1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu bản sắc văn hoá ấn độ thời cổ trung đại

62 534 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 164 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những đợt xâmlợc và những thế kỷ thống trị của các tộc ngời Hi Lạp, ngời Hồi giáo hoặcbọn thực dân phơng Tây xâm lợc sau này, cùng những ảnh hởng văn hoá đem theo đã không huỷ diệt đợc n

Trang 1

lời cảm ơn!

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn sự hớng dẫn tận tình của GVC-ThS: Phan Hoàng Minh, cùng các thầy giáo, cô giáo trong khoa Lịch Sử và các bạn sinh viên đã động viên, góp ý, tạo điều kiện cho tôi hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này.

Ngời thực hiện:

Sv: Mai Thị Thuỷ.

Trang 2

A mở đầu

1 Lý do chọn đề tài.

Trên thế giới đã có biết bao nhiêu dân tộc luôn tự hào về đất nớc vàtruyền thống văn hoá của mình, đó là những quốc gia xa kia đã từng sảnsinh ra những nền văn minh lớn, dù sau đó các nền văn minh này dần bị tànlụi Hoặc ngợc lại, có những quốc gia ít đợc chú ý, bỗng phát triển rực rỡtrong một vài thế kỷ của thời kỳ cận hiện đại ở đây, hình nh có sự bù trừgiữa quá khứ và hiện tại - giữa thịnh đạt và suy vong

ấn Độ có một nền văn hoá cổ xa, lâu đời và trờng tồn qua nhữngthăng trầm của lịch sử cha bao giờ chết đi Cho đến hiện nay, bên trong cáidáng vẻ hiện đại, ngời ta vẫn dễ dàng nhận thấy đợc cái cốt lõi, cái tâm hồncủa hàng chục ngàn năm quá khứ của đất nớc rộng lớn này Những đợt xâmlợc và những thế kỷ thống trị của các tộc ngời Hi Lạp, ngời Hồi giáo hoặcbọn thực dân phơng Tây xâm lợc sau này, cùng những ảnh hởng văn hoá

đem theo đã không huỷ diệt đợc nền văn minh ấy, mà trái lại đã bị hoà tanvào dòng chảy mênh mông của truyền thống ấn Độ Đất nớc ấn Độ của

đức Phật Thích Ca, của hoàng đế Axôca vẫn còn in lại những dấu ấn đậmnét của Togor và Găng đi Cố thủ tớng J Nêru đã đa ra hình ảnh dòng sôngHằng nh một biểu tợng đầy ý nghĩa của nền văn hoá truyền thống ấn Độ

“Dòng sông Hằng chính là hình ảnh tợng trng của nền văn hoá và triết họclâu đời của ấn Độ, luôn luôn thay đổi, luôn trôi chảy nhng trớc sau luônluôn vẫn là cùng một dòng sông Hằng ấy”

Mặt khác, trong lịch sử thế giới, ấn Độ cũng đã hiện ra nh một xứ sở

đầy huyền bí và quyến rũ Từ thế kỷ V TCN, nhà sử gia cổ Hi Lạp làHêđôrốt đã từng nói đến ấn Độ nh một quốc gia đông dân nhất trong sốnhững quốc đợc biết Vaxcôđ Gama dành trọn cả cuộc đời phiêu lu củamình để tìm kiếm ấn Độ Grixtốp Côlông cho đến lúc chết vẫn đinh ninhrằng những hòn đảo châu Mỹ mà ông ta đặt chân lên trong cuộc thám hiểmcủa mình là xứ sở ấn Độ cổ kính Các nhà s Trung Quốc nh Pháp Hiển,Huyền Trang và Nghĩa Tĩnh cũng đã từng lặn lội hàng chục năm trời đến

Trang 3

ấn Độ thỉnh kinh Phật Trong truyền thuyết dân gian Việt Nam, các nhà s

Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không cũng chẳng quản lội suối trèo đèo đểlên đờng sang xứ Tây Trúc học đạo thần thông

ấn Độ và Việt Nam là hai nớc đã có mối quan lâu dài tốt đẹp trongquá trình xây dựng và phát triển đất nớc Trên lĩnh vực văn hoá Việt Namcũng chịu ảnh hởng của nền văn hoá ấn Độ Do vậy việc nghiên cứu lịch sử

ấn Độ xa và nay nó có ý nghĩa thời sự và khoa học đặc biệt to lớn Với tcách là một sinh viên nghành sử chúng tôi thấy rằng việc củng cố, tăng c-ờng hiểu về lịch sử ấn Độ là rất cần thiết

Tuy nhiên, lịch sử văn hoá ấn Độ là một phạm vi rộng lớn với nhiềuvấn đề cần nghiên cứu Song do năng lực, trình độ của bản thân còn hạnchế, cho nên trong khoá luận này chúng tôi không có tham vọng nghiên cứunhiều vấn đề trong lịch sử ấn Độ, mà chỉ muốn tìm hiểu một vấn đề có ýnghĩa xuyên suốt trong lịch sử ấn Độ, để nhằm hiểu biết sâu sắc thêm về

ấn Độ, góp phần vào việc giảng dạy lịch sử thế giới nói chung và lịch sử ấn

Độ nói riêng sau khi ra trờng Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài: “Tìm hiểu bản

sắc văn hoá ấn Độ cổ - Trung đại” làm khoá luận tốt nghiệp

Thực hiện đề tài này chúng tôi không có tham vọng sẽ đa ra đợcnhững ý kiến mới có tính chất phát hiện, mà chỉ đề ra cho mình một nhiệm

vụ là thông qua việc tiếp cận những công trình khoa học của các học giảtrong và ngoài nớc về lịch sử ấn Độ, nhất là các tác phẩm viết về văn hoá,văn minh ấn Độ để nắm bắt một cách có hệ thống những kiến thức về vănhoá, văn minh của ấn Độ, từ đó thấy đợc bản sắc riêng trong văn hoá ấn

Độ, thời cổ đại và phong kiến, và những đóng góp của nền văn minh ấy đốivới sự phát triển của nền văn hoá, văn minh nhân loại

2 Lịch sử vấn đề.

Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng nền văn hoá thế giới đợc khởi nguồn

từ nền văn hoá phơng Đông trong đó đất nớc và con ngời ấn Độ với nền vănhoá cổ đại là một trong những ngọn nguồn của nền văn hoá thế giới Là mộttrong những nền văn minh tối cổ, với sự hình thành, quá trình phát triển rấtrực rỡ của nó, toả sáng ở thời kỳ cổ - trung đại và còn đợc lu giữ cho đến

Trang 4

ngày nay Những thành tựu của nền văn minh ấy đã từng đợc nhiều dân tộctrên thế giới ngỡng mộ Hào quang của nó không chỉ lan toả và ảnh hởnglớn lao đối với dân tộc Phơng Đông, Trung á, Đông Nam á và vùng Viễn

Đông mà bản thân dân tộc chúng ta chịu ảnh hởng sâu sắc nền văn hoá ấn

Độ

Do vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu về đất nớc, con ngời nói chung vàvăn hoá ấn Độ nói riêng là một đề tài không bao giờ cạn đối với các họcgiả trong nớc và nớc ngoài

Đối với các tác giả nớc ngoài, nhiều công trình đã viết về nền vănminh của ấn Độ mà chúng tôi tiếp cận đợc đó là: Will DuRanT “Lịch sửvăn minh ấn Độ” (NXB văn hoá - thông tin) hay là Almanach “Những nềnvăn hoá thế giới” (NXB văn hoá - thông tin, Hà Nội 1990), hay một tácphẩm của một tác giả ngời Nga Kan-Tô-nô-va, G.Bôngatêvin, G.kô-tôp-scky “Lịch sử ấn Độ cổ - trung đại” NXB tiến bộ Matxcova-1979 và nhiềunhững tác phẩm khác ở đây các tác giả đã trình bày rất tỷ mỷ về quá ra đời

và phát triển của nền văn minh ấn Độ ,cũng nh những hào quang lan toảcủa nó đối với các nớc xung quanh Đồng thời trong các tác phẩm củamình các tác giả cũng đã cố gắng truyền tải một khối lợng kiến thức rất cơbản về nền văn minh cổ kính nhất của nhân loại Cùng với những luận

điểm, những đánh giá khách quan về nền văn minh ấy đã giúp cho quá trìnhnghiên cứu về ấn Độ của các tác giả Việt Nam tốt hơn

ở Việt Nam, cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về ấn Độ nóichung và văn hoá triết học, tôn giáo Nói riêng cũng đã rất phát triển Ph

Ăngghen đã nói “Góp phần làm sống động tình hữu nghị và quan hệ hiểubiết lẫn nhau giữa các dân tộc trên trái đất”

Đầu tiên chúng ta phải kể đến “Lịch sử thế giới cổ trung” Trờng

Đại học Hà Nội Đây là công trình nghiên cứu đã đợc đa và giảng dạy ởcác trờng Đại Học Ngoài viết về lĩnh vực triết học có các công trình “Lịch

sử t tởng triết học ấn Độ cổ đại” PTS Doãn Chính - NXB Chính trị Quốcgia - Hà Nội - !995 “ Lịch sử triết học phơng đông” - Nguyễn Đăng Thục -Tập III - NXB Đông Phơng Hay “ Lịch sử triết học” - Hà Thiên Sơn - NXBTrẻ 1988

Trang 5

Trên lĩnh vực văn hoá có các công trình nh là : “Tìm hiểu văn hoá

ấn Độ” NXB Văn hoá Hà Nội 1986 và “ ấn Độ qua các thời đại” Nguyễn Thừa Hỷ - NXB Văn hoá Hà Nội - 1986 và rất nhiều những côngtrình nghiên cứu khoa học, những tác phẩm văn học hay những ấn phẩmviết về nền văn hoá, văn minh ấn Độ nữa nhng chúng tôi cha có điều kiện

