- Tìm hiểu một cách toàn diện các yếu tố tạo nên nhạc điệu thơ Tố Hữu,một khía cạnh sáng tạo nghệ thuật tạo nên vị trí đặc biệt của Tố Hữu trên thi đànthơ ca Việt Nam.. Thế nhngcha có mộ
Trang 1Lời nói đầu
Trong thời gian qua, để hoàn thành tốt Khoá luận tốt nghiệp này, tôi
đã nhận đợc sự giúp đỡ tận tình của các thầy giáo, cô giáo tổ Ngôn ngữ, khoa Ngữ văn, Trờng Đại học Vinh cũng nh của gia đình và bạn bè Qua
đây, tôi muốn gửi lời cảm ơn chân thành đối với tất cả, đặc biệt cảm ơn thầy giáo hớng dẫn, tiến sỹ Nguyễn Hoài Nguyên đã rất nhiệt tình hớng dẫn tôi thực hiện khoá luận này.
Mặc dù rất cố gắng nhng do trình độ có hạn cho nên khoá luận khó tránh khỏi sai sót Chúng tôi mong đợc sự thông cảm và góp ý của thầy giáo, cô giáo và tất cả những ai quan tâm đến đề tài này.
Tác giả
Nguyễn Thị Hải Hoa
Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu
1.1 Tố Hữu là một nhà thơ cộng sản, ngọn cờ đầu của văn học hiện thựcXHCN Việt Nam, là lá cờ tiên phong trong nền thơ ca hiện đại Bởi thế, Tố Hữu
đóng vai trò rất quan trọng trên thi đàn thơ ca cũng nh trong nền văn học sử nớcnhà Trong hơn nửa thế kỷ qua, cùng với sự nghiệp hoạt động cách mạng và sángtác thơ ca, thơ ông đã ghi vào lòng ngời đọc niềm yêu mến, nỗi đam mê từ thế hệ
Trang 2này đến thế hệ khác Ông là một "Ngời đốt lửa" và "Ngời gieo hạt" trên cánh
đồng thơ ca cách mạng của dân tộc mình, với một lòng yêu, lòng tin không baogiờ vơi cạn
1.2 Thơ Tố Hữu là tiếng nói của quần chúng, của thời đại Để có một vị trí
đặc biệt trong nền thơ ca Việt Nam hiện đại, ông đã tạo đợc cho mình một phongcách thơ riêng Mặc dầu ông không cố công đi tìm hình thức gọt dũa kỹ xảo trongthơ nhng ông đã nhận thức về sự kết hợp giữa dân tộc và hiện đại, hiện đại trênnền truyền thống dân tộc Ông rất chú ý tới hình ảnh, nhạc điệu, ngôn ngữ trong
thơ Thơ ông giàu nhạc điệu, có sức mạnh lớn ru ngời trong nhạc Bởi nhạc điệu
trong thơ ông cũng là nhạc điệu của cuộc sống hồn nhiên, náo nức đợc nhìn quacon mắt tinh tế, trong trẻo
1.3 Tìm hiểu nhạc điệu trong thơ Tố Hữu là nói đến sự hoà phối âm thanh,nhịp điệu và thế giới ngôn từ đợc ông sử dụng hết sức tài tình trong thơ của mình
Đi sâu tìm hiểu một khía cạnh trong nghệ thuật thơ Tố Hữu là nhạc điệu chính làgóp phần tìm hiểu thơ Tố Hữu, góp phần lý giải cái sức mạnh vô cùng to lớn của
thơ ông.Với những lý do ấy, chúng tôi chọn đề tài Nhạc điệu thơ Tố Hữu để từ
đó tìm hiểu, khai thác nhạc điệu trong thơ ca, góp phần cho việc cảm thụ thơ canói chung và việc giảng thơ trong nhà trờng nói riêng
Chẳng hạn: Từ địa phơng miền Trung trong thơ Tố Hữu của Xuân Nguyên; Về
cách dùng từ chỉ màu sắc trong thơ Tố Hữu của Lê Anh Hiền; Nhạc điệu thơ Tố Hữu của Nguyễn Trung Thu Giới nghiên cứu đều thừa nhận thơ có tính nhạc, nói
đến thơ là nói đến nhạc điệu, nhng cha có tác giả nào khảo sát một cách đầy đủ,
cụ thể khi tìm hiểu cấu trúc nhạc điệu thơ nói chung, thơ Tố Hữu nói riêng
Bởi vậy, khoá luận này chúng tôi mạnh dạn đặt vấn đề khảo sát nhạc điệu
thơ Tố Hữu một cách cụ thể, đầy đủ và toàn diện.
3 Đối tợng và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Đối tợng nghiên cứu
Trang 3Trong khoá luận này, đối tợng mà chúng tôi nghiên cứu chính là nhạc điệuthơ Tố Hữu, một bình diện sáng tạo trong nghệ thuật thơ của tác giả Cụ thểchúng tôi khảo sát vần thơ, nhịp và luật phối thanh; khảo sát các đơn vị từ vựngtrong câu thơ, bài thơ của Tố Hữu Đây là các yếu tố cơ bản làm nên nhạc điệuthơ Tố Hữu.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Chúng tôi đặt ra cho khóa luận nhiệm vụ phải giải quyết những vấn đề nhsau:
- Bớc đầu xác lập cấu trúc nhạc điệu trong thơ và vai trò của nhạc điệutrong thơ
- Tìm hiểu một cách toàn diện các yếu tố tạo nên nhạc điệu thơ Tố Hữu,một khía cạnh sáng tạo nghệ thuật tạo nên vị trí đặc biệt của Tố Hữu trên thi đànthơ ca Việt Nam
4- Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn t liệu
Với đề tài này, để giải quyết vấn đề chúng tôi chọn 6 tập thơ tiêu biểu của
nhà thơ để làm t liệu khảo sát Đó là các tập thơ Từ ấy (1937-1946); Việt Bắc (1946-1954); Gió lộng (1955-1961); Ra trận (1962-1971); Máu và hoa (1972- 1977) Một tiếng đờn (1979-1992)
4.2 Phơng pháp nghiên cứu
Để làm rõ nhạc điệu trong thơ Tố Hữu chúng tối sử dụng phơng pháp thống
kê và phân loại Kết quả thống kê đợc ghi lại trong các phiếu Để làm nổi bật cấutrúc nhạc điệu thơ Tố Hữu , chúng tôi dùng phơng pháp phân tích miêu tả từ đóchỉ ra những nét đặc sắc trong nhạc điệu thơ Tố Hữu Bên cạnh đó chúng tôi còndùng phơng pháp so sánh đối chiếu để đối chiếu với các nhà thơ khác Vấn đề đ-
ợc nghiên cứu dới góc độ ngôn ngữ học
5 Bố cục khoá luận
Toàn văn khoá luận gồm 55 trang, ngoài phần mở đầu gồm 3 trang, phầnkết luận gồm 2 trang, nội dung khoá luận đợc trình bày thành 2 chơng
Chơng 1: Những giới thuyết xung quanh đề tàiChơng 2: Nhạc điệu thơ Tố Hữu
Trang 4Phần nội dung
Chơng 1: Những giới thuyết xung quanh đề tài
1 Vài nét về Tố Hữu và thơ Tố Hữu
1.1 Vài nét về cuộc đời Tố Hữu
Tố Hữu là nhà thơ đầu tiên của giai cấp vô sản, là lá cờ đầu của nền thơ cacách mạng Việt Nam
Tố Hữu tên thật là Nguyễn Kim Thành, sinh ngày 4/10/1920 tại làng PhùLai, nay thuộc xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế, trongmột gia đình nho nghèo Cha là ngời có học chữ Hán, tuy không đỗ đạt và kháchật vật kiếm sống, nhng lại ham thơ và thích su tầm ca dao, tục ngữ Từ nhỏ TốHữu đã đợc cha dạy làm thơ theo lối cổ Mẹ là con một nhà nho, thuộc nhiều cadao, tục ngữ
Năm ông lên 12 tuổi mẹ mất, cha đi làm xa Năm 13 tuổi, Tố Hữu vào họctrờng Quốc học Huế Lớn lên giữa lúc phong trào cách mạng do Đảng cộng sản
Đông Dơng lãnh đạo đang phát triển mạnh mẽ trong thời kỳ cách mạng dân chủ,
Tố Hữu sớm đợc giác ngộ cách mạng
Năm 1936, ông gia nhập đoàn thanh niên cộng sản và trở thành ngời lãnh
đạo Đoàn thanh niên Dân chủ ở Huế
Năm 1937, Tố Hữu bắt đầu có thơ đăng báo
Năm 1938, Tố Hữu gia nhập Đảng cộng sản Đông Dơng
Tháng 4/1939, ông bị thực dân Pháp bắt và bị giam ở nhiều nhà lao các tỉnhmiền Trung và Tây nguyên
Trang 5Tháng 3/ 1942, Tố Hữu vợt ngục Đắc Lay, trở về gây dựng cơ sở và hoạt
động bí mật tại Thanh Hoá
