1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu bản sắc văn hoá đông nam á cổ trung đại

91 1,8K 13
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu bản sắc văn hoá đông nam á cổ - trung đại
Tác giả Lê Xuân Lân
Người hướng dẫn ThS. Phan Hoàng Minh
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử thế giới
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2006
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 721 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những năm gần đây, các cán bộ của Viện Nghiên cứu Đông Nam á,Viện Nghiên cứu Văn hoá dân gian thuộc Trung tâm Khoa học xã hội nhânvăn quốc gia đã xuất bản một số chuyên luận về lịch sử v

Trang 1

Trờng đại học vinh

khoa lịch sử

- -lê xuân lân

khóa luận tốt nghiệp đại học

tìm hiểu bản sắc văn hoá đông nam á cổ - trung đại

Chuyên nghành lịch sử thế giới

khóa 42E sử

Giáo viên hớng dẫn: Ths Phan Hoàng Minh

Vinh – 2006 2006

Trang 2

Nhân dịp này tôi xin chân thành cảm ơn thầy hớng dẫn Phan Hoàng Minh đã giúp đỡ tận tình cho tôi hoàn thành khóa luận.

Do nguồn t liệu, thời gian còn hạn chế và khả năng của bản thân mới bớc đầu nghiên cứu chắc chắn khóa luận này không tránh đợc sự thiếu sót, rất mong nhận đợc sự chỉ bảo góp

khóa luận tốt nghiệp đại học

tìm hiểu bản sắc văn hoá đông nam á cổ - trung đại

Chuyên nghành lịch sử thế giới

khóa 42E sử

Vinh – 2006 2006

Trang 3

A dẫn luận

1 Lý do chọn đề tài

Ngày nay, không gian sống và hoạt động của chúng ta ngày càng mởrộng, nhu cầu hiểu biết và giao tiếp không ngừng tăng lên Chúng ta muốnhiểu biết nhiều hơn về lịch sử các quốc gia Đông Nam á cổ trung đại, mộttrong những chiếc nôi đầu tiên của loài ngời Trải qua quá trình phát triển, cácdân tộc sống trong khu vực này đã tạo dựng nên một nền văn hóa phong phú,

độc đáo

Qua nhiều thế kỷ, quan hệ giao lu kinh tế – 2006 văn hóa giữa các nớc ĐôngNam á đã hình thành và không ngừng phát triển Các nớc Đông Nam á đãtiếp thu những truyền thống văn hóa tốt đẹp của nhau để làm phong phú thêmnền văn hóa của dân tộc mình Chính vì vậy ở nhiều nớc Đông Nam á đã cónhững nét văn hóa tơng đồng và nhiều tập quán văn hóa chung đã trở thànhtruyền thống

Hiện nay, Đông Nam á không chỉ là một vùng đông dân, giàu tiềm năng,

mà còn đợc đánh giá là một khu vực phát triển năng động trên thế giới Ngoàiviệc tiếp thu, vận dụng những thành tựu của cách mạng khoa học và côngnghệ hiện đại và tinh hoa văn hóa chung của nhân loại, giữ vững hòa bình, ổn

định và hợp tác trong khu vực, các nớc Đông Nam á cũng đang quan tâm gìngiữ những truyền thống văn hóa mang bản sắc dân tộc của mình, đồng thờihợp tác, tiếp thu và phát triển truyền thống văn hóa tốt đẹp của nhau, làmphong phú thêm những nét văn hóa mang bản sắc Đông Nam á

Bớc sang thập kỷ 90, tình hình thế giới có nhiều biến chuyển sâu sắc,chiến tranh lạnh kết thúc, không còn sự đối đầu giữa hai siêu cờng Xô - Mỹ.Châu á Thái Bình Dơng nói chung và Đông Nam á nói riêng đã có nhữngbiến đổi căn bản Xu hớng toàn cầu hóa, khu vực hóa trở thành phổ biến Trớctình hình đó mỗi quốc gia muốn ổn định và phát triển không thể tách khỏi cácmối quan hệ trong đời sông văn hóa quốc tế Sự khác biệt về chính trị – 2006 xãhội không còn là những hàng rào ngăn trở quan hệ giữa các nớc

Hiện nay Đông Nam á gồm 11 nớc: Brunây, Campuchia, Đôngtimo,Inđônêxia, Lào, Malayxia, Myanma, Philippin, Singapo, Thái Lan và ViệtNam Việt Nam là một thành viên của hiệp hội các nớc Đông Nam á(ASEAN), quan hệ láng giềng đợc mở rộng trên nhiều lĩnh vực, do vậy việctìm hiểu lịch sử văn hóa Đông Nam á trở thành một nhu cầu thực tế ở nớc ta

Trang 4

hiện nay Xuất phát từ tầm quan trọng về khoa học và thực tiễn của vấn đề

trên, chúng tôi chọn đề tài “Tìm hiểu bản sắc văn hóa Đông Nam á cổ trung

đại” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.

Hy vọng thông qua thực hiện đề tài sẽ góp phần trau dồi thêm tri thức lịch

sử về Đông Nam á nói chung và văn hóa Đông Nam á nói riêng cho bản thân

và tập dợt nghiên cứu khoa học

2 Lịch sử vấn đề

Tìm hiểu bản sắc văn hoá Đông Nam á cổ-trung đại, là một trong những

đề tài hấp dẫn Thu hút sự quan tâm chú ý từ lâu của các nhà nghiên cứu trongkhu vực và trên thế giới

Những năm gần đây, các cán bộ của Viện Nghiên cứu Đông Nam á,Viện Nghiên cứu Văn hoá dân gian thuộc Trung tâm Khoa học xã hội nhânvăn quốc gia đã xuất bản một số chuyên luận về lịch sử văn hoá các quốc gia

Đông Nam á và trong quá trình biên soạn giáo trình tác giả Mai Ngọc Trừ với

tác phẩm Văn hoá Đông Nam á, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 1999 trong

đó đã tổng kết những kết quả nghiên cứu chủ yếu của các tác giả đi trớc thành

hệ thống tơng đối hoàn chỉnh về tất cả các mặt của văn hoá Đông Nam á

Các tác giả Ngô Văn Doanh, Vũ Quang Thiện với công trình Những

phong tục lạ ở Đông Nam á, Nxb Thông tin Hà Nội, 1996, Nguyễn TơngLai,

Vũ Tuyết Lan, Đức Ninh, Nguyễn Sỹ Tuấn với Văn học Đông Nam á, Nxb Giáo dục, 1998, Vũ Dơng Ninh (chủ biên) với tác phẩm Một số chuyên đề lịch

sử thế giới, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001, Lơng Ninh (chủ biên)

-Nguyễn Gia Phu, Đinh Ngọc Bảo, Dơng Duy Bằng với Lịch sử văn hoá thế

giới cổ - trung đại Nxb Giáo dục tái bản lần thứ nhất, 1999.

