phơng cũng từ bỏ chức đốc học Hải Dơng trở về quê lập nghĩa quân khoảng
30 ngời
Tại làng Tào Xuyên, tổng Dơng Thuỷ (Hoằng Lý), cử nhân Nguyễn Xuân (án Xuân, án Tào) làm án sát Quảng Bình cũng cáo quan tham gia khởi
Trang 26nghĩa Hơng Khê - Hà Tĩnh và đợc cử về quê xây dựng cơ sở Tại đây ông đã tập hợp đợc nghĩa quân với khoảng 30 ngời.
Bên cạnh đó, cũng thời gian này ở hai huyện Hoằng Hoá và Mỹ Hoá, một số cơ sở nghĩa quân do các nhà khoa mục ở hơng thôn chủ trì cũng đã dấy lên rộng rãi nh:
Cơ sở Đại Lộc, tổng Hành Vĩ (xã Hoằng Vinh) do Tú Bớ chỉ huy có khoảng 40 ngời
Cơ sở ông Hoà, tổng Hành Vĩ (xã Hoằng Thành) do cử nhân Lê Huy Ôn chủ trì có khoảng 50 ngời
Cơ sở Liên Châu, tổng Bái Trạch (xã Hoằng Châu) do Tú Quý đứng đầu
Tại làng Hợp Đồng, tổng Lô Hơng (xã Hoằng Giang) đợc lệnh của bố
vợ là phụ chính Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Thọ Tốn đã lập ra một nghĩa quân
đông đảo với 200 ngời bao gồm dân phu các làng trong tổng tham gia, về sau một lực lợng nghĩa quân của Cao Điển đợc sát nhập lại trở thành cơ sở quan trọng án ngữ một vùng phía Tây Bắc huyện, cạnh đờng thiên lý từ Huế ra Hà Thành
Tại làng Nguyệt Viên, tổng Từ Quang (nay thuộc xã Hoằng Quang) đợc
sự giúp đỡ của vị thông gia là tả quân đô thống Trần Xuân Soạn, tú tài Nguyễn Duy Hinh đã gây dựng đợc một cơ sở nghĩa quân gồm có khoảng 80 ngời, về
Trang 27sau đợc lực lợng nghĩa quân của cử Phơng (Yên Vực), án Xuân (Tào Xuyên) sát nhập trở thành căn cứ rộng từ Hàm Rồng đến Nghĩa Trang.
Tại làng Thanh Nga, tổng Dơng Sơn (nay thuộc xã Hoằng Trinh) nghĩa quân Lê Văn Phác cũng đợc thành lập có khoảng 40 ngời dới sự giúp đỡ của
Lê Khắc Tháo (Đông Sơn)
Tại làng Phú Khê, Cổ Đằng, tổng Dơng Thuỷ (nay thuộc xã Hoằng Quý), Lê Khắc Quýnh đợc sự chỉ đạo của Hoàng Bật Đạt cũng lập ra một đội quân khoảng 30 ngời, hầu hết là những tay võ nghệ nổi tiếng trong làng Sau
Ba Đình thất thủ một số trong lực lợng này kéo ra Bắc Kỳ tham gia nghĩa quân Yên Thế
Các làng ven biển thuộc tổng Ngọc Chuế đợc sự chỉ đạo của Phạm Bành một số nghĩa quân cũng đợc thành lập Tiêu biểu là cơ sở nghĩa quân ở làng
Đông Thành (nay là xã Hoằng Tiến) do Đội Tám ( Lê Xuân Tuyển) chỉ huy
Từ sự phát triển của các cơ sở nghĩa quân, tính đến cuối năm 1885,
"Hoằng Hoá đã có đến 80% số làng có nghĩa quân Cần Vơng và đã đợc tập hợp tại 15 cơ sở tại 5 tổng của hai huyện lúc bấy giờ Tổng số nghĩa quân có trên
1000 ngời" [5, 103] Lúc đầu các cơ sở đợc hình thành riêng lẻ nhng về sau (đầu năm 1886) khi có sự chỉ huy của các lãnh tụ Cần Vơng trong tỉnh nh Trần Xuân Soạn, Tống Duy Tân, lực lợng nghĩa quân của hai huyện Hoằng Hoá và Mỹ Hoá