Tháng 8/1945, Tố Hữu là chủ tịch Uỷ ban khởi nghĩa Thừa Thiên Huế vàsau đó là bí th xứ uỷ Trung kỳ
Sau cách mạng tháng tám 1945 và trong suốt 2 cuộc kháng chiến chốngPháp và Mỹ cho tới năm 1986, Tố Hữu liên tục giữ những vị trí trọng yếu trongcơ quan lãnh đạo của Đảng và Nhà nớc, từng là Uỷ viên Bộ Chính trị Đảng cộngsản Việt Nam, Phó chủ tịch Hội đồng bộ trởng, Bí th Ban chấp hành Trung ơng
Đảng Cộng sản Việt Nam
1.2 Sự nghiệp sáng tác
ở Tố Hữu, sự nghiệp thơ ca luôn gắn liền với sự nghiệp cách mạng Bởi thế
các chặng đờng thơ cũng song song với các giai đoạn Cách mạng của dân tộc Từ
ấy (1937 1946), là tập thơ đầu tay của Tố Hữu Nó bao gồm sáng tác của Tố Hữu
trong khoảng 19 năm (1937-1946) Nó ghi lại bớc đờng trởng thành của ngời
thanh niên cộng sản qua 3 chặng đờng: Máu lửa, Xiềng xích; Giải phóng, phản
ánh thời kỳ lịch sử sôi động của phong trào cách mạng giành độc lập dân chủ trên
đất nớc Việt Nam
Tập Việt Bắc (1946-1954), là bản hùng ca của cuộc kháng chiến chống
thực dân Pháp, phản ánh những chặng đờng gian lao, anh dũng và sự trởng thànhcủa cuộc kháng chiến đến ngày thắng lợi
Tập Gió lộng (1955-1961) tiếp tục khuynh hớng khái quát và cảm hứng lịch
sử đã đợc khởi nguồn ở cuối tập Việt Bắc, kết hợp với sự biểu hiện cái tôi trữ tình
công dân trong một bút pháp nhuần nhị hơn
Hai tập Ra trận (1962-1971); Máu và hoa (1972-1977) là lời kêu gọi hào
hùng, thiết tha, là sự cổ vũ, ngợi ca cuộc chiến đấu ở cả hai miền Nam -Bắc, phản
ánh cuộc chiến đấu anh hùng, khẳng định ý nghĩa thời đại của cuộc kháng chiếnchống Mỹ của dân tộc ta trong cuộc chống giặc ngoại xâm
Tập Một tiếng đờn (1979-1992) là những tâm sự riêng chung của nhà thơ
trớc cuộc sống đang thay đổi từng ngày, từng giờ trên đất nớc ta
Từ 1993-2000 đợc tập hợp lại trong tập thơ Ta với ta Trong suốt quá trình
sáng tạo thơ ca, Tố Hữu đã để lại cho kho tàng văn hoá nớc nhà một số lợng tácphẩm lớn Ông sống hơn 80 năm mà để lại cho đời với bảy tập thơ bao gồm 284bài trong hơn 60 năm sáng tạo nghệ thuật thơ ca
2 Ngôn ngữ thơ
2.1 Khái niệm ngôn ngữ thơ
Trang 6Nh chúng ta đã biết, ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu làm công cụ đắc lực
để tổ chức hoạt động giao tiếp giữa ngời với ngơì trong xã hội Theo Đinh Trọng
Lạc: Khái niệm ngôn ngữ với t cách là một hệ thống cần bao gồm những dạng cơ
bản của việc sử dụng của xã hội đối với hệ thống đó Những dạng này bị qui định bởi những sự khác nhau trong các kiểu t duy (cụ thể: t duy hình tợng và t duy trừu tợng- lôgíc) vốn xác định sự phân biệt giữa ngôn ngữ nghệ thuật và ngôn ngữ phi nghệ thuật /Đinh Trọng Lạc, Phong cách học tiếng Việt, GD, 1995 /.
Cũng theo tác giả, ngôn ngữ phi nghệ thuật, tức là ngôn ngữ tự nhiên củacon ngời có thể đợc xác định nh một mã chung, phổ biến nhất, tức là hệ thống tínhiệu đầu tiên và quy tắc sử dụng những tín hiệu đó mà con ngời dùng để vật chấthoá những ý nghĩ, những tình cảm của mình, tức để diễn đạt những ý nghĩ, nhữngtình cảm trong một hình thức tri giác cảm tính: từ ngữ phát ngôn
Ngôn ngữ nghệ thuật tức là ngôn ngữ trong tác phẩm nghệ thuật ngôn từ, làmột mã phức tạp đợc cấu tạo nên từ hệ thống tín hiệu thứ nhất (từ ngôn ngữ tựnhiên) Chức năng thẩm mĩ của ngôn ngữ trong tác phẩm nghệ thuật đợc biểuhiện ở chỗ tín hiệu ngôn ngữ (tức các đặc trng ngữ nghĩa và đặc trng âm thanh)trở thành yếu tố tạo thành của hình tợng
Nh vậy, có thể nói ngôn ngữ nghệ thuật đòi hỏi việc sử dụng âm thanh và ýnghĩa là hai yếu tố cơ bản tạo thành hình tợng nghệ thuật Trong tính hiện thựccủa nó, ngôn ngữ nghệ thuật bao giờ cũng tồn tại trong các tác phẩm nghệ thuật
cụ thể, dới dạng một thể loại cụ thể hoặc thơ, hoặc kịch, hoặc tiểu thuyết, hoặctruyện ngắn, bút kí
Trong tác phẩm nghệ thuật, ngôn từ bao giờ cũng đảm nhận chức năng làphơng tiện, chất liệu để tạo ra những mạch truyền cảm; trong tác phẩm nghệthuật, ngôn từ bao giờ cũng tìm sức sống của mình từ chất liệu đích thực gắn vớihình tợng muôn màu muôn vẻ của cuộc sống So với ngôn ngữ tự nhiên, ngôn ngữnghệ thuật là một loại ngôn ngữ hoạt động mở, giàu tiềm năng phái sinh các sắcthái nghĩa Đồng thời trong khi hớng tới những cung bậc khác nhau để tạo thànhhình tợng, ngôn ngữ nghệ thuật luôn luôn kết tinh trong bản thân nó chiều dàytruyền thống văn hóa
Thơ cũng là một hệ thống nhất định của ngôn ngữ nghệ thuật Thơ thuộcloại hệ thống ngôn ngữ gây cảm xúc Thơ lại có nhịp điệu riêng, âm hởng riêng-nhịp điệu và âm hởng này dựa trên cơ sở của ngôn ngữ thực tế Ngôn ngữ thơ làthứ ngôn ngữ có tính cách điệu, khác biệt so với ngôn ngữ hàng ngày và các loạingôn ngữ nghệ thuật khác Ngôn ngữ thơ là một chuỗi đặc trng về ngữ âm, từvựng, ngữ pháp nhằm biểu trng hoá, khái quát hoá hiện thực khách quan theocách tổ chức riêng của thi ca
Trang 72.2 Đặc điểm ngôn ngữ thơ
Theo Từ điển thuật ngữ văn học , NXB GD, 1992, thơ đợc định nghĩa là
hình thức sáng tác văn học phản ánh những tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có tính nhịp điệu Cũng tại
trang 210 của tài liệu trên ta có thêm một định nghiã về thơ của Sóng Hồng: Thơ
là một hình thái nghệ thuật cao quý tinh vi Ngời làm thơ phải có tình cảm mãnh liệt thể hiện sự nồng cháy trong lòng Nhng thơ là tình cảm và lý trí kết hợp một cách nhuần nhuyễn và có nghệ thuật Tình cảm và lý trí ấy đợc diễn đạt bằng những hình tợng đẹp đẽ qua những lời thơ trong sáng vang lên nhạc điệu khác th- ờng.
Thơ chính là hình thái văn học đầu tiên của loài ngời, trớc hết là thơ truyền
khẩu, sau đó là những tác phẩm đợc viết bằng thơ Sử thi Iliat và Ôđixê của Hôme, sử thi Mahabharata hay Ramayana của ấn Độ đều là những kiệt tác thơ
của nhân loại Cho nên, trong lịch sử văn học của nhiều dân tộc, nói đến thơ tức lànói đến văn học và ngợc lại Công trình khoa học lí luận của Arixtốt cũng mang
tên Nghệ thuật thi ca chính bởi thơ là kết tinh đặc sắc nhất của văn học đơng thời.
Thơ thiên về biểu hiện cảm xúc, thơ là tiếng lòng, là tiếng nói của trái tim
Ngôn ngữ có nhịp điệu là đặc trng cơ bản của thơ Thơ bao chứa một nội
dung đặc biệt, đó là chất thơ, chỉ nội dung cô đọng, giàu cảm xúc, giàu hình ảnh, nhịp điệu của thơ Ngời xa vẫn nói thi trung hữu nhạc, thi trung hữu hoạ là vậy.