Ngoài ra còn có các tác phẩm viết về lịch sử văn hoá các nớc Đông Nam

á nh: Cao Văn Phổ, Ngô Văn Doanh, Phan Ngọc, Ngô Thế Phong cuốn Văn

hoá ba nớc Đông Dơng, Nxb Văn hoá, 1992 Các th tịch cổ Việt Nam viết về

Đông Nam á, Ban Nghiên cứu Đông Nam á, 1977, Tìm hiểu lịch sử văn hoá

Cămpuchia, 2 tập, Nxb Khoa học xã hội,1983), Viện Đông Nam á với Việt Nam - Đông Nam á quan hệ lịch sử văn hoá, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội,

1993… và một số tạp chí nghiên cứu Đông Nam và một số tạp chí nghiên cứu Đông Nam á- Viện Nghiên cứu ĐôngNam á

Nhìn chung về vấn đề bản sắc văn hoá Đông Nam á, đã đợc đề cập rảirác trong các công trình nghiên cứu nêu trên Nhận thức đợc ý nghĩa và tầmquan trọng của đề tài nói trên, kế thừa những kết quả nghiên cứu của ngời đi

Trang 5

trớc, chúng tôi muốn tái hiện những nét đặc sắc của văn hoá Đông Nam á.Hiểu biết về văn hoá khu vực Đông Nam á sẽ góp phần tăng cờng quan hệhợp tác giữa các nớc để cùng phát triển

3 Phạm vi và nhiệm vụ khoa học của đề tài

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là những nét mang tính bản sắc văn hoá

Đông Nam á cổ - trung đại Tuy nhiên chúng tôi cũng khái quát tổng quancác thời kỳ hình thành và phát triển của các quốc gia Đông Nam á, để hiểubiết đầy đủ và sâu sắc hơn những nét bản sắc riêng của văn hoá Đông Nam á

Từ phạm vi trên, đề tài tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau:

- Khái quát các thời kỳ hình thành, phát triển dẫn đến suy thoái và sựxâm lợc của chủ nghĩa thực dân phơng Tây (từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX)

- ảnh hởng văn hoá ấn Độ - Trung Hoa về tôn giáo, kinh tế sản xuất,phong tục tập quán

- Làm rõ những nét bản sắc văn hoá Đông Nam á về văn hoá vật chất vàvăn hoá tinh thần

- Rút ra bản sắc riêng của văn hoá Đông Nam á

4 Phơng pháp nghiên cứu

Đây là một đề tài khoa học xã hội, thuộc lĩnh vực chuyên sử, nên phải từquan điểm lịch sử macxit sử dụng phơng pháp nghiên cứu tổng hợp: kết hợpgiữa việc su tầm, chọn lọc và xử lý t liệu với phơng pháp lịch sử kết hợp vớilogic (xem xét các sự kiện, hiện tợng, sự vận động của các mối quan hệ và t-

ơng tác lẫn nhau đợc đặt trong bối cảnh lịch sử cụ thể, theo trình tự thời gian

và không gian đợc xác định) và phơng pháp so sánh đề nghiên cứu vấn đề đặtra

5 Bố cục của đề tài

Ngoài phần dẫn luận và phần kết luận, th mục tài liệu tham khảo, nộidung khoá luận gồm ba chơng

Chơng 1 Tổng quan về các quốc gia Đông Nam á cổ-trung đại.

Chơng 2 Thành tựu chủ yếu của văn hoá Đông Nam á cổ-trung đại Chơng 3 Bản sắc văn hoá Đông Nam á cổ-trung đại.

Trang 6

b nội dung

Chơng 1 Tổng quan về các quốc gia Đông Nam á cổ trung đại– trung đại

1.1 Thời kì hình thành các vơng quốc cổ ở Đông Nam á

Đông Nam á là một khu vực khá rộng, trải ra trên một phần đất, từkhoảng 920 đến 1400 kinh đông và khoảng 280 vĩ Bắc, chạy qua xích đạo đến

150 vĩ Nam rất không thuần nhất về những điều kiện tự nhiên Lẽ thờng, đây làkhu vực có thể bị khô cằn, thậm chí trở thành sa mạc, hoặc ngợc lại, nhữngvùng nằm trên hay gần xích đạo sẽ bị nóng quanh năm và có ma thờng xuyêntầm tã vào chiều tối

Nhng điều kiện riêng của tự nhiên lại tạo nên và đem lại cho Đông Nam

á những ảnh hởng chủ yếu của gió mùa Gió mùa đã điều hòa bớt những điềukiện thông thờng, giảm bớt sự không thuần nhất, sự gay gắt về khí hậu đáng lẽphải có và tạo nên trên đại thể hai mùa: mùa khô tơng đối lạnh, mát và mùa

ma tơng đối nóng Mùa ma với những cơn ma nhiệt đới có quy luật ổn định đãcung cấp nớc đủ dùng trong năm cho đời sống con ngời và cho sản xuất, đãtạo nên cánh rừng nhiệt đới, phong phú và các loại thảo mộc và muông thú Những điều kiện tự nhiên đó làm cho Đông Nam á thích hợp với sinhtrởng của một số loài cây cỏ nhất định Đông Nam á trở thành quê hơng củanhững cây gia vị, cây hơng liệu đặc trng (hồ tiêu, sa nhân, đậu khấu, hồi, quế,dàn hơng, trầm hơng v.v ) và cây lơng thực - đặc trng là cây lúa nớc (orizasativa) Đông Nam á trở thành một khu thực vật – 2006 dân tộc học và đồng thờicũng là một khu vực động thực vật – 2006 dân tộc học, tơng đối riêng biệt

Bởi lẽ đó, gió mùa đã tạo nên một khu vực đợc gọi là “Châu á giómùa”có thể hiểu “Châu á gió mùa” là một phần của địa cầu, nơi có trồng lúanớc từ thủơ xa xa, bao gồm miền Nam Trờng Giang (Trung Quốc) miền NamNhật Bản, miền Đông ấn Độ và các nớc Đông Nam á ngày nay Nhng quátrình phát triển của lịch sử cùng với sự can thiệp của con ngời làm cho bản đồcủa các nớc Đông Nam á không bao gồm toàn bộ “Châu á gió mùa” mà chỉ

có phần chủ yếu và tiêu biểu của “Châu á gió mùa” một phần khác nh ta đãthấy gắn liền với lãnh thổ do đó với những nền văn hóa Nam á và Đông á Phải nói rằng, gió mùa không chỉ đem lại thuận lợi cho con ngời, mànhững yếu tố tự nhiên vẫn tác động và tạo nên sự thất thờng tuy với biên độkhông lớn lắm, cho khí hậu trong vùng Ma nhiệt đới trên địa bàn tự nhiên của

Trang 7

khu vực làm thành những vùng nhỏ, xen kẽ giữa rừng nhiệt đới, đồi núi, bờbiển và đồng bằng, tạo nên những cảnh quan đa dạng, với độ ẩm khá cao.Thực tế đó khiến cho Đông Nam á thiếu những không gian rộng cho sự pháttriển kinh tế – 2006 xã hội trên quy mô lớn, thiếu điều kiện tự nhiên cho sự pháttriển những kĩ thuật tinh tế phức tạp Đó là vấn đề của sau này Không phải làngời ta không nhận thấy bóng dáng của những sự hạn chế đó.

Song, nhìn chung những điều kiện tự nhiên của Đông Nam á là kháthuận lợi cho những bớc đi đầu tiên của con ngời Những mùa ổn định với khíhậu không quá gay gắt về cả nhiệt độ và lợng ma, địa bàn sinh tụ nhỏ vàphong phú, kết hợp rừng – 2006 suối ; đồi – 2006 ruộng, đã tạo nên những không gian

lý tởng cho con ngời thời ấy Không phải ngẫu nhiên mà con ngời đã in dấuvết sinh sống và phát triển của mình trên khu vực này từ những thời gian rất xaxôi [17; 151]

Ngời ta cha tìm đợc ở Đông Nam á nhiều dấu vết của quá trình chuyểnbiến từ vợn hình ngời (Hominid) đến ngời vợn (Pithekanthrpus) hay ngời tối

cổ (Archanthropus) gọi chung là Homoesrectus Điều đó làm cho một số nhàkhoa học còn nghi ngờ xem Đông Nam á có phải là một cái nôi của loài ngờikhông, hay là ngời tối cổ đã từ một nơi nào đó di c đến (chẳng hạn nh từ ĐôngPhi) Nhng mấy thập niên, ngời ta đã tìm thấy di cốt vợn ấn Độ(Ramapithekus), sống cách ngày nay hơn 10 triệu năm và di cốt vợn TrungQuốc (ở Lộc Phong, Vân Nam) sống cách đây 8 triệu năm Sự kiện đáng chú ýxảy ra cách đây không xa lắm là ngay ở Đông Nam á, ngời ta lại phát hiện đ-