-và khả năng tiếp cận Để nâng cao hiểu biết của bản thân cũng nh hiểu mộtcách sâu sắc nhất về nền văn hoá cổ kính của nhân loại, từ đó rút ra đợc bảnsắc riêng của nền văn hoá ấn Độ cổ - Trung đại và những ảnh hởng của nó

đối với tiến trình phát triển lịch sử nhân loại, chúng tôi đã quyết định chọn

đề tài “ Tìm hiểu bản sắc văn hoá ấn Độ cổ - Trung đại” làm khoá luận

tốt nghiệp

Do điều kiện thời gian hạn chế, năng lực nghiên cứu của bản thâncòn hạn chế, đặc biệt là việc tiếp cận các tác phẩm bằng tiếng nớc ngoàicòn yếu cho nên không thể tránh khỏi những sai sót, hạn chế, yếu kém,chúng tôi mong nhận đợc sự chỉ bảo của Thầy, Cô giáo và sự góp ý của độcgiả quan tâm

3 Phạm vi nghiên cứu.

Tiếp cận, chọn lọc t liệu có liên quan đến đề tài khoá luận, sử dụngphơng pháp lô gíc lịch sử, phơng pháp hệ thống so sánh để thực hiện đề tài

Trên cơ sở đó để rút ra đợc những nét chung, nét bản sắc trong nềnvăn hoá ấn Độ cổ - trung đại

1.1 Khái quát về những đặc điểm địa lý tự nhiên ,

1.2 Khái quát về c dân ấn Độ

Trang 6

ơng 2 : Vài nét về thành tựu văn hoá ấn Độ thời cổ-trung đại.

2.1 Văn hoá ấn Độ thời nguyên thuỷ

2.2 Thành tựu nền văn minh sông ấn

2.3 Sự kế thừa và phát triển nền văn hoá Đravida của ngời Aryan.2.4 Thành tựu văn hoá ấn Độ thời kỳ Magađa

2.5 Thành tựu văn hoá ấn Độ dới vơng triều Maurya và triều đạiKusana

2.6 Văn hoá ấn Độ dới vơng triều Gúpta và Hácsa

2.7 Văn hoá ấn Độ Hồi Giáo và đế quốc Môgôn

Trang 7

B nội dung

Chơng 1

khái quát về điều kiện tự nhiên và c dân ấn độ thời cổ –

trung đại

1.1 Khái quát về những đặc điểm địa lý tự nhiên ấn Độ

ấn Độ là một bán đảo lớn, một “tiểu lục địa lớn” nằm giữa MiềnNam châu á, hai mặt Đông - Nam và Tây - Nam giáp ấn Độ Dơng PhíaBắc là dãy Himalaya hùng vĩ án ngữ theo một vòng cung dài 2.600 Km,trong đó có 40 ngọn núi cao 7.000m so với mặt nớc biển Theo trí tởng tợngcủa ngời ấn Độ thì đây là “trụ trời” đã nâng vòm trời lên cho nhân gian sinhsống, dãy Hymalaya theo tiếng Sanscrit có nghĩa là “nơi c trú của tuyết”hay “xứ sở cuả tuyết” Từ rất xa xa cho đến bây giờ, nơi đây từng là chốn

tu hành khổ luyện của những đạo sỹ muốn tránh xa cuộc sống đời thờng,

đến đây để chiêm nghiệm về bản chất của vũ trụ và nhân sinh tìm con đờnggiải thoát cho chúng sinh khỏi cánh cửa lầm than khổ ải

Ngợc lên phía bắc là tỉnh Karhmir, phía nam Karhmir là miềnPendja, nghĩa là miền “năm con sông” đó là những con sông nh Indus vớibốn nhánh của nó là Ravi, Thelum, Chenar và Sutleji Chính nơi đây ngời

ấn Độ đã sáng tạo ra biết bao nhiêu những câu chuyện thần thoại và truyềnthuyết nhằm lý giải các hiện tợng tự nhiên và đời sống của con ngời

Với những con sông lớn ở ấn Độ nh sông Indus, Gange đều chảy

từ ngọn núi vĩ đại Hymalaya tạo nên đồng bằng ấn Độ phì nhiêu và màu

mỡ Tuy cùng đợc bắt nguồn dới chân núi Hymalaya song những con sông

ấy nó lại đợc chảy theo hai hớng khác nhau Hai con sông ấy đợc ngời ấn

Độ xa ví nh hai cô gái kiều diễm, họ vốn là hai chị em sinh đôi đó là sông

ấn và sông Hằng Nhng ngay từ khi sinh ra họ đã ngoảnh lại nhau và mãimãi chẳng nhìn mặt nhau

Trang 8

Sông ấn có chiều dài 1.500km chảy theo hớng tây nam qua vùngPendjad và đổ ra vịnh Oman Chính nơi đây từ thiên niên kỷ thứ II đã cungcấp cho loài ngời một nền văn minh lớn, đó là nền văn minh Mohenjô -

sa của sông đem đến cho ngời dân ấn Độ thì sông Hằng đã là cái nôi đểphát triển nghề nông nghiệp lúa nớc cổ xa

Đối với ngời ấn Độ nớc sông Hằng có sức thanh tẩy rất màu nhiệm.Ngời ấn Độ xa truyền lại rằng, nếu một ngời có tội đến tắm nớc sông Hằng

sẽ trở nên trong sạch Đến với sông Hằng và gọi tên của nó con ngời ta sẽcảm thấy tĩnh tâm và thanh thản nh trút đi hết mọi cực khổ và lo âu củacuộc đời Do vậy ở ấn Độ sông Hằng đợc xem nh là một ngời mẹ hết sứcbao dung và nhân từ Ngời mẹ ấy mang một bình nớc đầy, đứng trên miệngcá sấu và phân phát cho muôn ngời con của mình

Chính vì phẩm chất thanh lọc ấy của mình mà việc tắm nớc sôngHằng đã trở thành một sinh hoạt văn hoá tôn giáo rất linh thiêng của ngời

ấn Độ xa Đó là lễ hội tắm Kumbh Mela - hàng năm hàng triệu tín đồ của

đạo Hinđu đều đổ về đây để đợc một lần ngắm nhìn sông Hằng và tắm dòngnớc mát của nó để đợc rửa sạch mọi lỗi lầm, để đợc tĩnh tâm, an ủi Và trớckhi về với cõi Niết Bàn ngời dân ấn Độ ai cũng mong đợc nhỏ một vài giọtnớc sông Hằng vào miệng Đó là diễm phúc của cuộc đời mà không phải aicũng có đợc J Nehru đã từng nói về sông Hằng: “Dòng sông Hằng đã nắmgiữ trái tim của ấn Độ và thu hút hàng triệu ngời đến với đôi bờ của nó từbuổi bình minh của lịch sử Câu chuyện dòng sông Hằng từ ngọn nguồn của

nó đến biển cả, từ xa đến nay, là câu chuyện của nền văn minh và văn hoá

ấn Độ, của sự hng suy trong các triều đại phong kiến, của những thành phốlớn, kiêu hãnh, phiêu lu của con ngời và sự tìm tòi của trí tuệ từng làm bậnbịu các nhà t tởng ấn Độ ” Nh vậy con sông Hằng đã đi vào lịch sử của ấn

Trang 9

Độ nh một ngời Mẹ mãi mãi trờng tồn để cho con ngời tìm tòi, khám phá và

tự hào về nó

Khác với Miền Bắc ấn Độ là những dòng sông linh thiêng và huyền

bí thì Miền Nam ấn Độ lại đợc bắt đầu bằng cao nguyên Đêkan (Deccan)rộng lớn có nhiều rừng núi và khoáng sản nằm giữa hai dãy Đông Gát vàTây Gát chạy dọc theo hai mặt Đông - Tây của bờ biển ấn Độ Dơng Nơi

đây thờng xảy ra những hiện tợng nh hạn hán, lũ lụt thất thờng và khôngthuận lợi cho giao thông thuỷ lợi

Song hành cùng với sự phong phú, phức tạp của điều kiện thiênnhiên thì khí hậu của ấn Độ cũng rất khắc nghiệt ở Miền Bắc ấn Độ dãyHymalaya quanh năm tuyết phủ cùng với những cơn cuồng phong băng giá

ào ào tởng nh là bất tận Khi mùa đông về những cơn gió lạnh thấu xơngthịt đó lại gặp phải hơi nớc nóng ở Miền Nam thì tạo thành những đám sơng

mù dày đặc u ám bao phủ cả nền trời Về mùa hè khi nhiệt độ tăng lên làmtan đi một phần băng giá trên dãy Hymalaya tạo thành những cơn thác lũ đổxuống chân núi có thể cuốn đi cả một vùng làng mạc c dân

Trái ngợc với khí hậu Miền Bắc ở Miền Nam ấn đợc bao phủ quanhnăm bởi ánh nắng chang chang, cái nóng ấy nó cứ hừng hực nh thiêu, nh

đốt khiến cho đất đai khô cằn và con ngời trở nên chai sạn, lam lũ

Nh vậy, chúng ta có thể thấy rằng ấn Độ là một đất nớc có điều kiện

tự nhiên, địa lý hết sức đa dạng nhng cũng vô cùng khắc nghiệt Đó là mộtbán đảo mênh mông vừa có những miền núi cao đầy băng giá và rừng rậm

âm u, vừa có những miền đại dơng chói chang ánh nắng lại vừa có nhữngcon sông lớn mang trong mình đầy vẻ hoang sơ và huyền bí song hàng năm

nó lại mang về một lợng phù sa lớn để rồi từ đó con ngời cải tạo thiênnhiên, biến thiên nhiên thành những sản vật quý giá Song thiên nhiên của

