LỜI CẢM ƠN Sau một thời gian nghiên cứu, với sự cố gắng của bản thân và sự giúp đỡ của gia đình, bạn bè cùng sự chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo khoa Ngữ Văn tôi đã hoàn thành kho
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA NGỮ VĂN
********************
NGUYỄN THỊ HƯƠNG
GIỌNG ĐIỆU KHẨU NGỮ TRONG THƠ TỐ HỮU
(QUA HAI TẬP VIỆT BẮC VÀ GIÓ LỘNG)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ
Vinh, 2012
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian nghiên cứu, với sự cố gắng của bản thân và sự giúp
đỡ của gia đình, bạn bè cùng sự chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo khoa
Ngữ Văn tôi đã hoàn thành khoá luận tốt nghiệp“Giọng điệu khẩu ngữ trong
thơ Tố Hữu” Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, các thầy cô giáo
khoa Ngữ Văn, đặc biệt là TS Lê Thị Sao Chi - người trực tiếp hướng dẫn
tôi làm khoá luận này
Đây là bước đi đầu tiên của tôi trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học, do
đó sẽ khó tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu từ phía các thầy cô và các bạn
Vinh, ngày 7 tháng 5 năm 2012
Sinh viên
Trang 3MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Đóng góp của đề tài 4
6 Bố cục của khoá luận 4
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 5
1.1 Cuộc đời và sự nghiệp Tố Hữu 5
1.1.1 Cuộc đời 5
1.1.2 Sự nghiệp 6
1.2 Thơ trong sự phân biệt với văn xuôi 9
1.2.1 Khái niệm thơ và ngôn ngữ thơ 9
1.2.1.1 Khái niệm thơ 9
1.2.1.2 Ngôn ngữ thơ 10
1.2.2 Phân biệt thơ và văn xuôi 11
1.3 Giọng điệu và giọng điệu khẩu ngữ 12
1.3.1 Giọng điệu 12
1.3.2 Giới thuyết về giọng điệu khẩu ngữ 14
1.4 Vấn đề hội thoại và lời thoại 16
1.4.1 Hội thoại 16
1.4.2 Vấn đề lời thoại nhân vật 16
Chương 2 CÁC LỚP TỪ THỂ HIỆN GIỌNG ĐIỆU KHẨU NGỮ 18
2.1 Tình thái từ 18
2.1.1 Khái niệm tình thái từ 18
2.1.2 Vai trò của các tình thái từ 18
2.1.3 Phân loại tình thái từ 19
2.1.4 Thống kê, khảo sát tình thái từ trong thơ Tố Hữu 20
2.1.5 Nhận xét 21
Trang 42.2 Từ địa phương 25
2.2.1 Định nghĩa 25
2.2.2 Vai trò của từ địa phương trong thơ 26
2.2.3 Phân loại từ địa phương 27
2.2.4 Thống kê, khảo sát lớp từ địa phương trong thơ Tố Hữu 27
2.2.5 Nhận xét 28
2.3 Từ xưng hô 31
2.3.1 Khái niệm từ xưng hô 31
2.3.2 Vai trò của từ xưng hô trong thơ 32
2.3.3 Phân loại từ xưng hô 32
2.3.4 Thống kê, khảo sát lớp từ xưng hô trong thơ Tố Hữu 34
2.3.5 Nhận xét 36
2.4 Tục ngữ, thành ngữ 45
2.4.1 Khái niệm tục ngữ, thành ngữ 45
2.4.2 Vai trò của thành ngữ, tục ngữ trong thơ 46
2.4.3 Phân loại thành ngữ, tục ngữ 46
2.4.4 Thống kê, khảo sát thành ngữ tục ngữ trong thơ Tố Hữu 48
2.4.5 Nhận xét 49
Chương 3 VAI TRÒ CỦA GIỌNG ĐIỆU KHẨU NGỮ TRONG THƠ TỐ HỮU 53
3.1 Giọng điệu khẩu ngữ thể hiện nội dung và ý nghĩa của bài thơ 54
3.2 Giọng điệu khẩu ngữ giúp cho thơ Tố Hữu thể hiện được nét đẹp của văn hoá Huế 58
3.3 Giọng điệu khẩu ngữ làm cho thơ Tố Hữu trở nên dễ hiểu, giàu cảm xúc 59
3.4 Giọng điệu khẩu ngữ giúp cho thơ Tố Hữu giàu hình ảnh, nhịp nhàng, cân đối, dễ nhớ, dễ thuộc 62
3.5 Giọng điệu khẩu ngữ cho phép nhà thơ biểu hiện lập trường, tư tưởng, tình cảm của nhân vật trữ trình 64
KẾT LUẬN 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Tố Hữu có vai trò quan trọng trên thi đàn cũng như trong nền văn
học nước nhà Suốt nhiều thập kỉ qua, Tố Hữu luôn được coi là con chim đầu đàn của thơ ca cách mạng Việt Nam hiện đại Với 60 năm hoạt động cách mạng cũng là 60 năm sáng tác văn chương, Tố Hữu đã để lại cho đời một sự nghiệp văn học đồ sộ 7 tập thơ trải dài trong suốt cuộc đời nhà thơ (từ năm
1937 đến năm 2002) đã chứng minh năng lực, sức sáng tạo và lòng nhiệt huyết ông dành cho văn chương Thơ Tố Hữu đã đến với công chúng bạn đọc
và tạo ra sức sống bền chặt trong lòng độc giả Nhiều công trình nghiên cứu
về thơ Tố Hữu đã được thực hiện nhằm giúp cho độc giả cũng như những người yêu thích thơ Tố Hữu có cách nhìn, cách hiểu toàn diện, đầy đủ về thơ
Tố Hữu cũng như cuộc đời ông
1.2 Giọng điệu là yếu tố quan trọng để cấu thành tác phẩm văn học
cũng như phong cách nhà văn, nhà thơ Giọng điệu là một phương tiện nghệ thuật nhằm truyền tải lập trường, tư tưởng, tình cảm của tác giả đến với người đọc Do đó, nó có vai trò quan trọng quyết định sự “sống còn” của nhà văn cũng như những sáng tác của họ
Giọng điệu khẩu ngữ trong tác phẩm nghệ thuật được bắt nguồn từ trong ca dao, tiếp tục được nuôi dưỡng từ trong văn học trung đại để rồi nở rộ
và phát triển vào trong thời kì văn học hiện đại Tố Hữu là đại diện xuất sắc và tiêu biểu của thơ ca cách mạng, là một trong số những người thành công trong việc đưa giọng điệu khẩu ngữ vào thơ Vì vậy, nghiên cứu đề tài này, chúng tôi mong muốn đưa đến cho bạn đọc có thêm một góc nhìn về tác gia Tố Hữu cũng như phong cách nghệ thuật thơ ca của ông
Trang 61.3 Thơ Tố Hữu không chỉ là đối tượng nghiên cứu mà còn là đối
tượng giảng dạy ở các trường phổ thông Vì vậy, việc nghiên cứu “Giọng điệu khẩu ngữ trong thơ Tố Hữu” sẽ có ý nghĩa nhất định góp phần nâng cao chất lượng dạy - học thơ Tố Hữu trong nhà trường
2 Lịch sử vấn đề
Là một tác gia trong nền văn học dân tộc, Tố Hữu cũng như sự nghiệp thơ ca của ông đã được nhiều người tìm hiểu nghiên cứu Theo thống kê chưa đầy đủ của chúng tôi hiện nay đã có khoảng hai trăm công trình lớn nhỏ nghiên cứu về thơ Tố Hữu ở nhiều khía cạnh: Từ nội dung tư tưởng, tới hình thức nghệ thuật, phong cách, từ đề tài, chủ đề tới ngôn ngữ Có thể kể một số
công trình nghiên cứu tiêu biểu về thơ Tố Hữu: Công trình Thi pháp thơ Tố
Hữu của tác giả Trần Đình Sử (NXB Tác phẩm mới - Hội nhà văn Việt Nam,
1987), công trình Tố Hữu - Về tác gia và tác phẩm của tác giả Phong Lan (NXB Giáo dục, 1999), hoặc công trình nghiên cứu Thơ Tố Hữu - Những lời
bình của tác giả Mai Phương (NXB Văn hoá thông tin, 1999)
Thời gian gần đây đã có một số khoá luận, luận văn, luận án đi vào nghiên cứu thơ Tố Hữu ở phương diện ngôn ngữ như:
- Động từ chỉ hành động trong thơ Tố Hữu của giả Nguyễn Thị Hải Lí
- Khảo sát vốn từ chỉ không gian, thời gian trong thơ Tố Hữu của tác
