1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu những cơ sở hình thành nhà nước ấn độ thời cổ đại

45 641 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 144,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các tác phẩm này trình bày phần lớn về văn hoá ấn Độ, tuy nhiênchúng ta cũng tìm thấy một nguồn t liệu lớn về thiên nhiên, con ngời ấn Độ để từ đó thấy đợc tác động của nó đối với việc h

Trang 1

bộ giáo dục và đào tạo trờng đại học vinh khoa lịch sử

khoá luận tốt nghiệp đại học

và lịch sử xã hội có giai cấp và nhà nớc

Thời kỳ xã hội nguyên thuỷ kéo dài hàng triệu năm nhng những bớctiến của nó hết sức chậm chạp và chỉ đến khi xã hội có giai cấp và nhà nớc ra

đời sau thời kỳ tan rã của chế độ công xã nguyên thuỷ thì lúc đó mới có dấuhiệu chứng tỏ rằng con ngời đã vợt qua thời đại dã man và bớc vào thời đạivăn minh

Nhà nớc ra đời là sản phẩm tất yếu của sự phát triển lịch sử Lịch sử xãhội có giai cấp và nhà nớc cổ đại bao gồm hai phần xã hội có giai cấp và nhà

Trang 2

nớc đầu tiên ở phơng Đông cổ đại và chế độ chiếm hữu nô lệ ở phơng Tây cổ

đại

Nét đặc trng của xã hội phơng Đông cổ đại đợc các nhà kinh điển củachủ nghĩa Mác – Lê nin gọi bằng khái niệm “Phơng thức sản xuất châu á”,nghĩa là nó không phải là phơng thức sản xuất chiếm hữu nô lệ nhng cũngkhông còn là xã hội nguyên thuỷ đồng thời xã hội đó cũng chứa đựng những

đặc điểm của xã hội phong kiến sau này

Xã hội mới ra đời với những nét khác biệt đó nguyên nhân xuất phát từnhững cơ sở hình thành nên nó Chính những cơ sở này là dấu vết hằn in lênmột mô hình xã hội tơng lai thai nghén trong lòng nó

Tìm hiểu những cơ sở hình thành nhà nớc ở các quốc gia cổ đại phơng

Đông chúng ta sẽ tìm thấy những nét khác biệt hoàn toàn để phân biệt với cơ

sở hình thành các quốc gia cổ đại phơng Tây Đó cũng là cơ sở cho chúng ta

lý giải sự khác biệt về hớng phát triển của một mô hình xã hội trong tơng laicũng nh sự khác biệt về văn hoá, lối sống giữa các quốc gia phơng Tây và ph-

đó là ấn Độ”

Thật vậy, với đất nớc có sức thu hút “vĩ đại nh đại dơng” này, ai ai cũngmuốn đợc khám phá nó Về lịch sử, văn hoá, tín ngỡng, tôn giáo của ấn Độ đãtốn rất nhiều giấy bút của các nhà nghiên cứu Nhng riêng bản thân tôi, vớilòng yêu mến một đất nớc cha một lần đặt chân đến, nhng đã đợc học, đợc đọc

và nghe kể nhiều về nó cũng muốn góp phần vào tìm hiểu lịch sử đất nớc này

Trang 3

Chính vì vậy chúng tôi chọn đề tài: “Tìm hiểu những cơ sở hình thành nhà

nớc ấn Độ thời cổ đại ” để mong thoả mãn lòng ham hiểu biết cũng nh muốn

chứng minh xem đất nớc đợc mệnh danh là “rất phơng Đông” và lại cũng “rất

ấn Độ” trong vấn đề mà chúng tôi tìm hiểu nh thế nào

2 Lịch sử đề tài.

Khung cảnh thiên nhiên với dãy núi Hymalaya cao nhất thế giới vắtngang trên đất liền phía Bắc, với những dòng sông huyền diệu, những cánh

đồng mầu mỡ, cùng với biển cả bao bọc hai bờ Đông – Tây đã tạo cho đất

n-ớc ấn Độ có một sức hút kỳ lạ Đó chính là cái nôi nuôi dỡng con ngời từ thủơban sơ, là nơi từ bao đời nay đã cuốn hút nhiều thế hệ khám phá nó Chính vìthế nghiên cứu về ấn Độ không có gì mới mẻ và xa lạ

Ngay từ thế kỷ V TCN cha đẻ của nền sử học thế giới Hêrôđốt cũng đãnghiên cứu về ấn Độ, hay nh Vatxcôđơ Gama đã dành trọn cả cuộc đời phiêu

lu của mình đi tìm ấn Độ, hay Grittôp Cô lông tìm ra châu Mỹ mà cứ ngỡ đó

này mới chỉ nằm rải rác ở các chơng mục mang tính khái quát lịch sử, cha trởthành một hệ thống liên hoàn và những cơ sở cụ thể cho một nhà nớc ở ấn Độ

ra đời vẫn cha đợc thể hiện một cách rõ rệt, cụ thể

Ngoài ra còn có công trình nghiên cứu về ấn Độ dới góc độ văn hoá,văn minh nh “Văn hoá ấn Độ” của Cao Huy Đĩnh (Nxb Văn hoá - 1993), haycũng một cuốn sách cùng tên của tác giả Nguyễn Tấn Đắc (Nxb Thành phố

Hồ Chí Minh - 2000), hay trong tác phẩm “Lịch sử văn minh thế giới” của tậpthể tác giả Vũ Dơng Ninh, Nguyễn Gia Phu, Nguyễn Quang Hùng (Nxb Giáodục – Hà Nội - 2001), “Lịch sử văn hoá thế giới cổ – trung đại” do LơngNinh chủ biên (Nxb Giáo dục – Hà Nội – 2001) và nhiều tác phẩm khác

Các tác phẩm này trình bày phần lớn về văn hoá ấn Độ, tuy nhiênchúng ta cũng tìm thấy một nguồn t liệu lớn về thiên nhiên, con ngời ấn Độ

để từ đó thấy đợc tác động của nó đối với việc hình thành một nhà nớc, đặcbiệt là nếu có một khả năng phân tích, tổng hợp sắc bén thì sẽ tìm thấy ở đó

Trang 4

một vấn đề khá lý thú và hết sức quan trọng đó là vai trò của tín ngỡng, tôngiáo đối với việc hình thành nhà nớc ấn Độ thời cổ đại.

Đặc biệt phải kể đến những công trình nghiên cứu của C.Mac,F.Enghen và V I.Lê nin, trong nhiều tác phẩm của C.Mac nh “bàn về các xãhội tiền t bản” và đặc biệt nhất là trong tác phẩm “Sự thống trị của Anh ở ấn

Độ” và nhiều tác phẩm khác của C.Mac có đề cập đến vấn đề nhà nớc phơng

Đông cổ đại nói chung mà sau này F Enghen đã đa vào cuốn “Nguồn gốc củagia đình của chế độ t hữu và của nhà nớc ” Đây là một tác phẩm rất có giá trị,cuốn sách này F Enghen dựa trên tác phẩm “T bản ” của C.Mac, đồng thời F.Enghen có nhiều bổ sung, đa ra nhiều luận điểm nói về văn minh, về sự hìnhthành nhà nớc Hy Lạp , La Mã… Về nguồn gốc và bản chất của nhà nớc …

Những luận điểm của C.Mac và F Enghen đợc V.I.Lênin bổ sung vàphát triển trong tác phẩm “Nhà nớc và cách mạng”

Mạc dù chúng ta không tìm thấy những kiến giải cụ thể về những cơ sở

để hình thành nhà nớc ấn Độ thời cổ đại nhng những công trình nghiên cứucủa C.Mac, F Enghen, V.I.Lênin là những lý luận có tính chất chuẩn mực, làkim chỉ nam cho ngời nghiên cứu về vấn đề nhà nớc cũng nh tìm thấy một đốisánh để nhìn rõ sự khác biệt giữa cơ sở hình thành nhà nớc ở phơng Tây cổ đạivới phơng Đông cổ đại nh thế nào Từ đó chiếu rọi cụ thể vào lịch sử ấn Độ

để thấy rõ nhà nớc ấn Độ thời cổ đại ra đời trên cơ sở nh thế nào, nó có nhữngcơ sở chung với các quốc gia cổ đại phơng Đông ra sao? và có cơ sở riêngbiệt gì? Đó chính là những cơ sở cho chúng tôi nghiên cứu, tìm hiểu đề tàilựa chọn

Nh vậy để nhận biết một cách hệ thống và cụ thể, chúng tôi chọn đề tài

Tìm hiểu những cơ sở hình thành nhà n

tham vọng tìm ra cái gì mới mà chỉ là sự tổng hợp lại các vấn đề đã đợcnghiên cứu và làm sáng rõ một số vấn đề về những cơ sở hình thành nhà nớc ở

ấn Độ mà thôi

Mặc dù với lòng ham hiểu biết và một sự đầu t công sức su tầm, tổnghợp và phân tích tài liệu song bản thân là một sinh viên cha có điều kiện thuậnlợi hơn để nghiên cứu, tìm hiểu hết các công trình đã nghiên cứu về ấn Độ đặcbiệt là trong vấn đề có liên quan đến đề tài lựa chọn Chính vì thế sẽ khó tránhkhỏi những thiếu sót Rất mong đợc thầy hớng dẫn, các thầy cô giáo trongkhoa và các bạn đồng nghiệp góp ý cho bài nghiên cứu đợc hoàn thiện hơn