ợc dấu vết hóa thạch vợn bậc cao ở Ponđaung (Mianma) có thể thuộc giốngHominnid, sống cách đây khoảng 5 triệu năm

Nhng sự tiếp nối của Hominnid, tức quá trình tiến triển từ ngời tối cổ

đến ngời, hay quá trình Sapiens hóa đã diễn ra đặc biệt phong phú ở ĐôngNam á mà ngời ta đã có thể tìm thấy những giai đoạn phát triển của cả hóathạch và ngời vợn và công cụ đá cũ

Những di vật, di tích, những văn hóa đá cũ đã phát hiện ở Đông Nam áchứng tỏ rằng rất có thể trên khu vực này đã xuất hiện ngời (Homa) quá trìnhSapiens hóa với cùng sự xuất hiện sớm nhất đợc biết cho đến nay của HomaSapiens Cho nên việc xem Đông Nam á có phải là cái nôi của loài ngờikhông, trớc đây chỉ là một hy vọng, thì nay đang càng có nhiều khả năng trởthành thực, Và dờng nh từ giai đoạn Sapiens hóa bầy ngời nguyên thủy, ĐôngNam á đã đi tiên phong trong lịch sử loài ngời

Trang 8

Sự xuất hiện “ngời hiện đại” ở thời đá cũ hậu kì đi liền sự hình thànhcác chủng tộc Vấn đề chủng tộc ở Đông Nam á đã đợc quan tâm và đợc giải

đáp từ lâu, nhng đến những lời giải đáp vẫn cha hoàn toàn thuyết phục đợcnhiều ý kiến khác nhau

Trong ba đại chủng của loài ngời, đợc hình thành ở giai đoạn này, những

c dân Đông Nam á mang trong mình với góc độ khác nhau, những yếu tố củahai đại chủng Môngôlôit và Ôxtralôit , nhng trớc đây thờng đợc xếp vào loạivàng phơng Nam (hay Môngôlôit phơng Nam) Nhng cũng nh nhiều khu vựctiếp giáp ở đó, hình thành một tiểu chủng riêng mang những yếu tố của hai đạichủng nằm ở phía Bắc và phía Nam của nó Vì thế, những đề nghị gần đây bỏtên cũ (Môngôlôit phơng Nam) gọi là tiểu chủng Đông Nam á, phải chăngmuốn phản ánh thực tế đó, là hợp lý hơn?

Tiểu chủng này lại chia thành hai nhóm chính, đợc gọi là nhómAnhđônêdiên (Indonesien) và nhóm Nam á (Austro – 2006 Asiatique) nhóm thứnhất (Indonesien) chủ yếu là những ngời đang sinh sống ở một số vùng trênTây Nguyên (Việt Nam) và vùng rừng núi ngoài hải đảo mà trong họ, yếu tố

đen đậm hơn vàng Nhóm thứ hai, yếu tố vàng đậm hơn đen, là phần lớn c dân

Đông Nam á còn lại ít nhiều có quan hệ gần gũi với nhau

Đông Nam á bớc vào giai đoạn đá mới hậu kì từ khoảng 600 năm trớc

đây, với những công cụ đá có diện mài rộng hơn, với đồ gốm và đồ trang sứcphong phú, đẹp đẽ hơn, nhng đặc biệt là với việc chuyển từ nông nghiệp trồngvờn (rau củ) sang trồng lúa ở Đông Bắc Thái Lan, dấu vết hạt lúa in trên gốmhay trấu trộn trong gốm đã có rất sớm: từ khoảng 6000 năm trớc Côngnguyên, bào tử phấn hoa lúa Oryza cũng có mặt trong một hang thuộc vănhóa Bắc Sơn ở một số nơi, ngời ta còn phát hiện đợc cả dao đá dùng vào việccắt lúa (Thái Lan), liềm đá (Campuchia)

Đông Nam á bớc vào thời kì đá mới, cũng nh các khu vực tiên tiếnkhác trên thế giới, với sự chuyển biến mạnh mẽ từ nông nghiệp trồng rau củsang nông nghiệp trồng lúa, từ thuần dỡng sang chăn nuôi gia súc, kết hợp với

sự phát triển của ngời làm đồ gốm và nghề dệt Tuy nhiên, do tính phân táncủa địa bàn tự nhiên và sự hạn chế dân số, việc lợm hái sản vật tự nhiên vẫn có

vị trí quan trọng Nông nghiệp đợc tiến hành với nhiều loại cây trồng, theoquy mô nhỏ và xen kẽ phức tạp; chăn nuôi cũng đợc thực hiện kết hợp vớinông nghiệp, phân tán và chủ yếu nằm trong nền kinh tế gia đình phụ hệ (hìnhthành vào cuối thời kì đá mới)

Trang 9

Với niên đại trồng rau củ (khoảng 10.000 năm – 2006 6000 năm trớc đây)

và nông nghiệp trồng lúa (từ khoảng 6000 năm đến 5000 năm trớc đây) với

đặc trng kĩ thuật trồng lúa nớc và những công cụ lao động, Đông Nam á đãtrở thành một trong những trung tâm nông nghiệp phát triển sớm và là mộttrong những mô hình nông nghiệp chủ yếu trên thế giới

Tuy nhiên, từ thời hậu kì đá mới, kĩ thuật và nền kinh tế nông nghiệp ở

Đông Nam á đã bị chững lại và mất vị trí dẫn đầu Cho đến thiên kỉ III trớcCông Nguyên, c dân Đông Nam á vẫn chỉ mới canh tác nông nghiệp trênthềm cao các con sông Sang thiên kỉ thứ II trớc Công Nguyên thậm chí sangnửa sau thiên kỉ này, mới tiến dần đến các chân ruộng thấp, đến đồng bằngrộng lớn Nh thế là sự phát triển nông nghiệp trên ruộng thấp của c dân khuvực này chậm hơn ít nhiều so với đồng bằng Hoàng Hà, sông ấn, sông Hằng,

và chậm hơn đồng bằng Medopotami (Lỡng Hà) và Ai Cập khoảng mơi thế kỉ.Nguyên nhân của tình hình đó là sự phân tán của địa bàn tự nhiên, tính dao

động của khí hậu và sự hạn chế khả năng tập trung dân c

Giữa các vùng Đông Nam á, tính đặc trng địa phơng của công cụ, sảnphẩm và cả sự phát triển không đồng đều với nhau đã có thể thấy rõ Dấu vếtnông nghiệp trồng lúa xuất hiện sớm trong các di chỉ ở cao nguyên Khorat,nhng vùng tiến sớm hơn cả là Châu thổ Sông Hồng (thiên kỉ II trớc CôngNguyên); đồng bằng sông Iraoađi Mê Nam và vùng đông bắc Tôlê Xap(TonleSap) lại muộn hơn nữa (thiên kỉ I trớc Công Nguyên) Còn những vùngkhác phải đợi đến những thế kỉ cuối trớc Công Nguyên

Vài chục năm lại đây Đông Nam á có sự phát triển nhảy vọt về kết quảnghiên cứu tiền sử và sơ sử, đặc biệt là việc phát hiện hàng loạt di chỉ văn hóathời đại Đồng ở Việt Nam và Thái Lan Những kết quả đó khẳng định tínhchất bản địa của nghề đúc đồng và cũng cho thấy niên điểm bắt đầu của thời

đại kim khí không muộn màng, khoanh lại trong năm thế kỉ trớc CôngNguyên, quá sớm (tới 3 – 2006 4 nghìn năm trớc Công Nguyên) nh ngời ta nghỉ tr-