Cảm xúc thơ là cảm xúc thẩm mĩ, thi vị Hình ảnh thơ phải là hình ảnh gợi cảmxúc, đánh thức những rung động trong trái tim ngời đọc
Là hình thức của tác phẩm văn học, lời thơ cũng mang những đặc điểmchung của lời văn trong tác phẩm tự sự, ký, kịch nghĩa là cũng mang tính hình t-ợng, gợi cảm, hàm súc Nhng do đặc thù của thể loại trữ tình, ngôn ngữ thơ cónhững nét đặc trng riêng, vừa mang dấu ấn sáng tạo của nghệ sỹ vừa mang tính
chất chung của thời đại, của dân tộc, bởi vì qua nhà thơ, ngời ta tìm thấy tầm cỡ
của thời đại Theo Nguyễn Phan Cảnh (2001) thì ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ văn
xuôi có điểm tơng đồng nhng cũng có nhiều khác biệt Trớc hết, sự khác biệt là ởcách t duy của nhà nghệ sỹ ngôn từ Theo Nguyễn Phan Cảnh, trong văn xuôi lặplại là điều tối kỵ và phơng trình không đợc dùng để xây dựng những thông báo
ấy thế mà, chính cái điều văn xuôi tối kỵ lại là thủ pháp làm việc của thơ: trongthơ tính tơng đồng của các đơn vị ngôn ngữ lại đợc dùng để xây dựng các thôngbáo ở đây nhà nghiên cứu đang đề cập đến các biện pháp tu từ đợc sử dụng trongthơ : điệp âm, điệp vần, sự lặp lại âm vị, từ, câu Những mệnh đề chồng chấtnhiều khi tạo thành bề dày các đơn vị ngôn ngữ khiến câu thơ dồn nén, đầy sức
mạnh khiến ngôn ngữ thơ thành đa nghĩa Đó chính là sự sống còn của thơ: Thơ
phải đợc chú ý ở ngời lời Trong thơ làm súc vô cùng thì mới là tôn chỉ của ngời
Trang 8làm thơ Cho nên ý thừa hơn lời thì tuy cạn mà vẫn sâu, lời thừa hơn ý thì tuy công phu mà vẫn vụng Còn nh ý hết mà lời cũng hết thì không đáng là ngời làm thơ vậy / Nguyễn Phan Cảnh, tr.60/.
Đặc trng này của ngôn ngữ thơ đặt ra cho giới nghiên cứu phê bình mộtnhiệm vụ lớn: giải mã ngôn ngữ thơ để lĩnh hội tác phẩm thơ Theo GS.Trần Đình
Sử: Thơ là nghệ thuật, là tài nghệ, là sự sáng tạo có tính chất nghệ sỹ, nghĩa là
rút cuộc thơ phải đợc sáng tạo trong ngôn từ Do đó, ngôn ngữ thơ phải giàu, phải đẹp, phải hàm súc / Trần Đình Sử, Thi pháp thơ Tố Hữu, NXB GD,1996/.
Ngôn ngữ thơ không mang tính khách quan nh trong văn xuôi Lời thơ ờng là đánh giá chủ quan trực tiếp của ngời viết về những biến cố đời sống Cho
nên, một nét đặc trng nữa của ngôn ngữ thơ là tính bão hoà cảm xúc Văn xuôi
th-ờng là lời miêu tả, trần thuật theo lối kể trong khi thơ trữ tình là lời đánh dấu sựtồn tại của chủ thể bằng cảm xúc:
Ta muốn ôm Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn
Ta muốn riết mây đa và gió lợn Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngơi
(Vội vàng- Xuân Diệu)Lời thơ trữ tình hớng tới làm nội dung cảm xúc, thái độ của chủ thể trở nênnổi bật Vì thế sự lựa chọn từ ngữ, các phơng tiện tu từ trong thơ khác với vănxuôi Thơ phải cân đối hài hoà, giàu nhạc tính Âm thanh, nhịp điệu sẽ tạo nênnhạc điệu và tính hàm súc cho thơ Chẳng hạn, câu thơ Tố Hữu sau đây là giàunhạc điệu và hàm súc:
Em ơi Ba Lan mùa tuyết tan
Ngôn ngữ thơ còn có một đặc tính nữa đó là sự phân chia ra dòng thơ, câuthơ, đoạn thơ Dòng thơ cũng là câu thơ khi nó diễn đạt trọn vẹn một ý, nhng nếu
Trang 9câu thơ tách khỏi dòng thơ, đa ra khỏi ngữ cảnh thì đôi lúc lại mờ tỏ Khi đó ngời
ta làm thơ phải vắt dòng
Một khổ thơ, đoạn thơ đôi khi có thể trở thành một bài thơ độc lập do tínhtrọn vẹn về nội dung và hình thức của nó, ví nh bức tranh tứ bình đặc sắc trongbài Việt Bắc của Tố Hữu:
Mình về mình có nhớ ta
Ta về ta nhớ những hoa cùng ngời Rừng xanh hoa chuối đỏ tơi
Đèo cao nắng ánh dao cài thắt lng Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ ngời đan nón chuốt từng sợi giang
Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình Rừng thu trăng rọi hoà bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung
ở đây tứ thơ trọn vẹn, cảm xúc và hình ảnh thơ sáng rõ, dào dạt Nhạc thơ
êm ái du dơng đa ngôn ngữ thơ đi thẳng vào trái tim ngời đọc Ưu thế của thơ sovới văn xuôi là ở chỗ trong văn xuôi, các tham số thanh học của ngôn ngữ không
đợc tổ chức cho nên không tạo đợc nhạc tính nh trong ngôn ngữ thơ
Cứ theo những điều mà ta đã trình bày trên đây về ngôn ngữ thơ khi tìmhiểu thơ Tố Hữu, tìm hiểu ngôn ngữ thơ Tố Hữu chúng ta sẽ cắt nghĩa đợc vì saothơ Tố Hữu trở thành những khúc hát tâm tình, những khúc hát ru cho bao thế hệngời Việt Nam
3 Nhạc điệu trong thơ
3.1 Tính tơng xứng trong ngôn ngữ thơ
Trong ngôn ngữ thơ, tính tơng xứng là một trong những đặc điểm quantrọng Nó góp phần mang lại cho thơ một vẻ đẹp đặc biệt Vẻ đẹp của sự hài hoà,hài hoà của các đờng nét, góc cạnh và hài hoà của tổng thể thống nhất Chúng tacần hiểu rằng, tính tơng xứng trong ngôn ngữ thơ một cách đầy đủ và toàn diện
Nó không chỉ là sự cân đối giữa các vế trong một dòng thơ hoặc câu thơ
Tính tơng xứng bao gồm những cái tơng phản, đối xứng, cân đối với nhau
và những cái tồn tại bổ sung cho nhau Tính tơng xứng thể hiện trong ngôn ngữ
Trang 10thơ qua âm thanh, ngữ nghĩa đợc bộc lộ trong trực tiếp hay gián tiếp qua từng câuchữ trong bài thơ.