giả Trần Thị Bích Thuỷ
- Khảo sát cách sử dụng từ địa phương trong thơ Tố Hữu của tác giả
Nguyễn Thị Ánh Tuyết
- Từ chỉ màu sắc trong thơ Tố Hữu của tác giả Nguyễn Thị Yến
- Đại từ trong thơ Tố Hữu của tác giả Nguyễn Thị Hà
Như vậy, các công trình trên phần lớn đi vào tìm hiểu thơ Tố Hữu ở phương diện lí luận văn học Các luận văn, luận án nghiên cứu về thơ Tố Hữu
đã đi vào tìm hiểu về góc độ ngôn ngữ thơ Tố Hữu Những công trình này đã
Trang 7chỉ ra được một số đặc trưng, nét nổi bật trong thơ Tố Hữu ở việc sử dụng ngôn ngữ Mặc dù thơ Tố Hữu đã được nghiên cứu khá nhiều, trên nhiều phương diện nhưng vẫn chưa có công trình nào đi sâu tìm hiểu về đề tài
“Giọng điệu khẩu ngữ trong thơ Tố Hữu” Kế thừa kết quả của những công trình đi trước nghiên cứu về thơ Tố Hữu, chúng tôi mạnh dạn tìm hiểu đề tài
“Giọng điệu khẩu ngữ trong thơ Tố Hữu” để góp phần làm sáng rõ thêm
phong cách nghệ thuật Tố Hữu
3 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khoá luận này là giọng điệu khẩu ngữ trong
hai tập thơ Việt Bắc và tập thơ Gió Lộng trong cuốn Thơ Tố Hữu (NXB Văn
học, 2011)
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Thống kê, khảo sát các lớp từ thể hiện giọng điệu khẩu ngữ trong thơ
Tố Hữu qua hai tập thơ Việt Bắc và Gió lộng
- Phân tích, tìm hiểu ý nghĩa của các lớp từ này trong việc tạo ra giọng điệu khẩu ngữ trong thơ Tố Hữu
- Tìm hiểu vai trò của giọng điệu khẩu ngữ trong thơ Tố Hữu nói chung
và trong hai tập thơ khảo sát nói riêng
4 Phương pháp nghiên cứu
Để tiến hành nghiên cứu thành công đề tài này chúng tôi sử dụng một
Trang 85 Đóng góp của đề tài
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về thơ Tố Hữu khá nhiều nhưng đây là đề tài đầu tiên đi sâu vào tìm hiểu “Giọng điệu khẩu ngữ trong thơ Tố Hữu” Qua việc nghiên cứu đề tài này, chúng tôi hi vọng sẽ có được những đóng góp thiết thực trong việc nghiên cứu thơ Tố Hữu ở phạm trù giọng điệu
Đề tài của chúng tôi có những đóng góp:
- Xác định các lớp từ thể hiện giọng điệu khẩu ngữ qua số liệu thống kê
- Chỉ ra sự vận dụng sáng tạo và hiệu quả lớp từ thể hiện giọng điệu
khẩu ngữ trong thơ Tố Hữu
- Khẳng định một số đặc điểm phong cách ngôn ngữ nghệ thuật Tố Hữu
qua lớp từ thể hiện giọng điệu khẩu ngữ
- Kết quả nghiên cứu có thể vận dụng vào trong thực tiễn dạy - học về
tác gia Tố Hữu cùng thơ ca của ông ở trường phổ thông
- Vấn đề giọng điệu trong thơ Tố Hữu từ trước tới nay đều được nghiên
cứu ở góc độ lí luận văn học Vì vậy, việc nghiên cứu giọng điệu khẩu ngữ trong thơ Tố Hữu ở góc độ ngôn ngữ sẽ đưa lại cái nhìn toàn diện, sâu sắc,
khách quan hơn về thơ ông
6 Bố cục của khoá luận
- Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, khoá luận của chúng tôi gồm 3 chương sau:
Chương 1: Một số vấn đề chung liên quan đến đề tài
Chương 2: Khảo sát, thống kê lớp từ thể hiện giọng điệu khẩu ngữ
trong thơ Tố Hữu
Chương 3: Vai trò của giọng điệu khẩu ngữ trong thơ Tố Hữu
Trang 9Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 Cuộc đời và sự nghiệp Tố Hữu
1.1.1 Cuộc đời
Tố Hữu tên khai sinh là Nguyễn Kim Thành, sinh ngày 4 tháng 10 năm
1920, tại làng Phù Lai nay thuộc xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế, trong một gia đình nhà nho nghèo Ông thân sinh là một nhà nho yêu nước Cụ thuộc nhiều và thích sưu tầm tục ngữ, ca dao, thơ Phan Bội Châu Mẹ cũng là một nhà nho, cũng biết nhiều ca dao, tục ngữ Cậu bé Nguyễn Kim Thành từ thuở nhỏ mới sinh được mẹ ấp ủ trong lòng và trong tiếng ru mang linh hồn của những điệu dân ca ấy Năm lên bảy tuổi, đọc và viết đã nhanh, Nguyễn Kim Thành giúp cha ghi chép những bài ca dao, dân ca sưu tầm được, đồng thời mỗi đêm đọc cho cả nhà nghe những bài thơ mà gia đình yêu thích Năm mười hai tuổi, mẹ qua đời, cha đi làm xa Năm mười ba tuổi, ông vào học tại Quốc học Huế Lớn lên giữa lúc phong trào cách mạng
do Đảng cộng sản Đông Dương lãnh đạo đang phát triển mạnh mẽ, Tố Hữu đã sớm giác ngộ được lí tưởng của Đảng Năm 1936, ông gia nhập vào Đoàn thanh niên cộng sản Năm 1937, ông bắt đầu có thơ đăng báo Năm 1938, ông được kết nạp vào Đảng cộng sản Đông Dương khi tuổi đời vừa tròn mười tám
và được giao làm công tác tuyên huấn Tháng 4 - 1939, Tố Hữu bị thực dân Pháp bắt và bị giam ở nhiều nhà lao ở miền Trung và Tây Nguyên Tháng 3 -
1942, ông vượt ngục Đaklay, trở về gây dựng hoạt động tại Thanh Hóa Tháng 8-1945, Tố Hữu là Chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa Thừa Thiên Huế và sau đó là
bí thư Xứ ủy Trung kì Năm 1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Tố Hữu trở lại Thanh Hóa hoạt động và là Bí thư tỉnh ủy Thanh Hóa Năm 1948, thành lập hội văn nghệ Việt Nam, Tố Hữu tham gia Ban chấp hành hội Năm 1951,
Trang 10tại Đại hội lần thứ II của Đảng, Tố Hữu được bầu là Uỷ viên dự khuyết Trung ương Đảng vào năm 1955 và Uỷ viên chính thức Trung ương Đảng Từ đó trở
đi, ông liên tục giữ nhiều vị trí quan trọng trong các cơ quan của Đảng và của
1.1.2 Sự nghiệp
Với Tố Hữu, thơ ca chính là vũ khí để đấu tranh cách mạng Do đó, cuộc đời Tố Hữu là một cuộc đời liên tục đấu tranh đồng thời cũng là một cuộc đời liên tục sáng tác Từ năm 1937 đến 2002, ông đã cho ra đời 7 tập thơ với gần 300 bài thơ đã chứng minh cho năng lực sáng tạo dồi dào ở nhà thơ - chiến sĩ cách mạng này Đọc thơ Tố Hữu, chúng ta được nuôi dưỡng bởi những vần thơ chan chứa yêu thương, tràn đầy tâm huyết 7 tập thơ mà ông để lại cho chúng ta gồm:
1 Từ ấy (71 bài, sáng tác từ năm 1937 - 1946)
2 Việt Bắc (22 bài, sáng tác từ năm 1946 - 1954)
3 Gió lộng (25 bài, sáng tác từ năm 1955 - 1961)
4 Ra trận (35 bài, sáng tác từ năm 1962 - 1971)
5 Máu và hoa (13 bài, sáng tác từ năm 1972 - 1977)
6 Một tiếng đờn (73 bài, sáng tác từ năm 1979 - 1992)
7 Ta với ta (49 bài, sáng tác từ năm 1993 - 2002)
Tập thơ Từ ấy (1937 - 1946) là tập thơ đầu tay của Tố Hữu Đó là sản
phẩm của 10 năm phát triển cách mạng, 10 năm đấu tranh tu dưỡng của người
Trang 11thanh niên trí thức tiểu tư sản trở thành một người chiến sĩ cộng sản kiên
cường Tập thơ Từ ấy thể hiện một nhận thức đúng đắn về mâu thuẫn cơ bản