ớc đây Thời kì này đợc bắt đầu từ khoảng đầu thiên kỉ II trớc Công Nguyên ở

đồng bằng Sông Hồng (Việt Nam) và Thái Lan

Đông Nam á hầu nh không có một giai đoạn đồng đá riêng biệt, đồngthau đợc sử dụng ngay từ đầu với mức độ hạn chế, bên cạnh gỗ, đá Tình trạngkhông sẵn đồng và điều kiện tự nhiên ở đây khiến cho thời kì đồng không thểxuất hiện sớm hơn và công cụ đồng cũng không thể phát huy đợc tác dụngtrên một địa bàn đa dạng Cho nên trong khoảng hai thiên niên kỉ cuối trớc

Trang 10

công nguyên, chỉ có c dân đồng bằng Sông Hồng (Việt Nam) là sớm phát triểnnghề đúc đồng, phát huy đợc tác dụng của kim loại này và có điều kiện tiếnnhanh hơn trên quy trình hình thành xã hội có giai cấp và nhà nớc Khoảngnăm thế kỉ cuối trớc Công nguyên, với giai đoạn Đông Sơn – 2006 giai đoạn đồngthau cực thịnh, bớc đầu của sắt – 2006 sự hoạt động của nhà nớc và xã hội có giaicấp của ngời Việt đã có những biểu hiện rõ ràng Trong khi đó, một số vùng

Đông Nam á mới bắt đầu bớc vào giai đoạn phát triển của đồ đồng và vẫn ởtrong thời tiền sử, còn một số vùng khác vẫn cha có dấu hiệu của sự phát triểncao hơn

Nh thế, trong thời đại Đồng, các vùng khác nhau ở Đông Nam á pháttriển không đồng đều, thể hiện khá rõ nét những đặc trng của từng vùng vànhìn chung tốc độ tiến bộ đã chậm lại đáng kể so với những khu vực tiên tiếntrên thế giới (đặc biệt trong thiên kỷ I trớc công nguyên)

Vào những thế kỷ tiếp giáp của công nguyên, trên cơ sở phát triển của

đồ đồng, đồ sắt bắt đầu đợc sử dụng phổ biến ở Đông Nam á nói chung (trừ

c dân đồng bằng sông Hồng đã phát triển sớm hơn) bắt đầu đứng trớc ngỡngcửa của sự hình thành xã hội có giai cấp và nhà nớc Nếu nh đồ đồng cha thể

đem lại hiệu quả đáng kể với quy mô rộng, trên địa bàn đa dạng của ĐôngNam á thì đồ sắt đã có thể làm đợc điều đó Cũng không phải ngẫu nhiên màvới đồ sắt, Đông Nam á đã lấy lại đợc nhịp độ phát triển của mình trong hơnmột thiên kỷ của công nguyên mặc dù vẫn có không ít khó khăn

Từ khoảng đầu công nguyên đến thế kỷ VII là giai đoạn lịch sử sơ kì củacác nớc ở khu vực Đông Nam á Trong giai đoạn này, một thời gian khá dàisau nhà nớc Văn Lang - Âu Lạc, sự phát triển của đồ đồng và bớc đầu của đồsắt mới tạo điều kiện cho sự ra đời của hàng loạt quốc gia của những c dân nóitiếng Nam đảo hình thành rải rác ở vùng ven biển từ phía nam Hải Vân (ViệtNam) đến bán đảo Malaixia ở trên một số hải đảo: còn các tiểu quốc củanhững c dân nói tiếng Môn – 2006 Khơ me hình thành trên lu vực sông Iraoađi,Mênam, Sêmun, Mêkông Trong các nớc này lại nổi bật lên nớc Phù Nam vớivai trò của c dân nói tiếng Nam đảo kết hợp với c dân bản địa – 2006 ngời Mông

Cổ Nét nổi bật trớc tiên của các quốc gia sơ kì Đông Nam á là sự sáng tạocủa các nhóm tộc ngời trong việc xây dựng nhà nớc của mình, dựa trên sự pháttriển của đồ sắt và nền văn hóa bản địa

Sự hình thành các quốc gia này còn gắn liền với việc tiếp thu ảnh hởngcủa văn hóa ấn Độ và Trung Quốc là những trung tâm văn hóa lớn ở liền bên

Trang 11

cạnh Sau nữa, giữa các tiểu quốc với nhau vẫn thờng xuyên có mối liên hệ,trao đổi văn hóa và sản phẩm, đồng thời vẫn phát triển bản sắc văn hóa riêngcủa mỗi tiểu quốc, mỗi tộc ngời.

Trên bán đảo Mãlai, các vơng quốc cổ đã xuất hiện từ khoảng thế kỷ II– 2006 III Đó là các nớc Kêda hay còn gọi là Katahe ở vùng Keđắc, nớcTabralinga và nớc Tumasic ở địa điểm Xingapo ngày nay Cuối cùng trên đảoGiava, từ thế kỷ IV đã xuất hiện vơng quốc Taruma ở phía Tây Tại đây ngời

ta đã tìm đợc những trụ đá và một số tợng phật có niên đại rất sớm thuộcphong cách tợng Amaravati của ấn Độ Đặc biệt ngời ta còn tìm đợc một sốbản chữ Phạn cho biết tên ông vua đầu tiên của Turama là Punavarman, trị vìvào khoảng năm 450 Taruma đã có quan hệ buôn bán với nhiều nớc, trong đóchủ yếu là ấn Độ và Trung Quốc Tân đờng th cho biết vơng quốc Taruma đãtồn tại và quan hệ với Trung Quốc cho mãi tới thế kỷ VII Cùng thời gian này,

ở đảo Xumatơra cùng tồn tại một quốc gia khác, mà Lơng th gọi là Cantôlicòn vùng Giămbi thuộc hạ lu sông Hari ngày nay lại hình thành một vơngquốc khác có tên là Malayu Nhng hiện nay ngời ta cũng không biết gì chỉ tiếchơn về quốc gia này

Trong số hàng chục tiểu quốc đã xuất hiện ở Đông Nam á trong khoảng

từ thế kỷ I đến thế kỷ VII, nổi bật lên nớc Phù Nam với vai trò tiếp thu vàtruyền bá văn hóa ấn Độ Về vị trí của Phù Nam, Lơng th (sử nhà Lơng) chép

nh sau: “Nớc Phù Nam ở phía Nam quận Nhật Nam, trong một vịnh lớn, ởphía Tây biển Nớc cách Nhật Nam chừng 7000 lý và cách Lâm ấp (tứcChampa) hơn 3000 lý về phía Tây Nam Đô thành cách biển 500 lý Một consông lớn từ Tây Bắc chảy về phía Đông và đổ ra biển Nớc rộng hơn 300 lý,

đất thấp và bằng phẳng, khí hậu, phong tục đại để giống Lâm ấp” Nhữngthông báo mơ hồ của th tịch cổ đã làm cho nhiều ngời đoán định rất khác nhau

về phạn vi lãnh thổ của Phù Nam Theo giáo s Lơng Ninh “Lãnh thổ thuộcquyền cai quản của vơng quốc Phù Nam, phía Nam giáp vịnh Thái Lan, phíaBắc có lẽ giới hạn bởi sông Mun (chảy qua Ubon, Thái Lan), phía Đông giápbiển và phía Tây có lẽ bao gồm hạ lu sông Mê Nam và một phần Bắc bán đảoMãlai” [22; 224] Khi nghiên cứu về Phù Nam, nhiều học giả cho rằng chủnhân của vơng quốc này là của dân gốc Đông Nam á nói tiếng Nam Đảo Họ

đã xây dựng vơng quốc của mình tồn tại hơn 5 thế kỷ và có lúc chinh phục

đ-ợc hầu hết các tiểu quốc ở phía Nam bán đảo Trung, ấn

Trang 12

Nhng nớc Phù Nam không phải là một quốc gia thống nhất chặt chẽ với

đúng nghĩa của nó Trong đó có thể bao gồm nhiều tiểu quốc phụ thuộc vớinhiều mức độ khác nhau Nhờ những điều kiện sinh sống thuận lợi và nhờ tiếpxúc với văn minh ấn Độ qua vai trò xúc tác của Phù Nam, các tiểu vơng quốcnày đã dần dần mạnh lên Phù Nam khủng hoảng vào thế kỷ VI, lãnh thổ rộnglớn của nó “mọc” lên hàng loạt vơng quốc độc lập khác Quá trình này từkhoảng thế kỷ VII đến thế kỷ X Đó là giai đoạn các nớc nhỏ hình thành theo