Về âm thanh, nó là mắt xích kết nối các dòng thơ, câu thơ, làm cho cáccâu thơ hoà quyện đan xen vào nhau Thơ ca Việt Nam xa nay đều lấy tính tơngxứng làm tiêu chuẩn của cái đẹp Nó gắn liền cùng quan điểm thẩm mỹ của dântộc ta về cái đẹp nói chung và vẻ đẹp trong thơ ca nói riêng Tính tơng xứng về
âm thanh trớc hết ta phải nhắc đến tính tơng xứng về thanh điệu Trong tiếngViệt, hệ thống thanh điệu gồm có 6 thanh: thanh sắc ('), thanh hỏi (?), thanh ngã(), thanh nặng () thanh huyền (`) và thanh ngang (còn gọi thanh không dấu).Trong thơ, thanh điệu chia làm 2 loại: thanh bằng (bao gồm: thanh ngang vàthanh huyền), thanh trắc (bao gồm: thanh sắc, thanh hỏi, thanh ngã và thanhnặng)
Tính tơng xứng thanh điệu biểu hiện qua các hiện tợng các thanh đi sóng
đôi với nhau tạo thành những cặp nhất định Thanh ngang có thể song hành vớithanh huyền tạo thành cặp sóng đôi trên hai dòng thơ hoặc 2 câu thơ Thanh sắccũng có thể tơng xứng với thanh nặng hoặc thanh hỏi Các thanh trong tiếng Việtcòn có sự đối xứng cao/thấp (xét về âm vực), đối lập bằng /trắc tức là đối lậpbằng phẳng /gấp khúc, gãy/ không gãy (xét về đờng nét) Do đó cấu trúc của bàithơ rất chặt chẽ, cân đối và âm hờng toàn bài thơ có sự hoà phối một cách hài hoànhờ sử dụng những thế đối lập ấy
Tính tơng xứng trong ngôn ngữ thơ không chỉ về mặt âm thanh mà nó cònthể hiện qua mặt tơng xứng về ý nghĩa nữa Khi nói tới tính tơng xứng về ý nghĩatức là sự đối xứng giữa các câu chữ của hai dòng thơ, hai câu thơ thậm chí trongmột câu, một dòng về ý nghĩa tạo nên tính chất hài hoà về mặt ngữ nghĩa (xét vềmặt từ vựng) Những nhân tố tham gia vào tính tơng xứng về ý nghĩa bao gồm các
từ ngữ mang ý nghĩa đối lập nhau (từ trái nghĩa) hoặc có ý nghĩa bổ sung, gầnnghĩa với nhau (từ đồng nghĩa, gần nghĩa) Khi tìm hiểu thơ ca phải đảm bảo haibình diện: nội dung và hình thức, không nên quá đề cao yếu tố ngôn ngữ cũng nhkhông nên quá đề cao vai trò cảm xúc của nhà thơ Bởi thế, ta càng thấy rõ tính t-
ơng xứng đóng vai trò quan trọng nh thế nào Nó giúp ngời viết phải cân nhắc lựachọn từ ngữ ra sao để đạt giá trị cao nhất đa vào thơ Trong nghiên cứu, tính tơngxứng sẽ tạo cơ sở tiền đề cho việc nhận ra những thế mạnh cũng nh hạn chế củanhà thơ
3.2 Đặc điểm về tính nhạc của ngôn ngữ thơ
Từ xa đến nay, khi định nghĩa thơ, khi bàn về đặc trng của thơ nhiều nhànghiên cứu, phê bình, nhiều nhà thơ đã nêu ra nhng định những quan niệm khácnhau Nhng mọi ngời đều thừa nhận nhạc điệu là một trong những đặc trng bản
Trang 11chất của thơ, đều thừa nhận không có nhạc điệu thì không phải là thơ Thế nhngcha có một tác giả nào phân tích, tìm hiểu đầy đủ, toàn diện các nhân tố tạo nêntính nhạc trong thơ.
Các công trình nghiên cứu nh : Ngôn ngữ thơ - Nguyễn Phan Cảnh; Ngôn
ngữ thơ Việt Nam - Hữu Đạt; Góp phần tìm hiểu nghệ thuật thơ ca- Bùi Công
Hùng; Thơ ca Việt Nam hình thức và thể loại - Bùi Văn Nguyên, Hà Minh Đức
thì các tác giả mới điểm sơ qua ý kiến đánh giá của các tác giả nớc ngoài Các tácgiả đều thống nhất trên quan điểm rằng trong thơ có vấn đề nhạc điệu nhng lạixem xét nó gần với ngôn ngữ của âm nhạc Ngôn ngữ thơ là cái thuộc về ngônngữ, bởi thế nó hoạt động theo đúng quy luật của chính nó ở đây, chúng tôinghiên cứu tính chất của mối quan hệ giữa ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ âm nhạcchứ không nhìn từ góc độ âm nhạc để nghiên cứu thơ và nhạc điệu trong thơ
Tác giả Hữu Đạt và một số nhà nghiên cứu khác cho rằng: Đặc điểm vềtính nhạc là đặc điểm phổ biến trong mọi ngôn ngữ Song do chỗ mỗi ngôn ngữ
cụ thể có cơ cấu, cách cấu tạo và tổ chức khác nhau nên nó đợc thể hiện khácnhau Nhạc điệu trong thơ thể hiện ở cách hoà âm, hoà thanh Hoà âm chính làcách hoà phối các thanh điệu, các cách kết hợp âm thanh theo một kiểu nhất địnhnào đấy trong câu thơ đoạn thơ hay bài thơ Cách hoà âm ở trong thơ thể hiện quamỗi âm tiết, cách thể hiện từng âm vực thanh điệu, cách sử dụng nguyên âm, phụ
âm, trong đó đợc biểu hiện thông qua khuông nhạc (8 nốt nhạc: Đô; rê, mi, sol,mi; pha, si, la ) tạo nên sự khác nhau về cao độ, trờng độ của nốt nhạc Từ đó tạonên sự khác nhau về tiết tấu, đờng nét âm nhạc nói chung Các thanh điệu ở âmvực cao đợc xuất hiện ở các nốt nhạc cao, ngợc lại các thanh điệu ở âm vực thấp
đợc xuất hiện ở các nốt nhạc thấp Khi chuyển thanh điệu ở âm vực cao xuốngmột khoảng cách nhất định thì nó cũng kéo theo sự di chuyển của thanh điệukhác xuống một khoảng cách tơng ứng với tỷ lệ lúc đầu của nó Tính năng động
và tính tơng đối này cũng xảy ra ở mối quan hệ giai điệu, nhịp độ ,nhịp điệu của âm nhạc với cách kết hợp âm của mỗi âm tiết cụ thể và giữa các âm tiết vớinhau
Khả năng biểu hiện chủ yếu ở những từ tợng thanh, tợng hình, những từ lấpláy, sức gợi tả này giúp cho việc tìm kiếm đờng nét giai điệu và lời ca để làm chotiếng hát thêm độc đáo, ý vị và đậm đà bản sắc dân tộc
3.3 Các yếu tố tạo nên tính nhạc trong thơ
Ngôn từ là chất liệu chính tạo nên thơ.Nói đến thơ là nói đến tính nhạc, nhthế tính nhạc là một trong những nhân tố quan trọng làm nên thơ Nó đợc biểuhiện qua các yếu tố nh: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp
3.3.1 Ngữ âm
Trang 12Chính là s hài âm, hài thanh: vần điệu, nhịp điệu, thanh điệu Sự hài âm là
sự hoà phối các thanh điệu, cách sắp xếp cấu tạo theo mô hình nào đó nhằm đa tới
sự hài hoà của từng âm thanh Sở dĩ có đợc điều này là nhờ từ bên trong cấu tạocủa âm tiết các nguyên âm, phụ âm hay thanh điệu tạo nên sự hài hoà
3.3.1.1 Vần điệu
Từ góc độ lý luận văn học, các nhà nghiên cứu, phê bình thờng xem vần làmột yếu tố quan trọng của hình thức thơ ca, là một phơng tiện để chuyển tải nộidung, t tởng, cảm xúc nhà thơ, góp phần tạo nên âm hởng hài hoà và hiệu quảgiao tiếp của thơ Xét vần trong cấu trúc câu thơ, bài thơ ông Dơng Quảng Hàmviết: "Vần là những tiếng thanh âm hoà hiệp đặt vào hai hay nhiều câu để hởngứng nhau" (Dơng Quảng Hàm - 1950 tr 111) Định nghĩa này tơng đối khái quát,chú ý đến đặc điểm cộng hởng hoà âm của vần Nhà nghiên cứu Nguyễn LơngNgọc cũng cho rằng: "Sự lặp lại những thanh dọc hay theo một âm ở cuối haykhoảng giữa dòng thơ là để tăng tiết tấu và sức biểu hiện của từ gọi là vần".(Nguyễn Lơng Ngọc -1969- tr 181) ở định nghĩa này tác giả đã chú ý đến mộthiện tợng nổi bật của thơ ca Việt Nam, đó là vần và thấy đợc vai trò của thanh
điệu Tuy nhiên vai trò hoà âm cha đợc chú ý đúng mức và khái niệm "âm"
"thanh" dùng còn nhầm lẫn Quan niệm này cũng đã đa vào giảng dạy ở các trờng
Đại học Trong cuốn "Thuật ngữ nghiên cứu văn học" (Lê Bá Hán chủ biên 1985) đã đa ra một định nghĩa khá rõ ràng và bao quát: "Vần là sự lặp lại nhữngkhuôn âm giống nhau hoặc tơng tự ở giữa dòng hoặc cuối dòng thơ để làm tăng