trong nước và trên trường quốc tế, dám đấu tranh và biết đấu tranh để giải
quyết mâu thuẫn Đồng thời Từ ấy thể hiện một nhân sinh quan cao đẹp, nhân
sinh quan cộng sản chủ nghĩa biết trọng nhân phẩm, không chịu cúi đầu, một
tấm lòng rộng mở yêu ghét phân minh Không chỉ vậy, qua Từ ấy, ta còn thấy
một niềm lạc quan cách mạng, một niềm tin phơi phới vào tương lai của dân tộc và của nhân loại
Việt Bắc là tập thơ thứ 2 của Tố Hữu (sau tập Từ ấy), xuất bản năm
1955, ra đời trong hoàn cảnh sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi,
miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiếp tục chống giặc Nếu Từ
ấy là vấn đề nhân sinh quan, thế giới quan phải giải quyết để giải phóng đất
nước thì đến tập Việt Bắc là quyết tâm bảo vệ đất nước đã được giải phóng Tập thơ Việt Bắc chưa phải đã phản ánh đầy đủ cuộc kháng chiến vĩ đại và
thời đại vĩ đại của chúng ta nhưng nó đã bám lấy cuộc đấu tranh của quần chúng, làm nổi được mấy vấn đề cơ bản về cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ
nhưng tất thắng của nhân dân ta Những bài thơ cuối của tập Việt Bắc là bình minh của một ngày mới mà Gió lộng sẽ lộng thổi vào trong tâm hồn dân tộc
vừa chiến thắng, chuẩn bị bước tới tương lai
Sau Việt Bắc là tập thơ Gió Lộng (1955 - 1961) Tập thơ khai thác những
nguồn cảm hứng lớn, cũng là những tình cảm bao trùm trong đời sống tinh thần của con người đương thời: niềm vui, niềm tin, niềm tự hào ở công cuộc xây dựng đời sống mới xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, tình cảm với miền Nam và ý chí thống nhất nước nhà, tình cảm quốc tế rộng mở với các nước anh em niềm vui chiến thắng nhân lên cùng niềm tự hào của con người làm chủ đất nước,
làm chủ vận mệnh dân tộc mình Vững tin vào tương lai đã đem đến cho Gió
Lộng cảm hứng lãng mạn phơi phới và khuynh hướng sử thi đậm nét
Trang 12Hai tập thơ Ra Trận (1962 - 1971), Máu và hoa (1972 - 1977) là chặng
đường thơ Tố Hữu trong những năm kháng chiến chống Mỹ quyết liệt và hào hùng của dân tộc cho tới ngày toàn thắng Thơ Tố Hữu lúc này là khúc ca ra trận, là mệnh lệnh tấn công và kêu gọi, cổ vũ hào hùng của dân tộc trong cuộc chiến đấu ở cả hai miền Nam - Bắc
Tập thơ Một tiếng đờn thể hiện những chiêm nghiệm suy tư của một đời
người trên nửa thế kỉ đấu tranh, qua bao nhiêu buồn vui, được mất Hồn thơ đang lắng lại với thời gian và tuổi tác và gợi mở nhiều tâm sự của tác giả
Ta với ta là tập thơ cuối cùng của Tố Hữu Nó như là một cuộc hành
hương trở về quá khứ Tập thơ bộc lộ nhiều chiêm nghiệm đáng quý về đạo làm người, nhận thức rõ trách nhiệm với cộng đồng ở mọi hoàn cảnh, ở mọi thời điểm Đồng thời tập thơ cũng bộc lộ nỗi buồn của con người đã bước qua tuổi thập cổ lai hi
Với những đóng góp to lớn cho nền văn học nước nhà, Tố Hữu được coi là ngôi sao sáng, là người mở đầu và dẫn đầu cho nền thơ ca cách mạng Sáu mươi năm gắn bó với hoạt động cách mạng, ông đã thực sự tạo ra được niềm yêu thương gắn bó, nỗi đam mê bền chặt trong lòng độc giả Nói về vị trí
và những đóng góp của Tố Hữu vào nền thơ ca cách mạng nhà thơ Chế Lan Viên đã có nhận xét (1967) trong lời tựa thơ Tố Hữu như sau: “Nói đến Tố Hữu về thơ phải nói đến vai trò mở đầu và hiện vẫn là người dẫn đầu trong nền thơ hiện thực xã hội chủ nghĩa của chúng ta Sự thành công của ông trước cách mạng đã xúc tiến sự hình thành của thơ hiện thực xã hội chủ nghĩa sau
cách mạng” Giáo sư Trần Đình Sử trong công trình nghiên cứu Thi pháp thơ
Tố Hữu đã đánh giá: “Tố Hữu là nhà thơ cộng sản, ngọn cờ của văn học hiện
thực xã hội chủ nghĩa một nửa thế kỉ qua” Qua đó ta thấy được vai trò to lớn của Tố Hữu đối với văn học nước nhà
Trang 131.2 Thơ trong sự phân biệt với văn xuôi
1.2.1 Khái niệm thơ và ngôn ngữ thơ
1.2.1.1 Khái niệm thơ
Thơ là một hình thức sáng tác văn học có từ lâu đời nhưng để đưa ra một định nghĩa chính xác và toàn diện về thơ là một chuyện không hề đơn giản
Khái niệm thơ đã dược đưa ra từ rất sớm trong nền lí luận văn học cổ
điển Trung Hoa Tác giả Lưu Hiệp trong cuốn Văn Tâm điêu long đã từng nói
đến ba phương diện cơ bản cấu thành một bài thơ đó là : Tình cảm (tình văn), ngôn ngữ (hình văn) và âm thanh (thanh văn) Đến thời nhà Đường, nhà thơ Bạch Cư Dị đã nêu lên các yếu tố cơ bản để tạo thành sự tồn tại của bài thơ: Cái cảm hoá được lòng người chẳng gì quan trọng bằng tình cảm, chẳng gì đi trước được bằng ngôn ngữ, chẳng gì gần gũi bằng âm thanh, chẳng gì sâu sắc bằng ý nghĩa Với thơ, gốc là tình cảm, mầm lá là ngôn ngữ, hoa là âm thanh, quả là ý nghĩa
Quan niệm trên đây không những nêu lên mà còn chỉ ra mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành văn bản Vì vậy, có thể xem đây là một quan niệm toàn diện và sâu sắc nhất về thơ trong nền lí luận văn học cổ điển Trung Hoa
Ở Việt Nam, nhà thơ Nguyễn Đình Thi cho rằng: “Thơ là tiếng hát
chếch choáng, xáo động trong hồn người, thơ phải có tư tưởng, có ý thức và bất cứ cảm xúc, tình tự nào của con người cũng dính liền với sự suy nghĩ”
[37, tr.8]
Định nghĩa về thơ tiêu biểu nhất của giai đoạn này là của nhà nghiên
cứu Phan Ngọc Theo ông: “Thơ là cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản
để bắt người nhận biết phải nhớ, phải cảm xúc do hình thức ngôn ngữ này”
[30, tr.23]
Nhóm nghiên cứu, phê bình văn học Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn
Khắc Phi: “Thơ là hình thức sáng tạo văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện
Trang 14tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm xúc, giàu hình ảnh nhất và có nhịp điệu” [17, tr.262] Định nghĩa này đã đưa ra được đặc trưng
cơ bản của thơ đó là cách biểu hiện cảm xúc cô đọng, hàm súc, là sáng tác văn học bằng ngôn ngữ có nhịp điệu Đây là đặc trưng cơ bản nhất để phân biệt thơ và văn xuôi
Từ những quan niệm trên chúng ta có thể rút ra những đặc trưng cơ bản của thơ như sau:
nó hết sức đa dạng, giàu sức gợi cảm
Xét ở phạm vi thể loại ngôn ngữ thơ được biểu hiện ở các đặc trưng ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp nhằm biểu trưng hoá, khái quát hoá hiện thực khách quan theo một tổ chức riêng của thơ ca