đã đợc thống nhất dới sự chỉ huy của phó bảng Nguyễn Đôn Tiết và tán tơng Lê Trí Trực Từ đó các cơ sở đều có sự phối hợp chặt chẽ và phát triển nhanh chóng Nghĩa quân ở từng cơ sở tổ chức tập luyện nghiêm minh, nhiều nơi hình thành các giáo trờng nh giáo trờng Cồn Mả (Mỹ Đà), giáo trờng Cồn Nan (Tế Độ), hoặc những bãi tập nh bãi chợ Hôm (Nguyệt Viên), chợ Quăng (Hoằng Nghĩa), núi Triêng (Trinh Sơn) núi Hà Đô (Đôn Nghĩa)
Ngoài việc mua sắm vũ khí có sẵn nh dáo, mác, mã tấu, đinh ba một
số cơ sở còn chế thêm vũ khí mới nh cơ sở Tế Độ đã tổ chức ra các lò rèn, lò
đúc đạn bằng tiền đồng do các nhà giàu trong vùng ủng hộ
Trang 28Vai trò thủ lĩnh nghĩa quân cũng đợc nêu cao trong việc tổ chức, chỉ huy các cơ sở Nhiều ngời không những đã đứng ra tập hợp lực lợng mà còn tự
đem tài sản của mình hoặc đích thân đi vận động, quyên góp để nuôi quân, xây dựng cơ sở vững mạnh
Nguyễn Thọ Tốn, một gia đình giàu có nổi tiếng, đợc sắc phong thái bộc, đã dốc hết cơ nghiệp vào công cuộc Cần Vơng mà bản thân ông là thủ lĩnh dấy nghĩa
Nguyễn Huy Võ, Nguyễn Huy Dinh, Lê Huy Ôn, Lê Viết Trạc đã từng lặn lội bắt liên lạc với Phạm Bành, Hoàng Bật Đạt và sau là Đinh Công Tráng để
đi tìm hiểu chiến thuật, chiến lợc trong công việc xây dựng căn cứ nghĩa quân
Sự chịu đựng gian khổ, tinh thần hy sinh tính mạng cho sự nghiệp cao cả mà các thủ lĩnh Cần Vơng ở từng cơ sở luôn nêu cao đã góp phần tích cực làm cho phong trào nghĩa quân Hoằng Hoá ngày càng phát triển và đợc đông
đảo các tầng lớp nhân dân tham gia ủng hộ Có thể nói "Cả huyện Hoằng Hoá,
đâu đâu cũng rầm rậy, hừng hực khi thế "Bình Tây phục quốc" của những ngời dân có chí mạnh tâm hùng Đất trời Hoằng Hoá đợc một phen chứng kiến những ngời dân tỏ dạ trung cam với Tổ quốc, với quê hơng" [9, 215]
Trên cơ sở ấy nghĩa quân Hoằng Hoá đã đáp ứng kịp thời những yêu cầu to lớn, cần thiết về chiến đấu cũng nh chi viện chiến đấu trong phong trào Cần Vơng Thanh Hoá
2.3 Một số trận đánh tiêu biểu của Nghĩa quân Hoằng Hoá trong phong trào Cần Vơng.
2.3.1 Trận tham gia phối hợp đánh úp thành Thanh Hoá
Tháng 11/1885 khi nghĩa quân Hoằng Hoá còn đang trong thời kỳ tập luyện chuẩn bị lực lợng thì tại tỉnh lỵ Thanh Hoá quân Pháp do Minô (Mignot) chỉ huy kéo từ Ninh Bình vào Nghệ An Trên đờng hành quân Minô
đã để lại một đơn vị chiếm đóng tỉnh lỵ Thanh Hoá do Métsanhgơ (Metsinger)
Trang 29chỉ huy Kết hợp với đóng quân đồn trú, Pháp cử Ranhgiơvan (Ringeval) làm công sứ Thanh Hoá Tổng đốc Thanh Hoá lúc bấy giờ là Nguyễn Thuật "đã không chống cự mà còn đón tiếp quân Pháp vào đóng trong nội thành" [5, 121].