-sự liên tởng và sức gợi cho câu thơ (Lê Bá Hán - trang 277) Một số tác giả kháctrên cơ sở khảo sát thực tiễn thơ ca Việt Nam trong quá trình phát triển về hìnhthức và thể loại của nó đã đa ra một cách hiểu về vần mặc dầu không đa ra địnhnghĩa trực tiếp Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức cho rằng: "Vần là sự lặp lạingữ âm để làm tăng sự nhịp nhàng của câu thơ, làm cho mạch thơ gắn chặt vàonhau" (Bùi Văn Nguyên, Hà Minh Đức, 1983, tr.14) Bùi Công Hùng khẳng định:
" Vần do ngời làm thơ tạo ra một cách có ý thức cho nên nhất định mang phongcách tác giả mang tính thẩm mỹ nhất định vần không chỉ thay đổi phụ thuộc vàocách phát âm mà còn phụ thuộc vào sự thay đổi cảm xúc và hình thức nghệ thuậtthơ ca từng thời kỳ " (Bùi Công Hùng, 1982, tr.160)
Ngời nghiên cứu vần thơ tơng đối và toàn diện dới ánh sáng ngôn ngữ học
là tác giả Mai Ngọc Chừ Ông cho rằng: "Vần là sự hoà âm sự cộng hởng nhautheo quy luật ngữ âm nhất định giữa hai loại âm từ hoặc hai loại âm tiết ở tronghay cuối dòng thơ và thực hiện ở trong hay cuối dòng thơ và thực hiện một chứcnăng nhất định nh liên kết các dòng thơ, gợi tả nhấn mạnh sự ngừng nhịp" (MaiNgọc Chừ, 1986, tr.12)
Trang 13Tuy nhiên, để đi tới sự thống nhất định nghĩa về vần thì vần cha có Nhngchúng ta có thể lấy một định nghĩa tiêu biểu có tính khái quát cao, đầy đủ đó là
định nghĩa của Nguyễn Quang Hồng: "Vần là hiện tợng hoà phối, hởng ứng âmthanh giữa các đơn vị ngôn ngữ trên những vị trí nhất định nhằm liên kết, gắn nốicác vế tơng đơng trong ngôn từ thì ca" (Nguyễn Quang Hồng, Đọc "Vần thơ ViệtNam dới ánh sáng ngôn ngữ học" của Mai Ngọc Chừ) Các tác giả đều có chungcách nhìn thống nhất khẳng định vai trò quan trọng của vần trong thi ca Đó là,vần "Là nhịp cầu nối giữa các câu thơ " (Bùi Văn Nguyên, Hà Minh Đức, 1971,tr.409) ," Là chất xi măng gắn liền các câu thơ, các ý thơ thành một hệ thống rấthoàn chỉnh" (Lê Bá Hán, 1985, tr.409) "Vần nhằm nối liền tiết tấu và âm của cácvần thơ nhấn mạnh một số từ " (Nguyễn Lơng Ngọc, 1960, tr.64) Chính nhờ cóvần mà thơ đợc tổ chức liên kết thành bộ mặt riêng, góp phần quan trọng trongviệc hình thành thể loại
3.3.1.2 Nhịp điệu
Nhịp điệu trong thơ xuất phát từ cơ sở nhịp của lao động, nhịp của cơ thểcon ngời Trong bài hát, lời thơ làm thành nội dung của âm nhạc, âm nhạc là hìnhthức của thơ, rồi thơ tách dần dần ra Thơ bộc lộ một điều gì, câu chuyện gì đó có
sự rung động nội tâm của riêng nó và độc lập với hình thức nhịp điệu, Bởi thếngôn ngữ thơ ca giữ đợc nhiều tính nhạc điệu, tính âm hởng, tính tởng tợng cốhữu của lời nói thơ ca Nhịp trong thơ phụ thuộc vào nhịp thở, có liên quan đếntình cảm, cảm xúc Thơ là lĩnh vực thể hiện tình cảm sâu sắc Các trạng thái rung
động cảm xúc, xúc động đều ảnh hởng tới nhịp của câu thơ, bài thơ
Trumasepxky đã nhận xét: "Nhịp của bài thơ đợc xây dựng trên bản chấtcủa chất liệu ngôn ngữ và động viên chính cái thuộc tính biểu hiện các vật liệungôn ngữ dù kết cấu bài thơ có riêng biệt và có đặc thù bao nhiêu đi nữa thì cơcấu ấy cũng thuộc về một ngôn ngữ và không đợc lặp lại ngoài giới hạn của cáihình thức dân tộc trong lời nói " (Trích dẫn theo Bùi Công Hùng, 1983, tr.168)
Nh vậy, nhịp trong thơ là nhịp trên cơ sở lao động, dựa vào hơi thở gắn liềnvới cảm xúc, dựa vào bản chất của chất liệu ngôn ngữ Nhịp thơ là nhịp điệu cótính chất mỹ học do con ngời sáng tạo ra để biểu hiện t tởng tình cảm của con ng-
ời Maiacôpxky trong Làm thơ nh thế nào đã nói rõ vai trò của nhịp trong thơ
"Nhịp điệu là sức mạnh cơ bản, năng lợng cơ bản của câu thơ " Nhịp của vănxuối khác vơí nhịp trong thơ, nhịp thơ xuất hiện trên cơ sở lặp lại và luân phiêncác đơn vị âm thanh tạo nên đơn vị ngữ điệu của ngôn ngữ
Giữa vần và nhịp có mối quan hệ khăng khít với nhau, tuy đây là hai hiện ợng khác nhau Vần là tiền đề của nhịp và ngợc lại, chúng hỗ trợ, bổ sung chonhau trong hệ thống hoàn chỉnh của hình thức thơ ca Tú Mỡ đã nói: "Thơ phải cóvần, không có vần không gọi là thơ, thơ Việt Nam có nhịp điệu, nhân dân ta ngâm
Trang 14t-thơ, hát t-thơ, thơ không nhạc điệu thì tấm tức khó ngâm, khó hát, khó vào" (Vănhọc 24/7/1959)
3.3.1.3 Thanh điệu
Trong tiếng Việt mỗi âm tiết đều đợc đặc trng bằng một độ cao khác nhau
do thanh điệu đảm nhiệm Thanh điệu là kết quả của quá trình phát triển của tiếngViệt Cũng nh các ngôn ngữ Mon-khme khác, tiếng Việt trớc công nguyên không
có thanh điệu, trong từ còn có các phụ tố và nhóm âm đầu, có các âm cuối họng,hầu và xát Quá trình khép kín và giản hoá âm tiết đã xảy ra Đến đầu côngnguyên, những âm cuối họng, hầu và xét cản trở việc khép kín âm tiết nên các âmcuối - h -, -s, - ? dần dần bị rụng đi, bù đắp lại tiếng Việt hình thành ba tuyến
điệu, mở đầu quá trình thanh điệu hoá Đến thế kỷ VI, để đảm bảo sự đối lập củacác âm đầu vô thanh và hữu thanh (do các âm đầu vô thanh và hữu thanh trongtiếng Hán khi vào tiếng Việt đều bị vô thanh hoá ), tiếng Việt hình thành thế đốilập âm vực cao/thấp Nh vậy mỗi tuyến điệu đợc tách làm 2 (3tuyến điệu x 2 âmvực = 6 thanh) Các thanh huyền, sắc, nặng, hỏi, ngã và không dấu đã cố định độcao trong các từ tiếng Việt thành những cung bậc nhất định Những ngời làm rachữ quốc ngữ vẽ các dấu với hình các nốt nhạc thời kỳ lịch sử ký âm trong các nốtnhạc châu Âu Thanh điệu tiếng Việt đợc miêu tả bằng hai đặc trng ngữ âm: âmvực và đờng nét Đặc trng âm vực xác định thanh điệu tiếng Việt thuộc hai loại
âm vực Thuộc âm vực cao gồm có các thanh không dấu, thanh hỏi, thanh sắc.Thuộc âm vực thấp bao gồm các thanh huyền, thanh ngã, thanh nặng Đặc trng đ-ờng nét, tức là diễn biến độ cao của các thanh điệu tiếng Việt có những thanh đ-ờng nét bằng phẳng gồm thanh không dấu và thanh huyền, các thanh không bằngphẳng gồm các thanh còn lại Do đó, chúng ta có thể phân loại thanh điệu tiếngViệt dựa vào 2 tiêu chí âm vực và đờng nét Mỗi cách phân loại sẽ cho ta kết quảkhác nhau Theo tiêu chí âm vực ta sẽ thấy thanh điệu sẽ tham gia vào sự hoà phốingữ âm trong từ láy tiếng Việt, Trong các từ láy tiếng Việt, thanh điệu của cáctiếng bao giờ cũng cùng âm vực, nghĩa là một tiếng có thanh điệu thuộc âm vựccao thì tiếng kia cũng có âm vực cao, một tiếng trong từ láy có thanh điệu âm vựcthấp thì tiếng kia cũng thuộc âm vực thấp Ví dụ: lỏng lẻo, sáng sủa, mê mẩn (âm vực cao); lụng thụng, lững thững, dõng dạc (âm vực thấp) Theo tiêu chí đ-ờng nét ta có hai nhóm bằng (thanh huyền không dấu) và nhóm trắc (bốn thanhcòn lại) Cách phân loại này có ý nghĩa trong việc làm thơ, đặc biệt là thơ cổ vàlàm cơ sở để xác định cách đọc diễn cảm Thơ cổ có luật bằng trắc:" Nhất tamngũ bất luận, nhị tứ lục phân minh" Có nghĩa là trong một cặp câu (liên) chữ thứnhất, thứ 3, thứ 5 không cần đối bằng trắc nhng những chữ thứ 2, thứ 4, thứ 6 thìphải đối lập bằng trắc Bằng trắc là một trong các yếu tố góp phần tạo nên ngữ
điệu cho thơ Ngữ điệu trong thơ biểu hiện ở giọng lên cao và xuống thấp, lờichậm và nhanh, giọng mạnh và yếu Trong thơ Việt Nam thanh điệu của các từ
Trang 15góp phần vào việc tổ chức ngữ điệu Ngữ điệu là phơng tiện ngữ pháp để tạothành câu và xuất hiện với t cách là một trong những dấu hiệu thờng xuyên củacâu.