ấn Độ không phải lúc nào cũng bình lặng nh nớc sông Hằng miệt mài chảy

mà bên cạnh đó cũng có những cao nguyên và sa mạc khô khan nóng nựcgây cho con ngời biết bao nhiêu khó khăn và trở ngại

1.2 Khái quát về c dân ấn Độ thời cổ trung đại

Trang 10

ấn Độ là một đất nớc có sự đa dạng và phức tạp về các thành phầntộc ngời; Suốt hàng ngàn năm lịch sử, trải qua nhiều đợt thiên di, nhữngcuộc xâm nhập, ấn Độ đã tồn tại và tiếp nhận nhiều làn sóng ngời khácnhau vào và cùng sinh sống ở đây Những tộc ngời ấy trải qua một quá trìnhlịch sử lâu dài đã có sự pha trộn với nhau, tạo thành một hỗn hợp nhânchủng khó tách biệt Tuy nhiên về đại thể có thể chia thành những nhómngời sau:

Ngời Nêgrôid là chủng tộc bản địa cổ xa nhất ở ấn Độ, họ phân bốrộng khắp lục địa Đặc điểm của chủng tộc ngời này có nớc da đen sẫm, tócxoăn tít, mông nở, khổ ngời thấp, mũi tẹt Ngời này đợc tìm thấy qua các dichỉ khảo cổ, qua các bức tranh vẽ và điêu khắc ở trong hang động Ajanda.Trong số những vật tìm thấy ấy có một con dấu gồm hai con rắn, đó là biểutợng cổ nhất của dân tộc ấn Độ Ngày nay ngời Nêgrôrid còn lại một số ítnhng không thuần chủng ở vùng núi hẻo lánh Nam ấn (nh ngời Kadar ởCabin hoặc ở Đông Bắc ấn nh ngời Naga ở Assam và một số còn mangtính thuần chủng ở đảo Anđaman, trong vịnh Bengan thuộc phía Đông ấn)

Mặc dù ngời Nêgrôrid là c dân cổ, sống ở một trình độ lạc hậu vàhiện nay không còn tồn tại trên đất ấn nhng tộc ngời nay đã để lại dấu vếtkhông thể phai mờ trong nền văn hoá ấn Chính ngời ấn đã nhận thức đợc ởngời Nêgrôrid tục thờ cây đa, những nghi lễ phồn thực và quan niệm về linhhồn ngời chết Và cũng có thể ngời Nêgrôrid đã truyền lại cho ngời ấn câuchuyện về con đờng ngời chết đi lên thiên đờng có quỷ canh giữ và một sốquan niệm về Tôtem giáo có liên quan đến các loài động - thực vật sau này

Ngời Autraloid là chủng tộc ngời c trú sớm ở ấn Độ thời cổ còn gắnliền với châu Đại Dơng Ngời Autraloid có tóc cuộn sóng, mũi rộng, khổngời thô, da đen Hiện nay còn sống trong tình trạng tơng đối nguyên thuỷ

đó là ngời Munda ở vùng biển phía Đông: ngời Satal ở vùng núi Rajmabal ở

Đông Bắc ấn, ngời Ho ở Singhbbum: ngời Mcobar ở Đông Nam trong đóngời Satal chiếm 3/5 triệu ngời Đây là chủng tộc có nhiều đóng góp trongnền văn hoá ấn Độ nh các loại hình vũ khí Bumerang, các loại ống thổi

có thể mặt tín ngỡng của ngời Autraloid đã đặt cơ sở cho truyện loại vậttrong văn học ấn Độ, cho truyện ngụ ngôn trong Panchatantra, truyện

Trang 11

Jataka Đặc biệt quan niệm vũ trụ nh một quả trứng khổng lồ của ngời ấngọi là Brahman, quan niệm về sự hoá thai của tinh thần tối thợng tronghình hài của những con vật nh cá, lợn, bò mà ngời ấn gọi là Aratal có thểbắt nguồn từ ngời Autraloid.

Ngời Autraloid cho rằng con ngời sau khi chết có sự tồn tại của linhhồn và họ cũng dựa vào sự biến đổi của mặt trăng để tính ngày, thángnhững từ nh là Ràkà (trăng tròn), Kuhù (trăng non) nó giống ngữ hệAustric Đó chính là những cơ sở quan trọng trong thuyết luân hồi Samsaratrong các tôn giáo ở ấn Độ

Ngời Đravidian là những tộc ngời di c đến ấn Độ sớm nhất vì thế

đ-ợc xem là ngời bản địa Họ c trú phần lớn ở Nam ấn thuộc cao nguyên

Đêkan Ngời Đravidian có nớc da nâu sẫm, khuôn mặt hẹp, mũi thẳng, tóc

đen Ngày nay nhóm ngời này sống rải rác ở các nơi, nh ngời Kui ở Orissa,ngời Kenakh ở Chotanagpur thuộc Đông ấn, ngời Brahui ở Baluchistan ởTây ấn C dân này là chủ nhân của nền văn hoá Harapa - Môhengiô Đarôcách đây 5.000 năm

Về mặt văn hoá và tôn giáo thì ngời Đravidian có những đóng góplớn, việc thờ thần Siva và vợ thần Siva là Uma, thần Visnu và vợ là Sri củangời ấn đợc bắt nguồn từ những tín ngỡng của ngời Đravidian Hơn nữa ng-

ời Đravidian là c dân nông nghiệp, sống định c cho nên kiểu t duy hớng nội

là chủ yếu Do đó, chính là kiểu t duy cho ngời ấn, kiểu t duy yoga và đặcbiệt trong các công trình kiến trúc của ngời Đravidian có những bể tắm lớn,dài 55m rộng 33m ở giữa có một bồn nớc hình chữ nhật dài 12m, rộng 7m,sâu 24m có các bậc thang lên xuống và một hệ thống phòng tắm liền nhau.Mặc dù còn có nhiều ý kiến về loại hình kiến trúc này song có thể nói cáccông trình kiến trúc này có liên quan đến nghi lễ tắm thần mà sau này đợc

đạo Bàlamôn phát triển trong các nghi lễ tôn giáo

Ngời Aryan chiếm 72% c dân ấn, là chủng tộc từ bên ngoài, có thể

là vùng Cápcadơ di chuyển vào ấn Độ qua ngõ hẹp vùng Tây Bắc vàokhoảng thiên niên kỷ III TCN Tộc ngời này có nguồn gốc Châu Âu với vócdáng to lớn, mũi hẹp và cao, da sáng, mắt đen, mặt nhiều râu và theo ngữ hệ

ấn - Âu Lúc đầu ngời Aryan có chừng năm bộ lạc sống ở thợng lu sông ấn

Trang 12

vùng Pengiáp sau đó lan dần sang sông Hằng ở phía đông và vợt dãyVindhya xuống phía Nam Ngời Aryan vốn là một bộ lạc du mục trải quaquá trình định c họ đã chuyển sang làm nghề trồng trọt và thủ công Họchính là lực lợng làm nên diện mạo cho đất nớc ấn Độ hiện nay

Về mặt văn hoá, do xuất phát từ những c dân du mục cho nên sảnphẩm thờng dùng của họ là từ nông nghiệp Và tôtem giáo đợc phổ biếnrộng rãi trong các tộc ngời ấn Độ thời cổ, vì thế trong số các con vật đợcngời Aryan quý trọng con bò cái ngoài việc cung cấp sữa cho ngời Aryancòn để trao đổi nuôi sống ngời dân Chính vì lẽ đó nó đợc tôn sùng, thậmchí đợc xem nh là một vị thần linh thiêng Điều đó cũng lý giải tại sao trongcác cuộc chiến, khi ra trận họ hô hét không phải để đề cao tinh thần dân tộc

mà thực chất là chiếm cho đợc nhiều bò, ngựa Và cũng xuất phát từ cuộcsống hoang dã, phụ thuộc tự nhiên cho nên ngời Aryan tôn thờ các vị thần

tự nhiên nh: thần gió, thần mặt trời, đặc biệt ngọn lửa có vai trò trong đờisống của ngời Aryan nh sởi ấm, nớng chín thức ăn, xua đuổi thú dữ Từ đóngọn lửa đợc thần thánh hoá và đợc xem là cái mồm của thần linh đón nhậnvật cống hiến, là sự môi giới giữa con ngời và thần linh

Ngời Aryan là bộ tộc di c từ bên ngoài ấn Độ, vì thế những cuộcchiến tranh xảy ra là không thể tránh khỏi Trong các cuộc chiến, chiếc xe

có vị trí quan trọng quyết định thắng lợi cho ngời Aryan Từ đó chiếc xe đã

đi vào thần thoại ấn Độ, các vị thần đều di chuyển bằng xe do súc vật kéo

Đây là một biểu tợng thiêng liêng đợc ngời Aryan tôn sùng và đợc gắn vớimệnh của con ngời

Tất cả những điều đó nó đã tạo nền móng, đặt cơ sở vững chắc chonền văn hoá ấn Độ phát triển và dần hình thành cho mình một bản sắc riêng

và độc đáo của văn hoá ấn Độ

Đến muộn hơn ngời Aryan là ngời Môngôlôid thuộc chủng tộc davàng, mắt xếch, gò má cao Họ sống chủ yếu ở vùng Đông Bắc ấn và ở sờnnúi phía Nam Hymalaya Ngời Môngôlôid có tâm tính lạc quan, vui vẻ,thích tự do nhng rắn rỏi và chịu làm, họ chuộng thực ttế hơn là lý thuyết suyluận triết học Chính vì vậy chủng ngời này là một lực lợng có khả năng tiếpthu, truyền tải các nền văn hoá khác nhau

