1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xu hướng bạo động trong phong trào giải phóng dân tộc ở một số nước đông nam á (từ thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX)

79 526 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 268,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trớc hết cần nhắc đến công trình: “Lịch sử ĐNA” [2] của D.G.E.Hall.Trong công trình này tác giả đã đề cập khá kĩ về quá trình xâm lợc của chủnghĩa thực dân, quá trình chống xâm lợc, giải

Trang 1

Lời cảm ơn

Để hoàn thành khóa luận này tôi đã nhận đợc sự giúp đỡ nhiệt tình, chu đáo của thầy giáo Ths Bùi Văn Hào, là ngời đã trực tiếp hớng dẫn tôi trong thời gian thực hiện khóa luận này Qua đây tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Đồng thời tôi cũng chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong khoa Lịch sử trờng Đại học Vinh và bạn bè, ngời thân đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện khóa luận này.

Mặc dù đã hết sức cố gắng, nhng đây là công trình đầu tiên của bản thân cho nên không thể không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận

đợc sự góp ý và bổ sung của quý thầy cô giáo và bạn bè, ngời thân.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Tác giả

Trịnh Thị Nga

Trang 2

Mục lục

Trang

A Mở đầu 1

1.1 Lý do chọn đề tài 1

1.2 Lịch sử vấn đề 2

1.3 Phạm vi nghiên cứu đề tài 3

1.4 Phơng pháp nghiên cứu 3

1.5 Bố cục của đề tài 4

B Nội dung 5

Chơng 1: Khái quát quá trình xâm lợc và thống trị của thực dân phơg Tây ở một số nớc Đông Nam á (từ thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XX) 5

1.1 Khái quát quá trình xâm lợc của thực dân phơng Tây ở một số nớc Đông Nam á 5

1.1.1 Tình tình Đông Nam á trớc khi bị thực dân phơng Tây xâm lợc 5

1.1.2 Khái quát quá trình xâm lợc của thực dân phơng Tây ở một số nớc Đông Nam á 13

1.2 Khái quát quá trình thống thị của thực dân phơng Tây ở một số nớc Đông Nam á 28

1.2.1 Chính sách cai trị 28

1.2.2 Chính sách bóc lột 32

Tiểu kết chơng 1 37

Chơng 2: Xu hớng bạo động trong phong trào chống xâm lợc và giải phóng dân tộc ở một số nớc Đông Nam á(từ thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX) 39

2.1 Nguyên nhân xuất hiện hai xu hớng: bạo động và cải lơng trong phong trào chống xâm lợc và giải phóng dân tộc ở Đông Nam á cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX 39

Trang 3

2.2 Các cuộc bạo động do giai cấp nông dân lãnh đạo 43

2.2.1 ở Đông Dơng 43

2.2.2 ở Inđônêxia 52

2.2.3 ở Philippin 54

2.3 Các cuộc bạo động do giai cấp địa chủ phong kiến lãnh đạo 56

2.3.1 ở Inđônêxia 56

2.3.2 ở Philippin 58

2.3.3 ở Đông Dơng 59

2.4 Ba lần kháng chiến chống thực dân Anh xâm lợc của triều đình phong kiến Miến Điện 72

2.5 Các cuộc bạo động theo khuynh hớng dân chủ t sản 75

2.5.1 ở Philippin 75

2.5.2 ở Đông Dơng 79

Tiểu kết chơng 2 86

C Kết luận 87

D Tài liệu tham khảo 89

Trang 4

Danh môc ch÷ viÕt t¾t

Trang 5

trào đấu tranh chống thực dân xâm lợc bùng nổ khắp các nớc Sau các phongtrào chống xâm lợc là phong trào giải phóng dân tộc diễn ra hết sức mạnh mẽ

để giành lại độc lập cho dân tộc mình Trong các cuộc đấu tranh đó có sựtham gia của nhiều giai tầng trong xã hội, nh: nông dân, địa chủ, sĩ phu phongkiến yêu nớc, nhà s, phong trào đấu tranh theo khuynh hớng dân chủ t sản, tsản, thậm chí sau này có cả phong trào đấu tranh của công nhân

Dới tác động của hoàn cảnh khu vực và thế giới, cũng giống nh các nớc

ở khu vực á- Phi- Mỹ La tinh, trong phong trào đấu tranh chống xâm lợc vàgiải phóng dân tộc ở ĐNA cũng xuất hiện hai xu hớng: bạo động và cải lơng

Để hiểu rõ hơn lịch sử ĐNA thời kỳ này, chúng ta đi tìm hiểu xu hớngbạo động trong phong trào giải phóng dân tộc Việc tìm hiểu xu hớng này có ýnghĩa nhất định về mặt khoa học và thực tiễn Cụ thể là:

-ý nghĩa khoa học: Thông qua việc tìm hiểu xu hớng bạo động trongphong trào giải phóng dân tộc ở ĐNA giúp chúng ta hiểu rõ hơn lịch sử phongtrào chống xâm lợc ở các nớc và cắt nghĩa đợc vì sao chỉ có thể đấu tranhgiành độc lập bằng phơng pháp bạo động

-ý nghĩa thực tiễn: Trong xu thế đa phơng hoá, đa dạng hóa trong quan

hệ đối ngoại, thông qua xu hớng bạo động đó để có những chính sách mềmdẻo, phù hợp để vừa có thể đấu tranh, vừa bảo vệ đợc độc lập dân tộc

Trên cơ sở những lý do và ý nghĩa nêu trên, chúng tôi đã chọn đề tài:

“Xu hớng bạo động trong phong trào giải phóng dân tộc ở một số nớc Đông Nam á (từ thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX)” làm đề tài khoá luận tốt nghiệp.

1.2 Lịch sử vấn đề

Liên quan đến nội dung đề tài, từ trớc đến nay đã có rất nhiều côngtrình nghiên cứu, bài viết của các tác giả trong và ngoài nớc Nhng vì điềukiện thời gian, t liệu, ngoại ngữ còn hạn chế, chúng tôi mới chỉ có dịp tiếp cậnvới một số công trình, bài viết của các tác giả ngời Việt Nam và một số côngtrình đã đợc biên dịch

Trớc hết cần nhắc đến công trình: “Lịch sử ĐNA” [2] của D.G.E.Hall.Trong công trình này tác giả đã đề cập khá kĩ về quá trình xâm lợc của chủnghĩa thực dân, quá trình chống xâm lợc, giải phóng dân tộc của nhân dân

ĐNA và sự biến đổi về tình hình kinh tế- xã hội của các nớc trớc sự tác độngcủa chủ nghĩa thực dân…Nh

Trang 6

Trong công trình nghiên cứu: “Lịch sử ĐNA” [12] của Lơng Ninh- ĐỗThanh Bình- Trần Thị Vinh, các tác giả đã đề cập đến quá trình xâm chiếmcác quốc gia ĐNA của chủ nghĩa thực dân phơng Tây, trong đó đã đề cập đếncuộc đấu tranh tự vệ và giải phóng dân tộc, giành độc lập của các nớc này Nổibật nhất là xu hớng bạo động diễn ra ở Inđônêxia, Mã Lai, Xingapo, Philippin,Việt Nam, Lào, Campuchia…Nh

Còn trong công trình nghiên cứu: “Lợc sử ĐNA” [23] do Phan NgọcLiên chủ biên cũng nói đến xu hớng bạo động trong phong trào giải phóngdân tộc của nhân dân ĐNA

Ngoài ra vấn đề này còn đợc đề cập đến trong các chuyên khảo lịch sử

về các nớc nh: “ Lịch sử Lào” [18], “Lịch sử Campuchia” [20], “Lợc sửInđônêxia” [29], “Đại cơng lịch sử Việt Nam, tập II” [5]…Nh

Hơn thế nữa, vấn đề ấy cũng đợc phản ánh qua các bài viết đăng tải trêncác tạp chí nghiên cứu ĐNA nh: “Tạp chí nghiên cứu Đông Nam á, số6/2001”, “Tạp chí nghiên cứu lịch sử, số 1- 6/1995”…Nh

Qua các công trình nghiên cứu nêu trên, chúng tôi thấy rằng: vấn đề mà

đề tài đặt ra mặc dù ít nhiều đã đợc đề cập nhng cha có công trình nào đề cập

đầy đủ, toàn diện và có hệ thống về xu hớng bạo động trong phong trào giảiphóng dân tộc ở ĐNA Vì vậy chúng tôi chọn đề tài này làm khoá luận tốtnghiệp

1.3 Phạm vi nghiên cứu đề tài

-Về nội dung: Đề tài tập trung tìm hiểu xu hớng bạo động trong phong

trào giải phóng dân tộc ở một số nớc Đông Nam á

-Về thời gian: Đề tài tập trung tìm hiểu xu hớng bạo động trong phong

trào giải phóng dân tộc ở một số nớc Đông Nam á từ thế kỷ XIX đến đầu thế

kỷ XX.

-Về không gian: Đề tài tập trung tìm hiểu xu hớng bạo động trong

phong trào giải phóng dân tộc ở một số nớc Đông Nam á.

Trang 7

1.5 Bố cục của đề tài

Ngoài Phần mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung của

khoá luận gồm hai chơng:

Chơng 1: Khái quát quá trình xâm lợc và thống trị của thực dân phơng

Tây ở một số nớc Đông Nam á (từ thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XX).

Chơng 2: Xu hớng bạo động trong phong trào chống xâm lợc và giải

phóng dân tộc ở một số nớc Đông Nam á (từ thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX).

Trang 8

1.1.1 Tình hình Đông Nam á trớc khi bị thực dân phơng Tây xâm lợc:

Cũng giống nh các quốc gia phơng Đông khác, cho đến trớc khi thựcdân phơng Tây xâm lợc thì về cơ bản chế độ phong kiến ở hầu hết các nớc

Đông Nam á đã, đang suy tàn và khủng hoảng nghiêm trọng trên mọi phơngdiện, từ kinh tế cho đến chính trị, xã hội

Do sự phát triển không đồng đều, do trình độ của mỗi nớc có sự chênhlệch nhau nên quá trình khủng hoảng ấy diễn ra không đồng đều nhau giữacác quốc gia về mặt thời gian Sớm nhất là ở Campuchia, bắt đầu từ thế kỷXIII, Chămpa từ thế kỷ XV, Đại Việt, Miến Điện bắt đầu từ thế kỷ XVI, trongkhi đó vơng quốc Xiêm, Lan Xang lại đang ở thời kỳ hng thịnh Tuy nhiên,tựu trung lại thì đến giữa thế kỷ XIX hầu hết các quốc gia ĐNA khủng hoảngtrên nhiều phơng diện:

Tình hình kinh tế:

Do tài liệu viết về ĐNA nói chung trớc thế kỷ XVI còn quá ít nênchúng ta khó có thể hình dung đợc một bức tranh toàn diện về nền kinh tế cổcủa vùng này Tuy nhiên, gần đây ngời ta dựa vào nhiều nguồn tài liệu khácnhau nh các văn kiện Trung Hoa, các tác phẩm của Paul Wheatky,O.W.Woltess, và cả Gordon Luce, Louis Malleret…Nh,đặc biệt là những bằngchứng khảo cổ học đã khẳng định rằng: cho đến trớc khi thực dân phơng Tâyxâm nhập vào ĐNA thì nền kinh tế của các nớc này cơ bản vẫn là nền kinh tếnông nghiệp với một phơng thức canh tác lạc hậu, thô sơ

Biểu hiện của nền kinh tế nông nghiệp ấy là: phần lớn c dân đều sống ởnông thôn (90% dân số), các phơng pháp sản xuất lơng thực và nhiều nghề thủcông truyền thống của họ vẫn còn sót lại Một số dân tộc lạc hậu sống còn rảirác vẫn còn hái lợm lơng thực

Phơng thức canh tác chủ yếu là định canh và du canh Hình thức ducanh đợc đặc trng bởi thuật ngữ “đốn cây và đốt rẫy” [2, 340] Phơng pháp đ-

Trang 9

ợc sử dụng là phát quang một mảnh rừng bằng cách đốn cây, đốt cây để trồngcác cây lơng thực nh khoai, ngô, lúa…NhMột thời gian sau họ chuyển sang mộtkhu vực khác với phơng thức canh tác tơng tự Nhng áp dụng phơng pháp nàychỉ phù hợp với những nhóm ngời có trình độ kinh tế- xã hội còn thấp kém ởvùng rừng núi, cao nguyên, vùng sâu trong nội địa.

Còn hình thức định canh đợc áp dụng đối với những dân tộc tiên tiếnhơn, sống định c chủ yếu ở đồng bằng và ven biển Ví nh c dân ở khu vựcsông Hồng của Việt Nam, sông Iraoađi ở Miama, sông Mê Nam ở Thái Lan…Nh

Mặc dù vậy, so với các trung tâm văn minh khác thì cho đến trớc khithực dân phơng Tây xâm lợc, ĐNA vẫn còn nằm trong tình trạng kinh tế nôngnghiệp với cây lúa nớc là “một sản phẩm quan trọng nhất”[12, 341] cùng mộtphơng thức canh tác thô sơ, lạc hậu

ở các quốc gia ĐNA, cho đến trớc khi thực dân phơng Tây xâm nhậpthì chế độ quân chủ chuyên chế phong kiến vẫn còn tồn tại, nên về danh nghĩathì ruộng đất thuộc quyền sở hữu tối cao của nhà vua Nhng trên thực tế đếnthời kỳ này, hầu hết ruộng đất vẫn nằm trong tay công xã nông thôn, tức làtoàn bộ đất đai đều thuộc về cộng đồng Ngoài những vùng đất thuộc quyền sởhữu công của làng xã thì còn có một bộ phận ruộng đất đợc phong thởng chocác vơng hầu, quý tộc, quan lại, địa chủ phong kiến để canh tác với phơngthức bóc lột mang tính cổ điển là phát canh thu tô Còn ruộng của các làng xãthì đợc chia cho các gia đình canh tác và nộp thuế cho nhà nớc Bên cạnh đócòn một bộ phận ruộng đất t, nhng hình thức sở hữu t về ruộng đất ở các nớc

ĐNA không thực sự phổ biến và phát triển Đây chính là điểm khác về sở hữu

đất đai ở ĐNA so với ở Trung Quốc Bởi ở Trung Quốc đến giai đoạn này sởhữu t rất phát triển Bắt đầu từ thời Chiến Quốc (thế kỷ V TCN), ruộng đất t ởTrung Quốc xuất hiện ngày một nhiều và đến đời Minh thì phần lớn ruộng đấttrong nớc đều tập trung vào tay giai cấp địa chủ thống trị Điều này cũng làmột minh chứng chứng tỏ rằng chế độ phong kiến ở ĐNA nói riêng, phơng

Đông nói chung không đạt đến mức độ điển hình

Cùng với sự phát triển của lịch sử, giai cấp địa chủ ngày càng giàu,

đồng thời ngày càng xuất hiện nhiều địa chủ lớn chiếm hữu rất nhiều ruộng

đất Điều đó cho thấy xu hớng sở hữu t về ruộng đất ngày càng lấn át sở hữucông làng xã Tất cả những điều đó chứng tỏ rằng chế độ ruộng đất ở ĐNA

Trang 10

giai đoạn này vẫn còn duy trì và tồn tại nền kinh tế tiểu nông với hình thứcbóc lột siêu kinh tế và chịu sự chi phối sâu sắc của chính quyền phong kiến.