Tác giả Nguyễn Phan Cảnh cho rằng: “Cơ chế lựa chọn dựa trên một
khả năng của ngôn từ là các đơn vị ngôn ngữ có thể luân phiên cho nhau nhờ vào tính tương đồng của chúng” [7, tr.24] Cũng theo tác giả nếu như văn xuôi
làm việc trước hết bằng thao tác kết hợp và trong văn xuôi lặp lại là một điều tối kị thì ngược lại chính cái điều tối kị ấy lại là thủ pháp làm việc của thơ
Trang 15Trong thơ tính tương đồng của các đơn vị ngôn ngữ lại được dùng để xây dựng các thông báo Thao tác lựa chọn có thể giúp cho nhà thơ có thể lựa chọn một đợn vị ngôn ngữ trong hàng loạt các đơn vị ngôn ngữ tương đương, có thể thay thế cho nhau trên trục dọc Sau khi đã lựa chọn thì thao tác kết hợp cho phép người làm thơ có thể tạo ra những kết hợp bất ngờ, sáng tạo nên những tiền đề vật chất mà ngôn ngữ dân tộc cho phép
1.2.2 Phân biệt thơ và văn xuôi
Về hình thức thể loại: Thơ và văn xuôi là hai loại hình tiêu biểu của hai
phương thức sản xuất văn học: tự sự và trữ tình Giữa hai loại hình này có sự khác biệt nhất định Nếu như văn xuôi được sáng tạo trên trục kết hợp thì thơ
ca lại sáng tạo trên trục lựa chọn (trục dọc, trục thay thế) Thơ là một thể loại sáng tác văn học nghệ thuật Vì vậy, ngôn ngữ thơ trước hết phải là ngôn ngữ văn học, có nghĩa là “ngôn ngữ mang tính nghệ thuật được dùng trong văn học” Song do sự tổ chức ngôn ngữ trên cơ sở của hệ thống nhịp điệu, đảm bảo tính chất tối đa về nghĩa trên một đơn vị diện tích chật hẹp lại mang sắc thái chủ quan của người viết trong một mức độ cần thiết đã tạo cho người thi
ca những phẩm chất đặc biệt về phương diện hình thức, nhân tố khác nhau cơ bản giữa tác phẩm bằng thơ và tác phẩm văn xuôi ở chỗ: thơ thường có nhịp điệu còn văn xuôi thì không Nhịp điệu ở thơ là đặc trưng quan trọng nhất để phân biệt thơ với các hình thức văn học khác
Về nội dung chủ đề: Tác phẩm văn xuôi thường có cốt truyện và hành động gắn liền với hệ thống sự kiện và hệ thống nhân vật được tác giả tạo ra theo nguyên tắc sáng tạo riêng Còn thơ thì không có cốt truyện, nội dung thường diễn tả một tâm trạng, một cảm xúc nhất định của nhân vật trữ tình nên dung lượng của nó ngắn gọn hơn nhiều so với văn xuôi
Về ngôn ngữ: Văn xuôi thiên về lột tả rồi sau đó mới thể hiện tính hàm súc trong chính sự lột tả ấy Ngược lại, thơ thiên về tính hàm xúc nhiều khi
Trang 16đậm đặc đến mức không thể chen vào bất kì một chữ nào và khi cần phải lột tả thì thơ ca vẫn dùng thủ pháp “lời ít ý nhiều” Do vậy, trong thơ luôn có “ý tại ngôn ngoại”, còn trong văn xuôi là ý tại ngôn tại nên ngôn ngữ không cô đúc như trong thơ ca Như vậy, trong thơ chủ yếu là giãi bày tâm trạng, thể hiện tình cảm, cảm xúc của nhân vật trữ tình Vì thế, yếu tố tự sự trong thơ rất ít Khi chất tự sự đi vào trong thơ sẽ tạo ra cho tác phẩm thơ những giá trị nhất định về việc tái hiện cuộc sống, những sự kiện nóng hổi và khi đó ngoài chức năng giãi bày cảm xúc thì thơ còn tái hiện lại cuộc sống với những sắc màu đa dạng của nó (đây là đặc trưng của văn xuôi)
1.3 Giọng điệu và giọng điệu khẩu ngữ
1.3.1 Giọng điệu
Phong cách của một nhà văn được thể hiện ở nhiều yếu tố như: Hệ thống tư tưởng, nhân vật, đề tài, thế giới quan, hệ thống bút pháp nghệ thuật, ngôn ngữ Trong số những yếu tố hình thành nên phong cách của nhà văn thì giọng điệu được xem là yếu tố rất quan trọng thậm chí có nhiều ý kiến cho nó
là quan trọng nhất Vậy giọng điệu là gì?
Giọng điệu là hình thức, là phương tiện thể hiện cá tính của nhà văn trong các sáng tác Giọng điệu vừa là hiện tượng được thể hiện qua ngôn ngữ, đồng thời là một yếu tố nằm ngoài ngôn ngữ mà người ta gọi là siêu ngôn ngữ (Bakhtin)
Giọng điệu của mỗi người đều do yếu tố “trời phú” “thiên bẩm”, vừa bị chi phối bởi các yếu tố xã hội, thời đại Các yếu tố này chi phối đến tâm tư, tình cảm, cách nghĩ, cách nói của cá nhân Chính vì vậy mà chúng ta có một Nguyễn Trãi với phong thái đĩnh đạc, một Nguyễn Du đau đáu với nỗi đoạn trường của số phận con người hay một Xuân Diệu “thiết tha”, “rạo rực”, “băn khoăn”
Trang 17Giọng điệu trong tác phẩm còn phụ thuộc vào cảm hứng của tác giả Theo quan niệm của Pôxpêlốp thì các dạng cảm hứng như: anh hùng ca, bi kịch, hài kịch, hài kịch lãng mạn đều có vai trò chi phối giọng điệu
Giọng điệu trong tác phẩm văn học là một hiện tượng được tạo thành từ các yếu tố liên kết hô ứng lẫn nhau Có thể nói trong các tác phẩm nghệ thuật giọng điệu là sản phẩm sáng tạo đích thực của nhà văn Giọng điệu là thần thái toát lên từ tác phẩm văn chương Giọng điệu văn chương là một hiện tượng có tính cá nhân cao độ nhưng không thể phủ nhận nó còn có giọng điệu thời đại Chúng có mối quan hệ tương tác Dựa vào giọng điệu, người ta còn lí giải được tiến trình vận động của văn học Giọng điệu là sự thể hiện lập trường, thái độ, tình cảm, thị hiếu, thẩm mĩ, sở trường ngôn ngữ của tác giả,
nó gắn chặt với đối tượng giao tiếp, và cách tổ chức lời lẽ, diễn đạt
Dựa vào loại hình có thể chia thành giọng bi, giọng hài, giọng trữ tình hay châm biếm Những kết hợp đa dạng phức tạp của các giọng này làm cho màu sắc tình cảm của tác phẩm phong phú hơn Dựa vào sắc thái tình cảm có thể chia thành trang trọng hay thân mật, thong thả hay vội vàng, bình thản hay gay gắt cũng có thể xác định giọng điệu dựa vào khuynh hướng tình cảm: thông cảm hay lên án, phê phán hay khẳng định, yêu thương hay cay độc Ngoài ra còn có thể phân chia dựa theo giọng trần thuật, nghi vấn, mệnh lệnh, giọng kể, giọng ngâm Các bình diện này không chỉ đứng độc lập mà đan xen chồng chéo Vì vậy, giọng điệu của tác phẩm thường đa dạng, phức tạp Để nhận ra giọng chủ đạo của tác phẩm cần phải thông qua toàn bộ tổ chức của văn bản ngôn từ
Một nhà văn thực sự có phong cách phải là nhà văn tạo nên được giọng điệu riêng biệt, hợp lí, phong phú và độc đáo Cái quan trọng nhất là phải tạo
ra được dấu ấn, phong cách của mình trong một giọng điệu riêng chứ không vay mượn chắp vá Nếu không có giọng điệu riêng tức tác giả đó không có tài