3 Phơng pháp nghiên cứu

Dựa trên các tác phẩm nghiên cứu về đất nớc ấn Độ trên các phơng

diện: Lịch sử, văn hoá, triết học, tôn giáo của nhiều tác giả khác nhau, đề tài

Trang 5

Tìm hiểu những cơ sở hình thành nhà n

bày trên cơ sở tổng hợp, hệ thống hoá các công trình nghiên cứu, đồng thời sửdụng các phơng pháp phân tích, logic lịch sử và chứng minh

Phơng pháp nghiên cứu đó đợc cụ thể qua các bớc:

+ Bớc 1: Tiếp cận chọn lọc t liệu có liên quan đến vấn đề sự ra đời củanhà nớc nói chung, của nhà nớc ở phơng Đông và ở ấn Độ nói riêng

+ Bớc 2: Xử lý những t liệu đã chọn lọc có liên quan

+ Bớc 3: Phân tích, hệ thống hoá kiến thức về những cơ sở hình thànhnhà nớc nói chung, nhà nớc ở phơng Đông nói riêng và rút ra những cơ sởhình thành nhà nớc ở ấn Độ thời cổ đại trên cơ sở những t liệu cụ thể đã thuthập và xử lý

4 Bố cục đề tài

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phần tài liệu tham khảo, nội dungchính của đề tài đợc trình bày qua 3 chơng

+ Chơng 1: Tổng quan về đất nớc và con ngời ấn Độ thời cổ đại

1.1 Điều kiện địa lý – tự nhiên

1.2 Dân c

+ Chơng 2: Khái quát chung về cơ sở hình thành nhà nớc ở phơng Đông

cổ đại

2.1 Lý luận chung về cơ sở hình thành nhà nớc

2.2 Khái quát về cơ sở hình thành nhà nớc ở phơng Đông cổ đại

+ Chơng 3: Những cơ sở hình thành nhà nớc ấn Độ thời cổ đại

3.1 Cơ sở kinh tế

3.1.1 Nền nông nghiệp và yêu cầu của công tác trị thuỷ, thuỷ lợi

3.1.2 Sự phân công lao động và vai trò của công xã nông thôn

trong việc tạo ra cơ sở hình thành nhà nớc ấn Độ thời cổ đại

3.2 Cơ sở xã hội

3.2.1 Sự phân chia đẳng cấp trong xã hội ấn Độ thời cổ đại

3.2.2 Yêu cầu chống ngoại xâm

3.3 Cơ sở tín ngỡng - tôn giáo

3.3.1 Tín ngỡng đa thần của c dân ấn Độ thời cổ đại

3.3.2 Đạo Bàlamôn, cơ sở vững chắc cho sự ra đời nhà nớc ở ấn Độthời cổ đại

Trang 6

phần nội dung Chơng 1

tổng quan về đất nớc ấn Độ cổ đại.

1.1 Điều kiện địa lý, tự nhiên.

ấn Độ cổ đại là một trong những trung tâm văn minh, văn hoá lớn vàsớm nhất thế giới

Thời cổ đại phạm vi địa lý ấn Độ bao gồm toàn bộ lãnh thổ ấn Độ,Pakixtan, Bănglađet và Nêpan ngày nay

Đây là một bán đảo hình tam giác lớn, một “tiểu lục địa” ở Nam á “Từ

Đông Bắc tới Tây Bắc đều có núi chắn ngang, trong đó dãy núi Hymalaya nổitiếng với ngọn núi Chômôlungma cao nhất thế giới (8884m) và quanh nămtuyết phủ” [12:184] Có thể xem địa hình đó là một biên giới tự nhiên ở phíaBắc ấn Độ

Địa hình ấn Độ rất đa dạng và đợc chia làm ba khu vực rõ rệt

1 Vùng núi Hymalaya với hệ thống gồm ba dãy núi trùng điệp, các

đoạn giữa của dãy núi là ba thung lũng dài, rộng chạy song song với nhau.Trong số các thung lũng đó “Casmia (Kashmir) ở cực Bắc ấn Độ nổi tiếngnhất, từ lâu đã đợc mệnh danh là “thiên đờng của hạ giới” ” [8: 6]

Dãy núi Hymalaya nh một bức tờng thiên nhiên ngăn chặn các luồng gió lạnh

ở phía Bắc xuống và các luồng không khí ẩm ở phía Nam lên Sự đi lại giữa

ấn Độ với bên ngoài bằng đờng bộ, hầu nh chỉ dựa vào các con đờng hẻm ởmiền Tây Bắc mà thôi Còn từ Đông Nam đến Tây Nam đều có biển, vịnhBengan ở phía Đông, ấn Độ Dơng ở phía Nam và biển A Rập ở phía Tây

2 Khu vực từ vùng núi Hymalaya đến giáp cao nguyên Đêcan Đó làvùng đồng bằng sông ấn – Hằng, dải đồng bằng vào loại lớn nhất thế giới, đ-

ợc bồi đắp bởi phù sa và nớc tới của hai dòng sông ấn và sông Hằng

3 Vùng núi phía Nam còn lại là cao nguyên Đêcan Cao nguyên giống

nh một lòng chảo tạo thành bởi hai dãy núi lớn ở hai mặt: Dãy Gat (Ghats)Tây và Gat (Ghats) Đông Về cơ bản đất đai của cao nguyên Đêcan không có

Trang 7

giá trị lớn về nông nghiệp, tuy là dọc bờ biển có những dải đồng bằng tơng đốimàu mỡ.

Với địa hình phức tạp và có sự cắt xẻ đó đã làm cho đất nớc ấn Độ mỗivùng một nét phát triển đặc thù riêng và cho thấy rằng vấn đề thống nhất một

đất nớc về lãnh thổ là điều khó khăn, nó đòi hỏi phải có những cơ sở cụ thểcủa nó

Khái quát bằng những hình ảnh văn chơng về sự phong phú của địa hình

ấn Độ, giáo s Cao Huy Đĩnh – ngời từng bỏ nhiều công sức nghiên cứu về

đất nớc và những giá trị văn hoá ấn Độ đã khái quát: “Đất nớc ấn Độ, nhìnngang Đông – Tây là từ sông Indux (sông ấn) và sông Kasmia có nhiều hoathơm quả ngọt, hồ biếc với miền Ngũ hà (vùng Pengiáp – năm con sông) vìnhiêu rồi dọc theo con sông Hằng và dải bình nguyên bát ngát cho đến châuthổ “đất vàng” màu mỡ giáp vịnh Bengan Nhìn dọc Bắc Nam, từ dãy núiHymalaya, đợc ví nh “lâu đài tuyết” hay “bông hoa sen trắng vĩ đại” đi xuốngthành tầng tầng, lớp lớp, đến lu vực sông Hằng rồi sang cao nguyên Đêcanrộng lớn, đến bờ biển ấn Độ Dơng” [4: 18]

Không chỉ có địa hình phức tạp là một nét độc đáo mà ấn Độ còn là xứ

sở của những con sông “chảy vắt vẻo trên bầu trời” sự chia cắt hai miền NamBắc bằng dãy núi Vinđia làm ranh giới, miền Bắc có hai con sông lớn là sông

ấn và sông Hằng đợc xem là nơi khởi nguyên của nền văn minh ấn Độ

Con sông ấn (Indus) ở vùng Tây Bắc ấn Độ, dài 3040 km bắt nguồn từdãy Hymalaya quanh năm tuyết phủ, chảy qua Casmia, Pakixtan Lu vực sông

ấn có năm con sông đổ vào ( vùng Pengiáp), hạ lu sông ấn tạo thành tam giácchâu thổ rộng 8000km2 Đồng bằng dọc sông ấn dài đến 2900km, nớc cấp chosông này là băng hà, tuyết ở Caracôrum, Hinđucuc và các thác nớc cao khác.Mùa đông lu lợng nớc nhỏ vì băng cha tan Từ tháng hai, tháng ba nớc lên caocho đến mùa hạ, tháng bảy, tháng tám có gió mang ma lũ lớn làm đồng bằng

bị lũ lụt Lợng ma ở Tây Bắc là 200 – 500 mm3 Tuy nhiên do băng tuyết tan

mà vùng ven sông ấn có thể đợc lụt tới nớc

Vai trò của con sông này đối với lịch sử đất nớc ấn Độ đã đợc J.Nêhrubằng tất cả niềm tự hào của mình đã nói: “Giáo s Chillde đã nói rất chính xácrằng: Đại diện cho một sự thích ứng rất hoàn hảo của cuộc sống con ngời vớimột môi trờng đặc biệt mà chỉ là kết quả của nhiều năm cố gắng kiên trì Và

nó đã bền vững, nó mang tính chất đặc biệt ấn Độ và tạo nên cơ sở của nềnvăn minh ấn Độ” [ 3: 69]

Chính từ “ môi trờng đặc biệt”, sự khó khăn trong hoạt động sản xuấtnông nghiệp, trong gây dựng một nền văn minh ở đây, mà xét về mặt kinh tế

Trang 8

“vùng thung lũng sông ấn nông nghiệp không thể tiến hành đợc nếu không cóbàn tay trị thuỷ, thuỷ lợi của con ngời” [21:14].