Một đặc điểm nổi bật của các quốc gia cổ đại phơng Đông nói chung và

ĐNA nói riêng là sự tồn tại dai dẳng của các công xã nông thôn với nhiều têngọi khác nhau nh : làng, buôn, bản, mờng…NhĐây là một đơn vị kinh tế đóngkín mang tính tự cung, tự cấp Mỗi công xã đợc xem nh một tiểu quốc và độclập với nhau Trong tiểu quốc ấy có sự kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế nôngnghiệp và thủ công nghiệp Ngoài những nghề tiểu thủ công gia đình nh: xesợi, dệt vải, còn có một số chuyên nghề nhất định nh nghề gốm, làm ô, dụng

cụ gia đình và nông cụ…NhCũng có những làng thợ chuyên nghiệp nh thợ đào

mỏ thiếc và vàng, thợ kim khí Một số nớc theo đạo Phật có nghề tạc tợngPhật Bên cạnh đó, ở một số nơi phát triển về giao thông đờng thuỷ, gần biển

nh ở miền Trung Miến Điện còn phát triển nghề chuyên đóng tàu thuyền

Nh vậy, sự tồn tại của công xã nông thôn là một lực cản lớn đối với sựphát triển của nền kinh tế hàng hoá, hạn chế sự giao lu với bên ngoài

Tuy nhiên cũng cần phải nói thêm rằng cho đến trớc khi chủ nghĩa thựcdân phơng Tây xâm nhập thì ở đây cũng đã có sự giao lu buôn bán giữa cácvùng miền với nhau Sở dĩ nói nh vậy bởi vì ĐNA có một vị trí địa lý thuận lợi

do nằm ở gần hai trung tâm lớn là Trung Quốc và ấn Độ Do đó ĐNA đã trởthành khu vực trung chuyển về thơng mại, là nơi gặp gỡ giữa các nhà buôn từphơng Đông đến và từ phơng Tây sang Hơn nữa ở đây cũng rất giàu nguồn tàinguyên nh: gỗ quý, hơng liệu, hồ tiêu, hồng ngọc và các loại đá quý khác nhvàng, ngà voi và khoáng sản

“Buôn bán đợc thực hiện chủ yếu trên cơ sở hàng đổi hàng, nhng ở cáctrung tâm quan trọng hơn, họ dùng các cục kim loại làm tiền”[12, 345]

Các hải cảng chủ yếu nh óc Eo của Funan, Malắcca và Tuban củaGiava đã phát triển quan hệ thơng mại rộng rãi Đặc biệt là ở Mã Lai vàInđônêxia từ xa xa đã là nơi gặp gỡ Đông- Tây Việc buôn bán hơng liệu và

hồ tiêu đã làm cho ĐNA có tầm quan trọng đặc biệt, là cầu nối trao đổi giữaTrung Quốc, ấn Độ và phơng Tây

Mặc dù có nhiều điều kiện thuận lợi cho một nền kinh tế hàng hoá pháttriển, nhng do sự tồn tại của nhà nớc quân chủ chuyên chế phong kiến với việcthực thi những chính sách, biện pháp không phù hợp nh: “trọng nông ức th-

ơng”, “bế quan toả cảng” hoặc do thói quen của nền sản xuất manh mún chủ

Trang 11

yếu mang tính tự cấp, tự túc…NhCho nên ở thời kỳ này mặc dù nền kinh tế côngthơng ít nhiều đã có sự phát triển, mầm mống kinh tế TBCN đã xuất hiện trênmột số khu vực nh ở Xiêm, Mã Lai mà chúng ta nói ở trên nhng nó không thể

đáp ứng đợc yêu cầu của thời đại Hay nói cách khác, đó chính là mâu thuẫngiữa quan hệ sản xuất phong kiến với lực lợng sản xuất mới phát triển Chonên nó làm cho tình hình kinh tế vốn đã trì trệ dới chế độ phong kiến lại càngtrở nên khủng hoảng trầm trọng hơn Đây cũng chính là điểm khác biệt nổibật giữa phơng Đông và phơng Tây vào trớc thế kỷ XVI Cũng là chế độphong kiến đã bớc vào giai đoạn suy tàn, khủng hoảng nhng ở phơng Tây thì

nó tạo điều kiện cho quan hệ sản xuất t bản chủ nghĩa phát triển tơng đốimạnh mẽ, còn ở ĐNA thì hoàn toàn ngợc lại, nền kinh tế càng lạc hậu, quèquặt

Tình hình chính trị:

Cho đến trớc khi thực dân phơng Tây xâm lợc thì hầu nh tất cả các nớc

ĐNA đều là thể chế chính trị nhà nớc phong kiến trung ơng tập quyền Đâycũng là đặc điểm chung của thể chế chính trị ở phơng Đông và là điểm khác

so với phơng Tây là nhà nớc phong kiến phân quyền

Trong nhà nớc ấy, vua nắm trong tay cả vơng quyền và thần quyền

“Nhà vua là trụ cột của tổ chức nhà nớc, là cội nguồn của quyền lực và nắmmọi quyền lực”[2, 356] Nhà vua nắm mọi quyền hành quyết định chính sách

đối nội và đối ngoại, bổ nhiệm và cắt chức các quan lại, trừng phạt và ân xá,huỷ bỏ các đạo luật…NhBên cạnh đó chế độ chuyên chế còn duy trì hàng mớpháp luật, quy tắc, tập quán phong kiến tích luỹ hàng thế kỷ hết sức hỗn độn

và phức tạp, chứa đầy mâu thuẫn

Tuy nhiên, về cơ bản chế độ phong kiến đã và đang suy tàn và khủnghoảng nghiêm trọng Mâu thuẫn cơ bản trong xã hội giữa địa chủ phong kiếnvới nông dân vốn đã tồn tại từ lâu, ngày càng trở nên sâu sắc và không thể

điều hòa đợc nữa Do đó nhiều cuộc khởi nghĩa của nông dân đã nổ ra ở khắpmọi nơi Ngay trong nội bộ giai cấp thống trị cũng diễn ra sự phân biệt, tranhgiành quyền lực lẫn nhau khiến cho nền thống trị cũng ngày càng suy giảm

Điều này đợc thể hiện rõ trong lịch sử Campuchia thời kỳ Ăngkor đợc coi làthời kỳ “không tiền khoáng hậu” ở Xiêm thì chia làm ba tiểu quốc là Lan Xa(phía Bắc), Sukhôthay (miền Trung) và Ayuthaya (ven biển phía Nam) Còn ở

Trang 12

Lan Xang có thể chế độ phong kiến ấy khủng hoảng vào thời gian 1353 hoặc1357.

Một ý nữa chúng ta cũng thấy là cho đến trớc khi thực dân phơng Tâyxâm lợc, các quốc gia ĐNA hình thành và phát triển không đồng đều nhau Cụthể là nhà nớc Văn Lang- Âu Lạc ra đời vào thế kỷ VII TCN, Xiêm ra đời vàogiữa thế kỷ XIV (1350) và nhà nớc Lan Xang cũng ra đời vào giữa thế kỷXIV

Có thể thấy, do điều kiện ở mỗi quốc gia không giống nhau và xu hớngphát triển, mở rộng của các quốc gia cũng khác nhau nên sự suy thoái của chế

độ phong kiến ở đây cũng không đồng đều nhau và nhanh hơn cả là ở LanXang

Hơn nữa, do cả các cuộc tranh chấp, thôn tính lẫn nhau giữa các quốcgia đã khiến cho nền kinh tế, chính trị càng bất ổn, suy thoái trầm trọng Hệquả của nó là làm cho các quốc gia ĐNA càng suy yếu, tiềm lực của quốc giakhông đủ sức để đảm bảo những yêu cầu về kinh tế- xã hội ngày càng giatăng Đây chính là nguyên nhân quan trọng tạo điều kiện thuận lợi cho các n-

ớc phơng Tây xâm lợc Hay nói cách khác thì trong hoàn cảnh ấy, sự xâmnhập và xâm lợc của thực dân phơng Tây vào ĐNA là một tất yếu

Tình hình xã hội:

Trớc khi thực dân phơng Tây xâm lợc, về cơ bản thì ở hầu hết các nớc

ĐNA đều đang duy trì các hình thức, các tổ chức xã hội mang tính chất phongkiến đơn thuần Đó là sự tồn tại của chế độ công xã nông thôn– cơ sở của chế

độ phong kiến Tuy nhiên, trớc sự khủng hoảng của nền kinh tế chủ đạo lànông nghiệp và sự xuất hiện của mầm mống kinh tế TBCN nhng không có

điều kiện phát triển thì xã hội phong kiến đơn thuần ấy đang rơi vào tình trạngsuy tàn và khủng hoảng

Trong xã hội phong kiến ở ĐNA tồn tại hai giai cấp cơ bản là giai cấpthống trị gồm vua, quý tộc, tăng lữ, địa chủ có mọi đặc quyền, đặc lợi và bóclột các giai cấp khác trong xã hội Dới đó là giai cấp nông dân chiếm số lợng

đông đảo (90% dân số), là lực lợng chính làm ra mọi của cải trong xã hội

nh-ng đời sốnh-ng lại vô cùnh-ng khổ cực, chịu nhiều áp bức, bóc lột của giai cấp thốnh-ngtrị Ngoài các loại thuế khóa phải nộp, họ còn phải lao dịch cho nhà nớc…NhMộttầng lớp khác bị bóc lột nặng nề nữa là nô lệ Tầng lớp này chiếm vị trí tơng

đối ít, hầu nh không đóng vai trò quan trọng trong xã hội Nô lệ phần lớn đợc

Trang 13

sử dụng vào các công việc phi sản xuất nh hầu hạ trong các gia đình giàu có,trong cung vua và một bộ phận đợc sử dụng trong các xởng thủ công, cáccông trình kiến trúc Vì vậy có thể gọi chế độ nô lệ ấy là chế độ “nô lệ gia tr-ởng”, khác với chế độ “nô lệ phổ biến” ở phơng Tây.

Nhmg tựu trung lại thì trong xã hội ĐNA bấy giờ chủ yếu là tồn tại mốiquan hệ giữa địa chủ- nông dân Đây cũng chính là mâu thuẫn cơ bản trong xãhội Mâu thuẫn giai cấp này xuất hiện và ngày càng trở nên gay gắt Khôngcòn đờng sống, nhân dân, trớc hết là nông dân đã nổi dậy khởi nghĩa Nhữngcuộc khởi nghĩa nông dân vừa là kết quả, vừa là nguyên nhân góp thêm đẩychế độ phong kiến, nhà nớc phong kiến suy yếu nhanh hơn Đây chính là điềukiện thuận lợi để thực dân phơng Tây tiến hành những cuộc chiến tranh xâm l-

ợc biến các nớc ĐNA thành thuộc địa

Minh chứng rõ nhất mà ta thấy là ở Philippin Cho đến trớc khi thực dânphơngTây xâm lợc, hầu hết các quốc gia ĐNA đang suy tàn, khủng hoảng,một số nớc đang trên đà phát triển nhng chỉ duy nhất ở Philippin là đang duytrì những tàn d của xã hội nguyên thuỷ, tức là tồn tại chế độ thủ lĩnh ở giai

đoạn phong kiến sơ kỳ Tình hình đó càng dễ dàng để phơng Tây xâm lợcquốc gia này Cho nên có thể nói quá trình hình thành chế độ phong kiến ởPhilippin đồng hành với quá trình xâm lợc của thực dân phơng Tây (cụ thể làTây Ban Nha)

Tình hình văn hoá:

Đến giai đoạn này, những giá trị văn hoá truyền thống của ĐNA đang

đứng trớc một thách thức bởi sự tác động của văn hoá phơng Tây Hay nóicách khác, bên cạnh nền văn hoá truyền thống là văn hoá lúa nớc, văn hoá vậtchất, tín ngỡng, tôn giáo…Nhđã bắt đầu xuất hiện những làn sóng của văn hoáphơng Tây Đó là sự ảnh hởng của văn hoá ấn Độ và Trung Hoa

Văn hoá ấn Độ và Trung Hoa đợc du nhập vào ĐNA từ rất sớm, trênnhiều phơng diện của đời sống xã hội, đặc biệt là trên lĩnh vực t tởng, tôngiáo Ví nh đạo Hinđu và đạo Phật đợc truyền bá vào ngay từ đầu côngnguyên

Đối với ảnh hởng của ấn Độ ta thấy, thuật ngữ “Hinđu hoá” nhìn chung

đợc các học giả sử dụng để chỉ tác động của nền văn hoá ấn Độ đối với

ĐNA”[12, 31] Các quốc gia nh Miến Điện, Thái Lan, Campuchia và Lào chịu

sự chi phối của dòng phật giáo Tiểu thừa (từ thế kỷ XIII) Dòng Phật Tiểu thừa

Trang 14

này đơn giản, không đòi hỏi có một tăng đoàn để duy trì các ngôi chùa đắttiền và lễ nghi phức tạp Những ngời truyền giáo đạo này là các nhà s chủ tr-