địa vực tự nhiên hợp nhất lại, lấy một tộc đa số và phát triển nhất làm nòngcốt, hình thành nên các quốc gia “dân tộc”, làm đà cho sự phát triển cờngthịnh vào giai đoạn sau

Trong khi Phù Nam khủng hoảng thì Chân Lạp ở khu vực Sêmun đãmạnh lên, đem quân đánh bại Phù Nam (khoảng 580 – 2006 640) và chinh phụclại vơng quốc Bia Baksei chamkrông (Campuchia) dựng năm 948 xác nhận:

“đức vua Srutavarman hãnh diện vì đã khởi đầu việc phá bỏ cống nạp” Vơngquốc mới này đợc thủ tịch cổ Trung Hoa gọi là Chen La – 2006 tức Chân Lạp.Theo tùy th, Chân Lạp “nằm ở phía Tây Lâm ấp vốn là thuộc quốc của PhùNam Vua có họ là Kshatrya, tên là Chitrasena Các vua tiền bối đã làm chonớc lớn mạnh Chitrasena đã chiếm và bắt Phù Nam thuần phục”

ở đảo Xumatơra, đến cuối thế kỷ VIII đã thành lập vơng quốc XriVijaya, bao gồm các vùng đông đảo Sumatơra và Bangka Đến thế kỷ VIII XriVijaya đã bành trớng hết phần Tây Sumatơra, sang cả Mã Lai, đến tận Ligô(Bắc Mã Lai), nơi tìm thấy bia; đánh chiếm vơng quốc Taruma ở Tây Giava Trên đảo Giava hình thành quốc gia Kalinga ở vùng đông bằng Kêđu màtrung tâm của nó có lẽ ở khoảng Giôgiacacta ngày nay Thế kỷ VIII Kalingachinh phục đảo Pali và cả Campuchia

ở những vùng khác, một số quốc gia tiếp tục phát triển và ngày càngmạnh lên nh Đại Việt, Chămpa đây là thời kì tích lũy của các quốc gia dântộc Mặc dù mới là bớc đầu, một số quốc gia này đã tạo nên những kì tích vănhóa tổng thể kiến trúc Bôrôbuđua ở Giava

1.2 Thời kỳ phát triển các quốc gia Đông Nam á thế kỷ X - XV

Đây là, giai đoạn xác lập và phát triển thịnh đạt của các vơng quốc “dântộc” lấy một bộ tộc đông và phát triển nhất làm nòng cốt

Giai đoạn này đã trải qua một khoảng thời gian có tính chất chuyển tiếp

từ thế kỷ VII đến thế X Trong đó có sự hình thành mới của một số quốc giasơ kì, sau sự tan vỡ của vơng quốc Phù Nam (nh Xri Vijaya, Kalinga,

Trang 13

Campuchia, các quốc gia Môn và Miến) và trong đó mặc dù mới là bớc đầu,một số quốc gia này đã tạo nên những kỳ tích văn hóa nh tổng thể kiến trúcBôrôbuđu ở Giava

Trong giai đoạn này, nếu nh ở ấn Độ thờng xuyên có những biến độngbên trong và sự lan tỏa văn hóa bên ngoài đã giảm hẳn xuống, nếu nh TrungQuốc phải trải qua những cơn khủng hoảng và suy thoái từ cuối thời nhà Tống

đến nhà Nguyên, còn Châu Âu bị chìm đắm trong chế độ phong kiến phân tán

và lạc hậu, thế giới bị xáo động dới “dấu hiệu của ngời Mông Cổ” trong phầnlớn thế kỷ XIII, thì Đông Nam á nói chung đã đứng vững và vơn tới đỉnh caophát triển của mình và có lẽ, của cả loài ngời Phần lớn những công trình vănhóa và nghệ thuật, những nhà văn hóa – 2006 t tởng, những chiến lợc gia kiệt xuấtnhất của loài ngời trong những thế kỷ này đã có mặt trên quê hơng của mình

là Đông nam á

Đây cũng là giai đoạn định hình văn hóa dân tộc của mỗi nớc trong khuvực Sau một quá trình tiếp thu và chọn lọc, trên cơ sở đó đã đóng góp vào khotàng văn hóa của loài ngời những giá trị tinh thần độc đáo và đáng kể

Một số tác giả cũng đã nói tới sự lan tỏa của văn hóa một số dân tộc

Đông Nam á ra bên ngoài Điều này có thể có, tuy không phải là dễ thấy đợcnhững yếu tố văn hóa của một cộng đồng ngời nhỏ hơn đã in dấu vết nh thếnào vào những cộng đồng ngời lớn hơn ở ngoài Đông Nam á Vì thế vấn đềnày còn đợc nghiên cứu Đây còn là giai đoạn phát triển thịnh vợng của nềnkinh tế khu vực, hình thành những vùng kinh tế quan trọng, có khả năng cungcấp một khối lợng lớn thóc lúa, cá , sản phẩm thủ công (vải, hàng sơn, đồ sứ,thuốc nhuộm, chế phẩm kim khí) và nhất là những sản vật thiên nhiên (cácloại gỗ quý, hơng liệu, gia vị, đá quý, ngọc trai, sừng tê, cánh kiến, thiếc ) Đã có một thời, lái buôn của nhiều nớc trên thế giới đổ xô đến đây buôn bán,mang sản vật Đông Nam á về nớc họ hay đến những nơi khác xa xôi hơn Trong giai đoạn này, trên đờng xác lập vơng quốc “dân tộc” ngời đều cốgắng khẳng định chỗ đứng của mình, nên đã không thể tránh khỏi những cuộcxung đột, va chạm (đôi khi quyết liệt) Một số nhà sử học trớc đây có thể đãnói hơi quá khi gọi một số nớc này hay nớc khác là đế quốc, kể cả những vơngquốc đợc xác lập đều là những quốc gia có nòng cốt là những bộ tộc tơng đối

đông đúc, một nền kinh tế vững chắc và một nền văn hóa dân tộc đã hìnhthành

Trang 14

ở đây, có điều đáng chú ý là ngời Môn đã không thể đứng vững để lập

v-ơng quốc riêng trong “cơn bão táp thiên di và đồng hóa” của ngời Thái và

ng-ời Miến từ phơng Bắc xuống Những ngng-ời nói tiếng Mã Lai - đa đảo trongthời trung đại là những ngời rất linh hoạt dễ làm ăn sinh sống, dễ chuyển hóa

Có lẽ vì thế mà không ở đâu trong khu vực Đông Nam á, họ có thể lập nênnhững quốc gia riêng, bền vững Họ đã lập vơng quốc cổ Chămpa trong hơnmời thể kỷ, nhng đến cuối giai đoạn này đã chuyển hóa thành một bộ phậncủa nớc Việt Nam Họ sống tập trung ở bán đảo Malayxia, nhng chính ở đâylại gần nh cha lúc nào lập đợc một vơng quốc thống nhất riêng Chỉ đến cuốigiai đoạn này, gần gói gọn trong thế kỷ XV, họ mới lập nên cái mà nhà sử họcthời trớc gọi là “Đế quốc Malăcca” nhng thực ra cũng chỉ trong phạm vikhông lớn, bao gồm bán đảo Malaya và một phần nhỏ Xumatơra, dới sự xúctác của những nhân tố hoàn toàn mới là văn minh hồi giáo và quý tộc mangtrong mình cả tham vọng cùng dòng máu của thơng nhân Trung Hoa và mộtvài nớc khác