Trang 18năng, không có phong cách Thực tế sáng tạo của các nhà văn tên tuổi cho thấy họ luôn tạo ra được giọng điệu riêng Việc lựa chọn một giọng điệu phù hợp cho tác phẩm cũng không phải một việc dễ dàng
Tóm lại, giọng điệu mang nội dung tình cảm, thể hiện thái độ của tác giả về đời sống Một tác phẩm văn học có thể mang trong mình nhiều giọng điệu Giọng điệu có khả năng tác động mạnh mẽ đến cảm xúc thẩm mĩ của người đọc Nhà văn thường nỗ lực để giọng của tác phẩm vừa diễn đạt được không khí của sự kiện, tình cảm của mình, vừa kích thích ở người đọc những
ấn tượng và cảm xúc tương tự
1.3.2 Giới thuyết về giọng điệu khẩu ngữ
Xung quanh vấn đề hiểu như thế nào là khẩu ngữ cũng có nhiều cách
hiểu khác nhau Trong Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê cho rằng “Khẩu ngữ là
ngôn ngữ thông dụng, dùng trong cuộc sống hằng ngày, có đặc điểm phong cách đối lập với phong cách viết” [31,tr.494] Ví dụ như “cậu”, “tớ” là cách
xưng hô khẩu ngữ giữa bạn, bè trong nói năng, sinh hoạt chứ không phải là trong các văn bản viết
Nhóm tác giả Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hoà trong cuốn Phong
cách học tiếng Việt cũng dùng thuật ngữ phong cách sinh hoạt hằng ngày thay
cho phong cách khẩu ngữ Và cũng đưa ra định nghĩa phong cách sinh hoạt
hằng ngày như sau: “Phong cách sinh hoạt hằng ngày là khuôn mẫu thích hợp
để xây dựng lớp phát ngôn (văn bản) trong đó thể hiện vai của người tham gia giao tiếp trong sinh hoạt hằng ngày Nói cụ thể hơn, đó là vai của người ông, người bà, vai của bố mẹ, con chú anh, chị, em tất cả những ai với tư cách cá nhân trao đổi tư tưởng, tình cảm của mình với người khác” [23, tr.122]
Phong cách sinh hoạt hằng ngày được chia ra làm hai biến thể: sinh hoạt hằng ngày tự nhiên (thông tục) và sinh hoạt văn hoá (thông dụng) Phục
vụ sự trao đổi thân mật giữa các cá nhân, phong cách sinh hoạt hằng ngày
Trang 19mang tính chất tự nhiên, thoải mái Vì vậy nó trở nên thân mật, gần gũi Do thói quen, do tính chất của mối quan hệ vai bằng nhau giữa hai người đối thoại, trong những hoàn cảnh không nghi thức, do tâm trạng lúc giao tiếp họ
có thể dùng cả những lời lẽ thô lỗ, tục tằn Còn phong cách sinh hoạt hằng ngày văn hoá, như tên gọi của nó cho thấy, được hình thành do yêu cầu của một xã hội có trình độ văn hoá cao Sự trao đổi tuy diễn ra giữa các cá nhân nhưng vẫn có sự hiện diện của những người xung quanh vẫn được dùng trong hoàn cảnh có nghi thức, trong tình thế vai bằng nhau và vai không bằng nhau của người tham gia giao tiếp, vẫn tuân theo những nghi thức xã giao, ứng xử tối thiểu Phong cách sinh hoạt hằng ngày văn hoá dựa chủ yếu trên kiểu ngôn ngữ viết không nghệ thuật, nhưng cũng có thể bao gồm cả những cấu trúc của các kiểu viết và nói nghệ thuật Phong cách sinh hoạt hằng ngày tự nhiên dựa chủ yếu trên kiểu ngôn ngữ nói không nghệ thuật, nhưng cũng có thể bao gồm
cả những cấu trúc của kiểu nói - nghệ thuật
Từ sự tìm hiểu về giọng điệu, giọng điệu khẩu ngữ và phong cách khẩu ngữ, chúng ta có thể hiểu giọng điệu khẩu ngữ là việc sử dụng ngôn ngữ sinh hoạt hằng ngày vào trong sáng tác nghệ thuật Đó là những lời đối đáp, trao đổi tự nhiên giữa các nhân vật, sử dụng những phương tiện từ ngữ thông dụng trong giao tiếp, không mang tính trau chuốt, gọt rũa của ngôn ngữ sách vở Vì thế, giọng điệu khẩu ngữ có thể thấy rõ và phổ biến trong văn xuôi - loại hình sáng tạo nghệ thuật phản ánh cuộc sống bằng cốt truyện, hệ thống sự kiện và mối quan hệ xã hội giữa các nhân vật Tuy nhiên, giọng điệu khẩu ngữ cũng xuất hiện rất nhiều trong thơ Tố Hữu thể hiện qua một số lớp từ đặc trưng Với việc đưa giọng điệu khẩu ngữ vào trong thơ, nó không làm mất đi tính chất trữ tình trong thơ mà còn đưa đến cho thơ Tố Hữu những giá trị thẩm mĩ nhất định
Trang 201.4 Vấn đề hội thoại và lời thoại
Tác giả Nguyễn Đức Dân cho rằng: “Trong giao tiếp hai chiều bên này
nói, bên kia nghe và phản hồi trở lại Lúc đó vai của hai bên thay đổi Bên nghe trở thành bên nói và bên nói trở thành bên nghe Đó là hội thoại”
Nhìn chung các tác giả trên đều đã nêu lên được những đặc điểm cơ bản nhất của hội thoại đó là có nhân vật giao tiếp, hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
và có sự tương tác Như vậy, trong hội thoại nhân vật giao tiếp phải sử dụng ngôn ngữ cũng như giọng điệu của mình để bày tỏ quan điểm, thái độ, ý kiến về những vấn đề được nói tới Qua hội thoại, ta thấy được rõ nhất giọng điệu của các nhân vật tham gia giao tiếp cũng như giọng điệu chung của cuộc thoại
1.4.2 Vấn đề lời thoại nhân vật
Lời thoại nhân vật tồn tại ở hai dạng: đối thoại và độc thoại
Đối thoại là trong cuộc giao tiếp song phương mà lời này xuất hiện như một phản ứng đáp lại lời nói trước Lời đối thoại có sự tiếp xúc phi quan
Trang 21phương và không công khai, không bị câu thúc trong không khí bình đẳng về một đạo đức của người đối thoại Lời đối thoại thường kèm theo các động tác
cử chỉ biểu cảm và tạo nên bởi phát ngôn của nhiều người
Độc thoại là hình thức thoại “không đòi hỏi sự đáp lại, độc lập với
phản ứng của người tiếp nhận và được thể hiện thoải mái cả trong hình thức nói lẫn viết” [17, tr.159]
Biểu hiện bề ngoài của tính độc thoại là một dòng lời nói liên tục, dày đặc, không hề bị ngắt quãng bởi những lời nói của người khác
Có thể phân thành kiểu độc thoại “cô lập” (được cất lên trong đơn độc hoặc trong không khí cô lập) và kiểu độc thoại “có hướng” (thực hiện một giao tiếp thực sự, người phát ngôn ở đây muốn tác động vào ý thức những ai
mà anh ta hướng tới)
Trong tác phẩm lời thoại có vai trò rất quan trọng Lời thoại bộc lộ tính cách nhân vật Tính cách nhân vật được thể hiện qua phong thái bề ngoài, qua tác phong làm việc, qua lời nói Trong đó ngôn ngữ là một trong những nhân
tố không thể thiếu Khi giao tiếp nhân vật sẽ thể hiện ra những tính cách, sở thích, trình độ văn hoá, ưu nhược điểm của mình Qua giao tiếp nhân vật bộc
lộ đời sống nội tâm phong phú, đa dạng của mình, thể hiện thái độ, cách đánh giá của nhân vật đối với hiện thực được nói tới trong cuộc thoại