ơng khổ hạnh, sống ẩn dật, thiền định và quyết tâm sống một cuộc đời nghèokhổ và tận tuỵ quên mình Khác với hệ thống tôn ti ở thủ đô, các tu sĩ này cóquan hệ trực tiếp với nhân dân và họ đã phá bỏ hoàn toàn quốc giáo cũ và tấtcả những gì liên quan đến nó Do vậy chùa Phật mọc lên rất nhiều Ngôi chùa

là nơi thờ cúng các vị Phật, đồng thời cũng là trung tâm văn hoá tâm linh, làhình tợng chân- thiện- mỹ đối với c dân ĐNA

Còn riêng ở Việt Nam, vừa chịu ảnh hởng của Phật giáo Đại thừa, lạivừa chịu ảnh hởng sâu sắc của các trờng phái t tởng Trung Hoa, trong đó tiêubiểu là nho giáo Khổng- Mạnh với hệ t tởng Tam cơng- Ngũ thờng Do vậy,không phải ngẫu nhiên ở Việt Nam, Nho giáo đã trở thành hệ t tởng chínhthống trong giai đoạn này, là công cụ để bảo vệ chế độ phong kiến và duy trìtrật tự xã hội

Từ thế kỷ XIII c dân Arập, ấn Độ cũng vào khu vực ĐNA để buôn bánnên Đạo Hồi cũng bắt đầu đợc truyền bá vào khu vực này mà trớc hết là ở cácnớc hải đảo Do đó từ cuối thế kỷ XIV sang thế kỷ XV xuất hiện nhiều tiểuquốc Hồi giáo ở ĐNA nh Mã Lai và Inđônêxia

Nh vậy, trên cơ sở tiếp thu ảnh hởng của văn hoá bên ngoài, c dân ĐNA

đã biết lựa chọn những yếu tố phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của khu vựcrồi kết hợp với nền văn hoá bản địa tạo ra một nền văn hoá phong phú nhngvẫn mang đậm bản sắc riêng của khu vực, đồng thời có những nét độc đáomang tính đặc trng của từng quốc gia, dân tộc Do đó về cơ bản ta thấy nềnvăn hoá ĐNA vẫn mang xu hớng đóng kín cha vợt khỏi khuôn khổ của chế độphong kiến Vì vậy nó cũng là một trong những nhân tố khiến cho chế độphong kiến vốn đã, đang khủng hoảng ngày càng suy tàn và khủng hoảng hơn

Nói tóm lại, cho đến trớc khi thực dân phơng Tây xâm lợc, cả về kinhtế- chính trị- văn hoá- xã hội của các quốc gia ĐNA đều có sự biến đổi vàbiến đổi sâu sắc Cùng với sự tồn tại của nền kinh tế mang tính tự cấp, tự túc

là một thể chế chính trị– xã hội đang trong giai đoạn trì trệ và khủng hoảng.Trong xã hội, mâu thuẫn giai cấp nổi lên ngày càng sâu sắc Thêm vào đó làmột nền văn hoá phong kiến đã kìm hãm sự giao lu của nền văn hoá mới vớinhững t tởng tiến bộ Tất cả những điều đó làm cho bức tranh chung của ĐNAhết sức phức tạp Trong khi ở thời điểm này nhiều nớc ở Âu- Mĩ đã hoàn thành

Trang 15

những cuộc cách mạng t sản để bớc vào giai đoạn đế quốc chủ nghĩa Nhu cầucấp bách là thị trờng đặt ra một cách bức thiết buộc họ phải đi tìm, mở rộng,chinh phục ra những vùng đất mới ở Châu á, Châu Phi và Mỹ La tinh Những

điều kiện thuận lợi ấy khiến cho việc xâm lợc của các nớc phơng Tây ở ĐNA

là điều không thể tránh khỏi

1.1.2 Khái quát quá trình xâm lợc của thực dân phơng Tây ở một số nớc Đông Nam á:

Nh ở phần trên chúng ta vừa tìm hiểu là vào thời kỳ cận đại, phơng

Đông nói chung và các quốc gia ĐNA nói riêng rơi vào tình trạng trì trệ, bảothủ Do đó đã xuất hiện thuyết “Châu Âu là trung tâm” cho rằng các nớc t bảnphơng Tây đã đóng vai trò là “ngời khai hoá” cho các dân tộc lạc hậu phơng

Đông Đó là một quan niệm hoàn toàn sai lầm vì mục đích chỉ để phục vụ chochính sách thực dân của các nớc t bản phơng Tây

Theo các nguồn tài liệu ghi chép đợc chúng ta có thể nhận định rằng:quá trình xâm nhập, xâm lợc của thực dân phơng Tây bắt đầu từ sự giao lu tiếpxúc rất tự nhiên, đó là truyền đạo và buôn bán Tuy nhiên về sau những việclàm ấy đã vô tình kích thích ham muốn chiếm đoạt của t bản thực dân phơngTây ở khu vực này Cũng theo nguồn tài liệu còn lu giữ đợc thì các nhà nghiêncứu đã xác định: ngời Châu Âu đầu tiên có mặt ở ĐNA là Marcô Pôlô Ông đã

đến Trung Quốc vào “năm 1275, đợc Hốt Tất Liệt đón tiếp tại “Cung Thợng”

ở Xơng Đô”[12, 363] Trong suốt 17 năm lu lại Trung Quốc, ông đã đợc triều

đình tuyển dụng làm sĩ quan tình báo và đợc phái đi công cán ở những nơi xa

Cụ thể là ông đã từng đặt chân đến Miến Điện, Lào, Inđônêxia, Đại Việt vàChămpa…Nh

Tiếp đó, vào khoảng thời gian trớc khi đoàn của Marco Pôlô bắt đầucuộc hành trình từ Trung Quốc về nớc, một vị linh mục thuộc dòng Francistên là Jonh Monte Corvino đã bắt đầu đi sang Bắc Kinh với hy vọng cải đạoHốt Tất Liệt sang đạo Cơđốc Sau đó ông đã đến quần đảo Inđônêxia vào năm1294

Nhng cuốn sách hay nhất, đáng lu ý nhất là cuốn sách “Mô tả về phơng

Đông” của Francis Odoric Theo ghi chép này, tác giả đã rời phơng Đông vàonăm 1316 và quay về Châu Âu vào năm 1330 Tác phẩm này đợc coi là “mộtbức tranh đầy đủ nhất, nhiều hoạ đồ nhất và thú vị nhất về Châu á của một

Trang 16

ngời truyền giáo để lại vào thời đại này”[12, 366] Cũng trong tác phẩm ấy,tác giả đã cho ngời đọc thấy một Xumatra và một nớc Chăm khá hoàn chỉnh.

Bên cạnh đó, trong thời gian này còn có hai vị linh mục khác làJordanus và Jonh Marignôlli với tác phẩm: “Những kỳ quan của phơng

Đông” Qua tác phẩm cho biết hai ông đã từng đặt chân đến ấn Độ vào năm

1330, trong đó có tới một số vùng Châu á khác nh đảo Giava, Xumatra,Chămpa

ít lâu sau, vào giữa thế kỷ XIV, ngời Châu Âu tiếp theo đến ĐNAkhông phải là một nhà truyền giáo mà là một ngời đi thăm dò khả năng buônbán, một ngời thuộc một gia đình quý tộc ở Venetian (ý) tên là Nicolo deConti Ông đã đi khắp phơng Đông trong thời gian 25 năm và trở về nớc năm

1444 Những địa điểm ông đã từng có mặt ở đây là: Xumatra, Giava, Miến

Điện…Nh

Sau hoạt động của thơng nhân Conti thì một loạt các thơng nhân kháccũng lần lợt vợt biển sang khu vực này vào các thế kỷ XV, XVI là Hieronomo

de Santo Stefano (1496) và Luctovico de Varthema (1502)

Nh vậy, có thể nói từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XV đợc coi là nền tảng cơ

sở đặt nền móng cho các nớc thực dân phơng Tây tiến hành quá trình xâmnhập mạnh mẽ ở ĐNA Hay nói cách khác là kết thúc thế kỷ XV, lịch sử đã

“chuyển từ thời đại những ngời hoang dã thời trung cổ sang thời đại củanhững tên cớp biển Bồ Đào Nha”[12, 374]

Sự kiện đánh dấu bớc chuyển ấy là vào năm 1511, thơng nhân Bồ ĐàoNha đã tìm ra con đờng sang phơng Đông qua phát kiến địa lý Họ đã đến đợcvùng Tây ấn và mở nhiều thơng điếm ở đây để buôn bán Từ đó, họ mở rộng

ra một số địa bàn khác ở ĐNA Có thể nói, sự kiện năm 1511- Bồ Đào Nhachính thức nổ súng tấn công xâm lợc Malăcca do nhận thấy tầm quan trọngcủa khu vực này đã mở đầu cho quá trình xâm lợc của thực dân phơng Tây ở

ĐNA

Đồng thời với ngời Bồ Đào Nha là ngời Tây Ban Nha cũng đến khu vựcnày, đầu tiên là Côlômbô Nhng thành công nhất là đoàn thám hiểm củaMagienlăng Với quyết tâm chia phần trong việc buôn bán hơng liệu, nên vàotháng 2- 1524 một đoàn thuỷ thủ của Tây Ban Nha đã từ Mêhicô vợt biển trinhsát đến quần đảo này do Ruylopez de Villabos đứng đầu cuộc viễn chinh nhng

Trang 17

hầu nh không thu đợc kết quả gì Tuy nhiên ông ta chính là ngời lấy tên Philip(con trai hoàng đế Chorles V) để đặt tên cho quần đảo là Philippin.

Tuy nhiên, đến cuối thế kỷ XVI, trung tâm kinh tế Châu Âu đã chuyểndần từ biển Địa Trung Hải lên ven bờ Bắc Hải nên Bồ Đào Nha và Tây BanNha dần suy yếu Trong khi đó ngời Hà Lan và ngời Anh đã có nhiều tiến bộtrong việc phát triển kĩ thuật do đã hoàn thành cách mạng t sản Vì vậy, đểcạnh tranh với Bồ Đào Nha, Anh và Hà Lan đã thành lập ra “công ty Đôngấn” vào năm 1600 và năm 1602 Mặc dù vậy, hai công ty này cũng luôn luôncạnh tranh, gây sức ép để loại trừ dần ảnh hởng của nhau Cuối cùng, với thếmạnh của mình, ngời Hà Lan đã đánh bật Bồ Đào Nha ra khỏi Malăcca vàxâm lợc Inđônêxia Nhng sự cực thịnh của Hà Lan cũng không thể kéo dài lâu

đợc cho đến khi Anh vơn lên đánh chiếm Malăcca của Hà Lan rồi tiếp tục tiếnhành chinh phục các tiểu quốc của bán đảo Mã Lai và Miama Ngay sau đó làthực dân Pháp tiến vào xâm lợc ba nớc Đông Dơng và cạnh tranh quyết liệtvới Anh Thêm nữa là đế quốc Mĩ cũng nhân cơ hội để nhảy vào khu vực nàyvào đầu thế kỷ XIX

Nh vậy, về cơ bản cho đến cuối thế kỷ XIX, thực dân phơng Tây đãhoàn thành quá trình xâm lợc của mình ở ĐNA Để đạt đợc mục đích củamình nhằm biến ĐNA thành nớc thuộc địa, phụ thuộc hoặc thuộc địa nửaphong kiến, thực dân phơng Tây đã không từ một thủ đoạn hèn hạ nào: từ biệnpháp nhẹ nhàng, mềm dẻo ban đầu là truyền giáo cho đến những biện phápcứng rắn nh dùng vũ lực, lợi dụng tôn giáo, dân tộc, sắc tộc, thực thi chínhsách “chia để trị” và mua chuộc nhằm biến các nớc ĐNA thành nơi cung cấpnguyên– nhiên liệu, thành thị trờng tiêu thụ và xuất khẩu t bản cho chínhquốc

Tất nhiên, trong buổi đầu thời cận đại, khi CNTB cha phát triển cao thìcông cuộc buôn bán và chinh phục các quốc gia phơng Đông thờng đợc giaocho các công ty thơng mại lớn mà thờng đợc gọi là các công ty Đông ấn Độ.Các công ty này thực hiện chính sách “vừa buôn bán, vừa ăn cớp” Nó đợcxem nh là một “nhà nớc con” với bộ máy chính quyền và quân đội đầy đủ

Nhng nhìn chung, thời điểm mà các nớc ĐNA trở thành thuộc địa củathực dân phơng Tây khác nhau Quá trình chinh phục của thực dân phơng Tâytrải qua một thời gian dài, các nớc thực dân không thể đánh nhanh nh họmong muốn bởi do cuộc kháng cự của các dân tộc ở đây Có những nơi thực

Trang 18

dân phải trải qua một cuộc chinh phục kéo dài trên dới ba thế kỷ mới hoànthành nh ở Inđônêxia hay Miến Điện Song có những khu vực chỉ cha đầy mộtnửa thế kỷ, công cuộc chinh phục đã hoàn thành nh cuộc chinh phục của Pháp

ở Đông Dơng Rõ ràng quá trình xâm lợc của thực dân diễn ra không đồng

đều, đa dạng và phức tạp Công cuộc xâm lợc của các tên thực dân ở ĐNA cónhững nét chung, đủ phơng thức, thủ đoạn nh ngoại giao, buôn bán, truyềngiáo, khống chế chính trị rồi dùng vũ lực thôn tính Nhng mặt khác, mỗi tênthực dân nh vậy cũng có những nét riêng, mang đặc trng của từng nớc Cụ thểlà:

Quá trình xâm lợc Philippin của Tây Ban Nha:

Với nguồn lợi khổng lồ thu đợc từ việc buôn bán hơng liệu nh một liềuthuốc kích thích lòng ham muốn thơng nhân Tây Ban Nha cho thuyền rẽ sóng

về phơng Đông Bởi từ lâu cả ngời Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đều biết vềphơng Đông giàu có qua những câu chuyện đợc ghi chép, truyền tụng, sau này

đợc công bố dới nhan đề “Du kí” của Marco Pôlô…Nh ơng Đông giàu có đãPhlàm say lòng ngời Châu Âu và trớc hết là ngời Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha

Ngày 10/8/1519, nhà thám hiểm Ph.Magienlăng của Tây Ban Nha đãdẫn 5 chiến thuyền rời đất nớc và đến quần đảo này vào ngày 16/3/1521 Sau