Tỉnh lỵ Thanh Hoá từ sau ngày thực dân Pháp chiếm 6,7 tháng, bộ mặt kinh tế vẫn cha có gì thay đổi nhng bộ máy cai trị thì đã đợc chúng tăng cờng liên tục ở nội thành, bên cạnh dinh tổng đốc, chúng đặt văn phòng công sứ Pháp, tiếp theo là "trại lính Âu gồm khoảng 120 tên và trại lính pháo thủ Bắc
Kỳ cùng lính khố xanh có khoảng 300 tên" [6, 68] ở các cửa thành đều có các bốt gác của giặc và chúng còn dựng thêm một đồn Pháp ở Cầu Hạc phía Bắc thành Những cảnh tợng mới diễn ra hàng ngày nh việc lùng sục, vơ vét của lính định, tiếng kèn Tây gọi lính càng làm cho nhân dân ta thêm căm thù
lũ cớp nớc và bán nớc
Tại Hoằng Hoá tri huyện là Tôn Thất Thiệu vốn là tay sai đắc lực của
án sát Vơng Duy Trinh đã cho tay chân ngày đêm dò la hành tung của cụ Bảng Tiết (Nguyễn Đôn Tiết) và hoạt động của nghĩa quân để mật báo tình hình cho Vơng Duy Trinh và công sứ Pháp
Trớc tình hình đó, sau một số thắng lợi bớc đầu trong việc kìm chân
địch, các nhà lãnh đạo phong trào Cần Vơng Thanh Hoá đề ra mục tiêu chính
là phải nhanh chóng mở rộng hơn nữa vùng căn cứ, mở rộng phong trào khởi nghĩa, đánh thẳng vào bộ máy đầu não của địch ở tỉnh lỵ
Với ý nghĩa ấy các nhà lãnh đạo Cần Vơng trong tỉnh đã vạch kế hoạch
đánh úp thành Thanh Hoá, cơ sở chính của bọn xâm lợc và bọn tay sai quan lại Nam triều đầu tỉnh Công việc quan trọng này đợc giao cho nghĩa quân ở các huyện phối hợp: Nông Cống, Tĩnh Gia, Quảng Xơng, Đông Sơn, Hoằng Hoá, Vĩnh Lộc trong đó nghĩa quân Hoằng Hoá giữ một vai trò quan trọng
Trang 30Do nằm ở sát tỉnh lỵ Thanh Hoá, nơi mà quân tiếp viện của Pháp có thể
sẽ kéo qua để ứng cứu khi trận đánh nổ ra Vì thế theo sự phân công của các nhà lãnh đạo phong trào Cần Vơng, nghĩa quân Hoằng Hoá có nhiệm vụ án ngự phía Bắc tỉnh lỵ từ chợ Giá vào đến bến đò Triềng để chặn đờng tiếp viện của quân Pháp từ Ninh Bình kéo vào Thực hiện kế hoạch đánh thành, trớc khi khởi sự hai ngày, ngày 9/3/1886, Nguyễn Đôn Tiết đã điều toán quân của Đội Tám từ tổng Ngọc Chuế qua đò Choán lên mai phục ở Yên Vực, đồng thời phân công đội nghĩa dũng của cử Xuân đóng ở Tào Xuyên, một đội nữa do tán tơng Lê Trí Trực bố trí ở Phú Khê Thợng Lần này nghĩa quân mặc dù đợc tổ chức xuất kích hết sức bí mật nhng cũng không thể qua nổi mắt của tên tay sai Tôn Thất Thiệu