Lời thoại thể hiện dụng ý của tác giả Việc xây dựng nhân vật là do ý đồ sáng tạo của nhà văn Bởi vậy, lời nhân vật không phải là bâng quơ, ngẫu nhiên mà nó nằm trong hệ thống những chi tiết nghệ thuật, góp phần thể hiện dụng ý nghệ thuật của nhà văn
Như vậy, qua lời thoại với những đặc điểm của nó, độc giả không chỉ nắm được tính cách của nhân vật mà còn hiểu rõ ý đồ nghệ thuật của tác giả Giọng điệu khẩu ngữ được thể hiện rõ nét thông qua lời thoại giữa các nhân vật
Trang 22Chương 2 CÁC LỚP TỪ THỂ HIỆN GIỌNG ĐIỆU KHẨU NGỮ
TRONG THƠ TỐ HỮU
Giọng điệu khẩu ngữ trong thơ Việt Nam hiện đại nói chung và trong thơ Tố Hữu nói riêng thể hiện ở nhiều phương diện khác nhau như ở lời hội thoại trong đó có lời hỏi, lời đáp, lời cảm thán, ở sự phối hợp giữa lời nói với điệu bộ, cử chỉ như ở hội thoại trong sinh hoạt hằng ngày, những từ xưng hô, những cảm thán từ, tình thái từ, những từ ngữ địa phương, thành ngữ, tục ngữ, những cụm từ rào đón đưa đẩy
Khi nghiên cứu thơ Tố Hữu, chúng tôi thấy các lớp từ: tình thái từ, từ địa phương, từ xưng hô, thành ngữ, tục ngữ đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nên giọng điệu khẩu ngữ cho thơ Tố Hữu Chúng có số lần xuất hiện cao trong thơ ông Do vậy, ở khoá luận này, chúng tôi chỉ tiến hành khảo sát các lớp từ trên
để có cái nhìn rõ hơn về giọng điệu khẩu ngữ trong thơ Tố Hữu
2.1 Tình thái từ
2.1.1 Khái niệm tình thái từ
Tình thái từ là lớp từ thuộc nhóm hư từ, một số tác giả thì đặt tình thái
từ ngang hàng với thực từ và hư từ
Về ý nghĩa, tình thái từ là những từ biẻu thị sắc thái tình cảm, cảm xúc của người nói
Về khả năng kết hợp, tình thái từ thường đứng ở trong câu, không phụ thuộc vào thành phần nào
Về vị trí, tình thái từ có thể đứng đầu hoặc cuối câu
2.1.2 Vai trò của các tình thái từ
Các tình thái từ có khả năng thể hiện mọi sắc thái tình cảm của con người một cách sâu sắc, tế nhị Các nhân vật giao tiếp có thể vận dụng tình
Trang 23thái từ trong những hoàn cảnh giao tiếp khác nhau, đưa lại những hiệu quả nhất định Tuy không phải là thành phần chính của câu nhưng khi không có lớp từ này đi kèm thì ý nghĩa biểu đạt cũng như giá trị thông báo của phát ngôn có thể không có giá trị mới Giá trị ấy không chỉ là thông báo đơn thuần
về sự vật, hiện tượng chứ không có sắc thái tình cảm của các nhân vật giao tiếp đi kèm Chính các tình thái từ tạo nên giá trị mới cho phát ngôn
Tiêu chí nhận diện tình thái từ:
- Tình thái từ không mang nghĩa từ vựng, cũng không mang nghĩa phạm trù ngữ pháp mà chỉ mang nghĩa tình thái - biểu thị cảm xúc, thái độ, sự đánh giá của người nói đối với nội dung thông báo
- Trong câu ta có thể lược bỏ mà không làm thay đổi nội dung mệnh đề (nghĩa miêu tả) nhưng sự có mặt của nó lại tạo cho phát ngôn giá trị mới, với các sắc thái nghĩa khác nhau
2.1.3 Phân loại tình thái từ
Dựa vào vị trí của các tình thái từ trong câu người ta chia chúng ra làm hai loại: Tình thái từ đứng đầu câu và tình thái từ đứng cuối câu
Đứng cuối câu để thể hiện những sắc thái tình cảm như ghi vấn, cảm
xúc, ngạc nhiên Ví dụ: à, ư, nhỉ,nhé, hở, hả tạo câu nghi vấn
Ví dụ:
- Anh về à?
- Tại sao mày làm thế với tao?
Nhé, nha, nghen tạo câu mệnh lệnh - cầu khiến một cách thân mật,
gợi đồng tình
Ví dụ:
- Anh Quân về nhé!
- Em mét má nghen!
Trang 24Tình thái từ đứng đầu câu để biểu thị thái độ, cảm xúc của người nói với hiện thực
Tình thái từ biểu thị sự gọi - đáp: ơi, hỡi, ạ, vâng, dạ
- Lan ơi đi học nào!
- Con làm gì đó?
Tình thái từ đứng đầu câu biểu thị sự vui mừng, ngạc nhiên, sợ hãi, bực tức, tiếc thương
- Ôi! Cánh đồng lúa đẹp quá
- Eo ơi! Con gián
2.1.4 Thống kê, khảo sát tình thái từ trong thơ Tố Hữu
Bảng 1: Tình thái từ trong hai tập thơ Việt Bắc, Gió lộng của Tố Hữu
STT Tình thái từ Tần số xuất hiện
Trang 252.1.5 Nhận xét
Dựa vào kết quả thống kê trên, chúng ta thấy số lượng tình thái từ được
Tố Hữu sử dụng trong hai tập thơ Việt Bắc và Gió lộng không phải nhiều: 20
từ Tuy nhiên, một số từ được xuất hiện với tần số cao: “ơi” xuất hiện tới 91 lần trong hai tập thơ (chiếm 54%) Tiếp đó là từ “ôi” xuất hiện 33 lần (chiếm 19,9%) Sau đó là từ “nhé” xuất hiện 8 lần (chiếm 4,8 %) Bên cạnh đó cũng
có những từ chỉ xuất hiện 1 lần như: chừng, thôi, gì, nhe, ô, ơ kìa
Chúng tôi tiến hành khảo sát 45 bài thơ trong hai tập thơ trên đã thấy tới
172 lần các tình thái từ được sử dụng - đây là một con số khá lớn Các tình thái từ xuất hiện nhiều đã giúp cho thơ Tố Hữu dạt dào cảm xúc
Từ “ơi” được Tố Hữu sử dụng khá nhiều trong thơ của mình:
Nhớ tự ngày xưa tuổi chín mười Mây núi hiu hiu chiều lặng lặng Mưa nguồn gió biển nắng xa khơi ”
(Quê mẹ, tr.242)
Từ “ơi” được dùng tới 8 lần trong bài thơ là tiếng gọi tha thiết của trái tim nhà thơ dành cho cảnh và con người nơi đây:
“Mẹ ơi, đời mẹ buồn lo mãi
Thắt ruột mòn gan, héo cả tim!”
Hay:
“Tháng Tám vùng lên Huế của ta
Quảng - Phong ơi, Hương Thuỷ, Hương Trà
Phú Vang, Phú Lộc đò lên Huế
Đỏ ngập dòng sông rộn tiếng ca”
(Quê mẹ, tr.244)
Trang 26Đó còn là tình cảm, là tiếng lòng từ nơi sâu thẳm bên trong trái tim của người con dành cho mẹ yêu thương:
“Bầm ơi, sớm sớm chiều chiều Thương con bầm chớ lo nhiều bầm nghe!
Con đi trăm núi ngàn khe Chưa bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm Con đi đánh giặc mười năm
Chưa bằng khó nhọc đời bầm sáu mươi”
(Bầm ơi, tr.198)
Tình thái từ “ơi” được sử dụng nhiều lần trong thơ đã giúp thơ ông dạt
dào cảm xúc, giúp nhà thơ bộc lộ được tình cảm của mình với đối tượng giao tiếp cũng như bộc lộ giùm tình cảm của nhân vật trữ tình Từ “ơi” như là tiếng gọi từ trái tim của nhà thơ đến với bạn đọc và từ bạn đọc trở lại với nhà thơ Đồng thời từ “ơi” còn xác lập được vai của các nhân vật giao tiếp và mối quan
hệ gần gũi của họ trong những hoàn cảnh giao tiếp cụ thể
Nếu “ơi” là tình thái từ hô gọi, kêu gọi thể hiện rất rõ mối quan hệ cũng như vai giao tiếp giữa nhân vật trữ tình với đối tượng thì tình thái từ cảm thán “ôi” lại thể hiện rõ nét sắc thái, tâm trạng cũng như cảm xúc của nhân vật trữ tình:
“Hà Nội ơi Hà Nội!
Cay đắng tám năm ròng Quê ta thành đất giặc
Ôi ngàn năm Thăng Long!