Còn con sông Hằng (Gange) ở Đông Bắc cũng có sự kỳ vĩ của nó và cóvai trò không nhỏ đối với việc hình thành nên nền văn minh của đất nớc này.Sông Hằng dài gần 3000 km, đoạn hạ lu cử nó hợp với sông Bramaputơra vàcùng với con sông này tạo thành đồng bằng châu thổ rộng lớn

Chế độ nớc sông Hằng chịu ảnh hởng của gió mùa hạ Đông Nam Vùngnày có lợng ma nhiều hơn bất cứ nơi nào trên thế giới (lên tới 3000 mm3) “L-ợng n này kết hợp với băng tuyết tan khiến cho sông Hằng luôn đầy nớc và lụtlội thờng xảy ra, lu lợng lên tới 73000 m3/s” [5:15]

Một lý do nữa là ở thung lũng sông Hằng, từ thời cổ còn bao phủ bởi nhữngcánh rừng nhiệt đới rậm rạp mà ngày nay không còn nữa Độ ẩm ở hạ lu rấtcao, thậm chí các cây trồng a ẩm nh: lúa, đay, mía … có thể trồng đợc ở đây

mà kong cần nớc nhân tạo

Lợng phù sa do sông Hằng bồi đắp rất lớn “ở hạ lu lớp phù sa dày từ

600 – 800 m” [5:15] C dân Nam á thờng nói tới một số nhiều “hằng hà sasố” (nhiều nh cát sông Hằng) Cánh đồng ven sông Hằng dài 2700 km, đây lànơi cung cấp nhiều lơng thực nhất cho c dân ấn Và dòng sông Hằng này,trớchết “là con sông của ấn Độ, con sông đã nắm giữ trái tim của ấn Độ và thuhút hàng bao nhiêu triệu ngời đến đôi bờ của nó từ buổi bình minh của lịch sử.Câu chuyện dòng sông Hằng từ ngọn nguồn của nó đến biển cả, từ thời xa

đến thời nay là câu chuyện của nền văn minh và văn hoá ấn Độ, của sự hngsuy các triều đại, của các thành phố lớn kiêu hãnh, của cuộc phiêu lu của conngời và sự tìm tòi trí tuệ, từng làm bận bịu các nhà t tởng ấn Độ, của sự phongphú và hoàn mỹ của cuộc sống, cũng nh sự từ chối và bác bỏ của nó, nhữngthăng trầm, tăng trởng và tàn lụi, sự sống và cái chết” [21:70]

Vâng! Có lẽ không thể bình luận gì hơn đợc lời của chính con ngời tâmhuyết với đất nớc mình nh J.Nêhru Chỉ xin nhấm mạnh thêm rằng, xét về mặtkinh tế thì hai dòng sông Bắc ấn này có tác dụng rất to lớn

Việc quần tụ trên bến bãi phù sa các sông lớn để làm nông nghiệp của

c dân ấn Độ cổ đã tạo nên các nền văn minh – lò đúc tụ nhiều nền văn minhtối cổ của phơng Đông, thu hút luồng thiên di của các bộ lạc Đó là nên vănminh gọi theo tên sông: Văn minh sông ấn và văn minh sông Hằng Ngay têngọi của cả xứ này(Hinđustan) là lấy theo tên sông ấn Về phơng diện ngônngữ học thì sông ấn (Indus) và sông Hằng (Gange) đều có nghĩa là sông nớc.Indus là từ chữ “Id” theo ngôn ngữ nguyên ấn Điếu đó nói lên phần nào ảnhhởng của sông nớc đối với toàn bộ đời sống xã hội ở đây

Trang 9

Nh vậy vùng bình nguyên phù sa rộng lớn của thung lũng sông ấn, đặcbiệt là sông Hằng và chi lu của chúng là vùng khá thuận lợi cho sự sinh sốngcủa con ngời và phát triển sớm nền văn minh Tuy nhiên, nh đã trình bày do l-ợng ma phan phối không đều và theo mùa nên không đủ cho sự phát triểnnông nghiệp ở Bắc ấn, lợng ma và độ ẩm tăng dần về phía Đông Do vậyviệc trị thuỷ, thuỷ lợi, đắp đê, đào giếng… là công việc hàng đầu của c dânnông nghiệp ấn Độ nói riêng và phơng Đông nói chung Chính yêu cầu phải

điều tiết lực lợng tự nhiên này đã tác động vào tổ chức xã hội ở nơi đây.V.I.Lênin nhận xét: “Thế giới không làm thoả mãn con ngời và con ngờiquyết định cải tạo thế giới bằng hành động của mình” [18: 28]

Địa hình sông núi đa dạng, phức tạp cũng làm cho khí hậu trên “tiểu lục

địa” này phân hoá phức tạp theo, trong đó có những yếu tố đòi hỏi con ngờinơi đây phải cố kết với nhau để cùng khắc phục

ở khu vực phía Bắc vùng núi Hymalaya với sự ngăn cách, Hymalaya

nh một bức tờng thiên nhiên ngăn chặn các luồng gió lạnh ở phía Bắc xuống

và các luồng không khí ẩm ở phía Nam lên Bởi vậy về mùa đông, ở ấn Độ cónhiệt độ cao hơn các nớc khác cùng vĩ tuyến, còn mùa hè thì ma rất nhiều

Vùng đồng bằng sông ấn - Hằng khí hậu nóng ẩm, ở đây đã trở thànhvựa lúa và là nơi phát triển các loại cây lơng thực chủ yếu của ấn Độ

Tuy nhiên đất nớc có những đỉnh núi cao, những khu rừng rậm, nhữngcon sông lớn, những đồng bằng rộng ấy lại cũng là “đất nớc hàng năm phảitrải qua những tháng hè nóng kinh khủng với nhiều trận bão bụi mù mịt từ các

sa mạc miền Tây, miền Trung kéo về rang cháy cả cây cỏ và con ngời ” [4:18]

Sự khác biệt ấy đòi hỏi con ngời muốn tồn tại và phát triển phải cố kếtnhau lại cùng chống lại thiên nhiên và một nhà nớc với đầy đủ các chức năngcủa nó sẽ ra đời trên cơ sở đó

Tuy nhiên khí hậu không chỉ có khắc nghiệt tàn bạo với con ngời màbên cạnh đó “những ngày xuân ấm áp và trong sáng với bầu trời xanh thẳmkhông chút gợn mây” [4:19] cũng tồn tại Chính thiên nhiên vừa hiền dịu, tơisáng, vừa hùng vĩ lại vừa tàn ác và cay nghiệt ấy đã gây nhiều ấn tợng sâu sắcngay từ trong những trang thần thoại đầu tiên của c dân ấn Độ Họ bắt đầuhát và kể chuyện là để ca ngợi những lực lợng thiên nhiên và những hiện tợng

vũ trụ

Thiên nhiên có một vai trò hết sức quan trọng trong đời sống vật chất,tinh thần của ngời ấn , là cái nôi nuôi dỡng con ngời từ thủơ bình minh hoangdã, song thiên nhiên với sự huyền bí và uy lực của nó lại gây cho con ng ời với

Trang 10

bao bất trắc, khổ hạnh và để lý giải điều đó, con ngời thờng mơ ớc, cầu mongmột cuộc sống tốt đẹp hơn, thoát khỏi thiên tai với những trận ma thu dữ dộiliên miên, lôi cuốn hàng vạn sinh linh theo nớc lũ và những đêm đông rét buốt

do hơi lạnh toả ra từ lòng lục địa …Đó chính là nguồn t duy đơn giản hìnhthành nên luồng tín ngỡng, phong tục, tập quán, hội hè của ngời dân ấn tạonên bớc đệm cho các tôn giáo lớn đợc hình thành

J.Nêhru cũng nhận thấy sự phức tạp của các thành phần tộc ngời trên

đất nớc của ông, ông nói : “Chúng tôi là một chủng tộc lâu đời, hay nói đúnghơn là một tập hợp kì quặc của nhiều chủng tộc và các kí ức về chủng tộc củachúng tôi đã có từ buổi bình minh của lịch sử ” [21:76]

Dựa vào kết quả nghiên cứu giữa những năm 30 của thế kỉ XX củanhóm những nhà khảo cổ học của hai trờng đại học Yale – Cambridge tiếnhành khai quật di chỉ hoá thạch ở Sixalik nằm ở phía Bắc ấn Độ và Pakixtanchúng ta có thể khẳng định rằng, ngời Nêgrôit là chủng tộc cổ xa nhất co mặt

ở ấn Độ, sau đó là đến ngời Autraloit là chủng tộc ngời c trú sớm ở đây Tiếp

đến là ngời Đravida, Đravida nghĩa là sông nớc, biến âm xen kẽ n/nd rất thờnggặp trong ngôn ngữ Đravida Đây là những bộ tộc di c đến ấn Độ sớm nhất vìthế họ đợc xem là c dân bản địa của mảnh đất giầu có này Đây là bộ tộc ngời