Trang 13

Nhìn chung, nền văn hoá - văn minh ấn Độ là kết quả đóng góp, tích

tụ của nhiều chủng tộc ngời khác nhau sống trên đất ấn Tuỳ theo thời giansớm muộn, khu vực c trú rộng - hẹp, số lợng c dân nhiều - ít mà có sự đónggóp khác nhau Song nhìn về mọi phơng diện lịch sử - văn hoá thì chủng tộc

Đravidian và Aryan là cội nguồn làm nên nền văn hoá truyền thống ấn Độ

Bên cạnh sự đa dạng về chủng tộc ngời, kéo theo đó là sự phức tạp

về ngôn ngữ ấn Độ là một bức tranh nhiều màu sắc song lại không có màunào là chủ đạo, theo tính toán có khoảng 500 đến 1.500 thứ tiếng đợc sửdụng ở ấn Độ, trong đó có 15 thứ tiếng đợc sử dụng rộng rãi nhất đó là:tiếng Hindu, tiếng Udru, Bengali, Assam, Aria Tuy vậy, thời tiền sử ngônngữ có vai trò quan trọng trong việc truyền tải t tởng, tình cảm, tinh thần ấncũng nh tạo nên một nên một nền văn hoá chung của ấn Độ, đó là tiếngSanckrít Và nó cũng là thứ ngôn ngữ môi giới giữa các cộng đồng ngônngữ khác nhau, chính vì thế trong tôn giáo, tiếng Sanckrít cũng là công cụ

đắc lực phục vụ cho quá trình truyền đạo

Xã hội ấn thuở ban sơ có sự phức tạp về mặt chủng tộc và ngôn ngữ,

điều đó một mặt tạo nên sự phong phú đa dạng về nền văn hoá, tạo nênnhững nền văn hoá lừng lẫy trong lịch sử, mặt khác nó lại tạo nên sự khácbiệt, bí hiểm giữa các vùng, các dân tộc sự khép kín trong mỗi cơng vực,cho nên trong lịch sử ấn Độ cha có một triều đại nào thống nhất đợc hoàntoàn lãnh thổ dân tộc ấn và trên cái nền ấy thì sự phân chia đẳng cấp trongxã hội ấn Độ cũng diễn ra vô cùng gay gắt Theo thánh điển của đạoBàlamôn và theo bộ luật Manu, ngời ta đã phân chia xã hội ấn Độ ra thànhnhiều chủng tính Nhng có thể quy thành bốn chủng tính lớn và đó cũng làbốn đẳng cấp trong xã hội ấn Độ

Đẳng cấp Brahmana là những tăng lữ, tu sỹ Bàlamôn

Đẳng cấp Kshatriya là những vơng công, võ sỹ

Đẳng cấp Vaishya là những thơng nhân, điền chủ và dân tự do

Đẳng cấp Shudra là những ngời lao động gồm đa số tiện dân và nô

lệ

Trang 14

Ngoài bốn đẳng cấp trên, trong xã hội còn có những ngời ở ngoàicác đẳng cấp, đó là tầng lớp dân cùng đinh, hạ đẳng ti tiện nhất gọi là Paria,

nh bộ lạc thổ dân Chandala

Nh vậy, từ sự phức tạp về ngôn ngữ và chủng tộc cho đến sự phânchia giai cấp trong xã hội một cách khắc nghiệt nó đã tạo nên sự phát triểnnền văn hoá riêng của xã hội ấn Độ thời cổ - trung đại Điều đó nó thể hiện

ở sự phát triển nền văn hoá ấn Độ qua những bớc đi thăng trầm khác nhautrong mỗi thời kỳ lịch sử khác nhau

Trang 15

và uy lực ấy lại gây ra cho con ngời biết bao nhiêu hiểm hoạ khôn lờng.Con ngời cảm thấy mình thật nhỏ nhoi khi đứng trớc thiên nhiên bao lahùng vĩ cũng nh đứng trớc những khắc nghiệt của tự nhiên Chính điều kiệnsống nh thế đã tác động thờng xuyên, lâu dài đến sinh hoạt vật chất và sinhhoạt tinh thần của c dân ấn Độ thời cổ Nó ảnh hởng đến phong tục, tậpquán, tâm lý, tín ngỡng, tôn giáo, quan điểm t tởng và đặc biệt là ảnh hởng

đến phong cách t duy độc đáo vừa trìu tợng vừa thâm trầm và cao siêu củangời ấn Độ

Nền văn hoá ấn Độ nó đợc ra đời và phát triển dựa trên cơ sở xã hội

và con ngời vững chắc Cũng từ những cơ sở ấy nó đã tạo nên bản sắc riêngtrong t duy văn hoá của mỗi một c dân ấn Độ từ thời nguyên thuỷ cho tớitận ngày nay

2.1 Văn hoá ấn Độ thời nguyên thuỷ

ấn Độ cổ trung đại là một quốc gia lớn và có nền văn hoá sớm pháttriển Tuy rằng cho đến ngày nay, các nhà khoa học vẫn cha phát hiện đợcnhững chứng cứ về con ngời cổ ở ấn Độ, nhng rải rác ở các địa phơng ngời

ta đã tìm thấy những di chỉ đá cũ và đá mới, có niên đại từ thiên kỷ thứ VI

đến thiên niên kỷ thứ III TCN ở bang Madrar phía nam cao nguyên Đêkan,vùng núi Vyndhya

Trang 16

Ngời ta còn tìm thấy một số mộ đá cổ đợc tạo thành bởi ba trụ

đá(hoặc nhiều hơn) dựng trong một vòm trời, chống đỡ một mái đá đồ sộbên trên

ở ấn Độ một thời kỳ dài đã cùng song song tồn tại hai loại công cụ

là đá mới và đồng.ở Bắc ấn, ngời ta tìm đợc nhiều các loại rìu, gơm, mũigiáo bằng đồng đỏ Trong khi đó ở vùng Nam ấn, ngời ta chỉ phát hiện đợc

đồ sắt Đã có giả thuyết rằng ở miền Bắc ấn công cụ lần lợt chuyển từ đámới sang đồng đỏ rồi đến sắt, còn miền Nam ấn đã chuyển thẳng từ đá mớisang sắt Trong khi đó đồng đỏ lại đợc sử dụng khá phổ biến ở vùng Bắc ấnthì ở ấn Độ ngời ta đã thấy khá nhiều các công cụ bằng đồng thau Điềunày nó cũng tạo điều kiện để từ đây nền văn hoá ấn Độ đợc hình thành

2.2 Thành tựu nền văn minh Sông ấn.

Nền văn hoá đồ đồng cổ đại mang tính chất đô thị rực rỡ nhất ở ấn

Độ và cũng rấnt nổi tiếng trên thế giới là nền văn hoá sông ấn, ở Tây bắc

ấn Độ

Thời kỳ của văn minh lu vực sông ấn (từ đầu thế kỷ III đến giữa thế

kỷ II TCN) đặc điểm nổi bật nhất của giai đoạn này là ấn Độ đã bớc vàothời kỳ văn minh với việc phát triển 2 di chỉ ở Harapa và ở Môhenjô - Đarô

Dựa vào những di vật khảo cổ và những điều phân tích, so sánh vềmặt lý luận, các nhà sử học quốc tế đã đa ra một số nhận định sơ bộ về nềnvăn hoá sông ấn Đó là một nền văn hoá đô thị, đồ đồng phát triển ở mức

độ cao Có nhiều chứng cứ nói lên mối quan hệ chặt chẽ giữa nền văn hoásông ấn với những nền văn hoá đô thị đồ đồng khác ở Lỡng Hà và Ba T

Dựa vào những di vật ấy ngời ta cũng đoán định đợc rằng xã hội củanền văn hoá sông ấn là một xã hội đã vợt qua trình độ nguyên thuỷ để bớcvào giai đoạn văn minh Nông nghiệp khá phong phú với các loại lúa mì,lúa mạch, bông dùng để dệt vải Nhiều loại gia súc đợc thuần hoá Thủ côngnghiệp chế tác các loại kim loại (trừ sắt) và đồ gốm khá phát triển Việcgiao thơng buôn bán trong nớc đã phát triển Mặt khác, việc buôn bán vớinớc ngoài đã đợc đẩy mạnh Có cả một khu di tích đợc đoán định là một

Trang 17

cầu tàu, điều đó nói lên sự phát triênr của thơng nghiệp đờng biển và kỷthuật đờng biển.

Những sự cách biệt giữa hai khu “thành trên” và “phố dới” cách biệt

về quy mô nhà ở và cả đồ trang sức đã cho phép chúng ta hiểu rằng đây làmột xã hội đã có sự phân hoá giai cấp, tuy cha sâu sắc, do một chính quyềnquân chủ chuyên chế đứng đầu

Trong nền văn hoá sông ấn trong giai đoạn này đã có thể có một thứtôn giáo nguyên thuỷ với sự có mặt của các tợng thần Mẹ tợng trng cho sựphồn thực Tuy nhiên, vào giữa thế kỷ II TCN nền văn minh này dần tàn lụirồi nhanh chóng chìm sâu vào lòng đất Mặc dù sự biến mất của nền vănminh này còn có nhiều giả thuyết khác nhau đợc đặt ra song có thể nói đâychính là khúc dạo đầu tạo nền tảng cho lịch sử văn hoá ấn Độ phát triển ởnhững giai đoạn , thời kỳ lịch sử tiếp theo

2.3 Sự kế thừa và phát triển nền văn hoá Đravida của ngời Aryan

Nếu nh nền văn hoá sông ấn, tuy có những thành tựu rực rỡ nhngtrong một thời gian dài đã bị vùi sâu trong lòng đất và trên thực tế đã bịlãng quên trong ký ức của nhân dân, thì lịch sử ấn Độ đợc ghi nhớ lạichính thức bắt đầu từ khi có sự xâm nhập của ngời Aryan