3.3.2 Các yếu tố từ vựng
Các yếu tố từ vựng bao gồm: từ láy, từ tợng thanh, từ tợng hình Từ láy làmột yếu tố phổ biến trong quy luật phát triển từ của tiếng Việt Từ láy đợc cấu tạotheo phơng thức láy, đó là phơng thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âmtiết Các từ láy đợc tạo ra bởi số lần tác động vào hình vị gốc lần đầu một hình vị
ta có từ láy đôi, lần 2 tác động vào hai âm tiết của láy đôi ta có láy t
Có hai loại từ láy: láy hoàn toàn và lá bộ phận Từ láy bộ phận bao gồm láy
âm đầu và láy vần
Láy hoàn toàn Láy âm đầu Láy vần
xinh > xinh xinh Lạnh > lạnh lùng Rối > bối rối
Nhỏ > nho nhỏ Ngại > ngại ngùng Cạch > lạch cạch
Láy là một phơng thức tạo từ đặc biệt của tiếng Việt Mỗi từ láy là một nốt
nhạc về âm thanh, chứa đựng trong mình một bức tranh cụ thể về giác quan: thị
giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác kèm theo những ấn tợng về sự cảmthụ chủ quan những cách đánh giá , thái độ của ngời nói trớc sự vật, hiện tợng đủsức thông qua các giác quan hớng nội và hớng ngoại của ngời nghe mà tác động
đến họ Bởi thế, từ láy là chất liệu tạo hình rất đặc sắc của văn học, đặc biệt là thơca
Từ tợng thanh, từ tợng hình là những lớp từ thuộc phạm vi từ láy, có tácdụng mô phỏng âm thanh và hình ảnh trong thế giới khách quan Đó là những lớp
từ giàu sắc thái biểu cảm, góp phần làm nên chất nhạc trong thơ
3.3.3 Các yếu tố ngữ pháp
Các yếu tố ngữ pháp cũng là một trong những yếu tố cấu tạo nên tính nhạccủa ngôn ngữ thơ Khi nhắc tới ngữ pháp trong thơ chính là ta nói tới tổ chức củacâu thơ, dòng thơ mà nhất là hình thức câu thơ bậc thang có tác dụng trong việctạo nên tính nhạc; cách ngắt dòng, cách lặp mô thức câu cũng góp phần tạo nên
âm hởng cho thơ
Trong ngôn ngữ văn xuôi thì không chú ý tới dòng, vần cuối dòng, đoạnthơ, trọng âm Còn với ngôn ngữ thơ, những yếu tố này hết sức quan trọng Câuthơ, dòng thơ đợc đóng khung bằng chỗ ngắt giọng, có vần ở cuối dòng, có trọng
âm và đợc xắp xếp theo một trật tự nhất định Ngôn ngữ thơ có đoạn thơ và cóquan hệ âm thanh khép kín bên trong Câu thơ có một cú pháp riêng biệt Tính đanghĩa của ngôn ngữ thơ chính là những thành phần bị tỉnh lợc, để trống để gợi
Trang 16nhiều cách hiều khác nhau Trật tự các thành phần câu bị đảo lộn chứ không nhất
định nh cú pháp văn xuôi Mặc dầu câu thơ bị phá vỡ lôgic lập luận bình thờnglàm cho các từ, các ý tởng nh không có mối quan hệ với nhau nhng chúng ta vẫn
có thể hiểu đợc các ý trong câu, hiểu đợc sự liên tởng ẩn sau để tạo nên sự hợp lýnhất định có thể chấp nhận đợc Bất cứ trong câu thơ hay toàn bộ bài thơ để tạonên tính nhạc ta thờng bắt gạp hình thức câu thơ bậc thang Câu thơ không nằmtrong một dòng thơ mà trái lại đợc ngắt nghỉ, rơi từng chữ, từng chữ theo nhịpcảm xúc buông rơi giữa chừng
" Cành táo đầu hè quả ngọt rung rinh
4 Vai trò của tính nhạc trong thơ
Nói đến nhạc điệu thơ, trớc hết phải nói đến nhạc điệu tâm hồn nhà thơ.Nhạc điệu tâm hồn là thứ nhạc điệu bên trong, rất dễ nhận thức, rất dễ cảm thụnhng lại rất khó nói ra cho rõ ràng điều một, điều hai, điều ba, điều bốn
Nó là sự kết tinh hiện thực phản ánh trong thơ, chất suy nghĩ, sự xúc động
và sức tởng tởng của tác giả Nó không chỉ phát ra ở cung bậc âm thanh ngôn ngữthơ, ở những nét véo von trầm bổng khi ta ngâm, ta đọc, nghĩa là nó không chỉ bóhẹp ở thứ nhạc điệu ngoài tai, mà còn toát ra từ toàn bộ hình t ợng thơ từ cấu
tứ ,hình ảnh, kết cấu Đây là thứ nhạc điệu tinh vi của tâm hồn nhà thơ để đếnthẳng với độc giả Tố Hữu là một tâm hồn thơ lớn, một tâm hồn thơ đầy nhiệthuyết và trí tuệ Mang cái cốt lõi nhân sinh quan cách mạng, lý tởng cộng sản chủnghĩa, chủ nghĩa nhân đạo cộng sản, tâm hồn thơ Tố Hữu thật trong sáng giàu có
và đa dạng Chính những tình thơng yêu rộng lớn, tình thơng yêu lớn đến mức trởnên hiền hoà, hồn hậu thiết tha, dịu ngọt Ngay cả khi sôi nổi, háo hức Tố Hữu
Trang 17cũng thấm đẫm một tình thơng yêu kín đáo, dịu dàng bên trong Thơ ông nh lờithủ thỉ tâm tình gắn liền với những suy nghĩ sâu sắc về chủ nghĩa nhân đạo cộngsản Ông nh con ong âm thầm hút mật cho đời, những thứ mật ngọt ấy đợcchuyển tải bởi ngôn ngữ thơ giàu nhạc điệu
Nét đặc sắc này trong thơ Tố Hữu không phải chỉ đợc thể hiện qua nghĩacâu, nghĩa chữ, qua hình ảnh mà còn đợc thể hiện nổi bật qua những hình tợng âmnhạc của thơ Xuân Diệu đã có nhận xét rất đúng rằng: " Đọc thơ Tố Hữu, ngời tacảm thấy một dấu hiệu riêng nh nét mặt của những bài thơ, làm cho thơ Tố Hữukhông trộn lẫn đợc với thơ ngời khác, cảm thấy một thứ nhạc tâm tình riêng bàng
bạc thấm lấy các câu thơ nhiều khi thành một thứ thi tại ngôn ngoại của Tố Hữu.
Cái nền nhạc đặc biệt đó, theo ý tôi, là lòng thơng mến"
Nhạc điệu là phơng tiện để truyền tải cảm xúc mà nhà thơ mong muốn đạt
đợc Nhạc hỗ trợ ý, ý đa nhạc đi tới những cung bậc trầm/ bổng của tâm hồn.Chúng hoà quyện vào nhau đa tới lòng ngời đọc qua những khúc ca về một thờiquá khứ mà vẫn sống mãi đi cùng năm tháng
Thơ Tố Hữu giàu nhạc điệu và quả là có sức "ru ngời trong nhạc", nhngnhạc thơ Tố Hữu bao giờ cũng gắn liền với ý thơ, hoà quyện trong ý thơ và vì thế
mà thơ Tố Hữu sâu sắc mà không trúc trắc, khô khan, say đắm lòng ngời mà
không nông cạn hời hợt Là nhà thơ của cuộc đời, sống giữa lòng đời Tai mở rộng
và lòng sôi rạo rực, ông lắng nghe cuộc sống gọi từng giờ Tố Hữu luôn lắng nghe Tiếng đời lăn náo nức, lắng nghe Từng viên đá lát, Từng đôi giày nhỏ Bởi thế,
nhạc điêu trong thơ ông là nhạc điệu của cuộc sống, hồn nhiên và náo nức, đợcchắt lọc từ một tâm hồn trong trẻo, tinh tế, dễ rung động để thành cái nhạc điệu
bên trong Nhạc điệu tâm hồn nhà thơ ngọt ngào mà sâu lắng Sau âm thanh là có
cả tâm hồn Chính cái nền nhạc đặc biệt ấy tạo sức hấp dẫn đặc biệt cho thơ Tố
Hữu, tạo nên sức vang ngân của thơ ông Đọc thơ ông ngời ta không còn cảm thấy
câu thơ mà chỉ còn cảm thấy tình ngời, thấy nó nh là tiếng ca vang từ trong lòng mình là bởi nh thế.