đã sản sinh ra các nhóm pha tạp hiện nay ở Trung và Nam ấn

Có giả định là ,ngời Đravida có nguồn gốc từ Australia họ đến đây từthuở châu lục Đại Dơng đó còn gần với ấn Độ

Đặc điểm của chủng tộc này là có nớc da màu nâu sẫm, mặt dẹt, mũithẳng, tóc đen thẳng Những nét đó cho thấy ngời Đravida có sự gần gũi giữachủng tộc Autraloid và Europeoid Sự phán đóan qua hình thái ngôn ngữ và

đời sống kiểu nguyên thuỷ của các bộ lạc nói thổ ngữ Munda cho thấy từ rất

xa xa họ là chủ nhân của xứ sở này Họ c trú phần lớn ở Nam ấn thuộc caonguyên Đêcan Ngày nay nhóm ngời này sống rải rác ở các nơi nh: Kui ởOrissa; ngời Kalackh ở Chotanagpur thuộc Đông ấn; ngời Brahui ởBaluchistan ở Tây ấn C dân này là chủ nhân của nền văn hoá Harapa –Môhenjôđarô cách ngày nay khoảng 5000 năm

Trang 11

Tiếp theo ngời Đravida là ngời Arian, hiện nay chiếm tới 72% c dân ấn,

họ là chủng tộc từ bên ngoài vào Có thể là từ vùng núi Capcadơ di chuyểnvào ấn Độ qua ngõ hẹp ở vùng Tây Bắc vào khoảng thời gian giữa thiên niên

kỷ II TCN Tộc ngời này có nguồn gốc Châu Âu, với vóc ngời to lớn, mũi hẹp

và cao, da sáng, mắt đen và theo ngữ hệ ấn - Âu

Lúc đầu ngời Arian có khoảng 5 bộ lạc sống ở thợng lu sông ấn vàvùng Pengiap, sau đó lan dần sang sông Hằng ở phía Đông, vợt qua dãyVinđia xuống phía Nam Ngời Arian vốn là một bộ lạc du mục, trải qua quátrình định c họ đã chuyển sang làm nghề trồng trọt và thủ công Họ chính làlực lợng làm nên diện mạo cho đất nớc ấn Độ ngày nay

Nhìn về mọi phơng diện lịch sử, văn hoá thì chủng tộc Đravida và Arian

là cội nguồn làm nên nền văn hoá truyền thống dân tộc ấn Độ

Tiếp sau ngời Arian là các tộc ngời Môngôloid xâm nhập vào cũng làmcho cộng đồng các dân tộc ở ấn Độ ngày càng đông đảo

Và “không một dân tộc nào, không một chủng tộc nào tồn tại mà không

hề thay đổi” [21: 78], họ liên tục hoà trộn với dân tộc khác và dần biến đổi.Nói nh vậy để thấy rằng khi ngời Arian xâm nhập vào đất ấn thì đã xẩy ra quátrình tổng hợp và hợp nhất văn hoá lớn đầu tiên diễn ra giữa ngời Arian mới

đến và ngời Đravida, những ngời có khả năng là đại diện của nền văn minhthung lũng Indus Từ đó đã hình thành các chủng tộc ở ấn Độ và nền văn hoácơ sở của ấn Độ

Trong những thời đại tiếp sau, những giống ngời khác đã kéo đến nh:Partrian, Bactrian (tên một chủng tộc ở Tây á và Trung á cũ), Scytrian (giốngngời Cỏ ở vùng Bắc biển đen Caspi và Aral), Hun (chủng tộc Tatar có từ châu

á tràn sang châu Âu vào thế kỷ IV, V và là gốc của tên Hungari ngày nay)…Rồi những ngời thiên chúa giáo đầu tiên, ngời Do Thái, ngời theo đạoZoroastrian tức là những ngời theo hệ thống tôn giáo cổ ở Zend Avesta và Bat

do Zoroster sáng lập …

Họ đến, tạo ra sự khác biệt rồi hoà nhập và đất nớc ấn Độ đợc xem nh

“là nơi có sức thu hút không giới hạn nh đại dơng”, đất nớc này có sức lôicuốn kỳ lạ bởi vì “nếu có một nơi trên bề mặt trái đất mà ở đó tất cả nhữnggiấc mơ của con ngời đã tìm đợc quê hơng ngay từ thời nguyên sơ khi con ng-

ời bắt đầu mơ ứơc về sự tồn tại của mình thì đó là ấn Độ ” [21: 105] Chính vìthế mà ngay từ thời cổ đại ấn Độ đã phải đơng đầu với các tộc ngời từ bênngoài vào muốn chống lại các cuộc xâm lợc đó ngời dân ấn phải có những cơ

sở nhất định để đoàn kết tạo nên sức mạnh, bởi một dân tộc kỳ lạ nh thế sẽ có

Trang 12

những con đờng đi không giống dân tộc nào trên thế giới trong lịch sử tồn tại

và phát triển của dân tộc mình Điều đó sẽ đợc khẳng định và chứng minh sau

Với sự pha tạp giữa các tộc ngời đó mà văn hoá ấn Độ là kết quả của sự

đóng góp, tích tụ của nhiều chủng tộc ngời khác nhau, tạo nên một sự đadạng, phong phú về văn hoá

Do tính chất đa dạng về tộc ngời, về địa lý, nên ấn Độ từ thời cổ đạicho đến hiện đại rất đa dạng về ngôn ngữ Có thể xem ấn Độ là một bức tranhnhiều màu sắc, song lại không có màu chủ đạo Theo tính toán, có khoảng 500– 1500 ngôn ngữ đợc sử dụng, trong đó 15 thứ tiếng đợc sử dụng rộng rãinhất là: Hindu, Udru, Bengali, Assam, Oriya, Sindhi, Marathi… Tuy vậy thờitiền sử ngôn ngữ có vai trò quan trọng trong việc truyền tải t tởng, tình cảm,tinh thần ấn, cũng nh tạo nên bộ mặt văn hoá chung của ấn Độ đó là chữPhạn (Sanscrit)

Đất nớc, con ngời ấn Độ ngay từ thuở ban sơ đã có sự phức tạp về điềukiện tự nhiên, về chủng tộc và ngôn ngữ Điều đó một mặt tạo nên sự phongphú, đa dạng về đời sống kinh tế, về văn hoá, tạo nên nền văn minh lừng lẫytrong lịch sử Nhng mặt khác nó lại tạo ra sự cách biệt, bí hiểm giữa các vùng,các dân tộc, sự khép kín trong mỗi cơng vực Vì thế trong lịch sử ấn Độ từ khihình thành nhà nớc hoàn chỉnh cho đến các triều đại phong kiến sau đó, chabao giờ thống nhất đợc hoàn toàn lãnh thổ Bên cạnh đó về mặt tôn giáo, sự đathần giáo điều khó tránh khỏi, song khi một tôn giáo hợp nhất ra đời, nó sẽ làcông cụ không chỉ về mặt t tởng mà còn có vai trò quan trọng trong chính trị

Đó là sức mạnh tinh thần trong việc tập hợp các chủng tộc khác nhau vào mộtchỉnh thể duy nhất

Trang 13

Nhà nớc là sản phẩm của xã hội loài ngời khi xã hội đó đã phát triển

đến một mức độ nhất định và nó sẽ tiêu vong khi những điều kiện khách quancho sự tồn tại của nó không còn nữa Đúng nh F.Enghen đã khẳng định: “Nhànớc không phải là một thế lực từ bên ngoài gán ghép vào xã hội Nó là sảnphẩm của xã hội đã phát triển đến một giai đoạn nhất định, nó là sự thừa nhậnrằng xã hội đó bị kìm hãm trong một sự mâu thuẫn với bản thân nó không saogiải quyết đợc, rằng xã hội đó đã bị phân chia thành những cực đối lập khôngthể điều hoà mà xã hội đó không đủ sức thoát ra đợc…” [17:176]

Nh vậy để hình thành đợc nhà nớc thì phải có cơ sở về kinh tế và cơ sở

về xã hội

Về cơ sở kinh tế, nh V.I.Lênin đã khẳng định lại ý kiến của C.Mac:

“Nhà nớc là sản phẩm của chế độ t hữu mà lúc đó con ngời sản xuất ra của cải

d thừa thờng xuyên…”[18:11] Của cải d thừa chính là nguồn gốc, là cơ sởcho chế độ t hữu xuất hiện

Khi có của cải d thừa thờng xuyên thì nảy sinh ra hiện tợng những ngời

có ảnh hởng lớn trong bộ lạc, liên minh bộ lạc nghĩ ra việc sử dụng sức lao

động của ngời khác để làm ra của cải vật chất nhiều hơn thu về phía mìnhnhiều hơn và nh vậy t tởng bóc lột cũng bắt đầu nảy sinh từ đó Việc đó bắt

đầu đợc thực hiện và ngày càng đợc đẩy mạnh với mức độ tăng dần

Trớc kia trong các cuộc chiến tranh thôn tính mở rộng địa bàn c trú giữacác bộ lạc, liên minh bộ lạc, tù binh bắt đợc sau mỗi cuộc chiến thờng bị giếthoặc nuôi trong nhà Nhng càng về sau do yêu cầu của sản xuất kinh tế ngàycàng đòi hỏi nhiều sức lao động hơn thì tù binh bị sung vào lực lợng lao độngcủa các công xã và dần biến thành nô lệ, từ đó chế độ nô lệ ra đời

Nh vậy, về đại thể sự xuất hiện của chế độ t hữu và chế độ nô lệ đã dẫn

đến hệ quả trong xã hội có kẻ giàu, ngời nghèo, kẻ bóc lột và ngời bị bóc lột

Trang 14

Về cơ sở xã hội cho một nhà nớc ra đời, nh V.I.Lênin khẳng định: “Nhànớc là sản phẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấp không thể điềuhoà đợc Bất cứ ở đâu, hễ lúc nào và chừng nào mà về mặt khách quan, nhữngmâu thuẫn giai cấp không thể điều hoà đợc thì nhà nớc xuất hiện”[18:12] Xãhội phân hoá thành các giai cấp có lợi ích đối lập nhau và mâu thuẫn giữa cácgiai cấp là tất yếu.