Trớc khi ngời Aryan từ miền núi Hindukush tràn vào lãnh thổ của

ấn Độ thì trên vùng đất ấn bấy giờ ngời Đravidian để xây dựng cho mìnhmột nền văn hoá tơng đối phát triển So với sự thiên di ào ạt của ngời Aryan

và những kinh nghiệm giỏi chiến đấu của mình thì chỉ trong một thời gianngắn họ đã đẩy các tộc ngời Đravidian(bản địa) vào những khu rừng hẻolánh hoặc bắt họ làm tù binh và biến ngời Đravidian thành những kẻ tôi tớ

và lập nên nhà nớc Aryawata của họ và tạo nên nền văn hoá Aryan của họ

Từ đây sau một thời gian chung sống lâu dài của ngời Đravidian với ngờiAryan đã đồng hoá với nhau Đặc biệt do tiếp thu kỷ thuật sản xuất của ng-

ời Đravidian, do chiếm đợc những vùng đất đai màu mỡ, ngời Aryan đãchuyển từ chăn nuôi du mục sang đời sống nông nghiệp định c Họ học của

Trang 18

ngời Đravidian không chỉ về tín ngỡng tôn giáo mà còn cả về tổ chức bộmáy J Nehru đã đánh giá “Chúng ta có thể nói rằng sự tổng hợp và hợpnhất văn hoá lớn đầu tiên diễn ra giữa ngời Aryan mới đến và ngời

Đravidian, những ngời có khả năng là đại diện của nền văn minh thung lũngIndus Từ sự tổng hợp và hợp nhất này đã hình thành các chủng tộc ấn Độ

và nền văn hoá cơ sở của ấn Độ, cả hai đều có những yếu tố riêng biệt”

Về đời sống tinh thần và tôn giáo, ngời Aryan lúc đầu đã theo mộtthứ tôn giáo đa thần, sùng bái các lực lợng tự nhiên, nh thần không trungVaruna, thần bão táp Iđra, thần lửa Anh

Những tín ngỡng và tôn giáo nguyên thuỷ đó phần lớn thờng gọi là

đạo Vêda Sự dung hợp hai yếu tố văn hoá Aryan vào sông ấn vào khoảngthiên niên kỷ thứ II TCN đã làm cho một mặt văn hoá bản địa ở đây từ tínhchất thành thị chuyển sang tính chất nông thôn, mặt khác ngời Aryan đã từkinh tế chăn nuôi chuyển sang kinh tế trồng trọt Kết quả đem lại của quátrình này đó là một nền văn hoá cổ đại ấn Độ thống nhất, thấm đợm tinhthần đạo Vêda, mang tính chất nền tảng, ngời ta thờng gọi nó là nền vănhoá Hindu

2.4 Thành tựu văn hoá ấn Độ thời kỳ Magađa

Vào nữa đầu thiên niên kỷ I TCN ở miền Bắc ấn có 16 nớc trong đónổi bật lên và cờng thịnh hơn cả là vơng quốc Magađa ở lu vực sông Hằng.Vùng đất châu thổ sông Hằng mầu mỡ và giao thông thuận lợi đã tạo điềukiện cho trồng trọt, chăn nuôi và thơng mại Magađa phát triển Bên cạnhnền kinh tế nông nghiệp đã hình thành một đô thị công- thơng nghiệp.Trong vơng quốc, tầng lớp thống trị có thế lực là đẩng cấp tăng lữ Bàlamôn

và đẳng cấp võ sỹ

Cũng thời gian này ở vùng Đông Bắc ấn Độ, phía nam dãyHymalaya đã xuất hiện hai tôn giáo lớn đó là đạo Phật và đạo Hindu, haitôn giáo này đã có những ảnh hởng rộng lớn trong quảng đại quần chúng

ấn Độ

Trong khi nớc Magađa phát triển ở ấn Độ, thì ở phía Tây, Ba T đãtrở thành một đế quốc cờng thịnh,có nền văn minh rực rỡ Ba T đã tiến hành

Trang 19

chinh phục các nớc láng giềng cả ở phía Đông và phía Tây Đến thế kỷ VITCN ngời Ba T đã tràn xuống miền Đông Bắc ấn Độ và lập ra các khu tự trị

ở đây, đứng đầu là các viên thủ lĩnh ngời bản xứ chịu thần phục và cónhững mối quan hệ lệ thuộc với chính quyền trung ơng

Năm 327 TCN, nhà vua xứ Maxêđôni nớc Hy Lạp là Alếchxăng Đại

đế, sau khi đã chinh phục đế quốc Ba T, lúc này đã bắt đầu suy yếu tiếp tục

đánh chiếm các miền đất phụ thuộc của Ba T, tràn qua rặng núi Hindu Kuttiến vào vùng Pengiáp đất ấn Độ Sau khi vơ vét tài nguyên và của cải giàu

có của vùng Tây Bắc ấn Độ, năm 326 TCN Alếchxăng còn định tiến xahơn, theo kế hoạch là đến tận cùng vùng Bengan phía Đông, nhng đã vấpphải sự kháng cự mãnh liệt của quân đội Magađa và sự phản chiến của cácbinh sỹ Hy Lạp Cuối cùng, Alếchxăng buộc phải để lại một lực lợng chiếm

đóng các vùng đất đã chinh phục, còn cho đại đa số quân theo đờng biển rút

về Ba T và Lỡng Hà

Sau khi Alếchxăng rút lui ở ấn Độ đã giấy lên phong trào đấu tranhgiải phóng chống lại sự chiếm đóng của quân Makêđônia Thủ lĩnh phongtrào này là Sandragupta Sau khi đánh bật quân Makêđônia ông tiến quân vềphía đông giành đợc ngôi vua ở Magađa lập ra một triều đại huy hoàngtrong lịch sử ấn Độ cổ đại

Có thể nói rằng sự xâm nhập của đạo quân Alếchxăng tràn vào đất

ấn Độ đã có những hậu quả sâu sắc Từ đây một nền văn hoá Hy Lạp đã

đ-ợc du nhập vào ấn Độ và hỗn dung với nền văn hoá truyền thống bản địa,tạo nên một cuộc giao lu kinh tế - văn hoá giữa phơng Đông và phơng Tây,coi nh một cầu nối giữa văn minh Địa Trung Hải và văn minh Châu á thời

cổ đại

Trang 20

2.5 Văn hoá ấn Độ dới vơng triều Maurya và triều đại Kusana.

Sau cuộc xâm nhập ấn Độ của Alếchxăng, tiếp đến là một vơngtriều độc lập thống nhất và nổi tiếng trong lịch sử ấn Độ, đã để lại nhiềuthành tựu về các mặt kinh tế, chính trị và văn hoá Đó là triều đại Maurya.Ngời sáng lập ra vơng triều là Chandra Gupta, sử gọi là Chandra GuptaMaurya trị vì từ 321- 279 TCN

Chandra Gupta là ngời thuộc vơng triều Maurya nớc Magadha Đợc

sự giúp đỡ của một chính khách Bàlamôm là Kautilya đã nổi dậy lật đổ

v-ơng triều Nada đang thống trị nớc Magadha lúc đó Sau đó ông đã huy động

60 vạn quân sỹ tiến lên giải phóng đất nớc ấn Độ khỏi ách thống trị ngoạibang và tiêu diệt các chính khách tay sai, dần lập nên triều Maurya cờngthịnh

Thời kỳ cờng thịnh nhất của đế quốc Maurya là dới vơng triềuAxôka (273-236 TCN) sau một thời gian dài cai trị đất nớc bằng biện phápchuyên chế và dùng vũ lực đàn áp các nớc láng giềng Axôka đã chuyểnsang đờng lối hoà bình, nhân đạo mang đậm màu sắc Phật giáo trong chínhsách đối nội cũng nh đối ngoại Axôka đã tiến hành một loạt các biện pháptiến bộ nh giảm bớt nhà ngục, bỏ cực hình, kiên quyết không trừng trị phạmnhân khi cha có bằng chứng thật cụ thể xác đáng Mặt khác nhà vua đã cho

mở nhiều bệnh xá, nhà an dỡng phục vụ ngời già và phụ nữ, trồng nhiều câytạo bóng mát trên đờng phố, đào giếng lấy nớc ngọt cho dân Chính điềunày đã làm cho đời sống của nhân dân đợc nâng lên rõ rệt.Bên cạnh đờisống kinh tế vật chất phát triển thì đời sống văn hoá tinh thần của ngời dântrong giai đoạn này cũng phát trỉên rất cờng thịnh Axôka đã cho dịch nhiềukinh Phật xây dựng nhiều chùa chiền,các tháp Phật và các cột đá có khắcvăn bia, nổi tiếng nhất là chiếc cột đá Sarnát và tháp Phật ở Sanchi Cũngchính Axôka là ngời đứng ra bảo trợ cho cuộc hội nghị kết tập Phật giáo trởthành quốc giáo

Sau khi vua Axôka chết, vơng triều Maurya suy sụp nhanh chóng

n-ớc Magađa thống nhất dần tan rã, đến năm 27 TCN thì bị diệt vong Trong

đó bộ tộc Kusana (cùng huyết thống với ngời Tuốc) từ Trung á tràn vào

Trang 21

chiếm đợc miền Tây Bắc ấn lập thành một nớc tơng đối lớn Vua nớcKusana là Kaniska(78- 103)

cũng là một ngời sùng đạo Phật chính vì vậy mà trong thời kỳ này Phật giáocũng rất hng thịnh sau khi Kaniska chết nớc Kusana suy yếu và tồn tại đếnthế kỷ V thì bị diệt vong hoàn toàn

2.6 Văn hoá ấn Độ dới vơng triều Gúpta và Hácsa.

Trong thế kỷ III lãnh thổ của ấn Độ bị chia cắt trầm trọng, năm 320vơng triều Gúpta đợc thành lập, miền Bắc và một phần miền Trung ấn tạmthời thống nhất một thời gian Dới triều đại Gúpta, nền kinh tế văn hoá ấn