Riêng nghĩa quân của Nguyễn Thọ Tốn đợc bố trí tại đò Triềng, nghĩa quân Nguyễn Duy Hinh và nghĩa quân Lê Viết Trạc đợc bố trí tại Hàm Rồng nhằm đánh chặn lực lợng chi viện của địch Đối với nghĩa quân của Cao Bá Điển (Võ Cao Điển) đợc tổ chức đánh từ trong thành ra Nghĩa quân Lê Trí Trực
đợc lệnh kéo lên phối hợp với nghĩa quân Lê Khắc Tháo ở Đông Sơn tiến công
đồn Quán Dò, nhằm tiêu diệt lực lợng rút lui của địch ở mạn Bắc thành
Đêm ngày 11 rạng ngày 12 tháng 3 năm 1886, nhân cơ hội sáng hôm sau là ngày phiên chợ tỉnh, các cánh quân đã cải trang làm ngời đi chợ tiến về tỉnh lỵ Nguyễn Phơng từ Tĩnh Gia dẫn 300 quân cảm tử, các cánh quân của Tống Duy Tân và Cao Điển từ Vĩnh Lộc theo đờng Thiệu Hoá kéo xuống, nghĩa quân của Tôn Thất Hàm từ Nông Cống kéo ra, nghĩa quân Đỗ Đức Mậu
từ Quảng Xơng lên, Hà Văn Mao từ Thọ Xuân kéo xuống Trong khi đó thì Nguyễn Đôn Tiết đa quân từ Hoằng Hoá lên chặn giặc bên tả ngạn sông Mã
Đúng vào lúc nửa đêm ngày 11 quân ta xông vào hai cửa Tiền và Tả giết chết lính gác rồi đột nhập đánh chiếm các nơi Lính Pháp giữa đêm đột ngột bị dựng dậy, hốt hoảng cầm súng vừa chạy tán loạn, một số bị nghĩa quân tiêu diệt tại chỗ, các công sở của địch cùng lúc bị tấn công, chánh văn phòng toà
Trang 31sứ Pive (Bivert) và trung uý Phơrăngcơ (Franck) đều trúng đạn bị thơng Nghĩa quân thừa thắng đánh cả bọn Pháp lẫn bọn tay sai kéo tới cứu nguy cho chủ, nhiều tên chết, một số chạy trốn tán loạn, số còn lại rút vào đồn cố thủ "Lửa cháy rực trời, trống mõ khua vang, tiếng nghĩa quân hò reo dậy đất, cuộc chiến đấu kéo dài đến gần sáng" [10, 27] Nhng giặc Pháp có u thế về vũ khí, chúng đã ngoan cố bám lấy vị trí nên nghĩa quân không sao tiêu diệt hoàn toàn đợc chúng đành phải rút lui.