Cơ sở xã hội là kết quả tất yếu của cơ sở kinh tế vì chỉ khi nào kinh tếphát triển đến một mức độ nhất định thì có chế độ t hữu và từ đó xã hội mớiphân hoá thành những giai cấp đối kháng Và đến khi các giai cấp mâu thuẫngay gắt, đi đến chỗ tiêu diệt nhau thì “khi đó cần phải có một lực l ợng tựa hồ

nh đứng trên xã hội có nhiệm vụ làm dịu sự xung đột và giữ cho xung đột ấynằm trong một trật tự và các lực lợng này sinh từ xã hội nhng lại tự đặt minhtrên xã hội và ngày càng xa lạ đối với xã hội, đó chính là nhà nớc”[11:30]

Nhà nớc xuất hiện lần đầu tiên trong lịch sử vào khoảng cuối thiên niên

kỷ IV TCN đến giữa thiên niên kỷ II TCN, đó là những nhà nớc cổ đại ở AiCập, Lỡng Hà, trung Quốc, ấn Độ, là những nơi có điều kiện tự nhiên thuậnlợi cho sự phát triển kinh tế nông nghiệp tới nớc, là những nơi có qua trìnhphân hoá xã hội, tập trung của cải t hữu và diễn ra đấu tranh giai cấp sớmnhất

2.2 Khái quát cơ sở hình thành nhà nớc ở phơng Đông cổ đại.

Các quốc gia cổ đại phơng Đông hầu hết đều hình thành trên lu vực cáccon sông lớn nh: Ai Cập (sông Nin), Lỡng Hà (sông Tigơrơ và ơphrat),TrungQuốc (sông Hoàng Hà), ấn Độ (sông ấn – Hằng) Những con sông này đãtạo ra những đồng bằng thuận lợi cho sự phát triển nông nghiệp với đất đai tớitốt, phì nhiêu, thuỷ lợng cao, khí hậu ẩm, hoạt động canh tác sản xuất nôngnghiệp diễn ra hết sức dễ dàng Bởi vậy những bộ lạc du c sống rải rác trên cácmiền khác nhau ở châu á và Đông Bắc châu Phi đã sớm phát hiện và biết lợidụng những điều kiện tự nhiên thuận lợi đó để đến định c ở những đồng bằnglớn và phát triển nghề nông Tại những nơi ấy, nông nghiệp đi đôi với thủcông nghiệp phát triển

Nhà nớc cổ đại phơng Đông xuất hiện trên cơ sở sức sản xuất có pháttriển nhng trình độ cha cao, “vào khoảng thiên niên kỷ IV TCN, c dân ven bờsông Nin và lu vực sông Hoàng Hà đã bắt đầu trồng lúa với những lỡi cuốcbằng đá và lỡi cày bằng gỗ”[11:36] Bình thờng với những kỹ thuật thô sơ nhvậy, con ngời khó vợt qua thời kỳ nguyên thuỷ, muốn bớc vào xã hội có giaicấp và nhà nớc thì phải có sản phẩm d thừa thờng xuyên, mà điều đó lại đòihỏi sự xuất hiện công cụ bằng kim loại Nhng các c dân phơng Đông thời cổ

Trang 15

đại chủ yếu sống bên bờ những con sông lớn, nơi mà thiên nhiên hết sức u đãi,nơi những đồng bằng đất đai phù sa màu mỡ để gieo trồng tạo nên sản phẩmngày càng nhiều hơn với những công cụ bằng đá, bằng gỗ và bằng đồng.

Bên cạnh nghề nông là chủ yếu, c dân phơng Đông cổ đại còn biết chănnuôi: lợn, bò, cừu… và làm các nghề thủ công nh nghề dệt, làm gốm, hoạt

động trao đổi, buôn bán cũng đã xuất hiện Giờ đây sản phẩm do con ngời tạo

ra không những đủ nuôi sống bản thân họ mà đã có một phần d thừa Từ nềnkinh tế phát triển ở mức độ nh vậy cũng là điều kiện cho sự bóc lột xuất hiện

Do hoạt động sản xuất nông nghiệp là cơ sở kinh tế của tất cả các quốcgia cổ đại phơng Đông Cho nên để phát triển ngành kinh tế này phải dựa vàocông tác thuỷ lợi, trị thuỷ làm nền tảng Công việc trị thuỷ và thuỷ lợi đòi hỏicon ngời phải hợp sức với nhau, phải liên kết các công xã nông thôn với nhau,bởi vì không một con sông nào chỉ chảy qua một công xã, cũng không có mộttrận lụt nào chỉ lụt vài làng, muốn trị thuỷ và làm thuỷ lợi, chinh phục thiênnhiên thì một số công xã nông thôn gần gũi phải tập hợp nhau lại thành mộtliên minh công xã và các liên minh công xã này kết hợp với nhau hình thànhnên một nhà nớc

Nh vậy về cơ sở kinh tế để hình thành nhà nớc ở phơng Đông, ngoàiyếu tố kinh tế đã phát triển đến một mức độ nhất định làm xuát hiện chế độ thữu thì nhà nớc còn đợc ra đời từ yêu cầu trị thuỷ, thuỷ lợi do đặc trng kinh tếkhu vực đòi hỏi

Về cơ sở xã hôị để hình thành nhà nớc ở phơng Đông cổ đại, từ sự pháttriển kinh tế ở các công xã nông thôn, lợi dụng sự đóng góp của các thànhviên, ngời chỉ huy công xã chiếm một phần hoa lợi biến thành của riêng.Hơnnữa, trớc đây trong các cuộc giao tranh giữa các thị tộc, do quan niệm tù binhkhông mang lại lợi ích gì nên việc giết các tù binh sau mỗi cuộc chiến là mộthiện tợng phổ biến, nhng khi yêu cầu sức lao động lên cao, tù binh đợc giữ lạilàm nô lệ, họ phải phục dịch cho ngời chỉ huy công xã chứ không phải là lực l-ợng lao động chủ yếu nh nô lệ ở phơng Tây Chính vì vậy mà chế độ nô lệ ởcác quốc gia phơng Đông chỉ là nô lệ gia trởng chứ không phải là chế độ nô lệphổ biến nh ở phơng tây

Ngời chỉ huy công xã có của cải ngày càng nhiều, trở thành ngời đứngtrên công xã và tách ra khỏi cộng đồng Do sự phân công lao động ngày càngtăng mà ngời chỉ huy cần có sự chuyên trách vì tính chất công việc ngày càngnhiều, từ đó hình thành nên bộ phận giúp việc cho chỉ huy công xã là tầng lớpquý tộc Tầng lớp quý tộc này chiếm thêm ruộng đất, chiếm đoạt tài sản mànông dân công xã đóng góp và chúng trở nên giàu có còn nông dân công xã

Trang 16

ngày càng nghèo túng và mắc nợ Vì mắc nợ nhiều nên phải gán ruộng chonhà giàu mặc chịu phận làm nô lệ.