Độ đã đạt đợc nhiều thành tựu rực rỡ, đặc biệt là dới vơng triều ChanđraGúpta II có biệt hiệu là “mặt trời dũng cảm” và đợc xem là thời đại hoàngkim của lịch sử ấn Độ thời cổ trung đại

Dới vơng triều Gúpta nến kinh tế ấn Độ đã có những tiến bộ lớnnhiều công trình thuỷ lợi tới tiêu đợc xây dựng Việc trao đổi hàng hoátrong nớc đợc đẩy mạnh ấn Độ đã vợt biển qua buôn bán với nhiều quốcgia Tây á - Đông - Nam á Một “con đờng tơ lụa” nổi tiếng trong lịch sửnối liền Trung Quốc và Trung á, có một nhánh đi qua ấn Độ

Đặc biệt dới vơng triều Gúpta, nền kinh tế ấn Độ đã có những tiến

bộ lớn và đạt đợc nhiều thành tựu rực rỡ Nhà vua này tập hợp xung quoanhmình nhiều nhân tài tri thức và những nhà văn hoá lỗi lạc, đợc gọi chung là

“chín viên ngọc quý” Trong đó có nhà thơ kiêm nhà soạn kịch Kaliđasa vànhà thiên văn kiêm toán học xuất sắc Varahamihu Vào thời gian này nhà sTrung Quốc Pháp Hiển đã thực hiện một chuyến du hành sang ấn Độ bằng

đờng bộ và đờng biển Ông đã nhận xét thú vị, ca tụng vẽ tráng lệ của cácthành phố, lâu đài ấn Độ, đời sống nhân dân sung túc và thuần hậu phápluật khoan dung, sự quan tâm của nhà vua đối với các thần dân qua việcthành lập các bệnh xá và nhà an dỡng, tất cả nổi lên sự phồn vinh, thịnh trịcủa xã hội ấn Độ dới vơng triều Gúpta

Từ năm 500 - 528 miền Bắc ấn bị ngời Eptalil xâm chiếm và thốngtrị đến năm 535 triều đại Gúpta bị diệt vong

Trang 22

Đến đầu thế kỷ VII, một viên tớng ấn Độ là Hácsa dòng dõi triềuGúpta đã đập tan lực lợng nổi dậy, đánh đổ thế lực đô hộ, lên ngôi vua vàlập ra triều đại Hácsa(năm 606) Sau khi thiết lập nên vơng triều của mìnhthì Hácsa đã quan tâm đến sự phát triển kinh tế - văn hoá Hácsa đã cónhiều chính sách u đãi và khuyến khích đạo Phật phát triển Ông đã cho xâydựng hoàn chỉnh tu viện Nalanda nổi tiếng đó là một trờng đại học Phậtgiáo lớn nhất thế giới, thu hút hàng vạn các cao tăng và tín đồ Phật giáo từkhắp ấn Độ và các nớc ngoài khác đến giảng dạy học tập giáo lý nhà Phật

và các giáo lý khác Nhà s Trung Quốc thời Đờng là Huyền Trang trongchuyến du hành sang ấn Độ để thỉnh kinh cũng đã từng theo học trongnhiều năm ở tu viện này Đến năm 648 Hácsa chết thì quốc gia hùng mạnh

do ông sáng lập nên cũng tan rã, song những thành tựu về kinh tế và vănhoá do ông gây dựng nên thì nó trờng tồn mãi mãi cùng với thời gian

2.7 Văn hoá ấn Độ thời vơng triều Đêly Hồi giáo và đế quốc Môgôn

Bắt đầu từ thế kỷ XII ấn Độ dới vơng triều Đêly đã bị chia cắt lãnhthổ ngày một sâu sắc, nhiều tộc ngời đã xâm nhập Đặc biệt từ đầu thế kỷ

XI ấn Độ đã bị các vơng triều Hồi giáo liên tục tiến hành chiến tranh xâmlợc và đến năm 1200 toàn bộ miền Bắc ấn Độ đã bị chinh phục, các vơngtriều Hồi giáo dần dần thành lập bộ máy cai trị độc ác và tàn khốc của mình

đối với ngời dân ấn Độ Nhà vua Alaud Đin từng nói: “Chỉ khi nào làm chongời ấn Độ trở nên bần cùng, thì họ mới chịu khuất phục và biết vâng lời”.Chính sách cai trị tàn bạo đó là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn v-

ơng triều Hồi giáo Đêly đến chỗ suy sụp

Với sự tồn tại của vơng triều Hồi giáo Đêly, đạo Hồi và nền văn hoáHồi giáo đã có điều kiện du nhập vào ấn Độ ở phía Bắc và nhất là vùng TâyBắc, hỗn dung với nền văn hoá Hindu bản địa truyền thống

Năm 1206 viên tổng đốc Cutut Đinaitếch ở miền Bắc ấn tách miềnBắc ấn thành một nớc riêng tự mình làm Xutan (vua ) đóng đô ở Đêly, gọi

là nớc Xuntan Đêly (vơng quốc Hồi giáo Đêly) Từ đó đến 1526 ở miền Bắc

Trang 23

ấn đã thay đổi đến năm vơng triều nhng đều do ngời ngoại tộc theo Hồigiáo thanh lập Trong khi miền Bắc ấn đang ở dới ách thống trị của vơngtriều Hồi giáo Đêli thì ở phía bắc rặng Himalaya các tộc ngời Mông Cổ đãkhông ngừng phát triển và cùng với sự phát triển đó là quá trình mở rộnglãnh thổ Đến năm 1398 thủ lĩnh ngời Mông Cổ Timu liền tràn vào cớp phá

Đêly

Hơn 150 năm sau các tộc ngời Mông Cổ lại một lần nữa tràn vào ấn

Độ lần này nó khác với các lần trớc họ ở lại và xây dựng lên một đế quốcrộng lớn đó là đế quốc Môgôn

Đế quốc Môgôn phát triển cờng dới triều đại Akbar nhờ những cuộccải cách khôn khéo của Akbar về kinh tế - chính trị - xã hội và đặc biệt làtôn giáo Ông cho thi hành chính sách khoan dung đối với tôn giáo Là mộttín đồ trung thành của Hồi giáo, Akabar đã có một thái độ độ lợng với đạoHindu, Phật đạo, đạo BaT

Năm1564 Akbar đã bắt bỏ các loại thuế hành hơng,và dị thuế giáotrớc đây đợc lập ra để đánh vào những ngời không theo đạo Hồi Ông đãchú trọng khuyến khích phát triển văn hóa Tuy không biết chữ nhng Akbarthờng trọng đại các trí thức, văn nghễ sỹ và ông thờng thảo luận với các nhànghệ sỹ, trí thức về vần đề học thuật cao siêu Ông từng đợc mệnh danh là

“Nhà học giả uyên bác không biết chữ” Ông đã cho thành lập một th viện

có tới 24.000 cuốn sách chép tay cho dịch sang tiếng Ba T, bộ sử thi vĩ đạiMahabharata, đồng thời cho xây xựng nhiều công trình kiến trúc lớn có giátrị

Tuy nhiên, cũng nh một số vơng triều ấn Độ trớc kia triếu đại Ak bar đã mang trong mình một số mâu thuẫn cơ bản và sau này khi Akbarchết đế quốc Môgôn cũng dần suy yếu và cuối cùng đã bị diệt vong vàonăm 1857 trớc mũi dày xâm lợc của bọn thực dân phơng Tây

-Nh vậy là trong tiến trình hình thành và phát triển lịch sử của đất nớc

ấn Độ đã có những bớc đi đầu tiên khá vững chãi, một trong những hiện ợng làm nên nét đặc sắc cho lịch sử ấn Độ, đó là một bức tranh toàn cảnh

t-về sự đa dạng trong văn hoá ấn Độ và đặc biệt nổi lên trên hết đó là sự đadạng về tôn giáo, sự uyên thâm về triết học Và trên nền văn hoá chung của

Trang 24

nhân loại trong thời kỳ cổ trung đại thì nền văn hoá triết học và Phật giáo

ấn Độ thời kỳ này không ngừng phát triển và nó đã trở thành một nền vănhoá chủ lực tạo thành bản sắc văn hoá ấn Độ thời cổ - trung đại

Trang 25

Chơng 3.

Bản sắc văn hoá ấn Độ thời cổ trung đại

ấn Độ là một quốc gia có nhiều chủng tộc, với một nền văn hoánhiều màu sắc, đó là sự thống nhất trong đa dạng Mặc dù nó đợc hìnhthành và phát triển trong những điều kiện lịch sử - xã hội khác nhau và đãtrải qua rất nhiều biến đổi nhng nó hoà nhập biết bao yếu tố văn hoá từnhững nguồn gốc khác nhau mà vẫn không làm đứt đoạn truyền thống vănhoá

Ngời ta đã có lý khi nói rằng ấn Độ là một đất nớc của tôn giáo Đó

là quê hơng của đạo Hindu, đạo Phật Từ mấy ngàn năm nay, tôn giáo vẫngiữ một vai trò lớn trong đời sống tinh thần của ngời ấn Độ và đó cũng làcái bản sắc riêng của ấn Độ

Tôn giáo đã thấm sâu và chi phối mọi hoạt động của tất cả các tầnglớp xã hội ở ấn Độ, trong đời sống công cộng cũng nh trong đời sống riêng

t, từ những ngời nghèo ở mỗi làng quê hẻo lánh cho đến các bậc hiền triết,vua chúa kể cả các nhà văn hoá lớn và các nhà hoạt động chính trị hiện đại

Đối với tầng lờp bình dân, tôn giáo đã đồng nhất với tín ngỡng dângian, ẩn náu trong mọi sự vật Đối với các nhà đạo sỹ, tôn giáo là giáo lýcao siêu là sự biện giải về một sự đồng nhất giữa cái ngã của một con ngờivới cái thực thể siêu hình trong vũ trụ Bao trùm lên một thế giới thần linh

mà tất cả mọi con ngời ấn Độ không phân biệt giàu nghèo, sang hèn, đềuthành kính nguyện cầu với lòng mong ớc đợc phù hộ trong đời sống trầnthế

Tôn giáo ở ấn Độ cũng đã in sâu đậm trong suốt cả chiều dài cuộc

đời của một con ngời, từ khi lọt lòng đến lúc từ biệt cõi trần để rồi trongvòng luân hồi lại đầu thai vào kiếp khác Tôn giáo còn toả ảnh hởng đến tấtcả các ngành văn hoá, nghệ thuật ở ấn Độ Thế giới thần linh đã tạo nênnguồn cảm hứng và có mặt trong hầu hết các loại hình nghệ thuật, trong các

Trang 26

công trình kiến trúc, điêu khắc và hội hoạ Có thể nói đời sống văn hoá củangời ấn Độ đã thấm đợm trong ánh sáng và hơng vị của tôn giáo.