Chơng 2: Nhạc điệu thơ Tố Hữu
Từ ngàn xa cho tới nay, bất cứ lúc nào khi định nghĩa thơ, bàn về đặc trngcủa thơ thì giới nghiên cứu, phê bình và nhiều nhà thơ đã có những định nghĩakhác nhau Tuy nhiên không ai phủ nhận nhạc điệu là một trong những bản chất
của thơ, đã là thơ thì phải có nhạc điệu Để đi vào tìm hiểu Nhạc điệu thơ Tố Hữu
chúng ta tìm hiểu các yếu tố nh: Cách sử dụng các yếu tố ngữ âm (gồm: vần vàcách hiệp vần; nhịp và cách ngắt nhịp; thanh điệu và sự phối hợp thanh điệu);Cách sử dụng các đơn vị từ vựng (Sự lựa chọn từ tợng hình, tợng thanh, từ láy);
Trang 18cách sử dụng các yếu tố ngữ pháp (lặp mô thức câu; câu ngắt dòng; kết hợp câudài - ngắn).
1 Sử dụng các yếu tố vần, nhịp và phối thanh
1.1 Vần và cách hiệp vần trong thơ Tố Hữu
1.1.1 Vần thơ
Từ góc độ lý luận văn học, các nhà nghiên cứu, phê bình xem vần là mộtyếu tố quan trọng của hình thức thơ ca, là phơng tiện để truyền tải nội dung, t t-ởng, cảm xúc nhà thơ, góp phần tạo nên âm hởng hài hoà và hiệu quả giao tiếpcủa thơ Trong thơ, các tác giả đều cho rằng đơn vị hiệp vần là một âm tiết.( trong các ngôn ngữ Châu Âu là từ ) Cách hiệp vần trong thơ Việt Nam đợc quy
định chặt chẽ bởi cấu trúc âm tiết tiếng Việt
Vấn đề phân loại vần từ trớc đến nay, các tác giả vẫn phân loại dựa vào mộttrong ba tiêu chí: vị trí, thanh điệu và hoà âm Tiêu chí vị trí của âm tiết gieo vầntrong dòng thơ có: vần lng, vần chân ( vần liền, vần ôm, vần chéo) Phân loại theotiêu chí thanh điệu có vần bằng( thanh ngang, thanh huyền) và vần trắc( các thanhcòn lại) Còn phân loại theo tiêu chí hoà âm, các yếu tố gieo vần có: vần chính,vần thông, vần ép
Đây là cách phân loại truyền thống, nhng còn có một cách phân loại củangôn ngữ học là dựa vào cách kết thúc âm tiết ( cũng là cách kết thúc vần)
Một âm tiết kết thúc bởi chính nguyên âm tạo đỉnh thì vần của âm tiết đó
có cấu âm đơn giản, đó là vần đơn Ngữ âm học đại cơng cho rằng những âm tiết
có vần đơn đều thuộc loại âm tiết mở Bởi vậy, vần đơn cũng là vần mở Nếu nh
âm tiết kết thúc phức tạp thì khi một yếu tố tạo đỉnh vần nguyên âm tính và cóyếu tố kết vần thì vần trong những âm tiết đó là vần phức Trong các vần phức,cấu âm ở cuối vần bằng yếu tố bán nguyên âm tính ta có các vần nửa mở Nếucấu âm ở cuối vần bằng yếu tố phụ âm tính ta có các vần khép Trong vần khép,nếu cuối vần có cấu âm bằng các phụ âm mũi ta có các vần khép tắc - mũi ( vầnnửa khép)
Nếu cấu âm cuối vần bằng các phụ âm tắc vô thanh ta có các vần khép tắc miệng
Tóm lại, có thể khái quát rằng có 4 loại vần: mở, nửa mở, nửa khép, khép.1.1.2 Cách hiệp vần trong thơ Tố Hữu
Trong thơ Việt Nam nói chung, thơ Tố Hữu nói riêng, tất cả các yếu tố của
âm tiết tiếng Việt đều tham gia vào việc tạo vần thơ và âm hởng hài hoà cho thơ.Nhng trong tất cả các yếu tố ấy thì thanh điệu, âm chính, âm cuối đóng vai trò lànhững yếu tố quan trọng nhất, nó không thể thiếu đợc Bởi thế, khi nói tới cáchhiệp vần trong thơ Tố Hữu cũng không thể bỏ qua những yếu tố ấy Vần thơ
Trang 19muốn khảo sát dới góc độ ngôn ngữ học phải đợc ghi bằng ký hiệu ngôn ngữ học.Trong quá trình khảo sát, chúng tôi sử dụng cách ghi kí hiệu âm vị học trong
cuốn Ngữ âm tiếng Việt của Đoàn Thiện Thuật ( 1977 ).
Trong thơ Tố Hữu, có rất nhiều trờng hợp âm tiết đợc gieo vần cùng nhómthanh chỉ thay đổi âm đầu Đây cũng là một trong số biểu hiện các yếu tố thamgia hiệp vần trong thơ Tố Hữu Nhng cũng có khi có trờng hợp vẫn đợc hiệp vầnlại khác nhóm thanh
Mình về mình có nhớ ta Mời lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.
Mình về mình có nhớ không Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn.
( Việt Bắc - T 266)
Ta hiệp vần với tha, không hiệp vần với sông cùng thanh ngang nhóm bằng.
Nửa đời, tóc ngả màu sơng Nhớ quê, anh lại tìm đờng thăm quê
Nh vậy, thanh điệu tham gia hiệp vần nhằm bổ sung tình trạng hoàn toàn
đồng âm Nhng cũng có khi vần có cả âm đầu và phần vần ít giống nhau, nên taphải dựa vào sự đồng nhất của thanh điệu để các từ gieo vần giảm ít sự khác biệt
So với âm đầu, phần vần trong âm tiết thì thanh điệu giữ vai trò nớc đôi trong vầnthơ Lúc thì tăng sự tơng đồng để giảm bớt sự khác biệt, lúc thì tăng thêm sự khácbiệt để giảm bớt sự tơng đồng giữa các âm tiết trong vần thơ Trong các vần thơ,chức năng hoà âm của thanh điệu biểu hiện ở chỗ: các âm tiết tham gia hiệp vầnvới nhau bao giờ cũng mang trên nó hai thanh điệu cùng âm điệu ( cùng bằnghay cùng trắc) Hai âm tiết có thể đồng nhất phần nào nhng thanh điệu khôngphân bố theo luật trên thì không bắt vần đợc với nhau Vì nếu nh vậy chúng phá
Trang 20Cùng thanh Cùng âm điệu Cùng thanh Cùng âm điệu
0
Ví dụ:
Suốt mấy hôm ray đau tiễn đa
Đời tuôn nớc mắt trời tuôn ma
Chiều nay con chạy về thăm Bác
Ướt lạnh vờn rau, mấy gốc dừa.
( Bác ơi)
ở ví dụ này thì đa hiệp vần với ma cùng thanh ngang nhóm bằng, ma hiệp
vần với dừa cùng âm điệu nhóm bằng.
Sông nớc mênh mang Anh đi trên bờ Hơng Giang
( Đêm xanh )
Mang hiệp vần với giang cùng nhóm thanh ngang nhóm bằng.
Em ơi Ba Lan mùa tuyết tan.
Thơm nh hơng nhuỵ hoa lài, Sạch nh nớc suối ban mai giữa rừng
( Tiếng hát Sông Hơng)
Sông hiệp vần với trong cùng nhóm thanh ngang, nhóm bằng, lài hiệp vần
với mai cùng nhóm bằng.
Có gì đẹp trên đời hơn thế Ngời yêu ngời sống để yêu nhau.
( Bài ca mùa xuân 1961)
Trang 21Thế hiệp vần với để cùng nhóm trắc.
Nghèo rau cháo, từng lon gạo bữa.
Dành cho ta chút sữa cầm hơi.
(Ba mơi năm đời ta có Đảng)
Bữa hiệp vần với sữa cùng thanh ngã, nhóm trắc.