Đó chính là sự phân hoá giàu, nghèo và các giai cấp đã ra đời có sự đốikháng sâu sắc, hình thành xã hội có giai cấp đầu tiên

Tuy nhiên trong cơ sở xã hội này ở các quốc gia cổ đại phơng Đông còn

có những cơ sở đặc thù để tạo nên chất men cố kết cộng đồng hình thành nênnhà nớc, cơ sở đặc thù đó chính là yêu cầu chống ngoại xâm

Những mảnh đất màu mỡ là điều kiện sinh hoạt thuận lợi, là miếng mồingon thu hút sự dòm ngó của những bộ lạc du mục đang sống ở thời kỳ tan rãcủa chế độ công xã thị tộc muốn từ bỏ cuộc sống nay đây mai đó của mìnhchuyển sang lối sống định c

Thời cổ đại hầu hết các quốc gia phơng Đông đều đứng trớc nguy cơxâm nhập của các bộ lạc du mục từ bên ngoài vào và sự xâm lăng đó khôngchỉ đe doạ một vài công xã mà thôi Chính vì vậy muốn bảo tồn cơ sở tồn tạicủa mình thì các công xã nông thôn phải liên kết lại với nhau để hình thànhnên sức mạnh tổng hợp chống lại kẻ thù Đó chính là yếu tố thúc đẩy sự ra đờicủa nhà nớc ở nơi đây

Có thể khái quát những cơ sở để hình thành nhà nớc ở các quốc gia cổ

đại phơng Đông bằng nhận định của F Enghen nh sau: “Nhà nớc mà nhóm tựnhiên bao gồm những công xã trong cùng bộ lạc đã đi đến chỗ thiết lập ra quátrình tiến hoá của họ Lúc đầu chỉ có thể bảo vệ lợi ích chung (việc tới nớc vàchống ngoại xâm) thì từ nay trở đi lại có luôn cả mục đích duy trì bằng bạolực, biến những điều kiện sinh hoạt thành của riêng và sự thống trị của giaicấp thống trị chống lại giai cấp bị trị ” [17: 223]

Nh vậy, ở phơng Đông cổ đại nhà nớc ra đời một mặt trên những cơ sởmang tính quy luật chung của sự hình thành nhà nớc đó là từ sự phát triển kinh

tế dẫn đến sự xuất hiện của t hữu và sự phân hoá xã hội thành những giai cấp

đối kháng Mặt khác nó có những cơ sở khác thúc đẩy quá trình ấy nh yêu cầucủa công tác thuỷ lợi, trị thuỷ phục vụ cho sự phát triển nông nghiệp là ngànhkinh tế đóng vai trò chủ yếu của đời sống xã hội Ngoài ra hoạt động chốngngoại xâm từ bên ngoài cũng là chất men liên kết các công xã với nhau đểhình thành nhà nớc

ở phơng Đông cổ đại, nhà nớc ra đời không phải do những đòi hỏi bứcthiết của đấu tranh giai cấp trong xã hội mà nhà nớc ra đời trớc khi xã hội có

sự phân hoá rõ rệt, mâu thuẫn gay gắt, sự tồn tại của nhà nớc đã đáp ứng đòihỏi của xã hội và khi đó nhà nớc đã có đợc cơ sở kinh tế – xã hội để tồn tại

và phát triển

Trang 17

Là một vùng đất rộng lớn, đông dân nhất vùng Nam á , nơi chứa đựng

đầy đủ nhất những nét đặc thù của xã hội phơng Đông cổ đại ở ấn Độ cổ đại,

sự ra đời một nhà nớc cũng xuất phát từ những cơ sở mang tính quy luật chungnhng đồng thời cũng từ những cơ sở đặc trng chỉ có ở phơng Đông và đặc biệttại mảnh đất này một nhà nớc ra đời lại cũng từ cơ sở mà không một dân tộc,một nhà nớc nào có đợc, nó cho thấy sự khác biệt, đặc thù mang đậm dấu ấncủa đất nớc và con ngời ấn Độ Cũng chính điều đó đã làm cho các nhànghiên cứu, những nhà ấn Độ học tốn không biết bao nhiêu công sức, bútmực để tìm hiểu, khám phá những nét riêng ấy, những cái đã làm nên bản sắc

ấn Độ từ cổ xa cho đến ngày nay ấn Độ cũng nh tất cả các quốc gia trên thếgiới, để hình thành một nhà nớc phải dựa trên những cơ sở nhất định Nhà nớc

ấn Độ thời cổ đại ra đời đợc dựa trên những cơ sở lý luận chung cho việchình thành một nhà nớc, đồng thời cũng trên những cơ sở mang tính đặc thùcủa xã hội phơng Đông thời cổ đại và đặc biệt là từ một cơ sở mang đậm dấu

ấn ấn Độ mà không một nhà nớc nào có và điển hình nh ở nơi đây

Chơng 3

Những cơ sở để hình thành nhà nớc ấn Độ thời cổ đại.

3.1 Cơ sở kinh tế.

3.1.1 Nền nông nghiệp và yêu cầu của công tác trị thuỷ, thuỷ lợi.

ấn Độ có một vùng bình nguyên phù sa rộng lớn của thung lũng sông

ấn, sông Hằng cùng những chi lu của chúng, là vùng khá thuận lợi cho sự sinhsống của con ngời và phát triển sớm nề văn minh Hai dòng sông Bắc ấn này

là nơi mà các c dân ấn Độ thời cổ đẫ quần tụ trên bến bãi phù sa của nó đểlàm nông nghiệp

Ngời Đravida là bộ tộc di c đến ấn Độ sớm nhất, đợc xem là c dân bản

địa của mảnh đất này và ngay từ đầu họ đã bắt tay vào sản xuất nông nghiệpcùng với quá trình định c Họ chính là chủ nhân của nền văn hoá Harapa –

Trang 18

Môhenjôđarô ( cuối thiên niên kỷ III TCN đến đầu thiên niên kỷ II TCN),thuộc nền văn minh sông ấn

Do địa hình, khí hậu có sự phân hoá, lợng ma phân bố không đều giữacác vùng nên hoạt động sản xuất nông nghiệp đợc xem là nghề chính của ngời

Đravida gặp nhiều khó khăn trong quá trình phát triển Thời kỳ này ngời

Đravida mới sử dụng các loại công cụ sản xuất là những chiếc cuốc bằng đá

và những chiếc cày bằng gỗ nhng sản xuất nông nghiệp của họ không chỉ đủ

ăn mà bắt đầu xuất hiện của cải d thừa

Có đợc điều đó là nhờ có sự u đãi hết sức thuận lợi của thiên nhiên, lợngphù sa bồi đắp cho đồng ruộng là rất lớn Hiện tợng lũ lụt thờng xuyên xảy ra

và sau mỗi lần nớc rút đi thì một lớp phù sa để lại với bề dày đáng kể Đất đaimàu mỡ nh thế làm cho việc canh tác, sản xuất nông nghiệp diễn ra dễ dànghơn Điều đó cũng lý giải vì sao khi công cụ bằng kim loại cha xuất hiện màkinh tế ở ấn Độ cổ đại nói riêng, ở phơng Đông nói chung lại có thể phát triển

đến một trình độ nhất định để hình thành đợc nên văn minh của mình

Tuy nhiên cũng chính vì hoạt động sản xuất nông nghiệp trồng đạimạch, tiểu mạch và cả lúa tẻ nữa là cơ sở quyết định sự sống còn của con ngờinơi đây, cho nên việc bảo đảm mọi điều kiện cho hoạt động sản xuất diễn rathuận lợi, đạt năng xuất cao là một yêu cầu tối cần thiết và nó cũng quyết địnhtrình độ phát triển của ngời dân ấn thời cổ

Thiên nhiên u đãi nhng cũng lại vừa thử thách quyết liệt sự thích nghi

và cải tạo một con ngời đối với nó Sự phân hoá khí hậu trên lãnh thổ ấn Độhết sức phức tạp, lợng ma phân phối không đều và theo mùa nên không đủcho sự phát triển nông nghiệp ở Bắc ấn lợng ma và độ ẩm tăng dần về phía

Đông Do vậy việc trị thuỷ, thuỷ lợi, đắp đê, đào giếng… là công việc hàng

đầu của c dân nông nghiệp ấn Độ

Bóng dáng của yêu cầu trị thuỷ, thuỷ lợi có thể thấy trong tổ chức quản

lý công xã nông thôn “cơ sở của hình thức nhà nớc thô sơ nhất” [13:58] Yêucầu đó không chỉ thấy ở buổi đầu khi c dân ấn Độ cổ đại bắt đầu định c và b-

ớc vào sản xuất phục vụ nhu cầu cuộc sống của mình mà cho đến tận khi

“chính quyền chuyên chế đã xuất hiện và suy vong ở Ba T, ấn Độ có nhiều

đến đâu chăng nữa , thì mỗi một chính quyền đó cũng biết rất rõ rằng nó trớchết là ngời tổng phụ trách việc tới nớc cho các thung lũng, mà nếu không cóthì ở đó không thể có một nền nông nghiệp nào hết” [13:58]

Từ sự nhận định mang tính chỉ đạo đó của C.Mac chúng ta có thể khẳng

định rằng việc một nhà nớc có thể ra đời đợc ở ấn Độ cổ đại phải trên cơ sở

Trang 19

thực hiện đợc chức năng làm thuỷ lợi, trị thuỷ để bảo đảm cơ sở tồn tại của nó,bởi hệ thống tới nớc là cơ sở của mùa màng.