Cùng với tôn giáo, ấn Độ cũng là xứ sở của triết học tâm linh ở đâytrong suốt hàng nghìn năm lịch sử, tôn giáo và triết học đã hoà quyện vàonhau Tôn giáo là triết học đã đợc nâng lên thành đức tin và ngợc lại, triếthọc là những suy t siêu hình của tôn giáo

Điều quan tâm chủ yếu của nền triết học ấn Độ truyền thống khôngphải là sự tranh biện duy lý về khoa học bản thể nh ở Hyla, cũng khôngphải là nguyên tắc xử thế để duy trì một trật tự xã hội nh ở Trung Quốc mà

là những suy t về con ngời và đời sống tâm linh của mỗi con ngời từ khisinh ra cho đến khi trở về với kiếp luân hồi, từ những ngời thuộc đẳng cấphèn hạ nhất trong xã hội ấn Độ đến các vơng công, quí tộc, tôn giáo đềuthấm đợm trong t tởng mỗi con ngời ấn Độ Có thể nói tôn giáo là mộtmón ăn tinh thần hàng ngày không thể thiếu đợc của tất cả mọi tầng lớpnhân dân ấn Độ truyền thống

Cũng nh mọi ngành văn hoá truyền thống khác, trong tôn giáo vàtriết học ấn Độ, dễ dàng nhận thấy một đặc điểm nổi bật đó là “tính thốngnhất trong đa dạng”

Về đại thể các tôn giáo và triết học đã có nhiều nét tơng đồng, ít khibài trừ đối lập nhau

Cơ sở tạo nên nền móng tôn giáo và triết học ấn Độ đó là tín ngỡngdân gian nguyên thuỷ, có từ thời những nền văn hoá tiền Aryan và đã tồn tạirất lâu đời bên các tôn giáo lớn Sự nâng cao đúc kết của những tín ngỡng

đó, dung hợp với trí tởng tợng phong phú và những suy nghĩ tự biện siêuhình đã nhào nặn nên một tôn giáo trục của ấn Độ: đó là đạo Hinđu mà cáchình thức trớc đó là đạo Véda và đạo Bàlamôn Có thể nói đây là một tôngiáo Mẹ, đại diện chung và cũng là riêng cho toàn thể nhân dân ấn Độtrong mọi thời kỳ Hai tôn giáo lớn khác là đạo Phật và đạo Jaina một mặt

là những phản đề của đạo Hindu, nhng mặt khác lại là sự tiếp thu và pháttriển của đạo này

Ngày nay toàn cảnh đời sống tâm linh ở ấn Độ là một sự chung sốngtiến tới hoà hợp giữa các tôn giáo, là sự ngày càng xoá nhoà giữa các ranh

Trang 27

giới, giữa các giáo phái khác nhau trong từng tôn giáo Đồng thời là một xuhớng thống nhất tất cả các môn phái triết học - tôn giáo ở ấn Độ vào mộtcộng đồng văn hoá chung, lấy bản sắc dân tộc làm cốt lõi Các học giã đãgọi sự thống nhất đó bằng những khái niệm nh “Mẹ hiền ấn Độ”, “t duy ấn

Độ”, “tinh thần ấn Độ”

Trên lãnh thổ ấn Độ trong thời kỳ cổ trung đại đã tồn tại nhiều tôngiáo khác nhau Song những tôn giáo ấy đều do ngời ấn Độ sáng lập nên đểphục vụ cho mình trong cuộc sống hàng ngày

Tính chất đặc biệt của đạo Hindu là ở chỗ bản thân nó không phải làmột tôn giáo nguyên dạng thuần khiết, mà nó là tổng hợp của những tôngiáo - tín ngỡng - triết học để mà tạo nên cơ sở cho mình Đó là một tôngiáo không có ngời sáng lập, không có giáo chủ, giáo điều và một tổ chứcnhà thờ trung ơng chặt chẽ Mặt khác, đạo Hindu ở một dạng thức uyểnchuyển biến thái, tiếp thu và đồng hoá ảnh hởng của những tôn giáo khác

Nó chính là kết quả của một quá trình hỗn chủng văn hoá - t tởng liên tụcqua các thời kỳ lịch sử

Về chính trị thì ngời ta thờng chia sự phát triển của đạo Hindu rathành những giai đoạn khác nhau: giai đoạn Véda, giai đoạn Bàlamôn vàgiai đoạn đạo Hindu chính thống Tuy nhiên trớc đó đã có một giai đoạntiền Véda đợc xem nh là giai đoạn đặt nền móng cho các giai đoạn saukhông ngừng mở rộng và phát triển

Trớc khi ngời Aryan tiến hành xâm lấn và mở rộng lãnh thổ vào ấn

Độ thì ở đây đã có nền văn hoá sông ấn đã đợc ra đời và phát triển Đây làmột nền văn minh đô thị đồ đồng phát triển cao Về mặt tôn giáo và tín ng-

Trang 28

ỡng, nền văn hoá này đã để lại nhiều dấu vết có ảnh hởng đến sự hình thànhnên đạo Hindu sau này Đó là sự sùng phái các nữ thần Mẹ - đợc thể hiệnqua những tợng nhỏ đợc nung bằng đất, hình tợng sinh thực khí nam giới,hình rừng in trên con dấu bằng đất nung

Tín ngỡng dân gian nguyên thuỷ và ma thuật cũng đã đóng vai tròquan trọng trong việc tạo nền cho sự hình thành đạo Véda Trong đó, điểnhình và nổi bật hơn hết đó là tục linh thiêng hoá các hiện tợng nh ma, nắng,sấm, sét, các sự vật và sinh vật nh sông, núi, cây cỏ, các loài muông thú và

đặc biệt đó là con bò cái Dới con mắt của ngời ấn Độ nguyên thuỷ, tất cảcác sự vật trong thiên nhiên đều có chung một nguồn gốc và chúng chỉ lànhững dạng vẻ khác nhau của một thực thể thống nhất, tất cả đều có linhhồn và mọi vật đều có chuyển hoá lẫn nhau trong vòng luân hồi Những mathuật bùa chú là những hành động tạo nên một sự giao cảm giữa con ngờivới thần linh

Đặc điểm của giai đoạn tiền Véda là tính chất tự phát tự nhiên của nócha hề có sự chỉ đạo của một giáo lý hay kinh sách nào, dù là văn tự truyềnkhẩu Các tín ngỡng dân gian này vẫn tiếp tục tồn tại và phát triển ngay cả ởnhững giai đoạn sau này

Giai đoạn Véda là thời kỳ đặt nền móng về thần phả, giáo lý cũng

nh nghi thức cho đạo Hindu Những thần linh trong giai đoạn này phần lớncòn là biểu tợng cụ thể của những hiện tợng tự nhiên nh thần Sấm(Inđra),thần không trung(Varuna), thần mặt trời(Surya)

Tuy nhiên những thần linh biểu hiện một nguyên lý trìu tợng nh:Brahma, Visnu, Siva lúc này hầu nh cha xuất hiện

Giáo lý cơ bản toát lên từ các bộ kinh Véda này là: con ngời thờngxuyên có những mối liên hệ với các thần linh, phản ánh sự hoà đồng giữacon ngời và vũ trụ

Giai đoạn Bàlamôn: giai đoạn này đánh dấu bằng vai trò ngày càng

đợc đề cao của tầng lớp tăng lữ Bàlamôn trong các lễ hiến tế, cùng với uythế và đặc quyền của đẳng cấp này đối với các đẳng cấp khác

Trang 29

Đạo Bàlamôn về mặt giáo lý đợc đánh dấu bằng bộ “thánh điểnBrahmana” là bộ sách chú giải, diễn giải của kinh Véda nó đợc xây dựngtrên ba yếu tố:

Đácma(Đharma- đạo) đây là những quy định về công việc, cáchsống, bổn phận và kỷ luật thuộc về tập cấp của mình Ngời ấn nào giữ tục

lệ thì cứ sống trong vòng truyền thống đó, ông cha sống ra sao thì mìnhsống nh vậy và mình phải thoả mãn với điều ấy sẽ không bao giờ có chuyệnthay đổi tập cấp Vì thế một ngời theo Đharma thì cứ nh một quy luật tựnhiên nh vậy Ngoài Đharma của mỗi tập cấp còn có Đharma chung gồmnhững bổn phận chung, đó là phải sùng bái, tôn trọng Bàlamôn, sùng kính

bò cái, bổn phận đẻ con Đây chính là cách xử thế đúng đắn hợp đạo đức ở

đời

Varna(đẳng cấp) cho rằng mọi ngời phải tuân thủ những trật tự kiên

định của mình(Đharma) không ai đợc ganh tị với sự thành đạt và sự giàu cócủa ngời khác Mỗi ngời phải bằng lòng với vị trí của mình và tuân thủnhững quy định của đẳng cấp mình Theo đó những ngời thuộc thân phậnthấp kém, bị áp bức buộc phải có ý nghĩ về sự cần thiết phải phục tùng vàtuỳ thuộc vào đẳng cấp trên Sự bần cùng, thê lơng và vị trí đã đợc quy địnhcho mỗi tập cấp, mỗi con ngời trong xã hội chính là sự trừng phạt đối vớinhững tội lỗi mà kiếp trớc họ mắc phải Cho nên mỗi ngời ở đẳng cấp khácnhau phải chịu trách nhiệm của mình và làm tốt trách nhiệm đó

Asrama(các giai đoạn của đời sống) theo thuyết này mỗi con ngời lầnlợt trải qua bốn giai đoạn của cuộc đời: đồ đệ Bàlamôn - chủ gia đình - ẩn

sỹ và đạo sỹ khất thực

Đạo Bàlamôn quan niệm rằng con ngời dù ở đẳng cấp nào thì cuốicùng thì cũng trở thành một Bàlamôn thực thụ và yếu tố Đácma, Vácan,Asrama đợc coi là những quy phạm vĩnh hằng trong xã hội ấn Độ

Về mặt nội dung thì đạo Bàlamôn là một tôn giáo đa thần trong đó vịthần cao nhất là thần Brama đây là vị thần sáng tạo ra thế giới Song có nơilại cho rằng vị thần Siva là thần phá hoại là cao nhất, hoặc thần Visnu thầnbảo vệ là cao nhất Chính vì sự không thống nhất này cho nên đạo Bàlamôn

đã có sự phân chia thành các phái khác nhau trong việc thờ các vị thần của

Trang 30

mình Ngoài ba vị thần chính đó đạo Bàlamôn còn thờ nhiều vị thần khácnh: voi, khỉ, bò

Một trong những đặc điểm quan trọng trong nội dung giáo líBàlamôn là thuyết luân hồi Họ cho rằng Bàlamôn là linh hồn của vũ trụ, làmột tồn tại duy nhất và vĩnh hằng Con ngời là một bộ phận của Braman vìthế có sống có chết song linh hồn của con ngời lại đợc trờng tồn mãi mãicùng với thời gian và luân hồi trong nhiều kiếp sinh vật khác nhau Linhhồn có thể ở trạng thái cao hơn hoặc thấp hơn về chất, điều đó tuỳ thuộcvào con ngời có giữ đúng các luât lệ của tôn giáo và các quy tắc mà các vịthần đã định sẵn cho mỗi ngời hay không Quan niệm này đợc sử dụng đểxây dựng học thuyết Karma(nghiệp) tức là con ngời đựơc báo đáp ở cõichết tuỳ theo hành vi lúc sinh thời của mình việc con ngời đợc biến hoá rasao theo đạo Bàlamôn nó phụ thuộc vào việc ngời ta tuân thủ Dharma nhthế nào

Và để lý giải cho thuyết Varna về sự bất bình đẳng trong xã hội, đạoBàlamôn cho rằng: thế giới, cảm giác, con ngời là ảo tởng do vậy sự đaukhổ của con ngời sự bần cùng bất hạnh chỉ là sự ảo tởng đối với con ngờicái quan trọng là linh hồn chứ không phải là thể xác vì vậy họ kêu gọi conngời từ bỏ ý định cải tạo xã hội mọi ngời chỉ cần hoàn thiện linh hồn dothần thánh ban phát, thiên định là đủ bởi vì chính con ngời đợc sinh ra từ

bộ phận của thần thánh Thần Purusa đã hi sinh cơ thể của mình để tạo nênbốn đẳng cấp trong xã hội

Đẳng cấp Bàlamôn đợc sinh ra từ “mồm” thần, vì thế đợc ban chotinh thần thiêng liêng họ là những ngời chuyên lo tôn giáo, học và dạykinh Véda đợc lu truyền sâu rộng trong mọi tầng lớp xã hội

Đẳng cấp Ksatriya đợc sinh ra từ “tay” vì thế đợc thần ban cho sứcmạnh chuyên sử dụng vũ khí để che chở cả về sinh mạng và của cải cho conngời, và đảm bảo cho chính quyền đợc đứng vững

Đẳng cấp Vaisya đợc sinh ra từ “ đùi” vì thế mà họ đợc giao cho việclao động sản xuất, chuyên lo trồng trọt, chăn nuôi và buôn bán nhằm tạo racủa cải vật chất để nuôi sống xã hội

Trang 31

Đẳng cấp Sudra đợc sinh ra từ “bàn chân” đây là những kẻ đợc sinh

ra để làm tôi tớ và nô lệ, họ có một bổn phận đó là phục vụ các đẳng cấp trên một cách vô điều kiện không đợc kêu ca oán thán; họ cũng không đợc tham gia vào các nghi lễ tôn giáo, ngoài một vài việc thờ cúng dành riêng cho đẳng cấp mình

Về giới luật thì đạo Bàlamôn thực hiện luật Manu

Luật Manu đợc soạn ra trong khoảng từ năm 200TCN đến năm200SCN Gồm 12 phần với 2.685 điều Sáu phần đầu nói về sự sáng tạo rathế giới và đẳng cấp Bàlamôn; phần 7 nói về nhà vua, phần 8, 9 nói về cácluật lệ; phần 10 nói về đẳng cấp, phần 11 nói về nghi lễ, phần 12 nói về sựtái sinh và cứu rỗi linh hồn

Bộ luật Manu quy định; u tú nhất trong mọi sinh vật là động vật, u túnhất trong động vật có lý tính là con ngời và u tú nhất trong loài ngời là

đẳng cấp Bàlamôn và họ là những ngời hiểu biết về kinh Véda nên cầnthống trị thế giới và họ là những ngời trực tiếp tổ chức những buổi tiếp xúcvới thần linh

Về mặt xã hội bộ luật quy định chế độ hôn nhân hết sức khắt khe,những cuộc hôn nhân giữa những ngời có chủng tính khác nhau đều bị cấm

đoán Thậm chí, vơng công, quý tộc cũng không đợc lấy ngời con gái thuộc

đẳng cấp Bàlamôn làm vợ Ngợc lại đẳng cấp Kshatrya thì cật lực phản đốicuộc kết hôn giữa một thiếu nữ của đẳng cấp võ sỹ với ngời của đẳng cấpBàlamôn Ngời ở đẳng cấp khác nhau mà lấy nhau thì sẽ bị giáng cấp Concái họ sinh ra đều bị đẩy xuống đẳng cấp ti tiện, hèn hạ nhất của xã hội đó

Đồng thời luật Manu quy định các nghi lễ về các ngày, tháng, nămthực hiện việc cúng thần “khi có lễ phải tẩy rửa thân thể, kiêng rợu thịt, nớc

Ngày đăng: 15/12/2015, 08:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Doãn Chinh: “Lịch sử t tởng triết học ấn Độ cổ đại” NXB chính trị quốc gia - Hà Nội 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử t tởng triết học ấn Độ cổ đại
Nhà XB: NXB chính trịquốc gia - Hà Nội 1998
2. Nguyễn Thừa Hỷ: “Tim hiểu văn hoá ấn Độ” - NXB Văn hoá Hà Néi-1986 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tim hiểu văn hoá ấn Độ
Nhà XB: NXB Văn hoá HàNéi-1986
3. Nguyễn Thừa Hỷ: “ấn Độ qua các thời đại” NXB Văn hoá 1987 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ấn Độ qua các thời đại
Nhà XB: NXB Văn hoá 1987
4. Vũ Dơng Ninh: “Lịch sử văn minh thế giới” NXB Giáo dục 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn minh thế giới
Nhà XB: NXB Giáo dục 2000
5. Vũ Dơng Ninh - Phan Văn Ban: “Lịch sử ấn Độ” NXB Giáo dục 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử ấn Độ
Nhà XB: NXB Giáo dục1995
6. Pháp s Thánh Nghiêm: “ Lịch sử phật giáo thế giới” -Tập 1- NXB Hà Nội 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử phật giáo thế giới
Nhà XB: NXBHà Nội 1995
7. Nguyễn Gia Phu: “ Lịch sử thế giới Trung đại” NXB Giáo dục 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử thế giới Trung đại
Nhà XB: NXB Giáo dục1998
8. Nguyễn Gia Phu: “ Lịch sử t tởng phơng Đông và Việt Nam” NXBĐại Học Đà Lạt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử t tởng phơng Đông và Việt Nam
Nhà XB: NXBĐại Học Đà Lạt
9. Hà Thiên Sơn: “Lịch triết học” NXB Trẻ 1988 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triết học
Nhà XB: NXB Trẻ 1988
10. Đại học s phạm: “Lịch sử thế giới Cổ - Trung” Quyển 1 - NXB Giáo dục Hà Nội 1960 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử thế giới Cổ - Trung
Nhà XB: NXBGiáo dục Hà Nội 1960
11. ALmanach: “Những nền văn minh thế giới” - NXB Văn hoá - Thông tin, Hà Nội - 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nền văn minh thế giới
Nhà XB: NXB Văn hoá -Thông tin
12. J. Nehru: “Phat hiện ấn Độ” Tập 1,2,3 NXB Văn học Hà Nội -1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phat hiện ấn Độ
Nhà XB: NXB Văn học Hà Nội-1990
13. Will DuRant: “Lịch sử văn minh ấn Độ” NXB Văn hoá-thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn minh ấn Độ
Nhà XB: NXB Văn hoá-thôngtin

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w