Không đầy một tuần lễ sau ngày thành Thanh Hoá bị đánh bất ngờ, Pháp đã điều một lực lợng gồm lính ả rập và lính pháo thủ Bắc Kỳ do thiếu ta Têriông chỉ huy kéo từ Nam Định vào tỉnh lỵ Thanh Hoá Đúng nh kế hoạch
đã dự định, cuộc hành quân của địch phải đi qua đò Triềng, do đó nghĩa quân Nguyễn Thọ Tốn đã kịp thời bố trí cất giấu thuyền bè để kìm chân địch Khi tới nơi, không có phơng tiện qua sông, bọn địch lúng túng liền bị nghĩa quân mai phục xung quanh tiến đánh tới tấp, làm tan rã đội hình, một số bị thơng mãi đến tối chúng mới cớp đợc ít tre nứa của dân để qua sông một cách khó khăn
Trận đánh úp thành Thanh Hoá mặc dù không giành đợc thắng lợi hoàn toàn nhng đã làm cho giặc Pháp thiệt hại nặng nề Thắng lợi ấy gây ảnh hởng vang dội trong nhân dân tỉnh nhà đồng thời cũng là mối lo ngại lớn của kẻ thù Trong "hoạt động có tiếng vang lớn đầu tiên của phong trào Cần Vơng Thanh Hoá" [10, 26], nghĩa quân Hoằng Hoá đã góp phần quan trọng vào phong trào chung của tỉnh nhà
2.3.2 Trận bao vây, tập kích huyện lỵ Bút Sơn
Sau trận đánh úp thành Thanh Hoá không thành công vì hoả lực của
địch mạnh hơn hẳn quân ta, các nghĩa quân đợc lệnh rút lui gấp về các căn cứ
địa phơng để bảo toàn lực lợng Nghĩa quân Hoằng Hoá do Nguyễn Đôn Tiết chỉ huy ở tả ngạn sông Mã không gặp quân tiếp viện ở Ninh Bình vào cũng đã
Trang 32tiến hành kéo quân về Bút Sơn "Trống dong cờ mở giữa ban ngày theo đờng
đê sông Tuần, đi đầu vác lá cờ đại có thêu 4 chữ "Bình tây phục quốc" là cô Xuyến - nữ trang binh, vợ cả Tu, con dâu của Bảng Tiết Các nghĩa quân trong huyện kéo về Bút Sơn đóng ở các đình Thọ Vực, Thọ Văn, Tế Độ, Trù Ninh vây quanh huyện lỵ Nhân dân Bút Sơn già trẻ gái trai nô nức hởng ứng, khí thế đánh giặc giữ làng tng bừng trong toàn huyện" [5, 121] Bãi Vực trớc huyện lỵ đợc chọn làm nơi tập trung và tập luyện của nghĩa binh Chợ Bút trở thành nơi tập hợp gia đình và ngời thân của nghĩa binh kết hợp đi chợ và hỏi thăm chồng con đang tại ngũ "Cha bao giờ Bút Sơn có khí thế hào hùng nh những ngày đón quân ông Bảng Tiết" [5, 121] Tri huyện Tôn Thất Thiệu khi nghe tin nghĩa quân kéo về đã cùng nha lại bỏ trốn chạy về tỉnh lỵ cầu cứu quan Tây
Đợc tin báo của Tôn Thất Thiệu, Nguyễn Thuật và Vơng Duy Trinh yêu cầu công sứ Pháp Ranhgiơvan và trung tá Métsinhge phái quân chiếm đóng Bút Sơn để đàn áp nghĩa quân Hoằng Hoá Métsinhge ngay lập tức đã phái một đội lính Âu trang bị đầy đủ vũ khí do thiếu uý Sapen (Jeande chapelle) chỉ huy tức tốc kéo về Bút Sơn chiếm đóng trong huyện lỵ Tôn Thất Thiệu nấp bóng quân Tây cũng kéo theo một đội lính về đóng trong huyện cùng với
đội lính Âu, chung quanh có hàng rào chông gai bao bọc
Trớc quân thù mạnh có nhiều súng ống tối tân, Nguyễn Đôn Tiết đã lệnh cho nghĩa quân lui xa huyện lỵ về phía Đông, rút từ Thọ Vực, Thọ Văn, Thọ Sơn, Thọ Lộc chuyển xuống Tế Độ, Bái Ninh, Đạt Tài, Hạ Vũ để khi cần thiết có thể rút sang Ngọc Chuế qua đò Choán, đồng thời ông cho ngời báo cho Hoàng Bật Đạt và Đỗ Xuân Mậu để nghĩa quân hai huyện giáp danh: Hậu Lộc và Quảng Xơng chi viện kịp thời Mặt khác ông giao cho Tú Tân và Tú Cơ vừa đôn đốc quân lơng, vừa sắp xếp cho nhân dân Bút Sơn nhất là ngời già
và trẻ con các xóm gần huyện lỵ nh Thọ Vực, chợ Bút tạm lánh sang ba xã phía Đông sông Đằng để tránh nạn khi có đánh nhau to