Theo các kết quả khai quật khảo cổ ở di chỉ Harapa( gần Pengiap) vàMôhenjôđarô (tỉnh Sind thuộc Pakixtan) khai quật vào những năm 20 thế kỷ

XX ngời ta vẫn cha phát hiện đợc và có thể là cha có các công trình tới nớcthời kỳ này của c dân bản địa Đravida Mặc dù vậy, căn cứ vào trình độ pháttriển văn hoá chung, căn cứ vào những di vật tìm thấy tại di chỉ khảo cổ đóchúng ta có thể khẳng định là ngời Đravida (ngời nguyên ấn) đã bớc đầu biết

đào mơng, đa nớc và ruộng, làm các công trình thuỷ lợi nhỏ, “nhiều nhà cógiếng, phòng tắm, lại có một hệ thống dẫn nớc phức tạp”[20:39]

Tuy nhiên những hoạt động trị thuỷ, thuỷ lợi sơ khai đó cha đủ sứcchống lại thiên nhiên dữ dội và hậu quả là nền văn minh sông ấn này đã bịsụp đổ Nguyên nhân biến mất của nền văn minh này là gì đang còn nhiềutranh luận, nhiều ngời giả thiết là do hệ thống thuỷ lợi bị suy thoái hoặc bị taihoạ lớn phá huỷ… Ví nh “nhà bác học Mỹ Đ.Rêkit lãnh đạo một đoàn ngờigồm các nhà thuỷ học và địa chất học cho là sông ấn đổi dòng do một trận

động đất tâm chấn động cách Môhenjôđarô 140km về phía Nam Núi lở ngănsông khiến dòng chảy ngợc lên, bùn và nớc đổ vào lu vực biến thành một đầmcạn Nhiều đô thị bị ngập dới một lớp phù sa và cát dày hàng mét trong nhiềulần”[5:16]

Nhà khảo cổ Giôn Macsan(ngời anh) cho rằng cứ 300 năm lại có mộtbiến thiên địa chất gây ra làm cho bùn phù sa tràn khắp đất đai C dân Đravidachống lại sự hung hãn của nớc, của những trận ma thu dữ dội, liên miên lôicuốn hàng vạn sinh linh theo nớc lũ cũng nh những trận bão bụi mù mịt từ các

sa mạc miền Tây, miền Trung kéo về rang cháy cỏ cây và con ngời bắng cách

đắp những con đê bằng đá cao 10m, rộng 20m Tuy nhiên lu vực sông ấn vẫn

bị tàn phá và nền văn hoá Harapa – Môhenjôđarô vẫn bị chôn vùi “lý do làsông ấn không chảy theo dòng cũ mà đã đào một dòng chảy mới ở bên trái vàlao băng băng, mạnh nh một cột nớc thẳng đứng”[5:16]

Bị mệt mỏi, kiệt quệ bởi cuộc đấu tranh chống thiên tai, ngăn nớc lũ…Ngời nguyên ấn không còn đủ sức ngăn chặn cuộc tấn công của ngời Arian

du mục Và nh vậy, ngời nguyên ấn đã không đủ sức chinh phục dòng sônghung hãn và phải trả một giá đắt là nền văn minh của mình sụp đổ, bị ngờiArian chinh phục

Chính vì cha có một sự cấu kết giữa các bộ lạc trong thời kỳ tan rã củacông xã nguyên thuỷ nên việc thất bại của c dân Đravida trớc thách thức của

Trang 20

tự nhiên và của lịch sử là một tất yếu Và cũng chính vì thế nên nhà nớc theo

đúng nghĩa của nó vẫn cha đợc ra đời một cách hoàn chỉnh

Đến khi ngời Arian chiếm Bắc ấn ( từ thiên niên kỷ II TCN) thì nền vănminh sông Hằng (ở vùng Đông Bắc) đã thay thế nền văn minh sông ấn Cuộcxâm lăng của ngời Arian chỉ là một giai đoạn của trào lu Nam tiến cứ xuấthiện đều đều “đó là một trào lu chính trong lịch sử nhân loại cứ nhịp nhànglên xuống, tạo nên nhiều nền văn minh rồi lại huỷ diệt những nền văn minh

đó” [20: 44], khi qua Apganixtan rồi men theo những đờng trờng phía TâyHymalaya mà vào ấn Độ ở vùng Ngũ Hà và Pengiap Tại đây do thấy sự u đãituyệt vời của thiên nhiên, các bộ lạc Arian bắt đầu định c, vừa chăn nuôi, vừatrồng trọt

Ngời Arian chủ yếu là các bộ lạc du mục, có sức khoẻ, giỏi chinh chiến,

sử dụng các loại vũ khí bằng sắt, quen cỡi ngựa Họ tràn vào đất ấn và định ctrong các cộng đồng làng xã, tập hợp thành những tiểu quốc mà thực chất lànhững liên minh bộ lạc, sinh sống bằng nghề chủ yếu là nông nghiệp

Quá trình du mục và định c của ngời Arian trên đất ấn Độ chính là quátrình hình thành nên một nền văn hoá hoàn chỉnh trên đất nớc này, bao gồm

“văn hoá Arian đã đợc ấn Độ hoá và văn hóa ấn Độ gốc tiền Arian cũng đã

đ-ợc Arian hoá làm cho nó vừa thống nhất, vừa phức tạp, tạo nên một đặc điểmchủ yếu của nền văn hoá ấn Độ” [4: 31]

Ngời Arian đặt chân lên đất ấn Độ khi mà trớc đó ngời bản địa Đravida

đã đạt đến một trình độ văn minh cao hơn nhiều so với mình nhng rồi nền vănminh ấy cũng bị tàn lụi Kế thừa phơng thức tồn tại của ngời bản địa, ngờiArian phải tự tìm cho mình một cách thức tổ chức mới, khắc phục những gì

mà ngời Đravida cha làm đợc để tạo dấu ấn của mình trên mảnh đất vàng mà

họ đã chọn này

Yêu cầu thay đổi đó mang tính tất yếu lịch sử, đúng nh C.Mac khẳng

định: “Những quan hệ xã hội đều gắn liền mật thiết với những lực lợng sảnxuất Do có những lực lợng sản xuất mới, loài ngời thay đổi phơng thức sảnxuất của mình và do thay đổi phơng thức sản xuất, cách kiếm sống của mình,loài ngời thay đổi tất cả quan hệ xã hội của mình” [13: 23]

Ngời Arian định c chủ yếu ở lu vực sông Hằng, vùng này lại có lợng malớn hơn bất cứ nơi nào trên thế giới (lên tới 3000mm3) Lợng ma này kết hợpvới băng tuyết tan làm cho sông Hằng luôn đầy nớc và lụt lội thờng xuyên xảy

ra, lu lợng lên tới 73000m3/s Nơi đây từ thời cổ đã đợc bao phủ bởi nhữngcánh rừng nhiệt đới rậm rạp mà ngày nay không còn nữa, độ ẩm ở hạ lu rấtcao, thậm chí các cây trồng a ẩm nh: lúa, đay, mía… có thể trồng đợc ở đây

Trang 21

mà không cần nớc nhân tạo, lợng phù sa do sông Hằng bồi đắp rất lớn, ở hạ lulớp phù sa dày từ 600 – 800m…

Để khẳng định sức sống của mình, c dân Arian tìm mọi cách tận dụngtới mức tối đa những thuận lợi của tự nhiên và hạn chế tới mức thấp nhấtnhững tai biến do chính thiên nhiên gây ra thông qua hoạt động thuỷ lợi, trịthuỷ

Họat động trị thuỷ, thuỷ lợi của ngời Arian đợc phản ánh trong tập kinhRig – Vêđa (có từ thiên nhiên kỷ II TCN), thời gian này thuỷ lợi có tầm quantrọng lớn Trong Rig – Vêđa còn bảo lu những lời cầu nguyện mong các consông dâng đầy nớc cho đất đai phì nhiêu, mùa màng tơi tốt Trong tập kinhnày có nhắc đến việc “lấy nớc bằng cách đào từ lòng đất” Hệ thống tới nớclàm thuỷ lợi phát triển hơn trong thời kỳ hình thành tổ chức nhà nớc đầu tiên

Cùng với quá trình định c của ngời Arian, họat động tổ chức xã hội của

họ cũng bắt đầu hình thành, chế độ công xã nông thôn hình thành một cáchthuần thục hơn “và lúc ấy sức sản xuất đã tiến lên một bớc mới, đồ sắt đợc sửdụng, nông nghiệp đã chiếm hẳn u thế so với chăn nuôi, trong các ngành thủcông, ngành quan trọng nhất là nghề luyện kim và nghề dệt vải” [14: 205] Có

đợc điều đó là do những nhà nông học đã đợc xác định đợc thời tiết có tầmquan trọng nh thế nào và lợng nớc tới cần thiết cho mỗi loại cây trồng Bóngdáng của yêu cầu thuỷ lợi có thể thấy trong tổ chức quản lý của công xã, tổchức này tồn tại từ thời cổ đại cho đến thời cận đại hầu nh không hề thay đổi

Hoạt động thuỷ lợi đối với cuộc sống của c dân ấn Độ đặc biệt là ngờiArian quan trọng tới mức mọi hoạt động sinh hoạt của con ngời đều gắn vớisông nớc, gắn với con sông Hằng, từ nghi lễ cầu đảo hàng năm của c dân ởdây, ngời dân đều hành hơng, cầu nguyện, tắm và uống nớc sông Hằng, gọisông Hằng là mẹ cao cả Trong quan niệm duy vật giải thích nguồn gốc thếgiới của các triết gia ấn cổ thì nớc luôn là yếu tố đầu tiên trong tứ đại: Nớc,lửa, gió và đất

Do tầm quan trọng đó mà ở ấn Độ thời cổ đại “thuỷ lợi cũng là cơ sởcủa nhà nớc nh các quốc gia phơng Đông cổ đại khác C.Mac đã từng nhấnmạnh rằng, những điều kiện khí hậu và những đặc điểm đất đai nhất là trênkhoảng rộng lớn của vùng thảo nguyên kéo dài từ Xahara, qua Arabi, Ba T, ấn

Độ… đã làm cho hệ thống tới nớc nhân tạo bằng sông đào và công trình thuỷlợi trở thành cơ sở của nhà nớc phơng Đông” [5 :18] Và ở ấn Độ cũng nh ở