đó họ tiếp tục cuộc hành trình về đảo Xêbu (phía Nam Philippin) Nhng doxung đột với thổ dân ở đảo Mactan, dới sự lãnh đạo của tù trởng Lapu Lapu,Magienlăng bị chết Những đồng đội của ông trở về Tây Ban Nha với nhữngnguồn của cải khổng lồ, đầy ắp những sản vật của phơng Đông Bản chất thamlam của bọn thực dân lại trỗi dậy và thúc giục chúng chiếm lấy vùng đất này

Do đó vào năm 1524, chính phủ Tây Ban Nha phái Ruybơlếch de Villaloboslãnh đạo đội quân viễn chinh gồm 5 chiếc tàu cùng 370 binh lính từ Mêhicôqua Thái Bình Dơng đến xâm lợc quần đảo Tuy nhiên trong lần này do bị cdân bản địa phản kháng quyết liệt nên âm mu xâm lợc Philippin của Tây BanNha không thành công Nhng chính trong lần này, con của Villalobos đã lấytên thái tử Philip đặt tên cho Philippin

Mặc dù bị thất bại trong âm mu xâm lợc Philippin nhng Tây Ban Nhavẫn không từ bỏ âm mu của mình Do đó vào năm 1564 chính phủ Tây BanNha lại phái Lơgatspi lãnh đạo đội quân viễn chinh sang Philippin lần hai.Cuộc chiến tranh ăn cớp tàn ác đã diễn ra Nhân dân Xêbu đã chiến đấu rấtanh dũng Nhng cuối cùng do u thế mạnh hơn về vũ khí, lực lợng, tổ chức,

Trang 19

cuối cùng Tây Ban Nha cũng chiếm đợc đảo Xêbu (1565), rồi sau đó làm chủcả Manila (1571) Tuy nhiên để có đợc thành công ấy, chính quyền Tây BanNha cũng phải mất một thời gian khá lâu Và đến năm 1572, thực dân TâyBan Nha đã cơ bản làm chủ đợc quần đảo này và nó cũng là mốc đánh dấu sựhoàn thành quá trình xâm lợc Philippin của Tây Ban Nha Từ đây chế độ thuộc

địa của Tây Ban Nha ở Philippin kéo dài hơn 300 năm

Bên cạnh Tây Ban Nha, trong quá trình xâm lợc Philippin còn có mộttên thực dân nữa là Mĩ Cuộc chiến tranh Mĩ- Tây Ban Nha (1898) là cuộcchiến tranh đế quốc đầu tiên để chia lại thuộc địa Tây Ban Nha thất bại Theohiệp ớc Pari (10/12/1898), Tây Ban Nha nhợng lại quần đảo Philippin cho Mĩ

Từ đó Philippin trở thành thuộc địa của Mĩ

Quá trình xâm lợc Inđônêxia:

Từ thế kỷ XVI, trên đất nớc Inđônêxia, ngời Châu Âu đã có mặt ở đây,

mà nớc đầu tiên là Bồ Đào Nha Trớc khi Bồ Đào Nha đến Inđônêxia thì trênquần đảo này đã diễn ra cảnh buôn bán tấp nập và êm ả giữa ngời bản địa vớingời Trung Quốc, ấn Độ, Ba T về những sản vật quý nh trầm hơng, hồ tiêu,

đinh hơng, vàng, bạc…NhNhng ngay sau khi Bồ Đào Nha đặt chân đến đây thìcảnh buôn bán yên bình ấy đợc thay thế bằng những mâu thuẫn, căng thẳng và

đổ máu Sự kiện đánh dấu đầu tiên là Bồ Đào Nha đánh chiếm Malăcca vàonăm 1511 Năm sau, họ đã xây dựng thơng điếm trên đảo Ambon ở Mêluku-quần đảo hơng liệu ở phía đông Inđônêxia Đến năm 1592, bằng thủ đoạnngoại giao, ngời Bồ Đào Nha đã xây dựng pháo đài ở Tecnat và nắm độcquyền mua bán hơng liệu ở đây Trên cơ sở đó họ tỏa ra tiến hành chiến tranh,chiếm các bộ lạc, đồng thời buôn bán nô lệ một cách dã man

Nhng sự độc quyền của Bồ Đào Nha ở Inđônêxia không kéo dài lâu đợckhi ngời Tây Ban Nha có mặt ở đây vào năm 1521 Năm 1522 ngời Tây BanNha đến Môlucku, lên đảo Tiđo và lập trạm buôn bán ở đây Ngời Tây BanNha đã lợi dụng sự mâu thuẫn giữa các bộ lạc địa phơng nh mâu thuẫn giữangời của đảo Tecnat với ngời của đảo Tiđo để trục lợi, đẩy mâu thuẫn của họsang phía Bồ Đào Nha Cuộc đấu tranh giành quyền khống chế trên các đảo

nh Técnat, Tiđo, Ambon giữa Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha kéo dài hơn nửathế kỷ Cuối cùng mâu thuẫn đợc giải quyết bằng sự thoả hiệp: “ngời Bồ bồithờng cho ngời Tây Ban Nha một số tiền và vàng, còn Tây Ban Nha chuyểnsang hoạt động ở Philippin”[31, 387]

Trang 20

Kế tiếp Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha là thực dân Hà Lan cũng xuất hiệntrên quần đảo Inđônêxia Nói đến Hà Lan thì chúng ta biết rằng sau cuộc cáchmạng t sản vào năm 1566, CNTB ở Hà Lan phát triển mạnh mẽ, Hà Lan trởthành một cờng quốc thơng mại ở Châu Âu Từ đó họ tham gia vào việc tranhgiành buôn bán hơng liệu từ tay Bồ Đào Nha Cuộc cạnh tranh làm chủInđônêxia giữa ngời Hà Lan và ngời Bồ Đào Nha trở nên quyết liệt và cuốicùng kết thúc bằng sự thất bại lớn của ngời Bồ Đào Nha vào năm 1603

Sở dĩ ngời Hà Lan thắng thế ở Inđônêxia là do đã có một số lợi thếkhiến họ vợt xa bất kì một đối thủ nào lúc bấy giờ, kể cả Anh sau này Đó là

do lúc đầu thơng nhân Hà Lan với t cách là những kẻ môi giới, vận chuyểnhàng hoá, thổ sản của phơng Đông từ Bồ Đào Nha sang Châu Âu Hoạt động

đó đã giúp họ “có những kinh nghiệm về nghề làm trung gian mà ít ai có thểbì kịp” Hơn nữa, các phơng pháp tài chính của ngời Hà Lan là phơng pháptiên tiến nhất Châu Âu và họ đã có một lợng vốn luân chuyển lớn khiến ngay

từ đầu họ đã có lợi thế rất trội

Lúc đầu, các thơng nhân Hà Lan đã tổ chức ra nhiều công ty buôn bán

để đi về phơng Đông, mà sự ra đời ồ ạt của các công ty Hà Lan đợc gọi là

“thời kỳ đi biển một cách bừa bãi” [2, 451] “Hầu nh không có hải cảng nào

có tầm quan trọng của ĐNA mà các tàu của ngời Hà Lan không viếngthăm”[2, 451]

Nhng để công cuộc chinh phục và buôn bán có hiệu quả hơn, Hà Lan đã

tổ chức lại các công ty của mình Do đó vào năm 1602, công ty Đông ấn Độcủa Hà Lan đã đợc thành lập (V.O.C) Công ty đợc chính phủ giao cho toànquyền buôn bán với phơng Đông, ký các hiệp ớc liên minh với nớc ngoài, tổchức quân đội, tổ chức cai trị…NhNói chung công ty có quyền nh một nhà nớc

Thông qua việc buôn bán với các vơng quốc địa phơng đã thúc đẩytham vọng độc quyền con đờng buôn bán hơng liệu tới Châu Âu đã buộc ngời

Hà Lan phải đuổi Bồ Đào Nha ra khỏi Ambon ở Môlucku và tàn phá các vơngquốc ở đó Do đó vào năm 1609 ngời Hà Lan chiếm đợc Ambon và Técnat từtay ngời Bồ rồi tự động xây dựng pháo đài ở Giacácta Suntan Bantan phản đối

và cầu cứu ngời Anh giúp Với hành động hèn hạ, bỉ ổi Hà Lan tiến hành tànphá thành phố và xây dựng đồn trú, nhà cửa của mình Giacacta vốn là thànhphố buôn bán trọng điểm của Bantan, tây Giava bị Hà Lan chiếm và đổi thành

Trang 21

Batavia (28/5/1619) Batavia trở thành trung tâm của V.O.C và của Hà Lan ởvùng này.

Sau khi Giacacta rơi vào tay Hà Lan, Bantan trở thành mục tiêu tiếptheo của họ bởi đây đợc coi là yết hầu của con đờng thông thơng tới TrungQuốc và Đông Dơng, Giava sẽ thành nơi có nhiều cảng lớn Chiếm đợc vùngnày sẽ khống chế đợc con đờng buôn bán với nhiều nớc phơng Đông, thu đợcnhiều lợi nhuận

Tiếp đến là cuộc chinh phục hai vơng quốc Mataram và Bantam Đếngiữa thế kỷ XVII, Hà Lan đã kiểm soát đợc cả vùng Đông Inđônêxia Cùngthời điểm ấy Mataram bị suy yếu, vua Amangkurat I lên ngôi nổi tiếng bạongợc Do đó nhân dân đã nổi dậy khởi nghĩa khắp nơi dới sự chỉ huy củaTơrunô Giêgiô Lúc đầu V.O.C của Hà Lan định lợi dụng cuộc khởi nghĩa này

để trục lợi, nhng đã bị cự tuyệt Về sau Hà Lan tìm cách khoét sâu mâu thuẫngiữa Mataram và Bantam để chinh phục hai vơng quốc này Do đó, trớc sức épcủa Hà Lan, vào năm 1743 Hồi vơng Mataram phải ký hiệp ớc công nhận toànquyền của Hà Lan Và đến giữa thế kỷ XVIII, ngời Hà Lan đã thành côngtrong việc làm suy yếu Mataram rồi tiến tới thu phục hai vơng quốc này vàchinh phục nhiều đảo khác Về cơ bản, đến cuối thế kỷ XIX Hà Lan đã hoànthành quá trình xâm lợc quần đảo Inđônêxia

Nhìn lại tình hình thế giới trong thời gian này là sự vơn lên mạnh mẽcủa thực dân Anh Thực ra thực dân Anh cũng đã quan tâm đến buôn bán ởphơng Đông từ lâu, nhng lúc đầu do gặp phải một số khó khăn nên thực dânAnh cha đến khu vực này, mà mãi đến đầu thế kỷ XVIII, khi t bản côngnghiệp Anh tiến lên vợt Hà Lan thì chúng mới nhảy vào thay thế dần ảnh hởngcủa Hà Lan

Sau cuộc chiến tranh Anh – Hà Lan lần thứ t (1780- 1784), uy lực củaV.O.C không còn nữa Ngời Anh đã chiếm các cơ sở của Hà Lan ở TâyXumatra, Anh đợc tự do đi lại buôn bán ở Inđônêxia Vào năm 1800, ngờiAnh bắt đầu tấn công Hà Lan để chiếm Inđônêxia Đến năm 1811, ngời Anh

đã chiếm đợc hầu hết các vị trí của Hà Lan ở Inđônêxia và thiết lập chínhquyền cai trị của mình ở đây từ năm 1811- 1815

Quá trình xâm lợc Đông Dơng của thực dân Pháp:

Nếu nh các nớc thực dân khác đến xâm lợc các nớc ĐNA từ rất sớm, ví

dụ nh ở Philippin và Inđônêxia đã bắt đầu từ thế kỉ XVI Thì đối với Đông

Trang 22

D-ơng, Pháp lại chính thức xâm lợc vào giữa thế kỉ XIX Nhng để tiến hành xâmlợc Đông Dơng vào giữa thế kỉ XIX, thực dân Pháp đã có cả một quá trình

“đặt nền móng” [12, 208] Điều đó phần nào cũng cho ta hiểu một điều rằng

âm mu xâm lợc của thực dân Pháp đối với Đông Dơng đã có từ lâu Lúc đầuchỉ là những hoạt động truyền đạo và buôn bán nhng những việc làm ấy đã vôtình kích thích ham muốn chiếm đoạt của Pháp

Đối với Việt Nam: Vào giữa thế kỉ XIX, chế độ phong kiến Việt Nam

dới sự trị vì của triều đình nhà Nguyễn lâm vào cuộc khủng hoảng trầm trọng,

bế tắc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Do đó nó trở thành nhữngbất lợi lớn cho vị thế của Đại Nam trong mối quan hệ với các nớc bên ngoài

mà trực tiếp là đối với các nớc phơng Tây, trong đó có Pháp

Trớc tình hình ấy, Pháp đã nhảy vào Việt Nam và ngày 31/8/1858 Pháp

đã tập trung quân tại bán đảo Sơn Trà- Đà Nẵng Sự khởi đầu công cuộc xâmlợc của thực dân Pháp ở bán đảo Sơn Trà đợc xem giống nh điểm xuất phát màthực dân Anh đã lấy Malăcca để chinh phục Mã Lai và Inđônêxia và Tây BanNha lấy Xêbu để xâm chiếm Philippin Tuy nhiên, âm mu của Pháp khi đánh

Đà Nẵng không thành công buộc chúng phải rút lui, không thực hiện đợc âm

mu đánh nhanh, thắng nhanh Do đó chúng đã chuyển sang đánh chiếm Gia

Định và chiếm đợc thành Mặc dù tinh thần kháng Pháp của nhân dân Nam

Kỳ diễn ra mạnh mẽ nhng Pháp đã nắm đợc điểm yếu của triều đình Huế Dovậy Pháp đã mở rộng chiến sự ở đây và xâm chiếm ba tỉnh miền Đông: ĐịnhTờng, Biên Hoà và Vĩnh Long (từ giữa năm 1861- 1862) Triều đình Huếkhông dám phản công, đã phản bội nhân dân kí với Pháp hiệp ớc Nhâm Tuất(5/6/1862) Hiệp ớc có 12 điều khoản, trong đó có những khoản chính nh:

“Triều đình Nguyễn phải nhợng hẳn cho Pháp ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ và

đảo Côn Lôn, mở ba cửa biển: Đà Nẵng, Ba Lạt và Quảng Yên, cho thơngnhân Pháp- Tây Ban Nha vào tự do buôn bán và phải bồi thờng 20 triệuquan”[5, 26]