(Lại về, tr.236) Nếu như từ “ơi” ở đầu câu đầu tiên của khổ thơ chính là tiếng gọi từ nơi sâu thẳm của nhà thơ cất lên dành cho Hà Nội thì từ “ôi” đứng ở đầu câu thơ
đã thể hiện được nỗi đau trong lòng nhà thơ trước sự mất mát mà Hà Nội cũng
Trang 27như cả dân tộc phải gánh chịu Mặt khác, thông qua tình thái từ “ôi” ta thấy hiểu được tình cảm của nhân vật trữ tình dành cho đất nước mình Đoạn thơ như có một sức nặng lớn vì nó chứa đựng trong đó biết bao cảm xúc, tâm trạng của nhân vật Sức nặng này tập trung ở việc sử dụng các tình thái từ - đặc biệt là tình thái từ “ôi”
Hay:
“Ôi Lênin
Đứng bên Người
Và đứng trước Kremlin Mỗi con người lớn lên nghìn thước”
(Trước Kremlin, tr.271) Nếu ở trên, tình thái từ “ôi” mang nặng nỗi buồn thì ở đoạn thơ này nó
đã giúp nhà thơ bộc lộ nỗi vui mừng, niềm hạnh phúc và tràn ngập niềm tự hào đối với vị lãnh tụ vĩ đại của thế giới - Lênin
Có khi tình thái từ “ôi” thể hiện trạng thái hưng phấn, cảm xúc, niềm hạnh phúc dâng trào không thể kìm nén phải thốt lên thành lời:
“Ôi trời, sướng quá
Dân kéo về châu Rầm rập hể hả
Ơi những em đốt đuốc đến trường làng
Và các chị dân công mòn đêm vận tải
Trang 28Các anh chị, các em ơi có phải Mỗi khi lòng ta xao xuyến rung rinh Môi ta thầm kêu Bác: Hồ Chí Minh.”
(Sáng tháng năm, tr.216) Với việc sử dụng những tình thái từ “ôi” đứng đầu đã làm cho câu thơ tràn ngập trong cảm xúc, thể hiện tình cảm yêu thương, trìu mến, một cảm xúc khó nén trong lòng của nhà thơ cũng như của nhân vật trữ tình dành cho Bác
Hồ kính yêu Trong khi đó, từ “ơi” đứng đầu câu thơ tiếp theo lại là tiếng gọi của nhà thơ với nhân dân ta, nó cho thấy sự gần gũi, gắn bó giữa nhà thơ với những người dân Việt Nam
Việc sử dụng tình thái từ trong thơ không chỉ giúp nhà thơ cũng như nhân vật trữ tình bộc lộ cảm xúc mà còn giúp cho thơ Tố Hữu có giá trị cao trong việc xác lập mối quan hệ giữa các vai giao tiếp trong những hoàn cảnh giao tiếp cụ thể:
“Lại đây, ơi bạn mình ơi!
Trường tôi vang giọng, rộn lời nước non
Ta nghèo không mực thì son Bút tre phấn gạch bà con tạm dùng”
(Trường tôi, tr.174) Đoạn thơ như lời mời, lời chào của những người gần gũi, thân quen trong cuộc sống mặc dù trên thực tế, họ còn là những người xa lạ, sơ giao Mối quan hệ giữa nhân vật trữ tình và đối tượng là mối quan hệ ngang hàng
Sở dĩ nó có được giá trị này là do từ rào đón đưa đẩy: “lại đây” và đặc biệt là
do tình thái từ “ơi” đưa lại
Trang 29Trong hệ thống các tình thái từ, từ “nhé” lại có giá trị biểu đạt riêng
Nó tạo ra sự thân mật, rủ mời thể hiện thái độ mong muốn có được sự đồng tình, đồng cảm giữa các đối tượng giao tiếp:
“Con ra tiền tuyến xa xôi Yêu bầm yêu nước cả đôi mẹ hiền
Nhớ thương con bầm yên tâm nhé
Bầm của con, mẹ Vệ quốc quân.”
2.2 Từ địa phương
2.2.1 Định nghĩa
Từ trước tới nay các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học đã đưa ra nhiều những khái niệm khác nhau về từ địa phương
Trang 30Khi định nghĩa từ địa phương người ta thường phân biệt nó với với ngôn ngữ toàn dân, ngôn ngữ văn hoá Có thể thấy các tác giả thường dựa vào hai tiêu chí để định nghĩa về từ địa phương Đó là:
- Từ ngữ đó là biến thể của ngôn ngữ toàn dân
- Phạm vi sử dụng hạn chế
Nhóm tác giả Nguyễn Nhã Bản, Hoàng Trọng Canh, Nguyễn Hoài
Nguyên và Phan Mậu Cảnh biên soạn cuốn Từ điển địa phương Nghệ Tĩnh định nghĩa: “Từ địa phương là vốn từ cư trú ở một địa phương cụ thể có sự khác biệt
với ngôn ngữ văn hoá hoặc địa phương khác về ngữ âm và ngữ nghĩa” [5]
Theo Định Trọng Lạc: “Từ địa phương là những từ chỉ được dùng
trong các phương ngữ, các thổ ngữ” [22, tr.30]
Tích hợp những quan điểm trên, chúng tôi cho rằng: từ địa phương (hay còn gọi là phương ngữ) là những biến thể của ngôn ngữ văn hoá và lớp từ riêng được sử dụng ở một địa phương cụ thể, bao gồm những nét khác biệt về ngữ
âm, từ vựng và ngữ pháp với ngôn ngữ văn hoá và các phương ngữ khác
2.2.2 Vai trò của từ địa phương
Từ trong giao tiếp của cuộc sống hằng ngày, từ địa phương đã được đưa vào trong thơ và đem lại những giá trị nhất định cho các tác phẩm, đem lại sự thành công cho tác giả Việc sử dụng từ địa phương trong thơ có vai trò quan trọng:
- Góp phần làm cho lời thơ, ý thơ thêm mộc mạc giản dị và gần gũi với lời ăn tiếng nói hằng ngày của nhân dân
- Tạo nên nét đặc trưng của mỗi vùng miền qua đó, đóng vai trò quan trọng trong việc khắc hoạ những con người, những miền quê, những tâm trạng một cách điển hình, chân thực và sinh động
- Thể hiện dụng ý nghệ thuật của người viết và chính điều này đã đóng góp cho nền văn học việt Nam những giá trị độc đáo Từ địa phương trong thơ
Trang 31có vai trò giúp cho độc giả hiểu thêm được những phương ngữ khác nhau của mỗi vùng trên mọi miền tổ quốc và làm cho mọi người xích lại gần nhau hơn
2.2.3 Phân loại từ địa phương
Từ địa phương gồm hai loại:
2.2.3.1 Từ ngữ địa phương có sự đối lập về mặt ý nghĩa
Ví dụ: từ ngữ địa phương Nam Bộ: nón (mũ), chén (bát), dù (ô)
2.2.3.2 Từ ngữ địa phương có sự đối lập về mặt ngữ âm
Ví dụ: từ ngữ địa phương Nam Bộ: mắc cỡ (xấu hổ), ăn hiếp (bắt nạt),
mô (đâu), ngái (xa),
2.2.4 Thống kê, khảo sát lớp từ địa phương trong thơ Tố Hữu
Bảng 2: Tình thái từ trong hai tập thơ Việt Bắc, Gió lộng
của Tố Hữu STT Từ địa phương Tần số xuất hiện
Trang 32Đọc thơ Tố Hữu, chúng ta không chỉ thấy hình ảnh bà mẹ Việt Nam nói chung mà còn nhìn thấy hình ảnh các bà mẹ trên khắp mọi miền đất nước, nhờ các từ xưng hô địa phương về bà mẹ:
“Bầm ơi có rét không bầm?
Heo heo gió núi lâm thâm mưa phùn
Bầm ra ruộng cấy bầm run
Chân lội dưới bùn, tay cấy mạ non
Mạ non bầm cấy mấy đon
Ruột gan bầm lại thương con mấy lần
Mưa phùn ướt áo tứ thân
Mưa bao nhiêu hạt, thương bầm bấy nhiêu!”
(Bầm ơi, tr.198)
Từ “bầm” được sử dụng 23 lần trong bài thơ đã khắc hoạ lên hình ảnh
bà mẹ miền trung chịu thương, chịu khó Đồng thời, nó cho thấy được tình cảm gắn bó, thân thiết của tác giả với đối tượng được hô gọi
Hay:
Trang 33“Bà bủ nằm ổ chuối khô
Bà bủ không ngủ bà lo bời bời
Đêm nay tháng chạp mồng mười Vài mươi bữa nữa tết rồi hết năm.”