Những ngời nói tiếng Mã Lai - Đa đảo đã làm nòng cốt xây dựng mộtquốc gia sơ kì trên các đảo Inđônêxia, nhng rồi cũng nhanh chóng pha trộnvới những yếu tố khác lập thành những nớc riêng biệt

Từ đầu cho đến giai đoạn này, Đông Nam á không đứng ngoài con đờngphát triển chung của thế giới – 2006 con đờng hình thành và phát triển chế độphong kiến phơng Đông, song sự phát triển của Đông Nam á vẫn mang nhữngnét riêng độc đáo: từ những điều kiện tự nhiên và kinh tế của mình, ĐôngNam á tồn tại nh một khu vực riêng, trong đó diễn ra quá trình hình thành cácvơng quốc phong kiến, cố gắng đứng ngoài sự cô lập buồn tẻ của Châu Âu:những xáo trộn trong đế quốc Trung Hoa, sự xâm lợc của ngời Mông Cổ vànhà Nguyên, cũng nh cả những biến động trong đời sống chính trị của ấn Độ.Cũng chính vì thế mà nó vơn tới đỉnh cao của nó và của cả nhân loại trongmột giai đoạn đáng quý, nhng cũng là một giai đoạn hiếm hoi cho đến nay,

mà thiên nhiên, trình độ kỹ thuật và tình hình xã hội đã quy tụ cho nó [ ;263]

Nhiều nhà nghiên cứu đã coi thế kỉ X là thế kỉ bản lề trong quá trìnhphát triển lịch sử của các nớc Đông Nam á Thế kỉ X ở Việt Nam đợc mở ravới họ Khúc, đợc định hình chắc chắn với Ngô Quyền và đợc hoàn thành với

Lê Hoàn Đó là sự kết thúc của một thời kì - thời Bắc thuộc và mở đầu chomột thời kì mới – 2006 thời đại độc lập dân tộc, phục hng dân tộc, phục hng văn

Trang 15

hóa Việt Thế kỉ X làm nhiệm vụ lịch sử kết thúc chặng đờng dài gian khổnghìn năm chống Bắc thuộc về chính trị – 2006 quân sự và tái cấu trúc nền vănminh Đại Việt với những “mảnh vụn” của nền văn minh Việt Cổ và nhữngnhân tố ngoại sinh, ảnh hởng của Trung Hoa, ấn Độ nó mở đầu cho một thời

đại của các triều đại Lý, Trần, Lê, oanh liệt một thời, không chỉ sánh nganghàng với Tống, Nguyên, Minh ở Trung Quốc mà với cả những quốc gia hùngmạnh nhất trên thế giới lúc bấy giờ

ở bán đảo Trung ấn, ngoài quốc gia Đại Việt, vơng quốc Chămpa bớcvào giai đoạn phát triển thịnh đạt dới vơng triều Indrapura (Đông Dơng – 2006giữa thế kỉ IX – 2006 cuối thế kỉ X) Sự phát triển thịnh đạt của vơng triều này đợcbiểu hiện trớc hết ở sự “giàu có” của nền kinh tế và sự tăng cờng quyền lựccủa vơng quyền Từ lâu lãnh thổ của vơng quốc Chămpa xa – 2006 miền trung vànam trung bộ Việt Nam đã nổi tiếng giàu có: “Nớc đó có núi vàng, đá đềumàu đỏ, trong đó sinh ra vàng Vàng ban đêm bay ra giống nh đom đóm” Một tấm bia – 2006 bia Pô Naga cũng miêu tả vua Vikarautavarman (khoảng

820 – 2006 854) đeo những dây vàng có đính ngọc trai và ngọc bích giống nh mặttrời trăng tròn đầy đặn ,che một chiếc lọng trắng bao phủ cả 4 phơng trời việctăng cờng quyền lực của nhà vua và chính quyền trung ơng tập quyền có lẽ đ-

ợc dựa trên một lực lợng quân sự khá hùng mạnh Chính vì thế, ngay tronggiai đoạn này, cựu đờng th cũng đã ghi nhận có ba lần Chămpa tấn công phủ

đô hộ An Nam vào các năm 861; 865 và sau đó, vào khoảng năm 889; 890 khivua Chân Lạp là Yasôvarmam đem quân đánh Chămpa không những đã đẩylùi mà còn truy kích gây thiệt hại nặng nề cho quân Chân Lạp rồi mới rút về Nhà nớc Campuchia từ thế kỷ IX cũng bắt đầu bớc vào thời kì Ăngko(802 – 2006 1434) huy hoàng và trở thành một trong những vơng quốc mạnh vàham chiến trận nhất trong khu vực Dới thời Jayavarman VII (1181 – 2006 1201)quân Campuchia đã tiến đánh Chămpa (1190) và biến vơng quốc thành mộttỉnh của Ăngko, sau đó lại tiến hành thu phục vùng trung và hạ lu Mê Nam,tiến tới phía Bắc cao nguyên Cò Dạt, đến tận Say Phong (gần Viên Chăn) ởthợng Mê Nam Jayavarman VII đã tiến đánh và thu phục địa bàn của vơngquốc Môn – 2006 Hazipunjaya, tiến tới sát biên giới Myanma về phía Nam; lãnhthổ của Campuchia đã đợc mở rộng tới miền Bắc bán đảo Mã Lai Thực hiệnchính sách mở rộng quyền lực ra bên ngoài, Jayavarman VII đã đạt đợc mức

độ rộng lớn hơn tất cả các vơng triều trớc

Trang 16

Trên khu vực sông Iraoađi từ thế kỷ IX, ngời Miến đã tụ c khá đông ởngã ba sông, nơi sông Chilwin đổ vào Iraoađi và lập nên vơng quốc Pa Gan.Năm 1053, vua Anôratha của Pa Gan đem quân chinh phục PêGu và Tha Tơnlàm chủ hoàn toàn miền Nam Sau đó ông lại tiến lên phía Bắc, chinh phục cáctiểu quốc khác của Miến Điện và ngời Shan, lãnh thổ đã căn bản bao gồm luvực ba sông Vơng quốc Pa Gan bớc vào giai đoạn cờng thịnh cho đến năm

1283 khi quân xâm lợc nhà Nguyên kéo đến tàn phá

Thế kỷ XIII là thời kì vơng quốc Pagan phát triển cả về lãnh thổ và vềkinh tế – 2006 xã hội Trong thời gian này bộ luật đầu tiên ở Miến Điện đã đợcsoạn thảo Bộ máy hành chính và nền tảng t tởng của nó đã đợc hình thành vàcủng cố Hệ thống cân đo đợc ban hành Nền kinh tế nông nghiệp ở Pagan đãkhá phát triển Các văn bia nói nhiều về hệ thống thủy lợi nh xây dựng các hồchứa và đập nớc, đặc biệt là công trình hồ chứa nớc Mraka trên núi Tiuin mà

di tích của nó vẫn còn lại đến ngày nay với cả th viện bằng đá trên bờ hồ Cũng trong thời kì Pagan, một nền văn hóa dân tộc đã đợc hình thành.Những ngôi chùa tháp đầu tiên đợc trang trí các bức họa nổi (phù điêu) đã đợcxây dựng, Hiện nay, ngời ta còn thấy 5000 ngôi chùa lớn nhỏ nằm rải rác dọctheo hai bờ sông Iraoađi

Vào thế kỉ XII, Pagan đã trở thành một trung tâm phật giáo nổi tiếng.Các văn bia ở Prômô cho biết vua Tuyluynman rất hào phóng trong việc bantặng các tu sĩ Ông còn cho biên dịch kinh Tam Tạng và gửi tiền, thợ giỏi vànguyên vật liệu sang ấn Độ để góp phần khôi phục trung tâm phật giáoBốtgaia