Sau khi chiếm đợc ba tỉnh miền Đông, thực dân Pháp đã mở rộng phạm

vi chiếm đóng, và đến tháng 6/1867 “Nam Kỳ lục tỉnh” đã rơi vào tay thựcdân Pháp Để từ đó chúng có điều kiện củng cố lực lợng, lập bộ máy cai trịlàm bàn đạp xâm lợc toàn bộ lãnh thổ nớc ta ở giai đoạn sau

Sau khi mất Nam Kỳ lục tỉnh nhng triều đình Huế vẫn không có nhữngchủ trơng, biện pháp nào thích hợp, vẫn không đa ra đợc những quyết sách kịp

Trang 23

thời để đối phó với tình hình đang ngày một nguy cấp Tình hình ấy đã tạo

điều kiện để thực dân Pháp đem quân đánh chiếm thành Hà Nội và một số tỉnhthành ở Bắc Kỳ lần thứ nhất vào năm 1873

Hành động xâm lợc của thực dân Pháp đã khiến nhân dân ta vô cùngcăm phẫn Quần chúng nhân dân đã nổi dậy rất dữ dội và đã làm nên chiếnthắng có tiếng vang lớn ở trận Cầu Giấy (21/12/1873) Chiến thắng Cầu Giấylần thứ nhất khiến nhân dân ta vô cùng phấn khởi, ngợc lại làm cho thực dânPháp vô cùng hoang mang, lo sợ và tìm cách thơng lợng Triều đình nhàNguyễn tiếp tục lún sâu vào con đờng thoả hiệp và đã kí hiệp ớc Giáp Tuất(15/3/1874)

Với điều ớc này “triều đình Huế đã thừa nhận chủ quyền của Pháp ởNam Kỳ lục tỉnh, công nhận quyền đi lại, kiểm soát và điều tra tình hình ởViệt Nam của chúng”[5, 43] Với việc thực hiện điều ớc Giáp Tuất, Nam Kỳ

đã trở thành đất bảo hộ của thực dân Pháp Nh vậy việc kí điều ớc này là mộtthắng lợi lớn của Pháp Tự Đức và triều đình Huế lún sâu thêm một bớc nữatrong bản thoả hiệp để tiến tới đầu hàng Pháp

Tuy nhiên, thực dân Pháp không dừng lại ở đó Bớc sang đầu nhữngnăm 80 của thế kỉ XIX, thực dân Pháp dấn thêm một bớc cuối cùng trong việcthôn tính Việt Nam Tháng 4/1882 Pháp lại đa quân đánh chiếm Hà Nội lầnthứ hai, sau đó quyết định đánh thẳng vào Huế Nhân dân Hà Nội anh dũng

đánh trả thực dân Pháp và đã làm nên chiến thắng Cầu Giấy lần thứ hai(19/5/1883) Mặc dù đây là trận nhỏ ở Bắc Kỳ nhng nó lại có ảnh hởng rấtlớn, nó trở thành nguồn cổ vũ của cả Bắc Kỳ và đặt Pháp vào tình thế bị động

Tuy nhiên, triều đình Huế vẫn nuôi ảo tởng thu hồi Hà Nội bằng con ờng thơng thuyết Kết quả của thái độ rụt rè, bối rối ấy là một bản hiệp ớc mới

đ-ra đời giữa triều đình Huế và Pháp là “Hiệp ớc Hácmăng”(25/8/1883) Theo đó triều đình Huế công nhận chế độ bảo hộ của Pháp vàtrao cho Pháp quyền kiểm soát các quan hệ đối ngoại của Việt Nam…NhTừ đóthực dân Pháp mở rộng xâm chiếm các tỉnh Bắc Kỳ trong những tháng cuốinăm 1883 đầu năm 1884 Trong khoảng thời gian này một bản hiệp ớc mới đ-

ợc kí kết thay thế hiệp ớc Hácmăng Đó là hiệp ớc Patơnốt đợc kí vào ngày6/6/1884 Nội dung của bản hiệp ớc này cơ bản vẫn dựa trên hiệp ớc Hácmăngnhng đợc sửa chữa một số khoản nhằm xoa dịu d luận và mua chuộc thêm

Trang 24

những phần tử phong kiến đầu hàng Có thể nói điều ớc Patơnốt là bản khai tửcuối cùng về mọi quyền hành của triều đình Huế đối với nớc ta.

Nh vậy, nếu nói rằng điều ớc Nhâm Tuất năm 1862 là sự mở đầu, điều

-ớc Giáp Tuất 1874 là sự phát triển tiếp theo thì qua điều -ớc 1883 và điều -ớcPatơnốt 1884 là sự hoàn thiện quá trình thoả hiệp, nhân nhợng kẻ thù của triều

đình Huế Việt Nam chính thức trở thành thuộc địa của thực dân Pháp Vì vậy

có thể nói: “Sau điều ớc Patơnốt, Việt Nam nh một ban công của Pháp trênThái Bình Dơng”

Đối với Campuchia: Campuchia giáp với Nam Kỳ, là sứ sở giàu có

nằm trên bán đảo Đông Dơng, có vị trí quan trọng ở ĐNA Từ lâu Campuchiacũng trở thành đối tợng để các tên thực dân phơng Tây dòm ngó Ngay từ đầuthế kỷ XVI, ngời Bồ Đào Nha đã từ căn cứ Mã Lai đến thăm dò Campuchia.Sau đó ngời Tây Ban Nha, rồi ngời Hà Lan cũng định nhảy vào ở giữa thế kỉXVII nhng bị thất bại

Không chỉ thế, đối với thực dân Pháp, công cuộc xâm lợc Campuchiacũng đã bắt đầu từ rất sớm Bắt đầu từ thế kỉ XVII, ngời Pháp đầu tiên đếnCampuchia là vị linh mục tên là Lui Sơvơrơi Nhng vì Campuchia là quốc giachịu ảnh hởng sâu sắc của đạo Phật nên việc truyền bá đạo Cơđốc ở đây là rấtkhó khăn Năm 1845, khi vua Ang Dơng lên ngôi đã hết sức bất bình trớc sức

ép của triều đình phong kiến Xiêm Pháp đã lợi dụng tình hình đó để lôi kéoAng Dơng và hai bên đã có ý định đi đến việc kí kết một bản hiệp ớc nhngXiêm đã phát hiện ra âm mu đó nên tìm cách chống đối, hiệp ớc không đợc kíkết

Đến tháng 1/1860, khi Ang Dơng chết, con là Nôrôđôm lên nối ngôitrong tình hình nội trị và ngoại giao của Campuchia hết sức khó khăn Mặc dùchế độ phong kiến vẫn còn tồn tại nhng trên thực tế quyền lực của vua chỉ làtrên danh nghĩa, “địa vị của vua chỉ nh một quan nhiếp chính, có thể bị phếbỏ”[31, 430] Trong lúc này thực dân Anh đã chiếm ấn Độ, tiếp đó chiếmRănggun (Miến Điện) vào năm 1824 và đang toan tính chiếm toàn bộ Miến

Điện bành trớng ra phía đông Trớc sự bành trớng của Anh ở ĐNA, thực dânPháp thấy cần phải nhanh chóng chiếm Đông Dơng làm bàn đạp tấn côngTrung Quốc từ phía Bắc Vì vậy năm 1863, sau khi đã chiếm ba tỉnh miền

Đông Nam Bộ (Việt Nam) Đuđa đơ Lagirê đã chỉ huy pháo thuyền sangCampuchia để chuẩn bị hành động quân sự Hành động của Pháp ở

Trang 25

Campuchia cha bắt đợc Xiêm lùi bớc Cuộc tranh chấp giữa Pháp và Xiêm đãdiễn ra và ngày càng trở nên phức tạp Nhanh chân hơn, đại diện của Pháp là

đô đốc Lagrandierè đã đến gặp Nôrôđôm vào tháng 7/1863 và kí một bản hiệp

ớc bảo hộ Campuchia nhằm bảo vệ nền độc lập của nớc này chống lại Xiêm

Đây đợc coi là hiệp ớc xâm lợc đầu tiên ở Campuchia

Tuy nhiên, vai trò và ảnh hởng của Xiêm đã có từ lâu và ảnh hởng rấtlớn, không dễ gì xoá bỏ ở Campuchia Khi bản hiệp ớc giữa Pháp- Campuchiacha đợc Napônêông III phê chuẩn thì Xiêm đợc Anh ủng hộ đã tìm cách buộcCampuchia phải kí một bản hiệp ớc khác với mình, tiếp tục chấp nhận sự “chechở” của Xiêm

Có thể nói, hai bản hiệp ớc mà Pháp và Xiêm đã kí với Campuchia nhmột đòn ăn miếng trả miếng, là sự giằng xé một miếng mồi giữa hai tên cớp.Nền độc lập của Campuchia bị đe doạ nghiêm trọng Cuối cùng mâu thuẫngiữa Pháp- Xiêm trong mối quan hệ với Campuchia đã đợc dàn xếp bằng

“Hiệp ớc Pháp- Xiêm” đợc kí vào 15/7/1867 tại Băng Cốc Nội dung chủ yếucủa hiệp ớc này là “Xiêm phải thừa nhận sự bảo hộ của Pháp ởCampuchia…Nh”[31, 433] Nh thế thực dân Pháp đã gạt đợc Xiêm ra khỏiCampuchia để một mình tiến hành độc chiếm Campuchia Campuchia thực sựtrở thành thuộc địa của Pháp

Đối với Lào: Vào những năm 90 của thế kỉ XIX, đế quốc Pháp đã

chiếm xong Việt Nam và Campuchia, bắt đầu vơn về phía tây nên đặc biệt chú

ý đến Lào

Ngời Pháp đầu tiên đến Lào là một nhà nghiên cứu địa lý tự nhiên nhngsau một thời gian ngắn ở đây thì ông bị chết do bệnh sốt rét Tiếp đó, đến năm

1865, Pháp cử hai pháo thuyền ngợc sông Mê Công đến Luông Pha Băng do

Đuđa đơ Lagơrê chỉ huy Tuy nhiên, công cuộc thâm nhập vào Lào của thựcdân Pháp chỉ đợc đẩy mạnh từ khi Pavie đến Luông Pha Băng làm lãnh sự năm

1885 Nhng trớc khi Pháp xâm lợc thì ảnh hởng của Xiêm ở Lào cũng rất lớnbởi Lào đã trở thành một tỉnh của Xiêm Thực dân Pháp cũng hiểu rằng muốnchiếm Lào thì trớc hết phải gạt bỏ ảnh hởng của Xiêm bằng cách lấy cảm tìnhcủa vua Lào Khi đã có đợc tình cảm đó, Pháp đã phái quân từ Hà Nội sangLuông Pha Băng để “bảo vệ vua Lào” vào năm 1886 Nhng thực chất là đểchiếm vùng này bằng việc xây dựng hàng loạt đồn bốt dọc biên giới Đông BắcLào

Trang 26

Sự có mặt của Pháp ở Lào làm quan hệ Pháp- Xiêm trở nên căng thẳng,nhiều cuộc xung đột lẻ tẻ giữa Pháp – Xiêm đã diễn ra trong những năm1891- 1892 tởng chừng nh cuộc chiến tranh Xiêm- Pháp đã cận kề Nhng vềsau do Anh không ủng hộ nên buộc Xiêm phải xuống thang và miễn cỡng kívới Pháp hiệp ớc ngày 13/10/1893 Theo hiệp ớc này, hai bên đã lấy sông MêCông làm ranh giới, phía Tây thuộc quyền quản lý của Xiêm, phía Đông thuộcPháp Nh vậy, với hiệp ớc 1893, chế độ cai trị của thực dân Pháp đợc chínhthức thiết lập trên đất Lào, chấm dứt 115 năm bị Xiêm đô hộ.

Có thể thấy, cuộc xâm lợc của thực dân Pháp ở Đông Dơng đợc khởi

đầu ở Việt Nam, đợc mở rộng sang Campuchia và kết thúc ở Lào Nhng đểhoàn thành quá trình ấy, thực dân Pháp phải mất trên dới 30 năm, Đông Dơngmới trở thành một thuộc địa liền khối của thực dân Pháp Từ đây chúng bắt tayvào đặt nền thống trị và khai thác, bóc lột Đông Dơng

Tóm lại, sau gần bốn thế kỷ, từ khi đặt những thơng điếm đầu tiên vàothế kỷ XVI cho đến cuối thế kỷ XIX, thực dân phơng Tây đã hoàn thành việcxâm lợc các nớc ĐNA Bằng nhiều thủ đoạn khác nhau, từ những biện phápmềm dẻo cho đến dùng vũ lực, thực dân phơng Tây đã đặt đợc ách đô hộ lên

ĐNA Các quốc gia ĐNA, từ những nớc phong kiến độc lập hoặc đang ở thờikì tiền phong kiến, hoặc còn ở trình độ bộ tộc cha bao giờ có giao lu với thếgiới bên ngoài đã bị các nớc thực dân từng bớc biến thành các nớc thuộc địa.Mâu thuẫn giai cấp vốn đã tồn tại từ lâu trong xã hội ĐNA giờ thêm mâuthuẫn dân tộc, đã đặt các nớc trong tình thế đồng thời phải giải quyết cùngmột lúc hai mâu thuẫn trên để giành độc lập và phát triển đất nớc đi lên

1.2 Khái quát quá trình thống trị của thực dân phơng Tây ở một số nớc Đông Nam á

Thủ tớng Pháp G Pheri trong bài diễn văn của mình ngày 28/7/1885 đãnói: “…NhTrong một Châu Âu, hay đúng hơn trong một thế giới nh vậy, chínhsách ngồi im không xâm lợc chính là con đờng suy tàn” Lời phát biểu nàyphần nào đã cho chúng ta thấy đợc bản chất của CNTB là xâm lợc, là thuộc

địa Khi CNTB chuyển từ tự do cạnh tranh sang CNĐQ thì thuộc địa càng có ýnghĩa quan trọng Thuộc địa đợc coi là thớc đo giá trị của CNĐQ trong nhiềuthế kỷ đô hộ, thuộc địa trở thành tiêu chuẩn đánh giá chủ nghĩa thực dân mạnhhay yếu