Ai Cập, Lỡng Hà, ngời ta lợi dụng mùa nớc lên để cho nớc chảy vào các kênh

đào tới cho mùa màng

Trang 22

Với những họat động thuỷ lợi của c dân Arian, họ đã làm cho nền kinh

tế ấn Độ phát triển đến mức độ cao hơn nhiều, tạo nên sự rực rỡ của nền vănminh sông Hằng, kiến lập sự thống trị của ngời Arian trên mảnh đất này

Do đã biết sử dụng công cụ lao động bằng sắt nên cùng với sự thuận lợicủa điều kiện tự nhiên, nền sản xuất nông nghiệp đã đạt đến trình độ phát triểncao, sự phù trợ của công tác thuỷ lợi, trị thuỷ đạt ở mức độ cao hơn thời kìcủa c dân nguyên ấn, sản phẩm d thừa đã ở mức lớn hơn nhiều Đó là cơ sởlàm nảy sinh chế độ t hữu trong các công xã nông thôn, các tiểu quốc Thủcông nghiệp và việc trao đổi cũng phát đạt hơn trớc rất nhiều, nghề luyện kim

và nghề dệt vải sản xuất ra ngày càng nhiều sản phẩm phục vụ cho tiêu dùngtrong sinh hoạt “Tại các châu thành có thợ thủ công độc lập và những ngờitập nghề, học làm đủ nghề lặt vặt Cả ngàn năm trớc công nguyên, họ đã biết

tổ chức chặt chẽ thành các phờng nh: phờng kim thuộc, phờng mộc, phờng đá,phờng da, phờng ngà, phờng đan thúng mủng, sơn nhà, trang hoàng, làm đồgốm, nhuộm, làm mứt, săn bắt, đánh bẫy” [20:51] Điều đó cho chúng ta thấy

đời sống của ngời Arian đã phát triển ở mức cao

Với những gì họ làm đợc cho xã hội ấn, họ thực sự đã góp phần với dântộc bản địa Đravida tạo nên bộ mặt của văn minh ấn Độ

Để đạt đợc một trình độ phát triển cao nh vậy, ngời Arian phải biết

đoàn kết, biết chủ động trong nghiên cứu quy luật của tự nhiên, quy luật lên ,xuống của nớc dòng sông Hằng phục vụ cho cơ sở tồn tại và phát triển củamình là nghề nông nghiệp Cơ sở cho sự liên kết đó chúng ta cùng tìm hiểusau, ở đây cần khẳng định bớc đầu rằng chính sự liên kết các công xã nôngthôn trong công tác trị thuỷ và thuỷ lợi mà đã tạo nên một trong những cơ sở

để hình thành nhà nớc của ngời Arian và từ sự hiệu qủa của công tác thuỷ lợi,trị thuỷ đó đã tạo nên một nền kinh tế phát triển ở mức độ cao, là tiền đề choviệc hình thành chế độ t hữu trong xã hội ngời Arian

3.1.2 Sự phân công lao động và vai trò của công xã nông thôn trong việc tạo ra cơ sở hình thành nhà nớc ấn Độ thời cổ đại

Thiên niên kỷ II TCN, thời điểm các bộ tộc ngời Arian đã bớc vàothời kỳ cuối của công xã nguyên thuỷ, cuộc sống bình yên và êm đẹp củanhững ngời du mục Arian bắt đầu đi vào quá khứ Sự bình đẳng trong cộng

đồng dần mất đi và thay vào đó là sự bất bình đẳng trong xã hội bắt đầu xuấthiện Sự phân chia con ngời thành những đẳng cấp với quyền lợi và nghĩa vụkhác nhau, nhằm xác lập sự độc tôn, thống trị của ngời Arian với c dân bản

địa Đravida

Ngày đăng: 15/12/2015, 08:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Đinh Ngọc Bảo (2000), Các mô hình xã hội thời cổ đại. Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các mô hình xã hội thời cổ đại
Tác giả: Đinh Ngọc Bảo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
[2]. Nguyễn Tấn Đắc (2000), Văn hoá ấn Độ. Nxb Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá ấn Độ
Tác giả: Nguyễn Tấn Đắc
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2000
[3]. Nguyễn Đức Đàn (1998), T tởng triết học và đời sống văn hoá, văn học ấn Độ. Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: T tởng triết học và đời sống văn hoá, văn học ấn Độ
Tác giả: Nguyễn Đức Đàn
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1998
[4]. Cao Huy Đĩnh (1993), Văn hoá ấn Độ. Nxb Văn hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá ấn Độ
Tác giả: Cao Huy Đĩnh
Nhà XB: Nxb Văn hoá
Năm: 1993
[5]. Nguyễn Công Khanh (1983), Thông báo nghiên cứu khoa học: Vấn đề thuỷ lợi trong lịch sử ấn Độ cổ đại. Tạp chí Nghiên cứu lịch sử Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông báo nghiên cứu khoa học: Vấn đề thuỷ lợi trong lịch sử ấn Độ cổ đại
Tác giả: Nguyễn Công Khanh
Năm: 1983
[6]. Trần Ngọc Kim (1966), Thế giới cổ đại (tập I). Nxb Giáo dục – Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới cổ đại (tập I)
Tác giả: Trần Ngọc Kim
Nhà XB: Nxb Giáo dục – Hà Nội
Năm: 1966
[7]. Vũ Dơng Ninh (cb) (2001), Lịch sử văn minh thế giới. Nxb Giáo dục – Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn minh thế giới
Tác giả: Vũ Dơng Ninh (cb)
Nhà XB: Nxb Giáo dục – Hà Nội
Năm: 2001
[8]. Dơng Ninh (cb) (1995), Lịch sử ấn Độ. Nxb Giáo dục – Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử ấn Độ
Tác giả: Dơng Ninh (cb)
Nhà XB: Nxb Giáo dục – Hà Nội
Năm: 1995
[9]. Vũ Dơng Ninh (cb) (1997), Lịch sử văn minh nhân loại. Nxb Giáo dục – Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn minh nhân loại
Tác giả: Vũ Dơng Ninh (cb)
Nhà XB: Nxb Giáo dục – Hà Nội
Năm: 1997
[10]. Lơng Ninh (cb) (2001), Lịch sử văn hoá thế giới cổ trung đại. Nxb Giáo dục – Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn hoá thế giới cổ trung đại
Tác giả: Lơng Ninh (cb)
Nhà XB: Nxb Giáo dục – Hà Nội
Năm: 2001
[11]. Lơng Ninh (cb) (1997), Lịch sử thế giới cổ đại. Nxb Giáo dục – Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử thế giới cổ đại
Tác giả: Lơng Ninh (cb)
Nhà XB: Nxb Giáo dục – Hà Néi
Năm: 1997
[12]. Trịnh Nhu (1990), Đại cơng lịch sử thế giới cổ đại (tập I). Nxb Đại học và giáo dục chuyên nghiệp – Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cơng lịch sử thế giới cổ đại (tập I)
Tác giả: Trịnh Nhu
Nhà XB: Nxb Đại học và giáo dục chuyên nghiệp – Hà Nội
Năm: 1990
[13]. Văn Tạo (1992), Phơng thức sản xuất châu á. Nxb Khoa học xã hội Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phơng thức sản xuất châu á
Tác giả: Văn Tạo
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội Hà Néi
Năm: 1992
[14]. Chiêm Tế (2000), Lịch sử thế giới cổ đại. Nxb Đại học quốc gia – Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử thế giới cổ đại
Tác giả: Chiêm Tế
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia – Hà Néi
Năm: 2000
[15]. C. Mac – F.Enghen (tuyển tập) (1992), Tập I: Sự thống trị của Anh ở ấn Độ. Nxb Sự thật – Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập I: Sự thống trị của Anh ở ấn Độ
Tác giả: C. Mac – F.Enghen (tuyển tập)
Nhà XB: Nxb Sự thật – Hà Nội
Năm: 1992
[16]. Almanach (1990), Những nền văn minh thế giới. Nxb Văn hoá thông tin – Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nền văn minh thế giới
Tác giả: Almanach
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin – Hà Nội
Năm: 1990
[17]. F.Enghen (1961), Nguồn gốc của gia đình, của chế độ t hữu và của nhà nớc. Nxb Sự thật – Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn gốc của gia đình, của chế độ t hữu và của nhà nớc
Tác giả: F.Enghen
Nhà XB: Nxb Sự thật – Hà Nội
Năm: 1961
[18]. V.I. Lênin (1958), Nhà nớc và cách mạng. Nxb Sự thật – Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà nớc và cách mạng
Tác giả: V.I. Lênin
Nhà XB: Nxb Sự thật – Hà Nội
Năm: 1958
[19]. V.I. Apdiep (1970), Lịch sử cổ đại phơng Đông. Nxb Maxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử cổ đại phơng Đông
Tác giả: V.I. Apdiep
Nhà XB: Nxb Maxcơva
Năm: 1970
[20]. WillDurant (2004), Lịch sử văn minh ấn Độ. Nxb Văn hoá thông tin– Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn minh ấn Độ
Tác giả: WillDurant
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin– Hà Nội
Năm: 2004

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w