ở khu vực Đông Nam á hải đảo, từ năm 907, Kalinga đợc gọi theo tênmới là Mataram Dới triều vua Erơlanga, Mataram phát triển cực thịnh, thốngnhất cả hai đảo Xumatơra và Giava Sau khi đánh thắng quân Nguyên, vuaVijaya (1293 – 2006 1309) chuyển kinh đô về Môgiôpahít, lập nên vơng triềuMôgiôpahít ở Inđônêxia với lãnh thổ rộng lớn bao gồm đảo Giava, Xumatơra,phần lớn Kalinmantan, đảo Sulavêri, bán đảo Mã Lai và quần đảo Môlucu “cósản phẩm quý, đứng hàng thứ hai sau ARập”

Êrơlanga đợc coi là ngời đặt cơ sở đầu tiên cho sự thống nhất Inđônêxia,

là ngời tiêu biểu cho sự khôi phục và sự phồn thịnh của quốc gia này Sau khitiến hành hàng loạt các cuộc chinh phạt và củng cố chính quyền, ông đã loxây dựng nền kinh tế của đất nớc Trớc hết, nhà vua rất chú trọng tới nôngnghiệp Một nguồn tài liệu cho biết, khi nhà vua lập viện Pusangan trong dịp

Trang 17

mừng chiến thắng vào năm 1041 có ban tặng, khen nhiều “làng” Điều đóchứng tỏ rằng việc thu thuế của các nông dân công xã là nguồn cung cấp quantrọng cho nhu cầu của tu viện và cả các cơ quan nhà nớc

Ngành ngoại thơng cũng có một vai trò quan trọng trong nền kinh tế củavơng quốc Các văn bia thời đó cho biết những nơi có quan hệ thơng mại vớiInđônêxia nh ấn Độ, Chămpa, Mã Lai, Miến Điện và ngời Khơme trở thànhmột hải cảng quan trọng Các lái buôn Arập, ấn Độ tấp nập mang đến vải, sắt,

để đổi lấy đinh hơng, đậu khấu, hồ tiêu Ngời Giava cũng là những lái buônnổi tiếng sành sỏi, đã từng vợt biển đi buôn bán ở nhiều nơi Theo một nguồn

tài liệu thời Tống (Lĩnh ngoại đại đáp đã dẫn ở trên) thì “bấy giờ hàng quý giá

của Giava chiếm hàng thứ hai sau Arập còn Palembang đứng thứ ba” Trong

Việt sử thông giám cơng mục cũng có ghi thời Lý Anh Tông (1149) nhiều

thuyền Giava đến buôn bán ở Hải Đông và lập thơng điếm ở Vân Đồn

Trong chính sách đối ngoại, các vua Inđônêxia thời kì này một mặt tăngcờng mở rộng lãnh thổ, mặt khác mở rộng quan hệ buôn bán và hữu hảo vớicác nớc láng giềng Để giữ tình hòa hiếu với Sri Vijaya, Êrơlanga đã kết hônvới công chúa của nớc này Theo một số nguồn tài liệu, vào đâu thế kỷ XIIISri Vijaya có tới 15 nớc thuần phục, còn Giava có tới 14 quốc gia và đảo phụthuộc

Sự thịnh vợng của Inđônêxia trong những thế kỉ này còn đợc biểu hiệncủa sự phát triển rực rỡ của nền văn hóa dân tộc, khác với thời kì đầu xâydựng vơng quốc là thời kì Inđônêxia tiếp thu mạnh mẽ ảnh hởng của văn hóa

ấn Độ Chính trong thời kì này, một bộ luật cổ Giava có tên là Sivasaxana dovua Êrơlanga xây dựng nên đã đợc ban hành Năm 1035 nhà thơ Kanva đã viếtbằng chữ Giava một tác phẩm ca tụng cuộc hôn nhân của Êrơlanga với nàngcông chúa Xumatơra Đến thế kỉ XII đã xuất hiện những nhà thơ lớn củaInđônêxia nh Triguna viết sử thi Crisnadana, Seda sáng tác tập Bharatayudha

và Panulu viết Harivamsa – 2006 là những tập thơ nổi tiếng viết bằng chữ Giava

mà đề tài lấy từ những sử thi ấn Độ Nổi bật nhất trong thế kỉ XIV là bộ sử thiNagarakritagama của nhà thơ kiêm nhà sử học Prapancha Nó là nguồn sử liệuquý giá giúp chúng ta tìm hiểu về tình hình nội trị và ngoại giao củaMôgiôpahit vào nửa sau của thế kỉ này

Sự lớn mạnh của các quốc gia Đông Nam á giai đoạn này đã đợc thửthách vững vàng trong cuộc kháng chiến chống làn sóng xâm lăng của quânMông Cổ

Trang 18

Sau khi tung vó ngựa đi xâm chiếm nhiều nơi ở Châu á, Châu Âu, năm

1258, một cánh quân Mông Cổ đã đợc lệnh từ Đại Lý đánh thẳng xuống ĐạiViệt, rồi từ đó đánh vào Châu Ung, Châu Quế, tiến lên gặp các cánh quân phíabắc ở Châu Ngạc làm thành những gọng kìm hòng tiêu diệt nhà Tống Đó làcuộc kháng chiến lần thứ nhất của quân dân Đại Việt chống quân xâm lợc nhàNguyên Sau đó vào các năm 1285 và 1287, ngà Nguyên đã hai lần cất quân

đánh Đại Việt, nhng cả ba lần đều bị quân dân Đại Việt đánh cho đại bại Balần đánh thắng quân Nguyên của nhà Trần không chỉ nói lên sức mạnh của

Đại Việt mà còn góp phần bẻ gãy một gọng kìm của quân Nguyên đánhxuống Đông Nam á, làm nhụt ý chí của quân xâm lợc và khích lệ các dân tộckhác quyết chiến đấu trong lực lợng không cân sức ý nghĩa đó của chiếnthắng đợc thể hiện rõ nhất khi quân Mông Cổ buộc phải từ bỏ hẳn kế hoạchtấn công lần thứ ba sang Nhật Bản để “chuyên vào việc Giao Chỉ” và khichúng buộc phải rút khỏi Inđônêxia sau khi đã chiếm đóng đất nớc này mộtnăm

ở Inđônêxia ngay từ năm 1279, nhà Nguyên đã phái sứ thần đến đòivua Kritanagara phải cử một ngời trong hoàng tộc đến Bắc Kinh triều kiến.Sau đó vào năm 1289, nhà Nguyên lại phái sứ thần của mình đến Inđônêxialần thứ hai Nhng cả hai lần đều bị vua Kritanagara cự tuyệt Vì thế cuối năm

1292, Hốt Tất Liệt đã phái hai vạn quân sang đánh Inđônêxia để “ trừng phạt” Đúng lúc đó trong triều đình Inđônêxia đang có xung đột, tranh cớpngôi báu (Kritanagara bị một kẻ trong hoàng tộc giết chết để cớp ngôi), nênkhi quân Nguyên đổ bộ lên đảo Giava thủy quân Giava đã không chống cựnổi Quân Nguyên chiếm đợc Môgiôpahit Nhng sau ba lần đại bại ở ViệtNam quân Nguyên đã bị tiêu hao và nhụt ý chí Mặt khác Inđônêxia lại ở xa,xung quanh có biển bao bọc, quân Nguyên gặp nhiều khó khăn trong vậnchuyển binh sĩ, lơng thực và không phát huy đợc sở trờng của mình, lại gặpphải sức kháng cự quyết liệt của nhân dân Inđônêxia Vì thế, một năm sau,chúng buộc phải rút về nớc mà không đạt đợc kết quả nào đáng kể

Để tạo một gọng kìm tấn công Đại Việt từ phía nam, năm 1282, HốtTất Liệt đã sai Toa Đô tấn công Chiêm thành Tháng 2 – 20061283, quân Nguyênchia làm ba mũi tiến về phía thành gỗ của Chiêm thành Giặc vừa tới, quânChiêm thành liền mở cửa nam thành gỗ ra nghêng chiến Cờ trơng, trống thúc,mấy chục voi và hơn vạn ngời hùng dũng xuất trận Suốt hai năm trời quânNguyên vấp phải sức kháng cự quyết kiệt của quân dân Chiêm thành Vì thế,