Trang 27

Vì vậy mà ngay sau khi xâm chiếm và biến các nớc ĐNA thành thuộc

địa, các nớc thực dân đã thực thi những chính sách cai trị và bóc lột hết sức dãman Tuỳ theo tình hình và đặc điểm riêng của mình mà mỗi tên thực dân cónhững biện pháp và hình thức khác nhau Tuy nhiên xét về bản chất thì chúngcũng có những nét chung Đầu tiên là ở mục đích xâm lợc thuộc địa: Các nớcthực dân phơng Tây đã biến các nớc ĐNA thành nơi cung cấp nguyên liệu,nhân công rẻ mạt cho chính quốc, là thị trờng tiêu thụ sản phẩm công nghiệpcho chính quốc một cách chắc chắn và thu lợi nhuận cao Đồng thời nó còn làcăn cứ quân sự làm bàn đạp xâm chiếm các nớc khác và là nơi xuất cảng t bảnthu nhiều lợi nhuận nhất

1.2.1 Chính sách cai trị:

Sau khi đặt ách đô hộ ở ĐNA ta thấy trong chính sách cai trị của chúng

có nhiều nét giống nhau Đó là : hầu hết các nớc thực dân phơng Tây đều sửdụng hai hình thức cai trị, hoặc là trực tiếp, hoặc là gián tiếp, hoặc là sử dụng

đồng thời cả hai Mặc dù sử dụng những hình thức cai trị hoàn toàn khônggiống nhau nhng về bản chất tất cả chỉ là một

Trở lại xem xét quá trình xâm lợc và thống trị của chủ nghĩa thực dân ở

ĐNA ta thấy ở thời kì đầu (từ thế kỉ XVI- XVIII) các nớc thực dân phơng Tây

đều áp dụng hình thức cai trị gián tiếp Đó là các nớc đã thông qua các công tythơng mại viễn phơng để cai trị và bóc lột Bên cạnh đó các nớc thực dân cũngtận dụng chính quyền bản xứ để tiến hành cai trị áp dụng hình thức này,chính quyền thực dân thờng cử một đại diện của mình bên cạnh chính quyềnbản xứ với những tên gọi khác nhau nh: “công xứ”, “cố vấn” Minh chứng chohình thức này là thực dân Anh áp dụng ở một phần bán đảo Mã Lai và BắcKalimanta Hay ở “Liên bang Mã Lai” thì ngời Anh quản lý gián tiếp thôngqua viên khâm sứ ngời Anh Còn các vơng quốc không gia nhập liên bang(Tơrenganu, Giôho, Kêđăc), chúng cũng quản lý gián tiếp núp dới danh nghĩa

“quan cố vấn” [31, 408]

Bên cạnh đó bọn thực dân cũng áp dụng chế độ cai trị trực tiếp với hệthống quan chức thực dân đợc sắp đặt từ trung ơng đến hàng tỉnh Đứng đầuthuộc địa là một viên toàn quyền, sau đó là các viên thống đốc, thống sứ,khâm sứ, tổng đốc và cuối cùng là các quan lại thực dân hàng tỉnh Thêm vào

đó, bọn thực dân còn sử dụng hàng ngũ quan lại phong kiến địa phơng làmchỗ dựa để tiện lợi cho công việc cai trị và bóc lột của chúng Hình thức này

Trang 28

đợc thể hiện rõ ở “vùng thuộc địa eo biển” của Mã Lai (Pênang, Xingapo,Malăcca) thực dân Anh cai trị trực tiếp, đứng đầu là tổng đốc Hay ở “ĐôngDơng thuộc Pháp” đứng đầu là một viên toàn quyền, bên cạnh đó có một viêntổng th ký và một thợng hội đồng.

Lực lợng quân đội và cảnh sát là công cụ đắc lực để bọn thực dân thực thichính sách cai trị và bóc lột của mình Về mặt sĩ quan, chỉ huy là ngời Anh,Pháp, Hà Lan, Tây Ban Nha, tức là bọn thực dân phơng Tây Còn binh lính làngời bản xứ hoặc lính đánh thuê Ví dụ nh ở Mã Lai, chỉ huy là ngời Anh, cònbinh lính là ngời bản xứ Mã Lai và ấn Độ ở Philippin, chỉ huy là ngời TâyBan Nha ở Inđônêxia là ngời Hà Lan và ngời Anh Lực lợng quân đội này sẵnsàng đàn áp các cuộc khởi nghĩa, đấu tranh của nhân dân nếu nh nhân dân nổidậy đấu tranh chống lại chính quyền thực dân

Hình thức “chia để trị” cũng là chính sách phổ biến mà bọn thực dânphơng Tây triệt để sử dụng trên cơ sở phân chia mỗi nớc thành các khu vựckhác nhau để thực thi các chính sách cai trị khác nhau Cụ thể nh ở Mã Lai,thực dân Anh phân chia thành ba khu vực là “vùng thuộc địa eo biển”, “Liênbang Mã Lai” và các vơng quốc không gia nhập Liên bang ở Philippin, thựcdân Tây Ban Nha cũng chia thành 16 tỉnh, đến đầu thế kỉ XIX tăng thành 34tỉnh Còn ở Miến Điện, thực dân Anh cũng chia ra thành nhiều tiểu quốc đểcai trị nh San, Karen…Nhở Đông Dơng, thực dân Pháp chia thành năm xứ vớicác chế độ cai trị khác nhau là Bắc Kỳ (bảo hộ ), Trung Kỳ (tự trị), Nam Kỳ(thuộc địa), Ai Lao (thuộc địa) và Cao Miên (bảo hộ)

Có thể thấy, với việc sử dụng chính sách “chia để trị” của thực dân

ph-ơng Tây đã khiến mâu thuẫn giữa các vùng miền, các dân tộc, sắc tộc, đặc biệt

là tôn giáo ngày càng trở nên sâu sắc và không thể điều hoà đợc Do đó mộtcuộc chiến tranh tất yếu sẽ nổ ra

Không dừng lại ở đó, các nớc phơng Tây đều tìm cách chia rẽ làm suyyếu nhân dân, mua chuộc giai cấp thống trị bản địa Ví nh ở Lào, chính quyềnthực dân đã gây chia rẽ trong từng nội bộ dân tộc, gây hận thù giữa bộ tộc nàyvới bộ tộc khác ở Luông Pha Băng có một “uỷ viên chính phủ” bên cạnh nhàvua Còn Pavi trở thành tổng ủy viên chính phủ đóng vai trò của kẻ chỉ huychung mọi việc ở Lào” [31, 447] Nhng biểu hiện rõ nhất là ở Miến Điện Vớichính sách chia để trị của ngời Anh “vùng đồng bằng với dân số đông đảo làngời Miến thì phải chịu chế độ trực trị, nhng ở vùng đất cao, các khu vực có

Trang 29

ngời thiểu số sinh sống…Nhthì ngời Anh áp dụng chế độ cai trị gián tiếp”[12,234] Hình thức cai trị này đã khiến mâu thuẫn giữa ngời Miến với các dân tộcthiểu số bùng nổ, giảm mâu thuẫn với ngời Anh Điều này vô hình dung khiếncho cuộc đấu tranh chống thực dân Anh của ngời Miến lắng xuống để giảiquyết mâu thuẫn trong nội bộ dân tộc.

Đồng thời trong lĩnh vực văn hoá- xã hội, chúng còn thực hiện chínhsách “ngu dân”, đầu độc ngời bản xứ bằng rợu và thuốc phiện Do đó hầu hếtngời dân ĐNA đều mù chữ, phần lớn trẻ em không đợc cắp sách tới trờng

“Nạn đói- sự dốt nát- bị đầu độc là ba quốc nạn” mà ngời dân dới chính quyềnthuộc địa phải gánh chịu Trong “Bản án chế độ thực dân Pháp”, Nguyễn áiQuốc đã miêu tả rất rõ “chính quyền thực dân bán rợu khắp nơi, đại lý rợu vàthuốc phiện nhiều hơn trờng học, trong 1000 làng chỉ có 10 trờng học, nhng

đại lý rợu và thuốc phiện lại nhiều gấp 150 lần số trờng học”[12, 254] Hay

nh ở Mã Lai năm 1931 chỉ có 8,5% dân số biết chữ Campuchia còn bi đáthơn, thực tế 99% ngời dân mù chữ Còn ở Inđônêxia, khi thực dân Hà Lanthực hiện “chính sách đạo đức” thì một phần ngân sách đợc cấp cho giáo dục,song trờng học đợc mở ra chủ yếu nhằm đào tạo đội ngũ công chức phục vụcho chính quyền thực dân

Song hành với chính sách ấy là chúng duy trì những t tởng lạc hậu, bảothủ, những tập tục mê tín dị đoan…Nhđể ru ngủ nhân dân thuộc địa, tạo điềukiện cho họ dễ bề cai trị

Có thể nói, với việc sử dụng văn hoá làm công cụ cai trị là một biệnpháp thâm độc của chủ nghĩa thực dân phơng Tây Vấn đề văn hoá- xã hội ởcác nớc thuộc địa dới thời thực dân là một vấn đề nhức nhối bởi nó đã làm đảolộn xã hội, phá vỡ những tập quán, phong tục truyền thống tốt đẹp của c dânnơi đây Cho nên những lời rêu rao của bọn thực dân là “khai hoá, văn minh”,

là “chính sách đạo đức” chỉ là giả tạo, là danh nghĩa, vỏ bọc ngoài để chúng

dễ bề cai trị mà thôi

Bên cạnh đó, cùng với chính sách chia rẽ dân tộc, sắc tộc, bọn thực dânphơng Tây còn sử dụng triệt để tôn giáo nh một công cụ đắc lực nhằm phục vụmục đích thống trị của mình Ví nh ở Inđônêxia ngay từ thế kỷ XV- XVI, đạoIxlam đã tìm đợc “chỗ đứng vững chắc” trên đất nớc này, nên khi thực dân HàLan xâm lợc, chúng đã sử dụng Hồi giáo nh một vũ khí t tởng đắc lực để

Trang 30

khống chế các lãnh chúa địa phơng nhằm dễ dàng khai thác và bóc lột thuộc

địa

Đặc biệt là ở Philippin, các giáo sĩ Tây Ban Nha có vai trò tích cực gópphần vào việc chinh phục và thống trị thuộc địa ở vùng đất này Sở dĩ nói nhvậy là do lúc đầu trên đất nớc này đạo Ixlam có ảnh hởng lớn, nhng về saubọn giáo sĩ Tây Ban Nha sang đã chiếm đợc cảm tình và lôi kéo đợc các vơngquốc phong kiến và các thủ lĩnh bộ tộc tin và đi theo tôn giáo mới là đạo Kitô

Do đó chúng đã sử dụng Kitô giáo để chống lại Ixlam giáo gây ra xung độttôn giáo kéo dài hàng nửa thế kỷ, và mãi đến giữa thế kỷ XIX Kitô giáo mớithắng thế trên quần đảo này

Nh vậy, qua những đặc điểm vừa tìm hiểu ở trên ta thấy rõ bản chất củabọn thực dân phơng Tây đều là ăn cớp, là bóc lột Dù mỗi nớc đều có nhữngtham vọng và mục đích riêng của mình, nhng tựu trung lại là đều muốn biếncác nớc ĐNA thành thị trờng để khai thác và tiêu thụ hàng hoá và cao hơn làxuất khẩu t bản để thu lợi nhuận kếch xù

1.2.2 Chính sách bóc lột:

Sau khi đặt sự thống trị lên các nớc ĐNA, thực dân phơng Tây tiến hànhbóc lột các nớc này, mà biện pháp phổ biến nhất là tăng cao thuế và đặt ranhiều loại thuế nhằm vơ vét triệt để các xứ thuộc địa Về hình thức, chúng sửdụng cả hai loại là thuế trực thu và thuế gián thu bao gồm: thuế thân, thuế

điền, thuế rợu, thuế muối…Nhvới mức thu ngày một tăng

Trớc hết ở Việt Nam, “vào năm 1898, thuế thân ở Trung Kỳ mỗi đầungời từ 30 xu tăng lên 2,3 đồng ở Bắc Kỳ từ 50 xu lên 2,5 đồng Thuế ruộngthời phong kiến mỗi mẫu đóng một đồng, năm 1897 ruộng hạng nhất đóng 1,5

đồng; hạng nhì 1,10 đồng; hạng ba 0,80 đồng”[23, 61]

ở Lào, trớc năm 1935 thuế thân chỉ có 0,60 đồng, rồi 2,00 đồng và năm

1935 lên 2,50 đồng…NhNăm 1900, tổng số thuế gián thu của ngân sách ĐôngDơng là 13,5 triệu đồng, riêng thuế muối, thuế thuốc phiện đã 11.050.000

đồng

Cả một danh mục thuế khoá nhiều chủng loại nh vậy đã khiến cho đờisống nhân dân các nớc thuộc địa vốn đã nghèo khổ lại càng thêm nghèo khổ

và cơ cực hơn Nhng bên cạnh thuế khoá nặng nề là chế độ phu phen tạp dịch

hà khắc Sắc luật 30/12/1936 mà tổng thống Pháp kí đã quy định “lao động sudịch là lao động nghĩa vụ” của mỗi ngời dân thuộc địa ở Ai Lao sắc luật

Trang 31

27/6/1933 quy định mỗi năm mỗi ngời dân Lào phải đi “lao dịch” 60 ngày, điphu 40 ngày Còn ở Philippin, thực dân Tây Ban Nha quy định mỗi ngời phải

đi lao dịch 52 ngày/ năm nhng thực tế nhiều hơn

Mặt khác, trong nông nghiệp ta thấy chính sách cớp đoạt ruộng đất đểlập đồn điền là nổi bật hơn cả thông qua việc ép triều đình nhợng quyền khaikhẩn đất hoang cho chúng “Năm 1890, bọn thực dân Pháp chiếm 10900 haruộng đất trong cả nớc, năm 1900 con số này lên đến 301.000 ha”[23, 60] Ph-

ơng thức kinh doanh ở các đồn điền vẫn là phát canh thu tô theo lối phongkiến ở các đồn điền, ngời nông dân các nớc thuộc địa phải sản xuất để cungcấp nguyên liệu cho chúng mà chủ yếu là sản xuất cây công nghiệp nh chè,càphê, cao su…NhDiện tích cao su từ năm 1897- 1920 là 7210 ha…NhHay ởInđônêxia, thực dân Hà Lan còn bắt nhân dân trồng chàm, hồ tiêu Biện phápnày khiến cho ngời nông dân đói khổ vì mất đất, lúa gạo không đủ ăn, hàngvạn ngời lao động bị phá sản, sống không ra sống