Nhận xét: Với 145 bài trong 6 tập thơ, Tố Hữu đã sử dụng 1924 cặp vầnhiệp vần bằng, chiếm tỷ lệ 74.25% Số lợng hiệp vần theo nhóm trắc rất ít, chỉ là
667 cặp, chiếm tỷ lệ 25,75%
Số lợng các âm tiết tham gia hiệp vần đồng nhất về thanh điệu chiếm tỷ lệ48.31%, số lợng hiệp vần cùng nhóm ( cùng âm điệu) lại nhiều hơn Trong thơ TốHữu, số âm tiết hiệp vần cùng nhóm âm điệu bằng là 37.01%, cùng âm điệu trắc
là 14.66% Nh vậy, qua khảo sát chúng ta thấy thơ Tố Hữu thiên về nhóm bằnghơn
Tuy nhiên, ngoài thanh điệu thì âm chính cũng là nhân tố không kém phầnquan trọng trong cấu trúc âm tiết tiếng Việt, nó đóng vai trò quyết định vẻ riêngcho âm tiết Vai trò của âm chính cũng hết sức quan trọng tạo vần cho thơ ca.Hoà âm âm chính ở hai âm tiết hiệp vần với nhau phải đồng nhất hoặc cùng loại
âm sắc (cùng hàng) hoặc cùng âm lợng (cùng độ mở) Xét âm chính trong hiệpvần thơ không chỉ tính đến sự phối hợp của nó với các yếu tố khác nh thanh điệu,
âm cuối mà còn phải chú ý đến khả năng hoạt động mạnh mẽ của nó với cácnguyên âm cùng dòng và cùng độ mở Ngoài ra, ta cũng chú ý tới hoạt động củanguyên âm /a/ vì /a/ là nguyên âm dòng sau có độ mở lớn nhất và trung hoà vềmặt âm sắc Nếu theo sơ đồ tam giác của nguyên ân tiếng Việt thì nguyên ân /a/
đúng ở đỉnh tam giác này và có mối giao lu về âm vị học với tất cả các nguyên âmkhác
Chúng tôi khảo sát 145 bài trong 6 tập thơ của Tố Hữu, âm chính đợc phân
bổ với tình hình cụ thể nh sau:
TT Các loại âm chính tham gia hiệp vần Số lợng Tỷ lệ
1 Đồng nhất các nguyên âm thuộc dòng trớc 376 14,51%
2 Đồng nhất các nguyên âm thuộc dòng sau KTM 779 30,06%
3 Các nguyên âm hiệp vần cùng dòng trớc 282 10,88%
4 Các nguyên âm hiệp vần cùng dòng sau KTM 359 13,85%
5 Đồng nhấtg các nguyên âm thuộc dòng sau TM 417 16,09%
6 Các nguyên âm hiệp vần cùng dòng sau TM 176 6,79%
7 Các nguyên âm hiệp vần cùng độ mở 189 7,29%
Trang 228 Nguyên âm /a) hiệp vần với một nguyên âm khác dòng 1 0,03%
9 Các nguyên âm hiệp vần không có quan hệ âm vị học 12 0,46%
Ví dụ:
Em là ai ? Cô gái hay nàng tiên.
Em có tuổi hay không có tuổi Mái tóc em đây hay là mây, là suối
Đôi mắt em nhìn hay chớp lửa đêm giông Thịt da em hay là sắt là đồng
(Ngời con gái Việt Nam)
ở ví dụ trên, tuổi hiệp vần với suối; giông hiệp vần với đông đều là nhữngcặp vần có chung nguyên ân thuộc dòng sau TM / uo/ và /o/
- Xuân ởi xuân, vui tới mông mênh
Biển vui xuân sóng tráng đầu ghềnh
(Bài ca mùa xuân 1961)
- Nghe hồn Nguyễn Trãi phiêu diêu
Tiếng gơm khua, tiếng thơ kêu xé lòng
(Bài ca mùa xuân 1961)
Mênh hiệp vần với ghềnh, diêu hiệp vần với kêu đều là những cặp vần có
cùng nguyên âm dòng trớc / i / ; / e/ với / ie /
Sông Hồng nắng rực bờ đê Nắng thơm sớm mới, đồng quê gặt mùa Hoa ởi, con gái của cha
Cha nâng con nhé, làm hoa tặng ngời
(Cánh chim không mỏi)
Cha hiệp vần với mùa, là trờng hợp rất ít trong thơ Tố Hữu, nguyên âm /a/
hiệp vần với nguyên âm khác dòng
Nhận xét: Nh vậy, qua kết quả khảo sát chúng tôi nhận thấy rằng:
- Trong hiệp vần, các âm chính hiệp vần đồng nhất hoàn toàn chiếm vị tríchủ đạo là 72,82%
- Hai nguyên âm hiệp vần có cùng bậc âm lợng chiếm 2,21%
Trang 23- Hai nguyên âm hiệp vần có cùng bậc âm sắc ít chiếm 18,53%
- Số lợng nguyên âm hiệp vần không có quan hệ âm vị học rất ít
1.1.3 Các loại vần trong thơ Tố Hữu
1.1.3.1 Phân loại dựa vào vị trí của vần
a) Vần lng
Vần lng là một nhân tố đặc biệt tạo nên tính nhạc điệu trong thơ Việt Nam.Tính chất thể loại trong thơ Tố Hữu rất rõ, bởi thế sự phân chia làm hai loại: Vầnchân và vần lng, cũng phụ thuộc vào kết cấu thể loại của các bài thơ có mặt trongtập thơ
Vần lng trong các bài thơ theo thể lục bát và song thất lục bát chiếm số ợng tơng đối lớn và hiệp vần theo quy tắc truyền thống
l-Mình về mình có nhớ ta Mời lăm năm ấy thiết tha mặn nồng Mình về mình có nhớ không Nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn
Đảng ta, muôn vạn tấm lòng niền tin.
(Ba mơi năm đời ta có Đảng)
Mắt hiệp vần với sắt , nông hiệp vần với lòng là những cặp vần lng theo thể
song thất lục bát
Ta cũng có thể bắt gặp ở một số thể thơ khác nh thể thơ biến thể, thể thơbảy chữ, tám chữ, thơ tự do
- Con ong làm mật yêu hoa Con cá bơi, yêu nớc, con chim ca yêu trời
(Tiếng ru)
- Xuân đã đến rồi hối hả tơng lai Khói những nhà máy mới ban mai Tôi viết cho ai bài thơ 61.
Trang 24Đêm đã khuya rồi, rét về tê buốt./
(Mẹ Tơm)Qua khảo sát 20 bài thơ theo thể lục bát và song thất lục bát chúng tôi thấy:
có 535 cặp vần lng Trong thơ Tố Hữu, vần lng chiếm một tỷ lệ tơng đối lớn
Bao giờ Việt Bắc tng bừng vui thêm
(Việt Bắc)
- Kiểu vần song thất lục bát
Nghèo rau cháo, từng lon gạo bữa Dành cho ta chút sữa cầm hơi
Dù khi tắt lửa tối trời Vững lòng quyết sống, không rời Đảng ta.
(Ba mơi năm đời ta có Đảng)
- Vần liền
Tôi đi giữa nắng tra
Mùa xuân ấm áp Nghe hơi thở của đồng quê mập mạp Bãi phù sa xanh mợt ngô non
Những đàn trâu Việt Bắc béo tròn
(Mùa thu mới)
Trang 25Cuộc đời ta bỗng chốc hoá thiên đờng!
(Mùa thu mới)Qua khảo sát 145 bài trong 6 tập thơ, chúng tôi thu đợc kết quả nh sau:Trong thơ Tố Hữu có 1346 cặp vần chân (nhiều nhất là vần liền) chiếm tỷ lệ55,92% Còn vần lng với số lợng 250 cặp chiếm 44,08%
1.1.2.3 Phân loại vần dựa vào sự hoà âm
Các âm tiết tiếng Việt khi tham gia vào thơ đều chịu sự chi phối bởi mộtquy luật chung nhằm làm cho vần thơ đạt tới một vẻ đẹp nhất định Quy luậtchung là: các yếu tố âm thanh trong một âm tiết đợc gieo vần cần phải nằm trongmối liên quan chế ớc và bù đắp cho nhau, tạo cho các âm tiết gieo vần không đếnnỗi khác biệt nhau quá và cũng không giống nhau hoàn toàn Đây chính là yêucầu đảm bảo sự hoà âm
Căn cứ vào quy luật phân bổ của 3 yếu tố cơ bản là: âm chính, âm cuối vàthanh điệu Vần thơ Tố Hữu đợc chúng tôi chia ra 3 loại nh sau:
a) Vần chính
Vần chính là loại vần mà sự hoà phối âm thanh ở mức độ cao giữa các tiếng
đợc gieo vần Trong đó bộ phận vần cái (kể từ nguyên âm tạo đỉnh đến cuối âmtiết hoàn toàn trùng hợp) Phụ âm đầu của các tiếng đợc gieo vần nếu có phảikhác Các yếu tố của vần hoà âm đồng nhất (cùng thanh) có thể cùng âm điệu
Qua khảo sát 145 bài ở 6 tập thơ, chúng tôi thấy kết quả: có 2591 cặp vầnthì trong đó có 1634 cặp vần chính chiếm 63,06%
- Ôi những chiều ma dầm lá cọ
Bác vào, tơi mỗi lán lều con
Bửa cơm muối, măng non bí đỏ
Tháng ngày vui có Bác mà ngon !
( Theo chân Bác)
- Tiếng hát xa đa muôn tiếng hát Điện Biên ! Trời đất dậy tin mừng Bác Hồ khẽ vuốt chòm râu mát Gió sớm đa hơng ngát cả rừng
(Theo chân Bác)
Trên đây là kiểu vần chính rất phổ biến trong thơ Tố Hữu