(Bà bủ, tr.196) Với 6 lần xuất hiện trong bài thơ, từ “bủ” đã đưa ta tiếp xúc và cảm nhận về hình ảnh của bà mẹ ở trung du Bắc Bộ
Trong bài Bà mẹ Việt Bắc, thông qua việc sử dụng 5 lần từ “mé”, bài
thơ đã khắc hoạ thành công hình ảnh bà mẹ người dân tộc với những khó khăn vất vả cùng tình thương bao la dành cho con:
“Đêm nay trên sàn Bập bùng ngọn lửa
Mé kể nguồn cơn
Chuyện nhà chuyện cửa”
(Bà mẹ Việt Bắc, tr.187) Bên cạnh đó, từ “chi” được tác giả dùng với tần số cao: 10 lần trong cả hai tập thơ Nó nằm rải rác ở các bài
“Anh tài thì em cũng tài Đường dài ta xẻ, sức dai ngai gì
Trang 34Đường đi ngoắt ngoéo chữ chi
“Bữa mô mời bạn vô chơi Huế
Cồn Hến buồm giong ngược bến Tuần”
(Hoa tím, tr.260) Chỉ trong hai câu thơ mà Tố Hữu đã sử dụng tới hai phương ngữ: “mô”,
“vô” của Huế đã cho thấy chất Huế, hương vị Huế thấm sâu trong thơ ông
Có thể nói, Tố Hữu đã khai thác triệt để vốn từ địa phương ở các vùng miền trên đất nước Việt Nam vào trong thơ của mình Do đó, thơ Tố Hữu đã phản ánh được những nét đặc trưng của nhiều vùng miền trên đất nước Tuy nhiên, trong hệ thống những từ địa phương mà Tố Hữu sử dụng thì những từ đặc trưng cho xứ Huế được nhà thơ khai thác và sử dụng nhiều nhất, tạo nên nét đặc biệt trong thơ Tố Hữu Con người Huế cũng như những nét đẹp văn hoá Huế hiện lên một cách cụ thể, sinh động và cũng rất đời thường Ta nghe như chính hơi thở Huế đã lồng lộng trong thơ ông Qua lớp từ này, ta hiểu thêm về con người cũng như cảnh vật của đất nước ta nói chung và của xứ Huế nói riêng, thấy được tình cảm sâu đậm mà nhà thơ dành Huế - nơi “chôn rau cắt rốn” của mình Có thể nói, Tố Hữu là một trong những nhà thơ đã sử dụng từ địa phương một cách hiệu quả, góp phần quan trọng vào việc biểu đạt
ý nghĩa nội dung của tác phẩm và tình cảm, tâm trạng của tác giả
Trang 352.3 Từ xưng hô
2.3.1 Khái niệm từ xưng hô
Xung quanh vấn đề định nghĩa về từ xưng hô trong Tiếng Việt có nhiều
ý kiến khác nhau
Tác giả Nguyễn Văn Chiến cho rằng: “Từ xưng hô là những từ được
rút ra trong hệ thống ngôn ngữ (biểu thị các phạm trù xưng hô nhất định) dùng để xưng hô giao tiếp xã hội Từ xưng hô là những từ thuộc nhiều lớp từ loại của ngôn ngữ được dùng để “xưng” (tự quy chiếu) và “hô” (quy chiếu vào người khác)” [11, tr.41]
Tác giả Đỗ Hữu Châu trong Đại cương ngôn ngữ học, tập 2 đã định nghĩa: “Phạm trù xưng hô hay phạm trù ngôi bao gồm những phương tiện
chiếu vật nhờ đó người nói tự quy chiếu, tức tự đưa mình vào diễn ngôn (tự xưng) và đưa người giao tiếp với mình (đối xứng) vào diễn ngôn Như thế phạm trù ngôi thuộc quan hệ vai giao tiếp ngay trong cuộc giao tiếp đang
diễn ra với điểm góc là lời nói” [9, tr.73]
Từ xưng hô được dùng trong giao tiếp hội thoại Đó là giao tiếp 2 chiều
có sự tương tác qua lại giữa “xưng” và “hô” của ngôi I và ngôi II, những người trực tiếp tham gia vào vai giao tiếp Vậy ngôi thứ III vẫn thường được nhắc đến trong lời thoại của các vai giao tiếp có được dùng để “hô” hay không? Vấn đề này đã tồn tại hai quan niệm khác nhau
Quan niệm 1, Benveniste và Phạm Ngọc Thưởng là đại diện Hai tác giả này cho rằng: Đại từ ngôi thứ III không phải là đại từ xưng hô Trong tác
phẩm Những vấn đề ngôn ngữ học đại cương Benveniste coi ngôi thứ nhất và
ngôi thứ 2 thực sự mới là ngôi xưng hô bởi vì những hoạt động giao tiếp với nhau dùng chúng để chỉ nhau Ngôi thứ III trong thực tế được dùng để chiếu vật người hay sự vật được nói tới không tham gia vào cuộc giao tiếp Tác giả
Phạm Ngọc Thưởng kết luận: “Những đại từ nào chỉ rõ vai nhân vật tham
Trang 36gia trực tiếp vào hành vi xưng hô mới được coi là những đại từ xưng hô thực thụ” [38, tr.55]
Quan niệm 2, tiêu biểu là hai tác giả Đỗ Hữu Châu và Nguyễn Hữu Khang Tác giả khẳng định: từ xưng hô vừa dùng để xưng, vừa dùng để hô trong đó không chỉ có ngôi thứ nhất, ngôi thứ II (người ttrực tiếp giao tiếp với mình) mà còn hô ngôi thứ III (người được nói đến) Bởi có lúc thông qua việc xem xét đối tượng nhân vật giao tiếp của mình gọi nhân vật giao tiếp thứ 3 là
gì mà cả hai cả hai cùng thay đổi cách xưng hô với đối tượng giao tiếp cho thích hợp
Chúng tôi đồng tình với quan niệm 2 Vì chúng tôi nhận thấy rằng: tuy ngôi thứ III không trực tiếp tham gia vào cuộc thoại nhưng nó không thể không có ý nghĩa gì đối với cách xưng hô của ngôi thứ I và ngôi thứ II Tất nhiên việc xem ngôi thứ I, ngôi thứ II, ngôi III đều thuộc hệ thống từ xưng hô cần lưu ý tính không bình đẳng giữa các ngôi Có thể xem ngôi I và ngôi II là
từ xưng hô “tích cực” (hay trực tiếp) còn ngôi III là xưng hô “thụ động” (hay gián tiếp)
2.3.2 Vai trò của từ xưng hô trong thơ
Mỗi một loại ngôn ngữ có hệ thống từ xưng hô của riêng mình Từ xưng hô có chức năng quan trọng là xưng và gọi Bên cạnh đó, từ xưng hô còn
có vai trò quan trọng trong việc thể hiện sắc thái văn hoá giao tiếp, ứng xử giữa các thành viên trong cộng đồng ngôn ngữ đó, xác lập quan hệ giữa các vai giao tiếp Mặt khác, các từ xưng hô còn cho phép nhà thơ thể hiện rõ ràng, dứt khoát lập trường, tư tưởng của nhân vật trữ tình
2.3.3 Phân loại từ xưng hô
Nói đến từ xưng hô, các nhà nghiên cứu thường đề cập đến 4 loại:
Trang 372.3.3.1 Đại từ nhân xưng đích thực
Đại từ là những từ dùng để xưng hô hoặc thay thế Đại từ nhân xưng dùng để xưng hô thay thế hay chỉ trỏ người khi giao tiếp
Về ý nghĩa: đại từ xưng hô đích thực hay đại từ nhân xưng mang ý nghĩa chiếu vật, nghĩa là chúng được xác định do sự quy định trong giao tiếp
Về khả năng kết hợp: trong cụm, đại từ xưng hô có khả năng kết hợp các yếu tố xung quanh nó rất hạn chế Một số đại từ nhân xưng chỉ có thể kết hợp với định ngữ tất cả, số từ phía trước
2.3.3.2 Xưng hô bằng danh từ thân tộc
Bên cạnh các đại từ xưng hô đích thực, tiếng Việt còn sử dụng các danh
từ thân tộc để xưng hô Các danh từ thân tộc thường dùng để xưng hô là: ông,
bà, cô, dì, chú, bác, cậu, mợ
2.3.3.3 Danh từ chỉ tên riêng nhân vật giao tiếp
Trong khi giao tiếp có khi người ta còn dùng danh từ chỉ tên riêng nhân
vật giao tiếp: Hương, Hoa, Thảo, Tùng
Ví dụ:
Hương đang làm gì vậy?
Hương đang làm bài tập
2.3.3.4 Ngoài ra người ta còn dùng những chức vụ, nghề nghiệp để xưng hô
Ví dụ:
Tthầy giáo, kĩ sư, bác sĩ
Bác sĩ ơi! Cháu tôi bị sốt
Trang 382.3.4 Thống kê, khảo sát từ xưng hô trong thơ Tố Hữu
Bảng3: Từ địa phương trong hai tập thơ Việt Bắc, Gió lộng của Tố Hữu