Trong lâm nghiệp, bọn thực dân cớp bóc, vơ vét nhiều nguồn tài nguyênquý hiếm của rừng, đặc biệt là gỗ

Còn trong công nghiệp, chúng chỉ tập trung vào khai mỏ (than đá, thiếc,kẽm…Nh) Ví nh ở Mã Lai, từ năm 1910, thực dân Anh nắm quyền khai mỏthiếc và luyện thiếc Ngoài ra còn lũng đoạn quyền khai thác các mỏ vàng,vônphram, than đá Hay nh ở Đông Dơng, “từ năm 1895- 1914, mỗi năm thựcdân Pháp khai thác khoảng 100 kg vàng Chỉ riêng năm 1911, chúng khai thác

đợc hơn 28.000 tấn quặng kẽm, gần 200 tấn quặng thiếc, 100 tấn đồng…Nh”[23,61]

Ngoài khai mỏ, chúng chủ yếu chế biến nông sản để sản xuất ra cácmặt hàng phục vụ nhu cầu tại chỗ nhằm thu lợi nhuận ngay Tiêu biểu nhất là

từ năm 1907-1917, thực dân Pháp xuất cảng khoảng 60% lợng xi măng sảnxuất ra các nớc ở Viễn Đông, cạnh tranh với hàng xi măng ở Anh

Điểm dễ thấy nhất trong công nghiệp là bọn thực dân không chú trọngphát triển công nghiệp nặng mà chỉ tập trung vào công nghiệp sửa chữa Đó làviệc xây dựng các xởng máy gia công sửa chữa nhằm phục vụ cho chính sáchbóc lột đạt hiệu quả tối đa mà không có một nhà máy lớn nào Hơn nữa chúngkhông mở mang công nghiệp ở thuộc địa để tránh sự cạnh tranh với côngnghiệp chính quốc

Trang 32

Còn trong lĩnh vực giao thông vận tải, chúng chỉ chú trọng đầu t xâydựng một số trục giao thông, đặc biệt là đờng sắt, nối liền các trung tâm kinh

tế, các khu vực khai thác nguyên liệu nhằm phục vụ đắc lực cho mục đíchkhai thác và quân sự

Với những chính sách trên ta thấy, về cơ bản nền kinh tế ở các nớc

ĐNA là phát triển què quặt, hoàn toàn lệ thuộc vào chủ nghĩa thực dân Đồngthời, với những biện pháp ấy thực dân phơng Tây đã biến ĐNA thành thị trờngkhai thác và thị trờng tiêu thụ hàng hoá cho chính quốc

Tuy nhiên, khi tìm hiểu về chính sách cai trị và bóc lột của thực dân

ph-ơng Tây ở ĐNA mà chỉ dừng lại ở các đặc điểm trên thì sẽ là một sự thiếu hụtlớn bởi nó không phản ánh đợc “bộ mặt thật” của từng tên thực dân Nhữngnét “đặc thù” mà mỗi tên thực dân thể hiện ra trong mỗi thuộc địa của mình làyếu tố quan trọng nhất giúp chúng ta hiểu rõ hơn bản chất của chúng nh thếnào?

Trớc hết là thực dân Tây Ban Nha ở Philippin: Ta biết rằng Philippin là

một thuộc địa hơn 300 năm của Tây Ban Nha, ách áp bức bóc lột ở đây rấtnặng nề Điểm nổi bật trong chính sách cai trị của thực dân Tây Ban Nha ở

đây chính là việc sử dụng Thiên chúa giáo với t cách là công cụ để cai trị vàbóc lột tàn bạo ở Philippin Thực dân Tây Ban Nha bắt các vơng quốc phongkiến ở đây đều phải theo đạo Kitô Chính vì lý do này khiến cho Philippin hiệnnay có số tín đồ theo Thiên chúa giáo đông nhất

Còn trong chính sách bóc lột thì cho đến cuối thế kỷ XIX chúng vẫnthực thi chính sách bóc lột kiểu trung cổ Viên toàn quyền, do vua Tây BanNha cử và uỷ quyền cai trị thuộc địa, nắm toàn bộ quyền hành chính, t pháp,quân sự…NhBộ máy ở trung ơng và cấp tỉnh đều nằm trong tay ngời Tây BanNha Đặc biệt bọn phong kiến quý tộc cớp đoạt ruộng đất của nông dân mộtcách trực tiếp hoặc qua con đờng cho vay nặng lãi

Đối với thực dân Anh ở Miến Điện, ta thấy nét nổi bật trong chính sáchcai trị là việc thực thi một chính sách rất đặc biệt, đó là Anh biến Miến Điệnthành một tỉnh của ấn Độ, lập bộ máy quan liêu thống nhất trong toàn Miến

Điện Quyền lực tối cao trong nớc tập trung vào tay viên toàn quyền Anh trựcthuộc phó vơng ấn Độ Dới toàn quyền có các tổng đốc ngời Anh cai trị cáckhu

Trang 33

Bên cạnh đó, điểm nổi bật trong chính sách bóc lột của thực dân Anh ở

đây là việc chính phủ Anh tăng cờng đầu t t bản vào hai nớc này Đây chính là

điểm khác biệt dễ thấy nhất của thực dân Anh so với các nớc phơng Tây khácbởi do Anh là nớc t bản công nghiệp hàng đầu Hình thức đầu t này chủ yếu là

ở việc xây dựng các nhà máy, xí nghiệp Ví dụ: “tổng số vốn đầu t của Anh ởMiến Điện đến năm 1914 lên tới khoảng 15- 17 triệu bảng Anh Năm 1900ngời ta đếm đợc 301 xí nghiệp với 45.000 công nhân Năm 1918 tổng số nhàmáy là 500 với 71.000 công nhân”[31, 466]

Đối với thực dân Hà Lan ở Inđônêxia ta thấy: Inđônêxia là một điển

hình của sự khai thác và bóc lột thuộc địa của bọn thực dân phơng Tây ở

ĐNA Trong đó Hà Lan nổi lên ở nớc này với chính sách cai trị cũng rất riêng,

đó là việc sử dụng cả hai hình thức: cai trị trực tiếp và cai trị gián tiếp Thời kỳ

đầu, chúng cai trị gián tiếp thông qua công ty Đông ấn Hà Lan, dựa vào chínhquyền phong kiến địa phơng Nhng từ năm 1800 trở đi, chúng thực thi chínhsách cai trị trực tiếp nghĩa là hầu nh tất cả mọi quyền hành từ trung ơng đến

địa phơng đều nằm trong tay Hà Lan

Trong chính sách bóc lột, Hà Lan cũng điển hình với chính sách “cỡngbức trồng trọt” Có thể nói đây là biện pháp thâm hiểm nhất do viên toànquyền Vanđen Bốt đề ra Theo chính sách này, tất cả nông dân Inđônêxia phảidành ra 1/5 diện tích đất đai để trồng các loại cây công nghiệp do chính phủ

Hà Lan quy định Toàn bộ sản phẩm thu đợc trên mảnh đất này đều phải nộpcho chính phủ Hà Lan thay thuế Do đó, với chính sách này đã làm cho ngờinông dân Inđônêxia bị thiếu lơng thực trồng trọt Nhng ngợc lại chính phủ HàLan lại thu đợc một khoản lợi nhuận kếch xù Trong 40 năm (1830- 1870) thihành chính sách này, chính phủ Hà Lan thu đợc món lợi nhuận nhiều bằng sốthu nhập của công ty Đông ấn Hà trong 200 năm Chính chế độ “cỡng bứctrồng trọt” này đã làm chậm quá trình tan vỡ của quan hệ phong kiến trongnông thôn Inđônêxia Vì vậy chính sách này không những bị nhân dân bản địa

mà ngay cả nhân dân Hà Lan cũng phản đối quyết liệt Do đó chính phủ HàLan phải bãi bỏ vào năm 1870

Còn đối với thực dân Pháp ở ba nớc Đông Dơng ta thấy nét điển hình

nhất trong chính sách cai trị của chúng là việc chia Đông Dơng thành nhiều xứvới chế độ cai trị khác nhau Cụ thể là thực dân Pháp chia Đông Dơng thànhnăm xứ (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Ai Lao và Cao Miên) với ba chế độ là

Trang 34

thuộc địa, bảo hộ và tự trị Với việc phân chia nh vậy thì Nam Kỳ là xứ thuộc

địa do viên toàn quyền Đông Dơng đứng đầu Bắc Kỳ là xứ bảo hộ, vua chỉ là

h vị, thực chất thuộc quyền của khâm sứ Trung Kỳ là xứ tự trị thuộc quyềncủa khâm sai Ai Lao là xứ thuộc địa, còn Cao Miên là xứ tự trị giống vớiTrung Kỳ

Còn trong chính sách bóc lột, nếu thực dân Anh nổi bật là quốc gia đầu

t trực tiếp ở thuộc địa nhiều hơn cả thì thực dân Pháp lại chủ yếu đầu t giántiếp, còn đầu t trực tiếp thì rất hạn chế Điểm nổi bật này phần nào chứng tỏmột đặc điểm là vì sao Pháp đợc gọi là tên thực dân “cho vay nặng lãi”

Có thể thấy, những chính sách cai trị và bóc lột của thực dân phơng Tây

ở các nớc ĐNA là hết sức tàn bạo và xảo quyệt Mặc dù hình thức thống trịcủa các thực dân ở thuộc địa là không giống nhau, tính chất thuộc địa ở mỗi n-

ớc cũng có những nét khác nhau, nhng điểm chung mà các tên thực dân gặp

gỡ ở đây là cách nhìn nhận thuộc địa là hậu phơng, là thị trờng, lợi nhuận Do

đó những chính sách ấy đã để lại những hệ quả to lớn đối với các thuộc địatrên các lĩnh vực của đời sống xã hội Mâu thuẫn dân tộc nảy sinh và ngàycàng trở nên gay gắt Vì vậy chiến tranh tất yếu sẽ nổ ra để các thuộc địagiành đợc độc lập của nớc mình

Trang 35

ngời Châu Âu nhng về sau khi đã hiểu đợc bản chất của chúng thì nhân dâncác nớc thuộc địa đã vùng dậy đấu tranh để bảo vệ nền độc lập của mình.

Trang 36

Chơng 2: Xu hớng bạo động trong phong trào chống xâm lợc và giải phóng dân tộc ở một số nớc

Đông Nam á (từ thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX)

2.1 Nguyên nhân xuất hiện 2 xu hớng: bạo động và cải lơng trong phong trào chống xâm lợc và giải phóng dân tộc ở một số nớc Đông Nam

á từ thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX:

Cũng nh các nớc Châu á, Châu Phi và Mỹ La tinh, trớc bớc tiến xâm

l-ợc của thực dân phơng Tây, nhân dân các nớc ĐNA cũng nổi dậy đấu tranh đểgiành lại độc lập cho dân tộc mình Trong khoảng thời gian cuối thế kỷ XIX

đầu thế kỷ XX, trong phong trào giải phóng dân tộc ở ĐNA đã xuất hiện cùngmột lúc hai xu hớng: bạo động và cải lơng Nhng nguyên nhân nào khiến chotrong phong trào giải phóng dân tộc ở ĐNA lại xuất hiện cùng một lúc hai xuhớng trên?

Để trả lời cho câu hỏi đó chúng ta không chỉ dựa vào hoàn cảnh lịch sửlúc bấy giờ quy định mà còn phải dựa trên cơ sở kinh tế- chính trị- xã hội- vănhoá của các nớc ĐNA để hiểu một cách sâu sắc hơn Về đại thể, chúng ta cóthể tìm hiểu một số nguyên nhân cơ bản sau:

Trớc hết là do ảnh hởng của tình hình thế giới Ta thấy, trong phongtrào giải phóng dân tộc ở á- Phi- Mỹ La tinh cũng xuất hiện hai xu hớng bạo

động và cải lơng Ví dụ nh:

ở Trung Quốc, bên cạnh xu hớng bạo động (tiêu biểu là phong trào

“Thái Bình Thiên Quốc”, phong trào “Nghĩa hoà đoàn”, đặc biệt là cuộc cáchmạng Tân Hợi 1911 càng khuyến khích phong trào đấu tranh của nhân dân)

Xu hớng cải lơng cũng xuất hiện với phong trào “Dơng vụ”, “Duy Tân MậuTuất” (1898) do Lơng Khải Siêu và Khang Hữu Vi khởi xớng

Hay ở ấn Độ, cuộc khởi nghĩa Xipay là tiêu biểu cho xu hớng bạo

động Còn sự thành lập Đảng quốc đại ấn Độ với t tởng bất bạo động là đạidiện cho xu hớng cải lơng trong phong trào giải phóng dân tộc ở ấn Độ

ở Châu Phi, nhiều cuộc đấu tranh, khởi nghĩa cũng nổ ra, tiêu biểu nhất

là do các sĩ quan lãnh đạo và cũng bắt đầu xuất hiện xu hớng cải lơng theokhuynh hớng dân chủ t sản, mà chủ yếu là ở Bắc Phi nơi có kinh tế TBCN pháttriển

Trang 37

Còn ở Mỹ La tinh, trong phong trào giải phóng dân tộc chia làm hai giai

đoạn, đó là: vào đầu thế kỷ XIX nhân dân ở đây đứng lên chống chủ nghĩathực dân cũ (Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha) với cuộc khởi nghĩa tiêu biểu củangời anh hùng Pôliva Còn bớc sang đầu thế kỷ XX là chống chủ nghĩa thựcdân mới (chủ yếu là Mĩ), tiêu biểu có cuộc cách mạng Mêhicô Đồng thời với

đó là một số nớc cũng chủ trơng tiến hành cải cách để đa đất nớc thoát khỏi

ách thực dân

Nh vậy, do những biến động của châu lục và trên thế giới đã tác độngmạnh mẽ đến các nớc ĐNA khiến trong phong trào giải phóng dân tộc ở đâycũng xuất hiện đồng thời hai xu hớng: bạo động và cải lơng

Thứ hai, trong phong trào giải phóng dân tộc ở các quốc gia ĐNAkhông chỉ có một mà cùng một lúc có nhiều giai cấp và tầng lớp khác nhau

đứng ra lãnh đạo: nông dân, sĩ phu phong kiến, khuynh hớng dân chủ t sản vàbớc đầu theo khuynh hớng vô sản Hơn nữa, các giai cấp, tầng lớp này mặc dù

có mục tiêu chung là cứu nớc, giải phóng dân tộc, nhng do trình độ nhận thứckhác nhau và họ sống trong những hoàn cảnh xã hội khác nhau, cho nên họ đã

đề ra những con đờng, những biện pháp khác nhau để thực hiện mục tiêu ấy.Nhng tựu trung lại thì cũng có hai con đờng: hoặc là bạo động, hoặc là cải l-

ơng

Thứ ba là nó bắt nguồn từ truyền thống của c dân ĐNA Đó là truyềnthống đấu tranh bất khuất, quyết không cam chịu ách áp bức, bóc lột củangoại bang Chính vì vậy họ chủ trơng “nợ máu phải trả bằng máu”, phải bạo

động, khởi nghĩa vũ trang để giành lại độc lập tự do cho dân tộc mình

Thứ t, cũng trong truyền thống ấy, ngời dân khu vực này còn mangtrong mình t tởng vị tha, không muốn dùng vũ lực để chống lại nhau Sở dĩ nóivậy bởi vì hầu hết các quốc gia ĐNA đều chịu ảnh hởng của đạo Phật với t t-ởng “từ bi, hỉ xả”, ví dụ nh: Miama, Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam…NhChính vì t tởng ôn hoà của tôn giáo này nên trớc vận mệnh của dân tộc thìnhiều phong trào đã chủ trơng cứu nớc và giành độc lập dân tộc bằng con đ-ờng hoà bình

Thứ năm là do sự bế tắc của con đờng cứu nớc cũ- con đờng cứu nớctheo ý thức hệ phong kiến Chính vì vậy tầng lớp sĩ phu tiên tiến lúc bấy giờ

đã vợt lên hạn chế của giai cấp mình để tiếp thu t tởng mới, tìm ra con đờngcứu nớc tiên tiến hơn nhằm giúp dân tộc mình giành độc lập hoàn toàn

Trang 38

Thứ sáu là do tác động của chính sách thực dân ở các nớc ĐNA khiếntình hình kinh tế- xã hội của các quốc gia nơi đây có nhiều biến động sâu sắc.

Đó là sự du nhập của phơng thức sản xuất TBCN làm cho cơ cấu kinh tếtruyền thống bị phá vỡ Đồng thời với đó là cơ cấu giai cấp trong xã hội cũng

có sự thay đổi, bên cạnh các giai cấp cũ (địa chủ, nông dân), còn xuất hiện cácgiai cấp, tầng lớp mới (t sản, tiểu t sản, công nhân…Nh) Các giai tầng mới nàyxuất hiện có điều kiện tiếp thu các t tởng tiến bộ lúc bấy giờ để phục vụ chonhiệm vụ cứu nớc của dân tộc mình (ví nh tầng lớp trí thức), hay giai cấp t sảnthì bị phân hoá thành hai bộ phận là t sản dân tộc và t sản mại bản, dù họ có ttởng không kiên định, dễ thoả hiệp khi kẻ thù mạnh, nhng trong một chừngmực nào đó thì họ sẽ là một lực lợng mạnh cùng với quần chúng nhân dân nổidậy đấu tranh để đòi lại quyền tự do độc lập

Nh vậy ta thấy, trong thời gian nửa cuối thế kỷ XIX, phong trào đấutranh giải phóng dân tộc của nhân dân ĐNA tạm thời lắng xuống nhng tinhthần yêu nớc, kiên quyết đấu tranh để giải phóng đất nớc vẫn âm ỉ cháy Nhngtrong hoàn cảnh lúc bấy giờ khi chế độ phong kiến đã trở nên lạc hậu, suy tàn,

đang chìm trong đêm trờng trung cổ thì các nớc phơng Tây đã hoàn thànhxong cách mạng t sản, đang tiến lên trên con đờng TBCN Chính vì vậy trớc sự

bế tắc của con đờng cứu nớc phong kiến, thì con đờng cứu nớc mang màu sắc

t sản là mới mẻ, tiến bộ, đặc biệt là khi con đờng cứu nớc theo khuynh hớngvô sản cha có điều kiện thâm nhập vào Cho nên trớc ảnh hởng của tình hìnhthế giới, trong phong trào giải phóng dân tộc của các nớc ĐNA cũng đã xuấthiện cùng một lúc hai xu hớng: bạo động và cải lơng Nhng điểm khác biệt làhai xu hớng đó không gây ảnh hởng lẫn nhau, thậm chí nó còn hỗ trợ và tạo

điều kiện cho nhau phát triển

Thành ngữ Việt Nam từng có câu: “Con giun xéo lắm cũng quằn” Câunói đó thật đúng đắn và sâu sắc, có thể dùng để nói lên cuộc đấu tranh mạnh

mẽ của nhân dân ĐNA chống chủ nghĩa thực dân phơng Tây để bảo vệ đất

n-ớc Ngay từ đầu khi thực dân phơng Tây xâm nhập và xâm lợc, nhân dân ĐNA

đã vùng lên Càng về sau cuộc đấu tranh ấy càng bùng nổ mạnh mẽ, liên tục

và kiên cờng Trong các cuộc đấu tranh ấy, niềm vui chiến thắng rất nhiều

nh-ng khônh-ng phải khônh-ng đợm nỗi buồn thất bại Tuy nhiên dù thất bại nhnh-ng cũnh-ng

đầy ý nghĩa lớn lao, càng giúp cho nhân dân ĐNA trởng thành trong tranh

đấu, ý chí càng quyết liệt hơn Tinh thần ấy thể hiện rõ ngay trong giai đoạn

Trang 39

đầu từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX Mặc dù chỉ ở giai đoạn đầu nhng

nó là nền móng vững chắc cho phong trào giải phóng dân tộc ở ĐNA pháttriển mạnh mẽ ở những giai đoạn sau

Quá trình đấu tranh chống xâm lợc của nhân dân các nớc ĐNA diễn rakhông cùng thời điểm cụ thể, không giống nhau về hình thức, lại khác về ph-

ơng pháp đấu tranh, nhng lại có điểm chung, thống nhất ở mục tiêu: ngănchặn quá trình xâm lợc của chủ nghĩa thực dân, bảo vệ độc lập dân tộc và pháttriển đất nớc Tựu trung lại, chúng ta có thể chia xu hớng bạo động trongphong trào giải phóng dân tộc ở ĐNA thành bốn phong trào do bốn giai cấptiêu biểu lãnh đạo theo cấp độ tăng dần là: các cuộc bạo động do giai cấpnông dân lãnh đạo, các cuộc bạo động do giai cấp địa chủ phong kiến lãnh

đạo, ba lần kháng chiến chống thực dân Anh xâm lợc của triều đình phongkiến Miến Điện và các cuộc bạo động theo khuynh hớng dân chủ t sản Cụ thểlà:

2.2 Các cuộc bạo động do giai cấp nông dân lãnh đạo.

2.2.1 ở Đông Dơng

ở Lào: Từ năm 1893 Lào thực sự biến thành thuộc địa của Pháp Sự

xâm lợc, ách áp bức nặng nề của chủ nghĩa thực dân ở đây đã dẫn tới nhữngphong trào chống Pháp mạnh mẽ của nhân dân Lào Ngay từ đầu thế kỷ XX,nhân dân Lào đã tiến hành nhiều cuộc đấu tranh bất khuất trên toàn lãnh thổ

để chống lại ách nô dịch tàn bạo của thực dân Pháp Mở đầu là cuộc khởinghĩa của Phò Cà Đuột (1901- 1903):

Phò Cà Đuột là một nông dân ở tỉnh Xavannakhét Căm tức trớc hành

động xâm lợc, bóc lột tàn bạo của thực dân Pháp ông đã kêu gọi nhân dân Lào

đứng dậy khởi nghĩa vào năm 1901 Mùa xuân năm 1902 cuộc khởi nghĩaphát triển mạnh ở vùng đồng bằng Xavannakhét

Cuối tháng 3, đầu tháng 4 năm đó, khoảng 1000 quân tiến đánhKhêmarat gây cho địch nhiều khó khăn Nhân dân Xoỏngkhôn cũng hởng ứngcuộc khởi nghĩa của Phò Cà Đuột đã nổi dậy chống Pháp và bao vâyXavannakhét Chủ ngời Pháp là Derripon khiếp sợ đã phải bỏ chạy để thoátthân Sau khi đánh chiếm Xoỏngkhôn, nghĩa quân phát triển ngày càng đông.Thừa thắng, nghĩa quân tiến về giải phóng tỉnh Xavannakhét Vào sáng19/4/1902 bao vây thị xã, tấn công đồn lính và toà xứ Nghĩa quân đã cắt đứt

đờng dây liên lạc giữa Xavannakhét và Viêng Chăn Do đó quân Pháp vội điều

Ngày đăng: 15/12/2015, 07:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[2]. D.G.E.Hall (1997), Lịch sử các quốc gia Đông Nam á. Nxb Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử các quốc gia Đông Nam á
Tác giả: D.G.E.Hall
Nhà XB: Nxb Chính Trị Quốc Gia
Năm: 1997
[3]. Đỗ Thanh Bình (2006), Cuộc đấu tranh chống chính sách Chia để trị “ ” của chủ nghĩa thực dân ở Đông Dơng, Mã Lai, Miến Điện. Nghiên cứuĐông Nam á, Số 3 (78) 2006, tr3-10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc đấu tranh chống chính sách Chia để trị"“ ”"của chủ nghĩa thực dân ở Đông Dơng, Mã Lai, Miến Điện
Tác giả: Đỗ Thanh Bình
Năm: 2006
[4]. Đối thoại giữa các nền văn hoá Inđônêxia. Nxb Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đối thoại giữa các nền văn hoá Inđônêxia
Nhà XB: Nxb Trẻ
[5]. Đinh Xuân Lâm (1998), Đại cơng lịch sử Việt Nam, tập 2. Nxb Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cơng lịch sử Việt Nam, tập 2
Tác giả: Đinh Xuân Lâm
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 1998
[6]. Đinh Xuân Lâm (2006), Phong trào Đông Du (1905- 1908) ý nghĩa thời đại và thực tiễn. Nghiên cứu Đông Nam á, Số (77) 2006, tr3- 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong trào Đông Du (1905- 1908) ý nghĩa thời "đại và thực tiễn. Nghiên cứu Đông Nam á
Tác giả: Đinh Xuân Lâm
Năm: 2006
[7]. Đinh Xuân Lâm- Nguyễn Văn Khánh- Nguyễn Đình Lễ (2000), Đại cơng lịch sử Việt Nam, tập 2. Nxb Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cơng lịch sử Việt Nam, tập 2
Tác giả: Đinh Xuân Lâm- Nguyễn Văn Khánh- Nguyễn Đình Lễ
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 2000
[8]. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 2. Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh toàn tập
Nhà XB: Nxb Sự thật
[9]. Huỳnh Văn Tòng (1994), Lịch sử các quốc gia Đông Nam á, 2 tập. Nxb Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử các quốc gia Đông Nam á, 2 tËp
Tác giả: Huỳnh Văn Tòng
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1994
[10]. Hoàng Văn Huyền (1997), Địa lý các nớc Đông Nam á. Nxb Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lý các nớc Đông Nam á
Tác giả: Hoàng Văn Huyền
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 1997
[11]. Lơng Ninh (1996), Nớc Lào- lịch sử và văn hoá. Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nớc Lào- lịch sử và văn hoá
Tác giả: Lơng Ninh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc Gia
Năm: 1996
[12]. Lơng Ninh- Đỗ Thanh Bình- Trần Thị Vinh (2005), Lịch sử Đông Nam á. Nxb Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đông Nam "á
Tác giả: Lơng Ninh- Đỗ Thanh Bình- Trần Thị Vinh
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 2005
[13]. Lơng Ninh- Nghiêm Đình Vỳ- Đinh Ngọc Bảo (1991), Lịch sử các quốc gia Đông Nam á (tập 2)- Lịch sử Lào. Nxb Trờng ĐH S Phạm Hà Nội I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử các quốc gia Đông Nam á (tập 2)- Lịch sử Lào
Tác giả: Lơng Ninh- Nghiêm Đình Vỳ- Đinh Ngọc Bảo
Nhà XB: Nxb Trờng ĐH S Phạm Hà Nội I
Năm: 1991
[14]. Ngô Văn Doanh (1995), Inđônêxia đất nớc con ngời. Nxb Thông tin Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Inđônêxia đất nớc con ngời
Tác giả: Ngô Văn Doanh
Nhà XB: Nxb Thông tin Hà Néi
Năm: 1995
[15]. Ngô Văn Doanh, Inđônêxia những chặng đờng lịch sử. Nxb Chính trị Quèc Gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Inđônêxia những chặng đờng lịch sử
Nhà XB: Nxb Chính trị Quèc Gia
[16]. Nguyễn Trọng Văn (2002), Các khuynh hớng chính trị trong phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam ba mơi năm đầu thế kỷ XX. Tủ sáchĐại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các khuynh hớng chính trị trong phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam ba mơi năm đầu thế kỷ XX
Tác giả: Nguyễn Trọng Văn
Năm: 2002
[17]. Nguyễn Văn Khánh (2004), Cơ cấu kinh tế xã hội Việt Nam thời thuộc địa (1858- 1945). Nxb ĐH Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ cấu kinh tế xã hội Việt Nam thời thuộc "địa (1858- 1945)
Tác giả: Nguyễn Văn Khánh
Nhà XB: Nxb ĐH Quốc Gia
Năm: 2004
[18]. Nhiều tác giả (1978), Lịch sử nớc Lào. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử nớc Lào
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1978
[19]. Nhiều tác giả (1985), Tìm hiểu lịch sử- văn hoá Campuchia (tập 2). Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu lịch sử- văn hoá Campuchia (tập 2)
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1985
[20]. Phạm Đức Thành (1995), Lịch sử Campuchia. Nxb Văn hoá- Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Campuchia
Tác giả: Phạm Đức Thành
Nhà XB: Nxb Văn hoá- Thông tin
Năm: 1995
[21]. Phạm Đức Thành (1997), Cách mạng tháng Mời với phong trào giải phóng dân tộc ở Đông Nam á. Nghiên cứu Đông Nam á, Số 4 (29) 1997, tr32- 36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ách mạng tháng Mời với phong trào giải phóng dân tộc ở Đông Nam á
Tác giả: Phạm Đức Thành
Năm: 1997

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w