Trang 19

Toa Đô đành phải đóng quân ở bờ biển Quy Nhơn để chờ viện binh Sau đóhắn lại phải lui quân ra phía bắc đánh vào vùng hồ Đại Lãng (thuộc ThừaThiên ngày nay) ở đây, Toa Đô đã sai đẵn gỗ, vỡ ruộng cày cấy để tự cấp lơngthực, âm mu đóng chốt lâu dài ở vùng này để chờ quân cứu viện của Ô MãNhi cũng bị tan tác vì bão biển Thế là âm mu xâm lợc Chiêmthành khôngnhững đã bẻ gãy gọng kìm phía nam tấn công vào Đại Việt mà còn phá tan âm

mu của Hốt Tất Liệt dùng Chiêm thành làm bàn đạp tấn công các nớc ĐôngNam á khác

Đồng thời với cuộc xâm lợc Chiêm thành, quân Mông Cổ đã thăm dò,xây dựng kế hoạch đánh vào Campuchia Nhà Nguyên cử hai viên quan võ

đến đây để thăm dò, theo dõi tình hình và có lẽ đã dọa dẫm để bắt vuaCampuchia phải thuần phục Nhng lúc này vơng quốc chùa tháp đang ổn định,hơn nữa quân Nguyên đã hai lần đại bại trong việc đánh Đại Việt, khả năng uyhiếp trực tiếp còn xa, khiến cho vua Campuchia có thể có thái độ cứng rắn Vìthế, hai viên quan võ đi mà không về Sử sách để lại không nói gì nhiều vềcuộc xâm lợc của Mông Cổ vào Campuchia, nhng chúng ta đều biết rằng độiquân xâm lợc này đã bị tiêu diệt và bắt sống khá nhiều Tuy nhiên, Campuchia

đã không nhân thắng lợi này giữ vững độc lập mà lại quay lại cống nạp chonhà Nguyên Và cuộc xâm lợc của Mông Cổ vào Campuchia đã trở thành mộttrong những nhân tố quan trọng đẩy đế quốc Ăngco nhanh chóng đi vào giai

đoạn suy tàn

Nớc duy nhất ở Đông Nam á mà quân Mông cổ đặt đợc ách đô hộ củamình là Miến Điện Lấy cớ là Pagan đã giết sứ thần của mình, lần đầu tiên,năm 1277, nhà nguyên đã phái 12000 quân xuống tấn công Pagan Quân Miến

Điện đại bại Thừa cơ, ngời Môn ở miền Nam lại nổi dậy Arakan cũng tuyên

bố tách khỏi Pagan Năm 1283 quân Nguuyên tấn công Miến Điện lần thứ hai.Quân Miến Điện lại thua trận Vua Narathihapatê phải bỏ chạy xuống miềnNam, sau đó năm 1285, ông phải cho sứ thần sang nhà Nguyên xin thuần phục

và triều cống Quân Nguyên vào Pagan kinh thành bị đốt cháy, mọi của cảivàng bạc trong các đền chùa bị dỡ sạch mang về Trung Quốc Nhiều côngtrình kiến trúc bị tàn phá Pagan – 2006 một thành phố đã một thời rực sáng cả góctrời Đông Nam á ấy bị biến thành một phế tích Sau khi chiếm đợc Pagan, nhàNguyên chỉ để lại một bộ phận để cai trị, còn đại quân rút về nớc Vơng quốcPagan thống nhất bị phân chia thành nhiều tiểu quốc đối địch nhau Miến

Điện bớc vào một thời kì phân liệt kéo dài

Trang 20

Nhìn lại, ta có thể nói, quân Nguyên đã hoàn toàn không thực hiện đợc ý

định của mình ở Đông Nam á Chính sự liên minh hợp lực trong khu vực,trong đó có vai trò đặc biệt của Đại Việt đã chiến thắng giặc Nguyên

Mặt khác, cuộc xăm lăng của quân Mông Cổ xuống Đông Nam á cũng

đã tạo nên những “xáo động” nhất định trong khu vực Trớc hết do bị dồn đẩy,một bộ phận ngời Thái vốn sinh sống ở thợng nguồn sông Mê Kông đã dần dichuyển xuống phía Nam, định c ở lu vực sông Mê Nam và lập nên những vơngquốc đầu tiên của họ Năm 1292, bộ lạc ngời Thái ở Chiềng ray đã lập vơngquốc Lanna với kinh đô ở Chiềng Mai Một nhánh khác sống quần tụ ở Lavô(hay Lôburi) lập vơng quốc riêng mà th tịch cổ Trung Hoa gọi là nớc La Hộc.Một bộ phận ngời Thái khác đông hơn đã lập nên vơng quốc Sukhothay Năm

1347, Thái Lavô chuyển kinh đô xuống Ayuthaya, nên từ đó gọi là vơng quốcAyuthaya Năm 1349 Ayuthaya đem quân uy hiếp và bắt Sukhothay phảithuần phục Từ đó Ayuthaya trở thành một quốc gia thống nhất và đồng thời làmột giai đoạn phát triển thịnh vợng của chế độ phong kiến Thái cho đến năm

1767 thì đợc đổi thành vơng quốc Xiêm

Một bộ phận khác của ngời Thái thì định c ở vùng trung lu sông MêKông, hòa nhập với c dân bản địa ở đây, lập nên vơng quốc Lanxang (1353).Thế trong giai đoạn từ thế hỷ X đến XV ở khu vực Nam á, ngoài những quốcgia đã đợc hình thành trớc và lúc này đang phát triển thịnh vợng, còn xuấthiện thêm hai vơng quốc mới là Ayuthaya của ngời Thái và Lanxang của ngờiLào

Nh thế đến thế kỷ XV, hầu hết các quốc gia Đông Nam á đã đợc hìnhthành và phát triển ổn định Mặc dù trên đờng xác lập vơng quốc “dân tộc”,mỗi tộc ngời đều cố gắng khẳng định chỗ đứng của mình nên không thể tránhkhỏi những cuộc xung đột va chạm, đôi khi quyết liệt, mặc dù các quốc gia

đều phát triển theo con đờng chung của chế độ phong kiến kiểu Phơng Đông,nhng cuối cùng mỗi vơng quốc đợc xác lập đều là một quốc gia có nòng cốt làmột tộc đa số, một nền kinh tế vững chắc và một nền văn hóa dân tộc đã đợchình thành

Có thể đã hơi quá khi có nhà sử học trớc đây gọi một số nớc này hay nớckhác đã hình thành ở Đông Nam á thời Trung đại là đế quốc Xong sự hngthịnh của nớc Đại Việt ở Việt Nam, thời Ăngco của Campuchia, vơng triềuMôgiôpahít ở Inđônêxia có thể sánh ngang hàng với những quốc gia hùngmạnh nhất lúc bấy giờ [ ; 39]

Trang 21

1.3 Thời kì suy thoái của các quốc gia Đông Nam á thế kỉ XV đến XIX

Sau thế kỉ XV, nói chung, các quốc gia Đông Nam á bắt đầu đi vào thờikì suy thoái Tất nhiên tùy thuộc vào tình hình cụ thể của từng nớc mà thờigian và mức độ suy thoái của mỗi nớc không hoàn toàn nh nhau Trên bán đảoTrung ấn, theo trình tự thời gian, Campuchia bớc vào thời kì suy thoái sớmnhất (khoảng thế kỉ XIII), sau đó đến Chămpa (thế kỉ XV), tiếp theo là ViệtNam, Miến Điện và cuối cùng mới là Xiêm và Lan Xang

Ngay từ thế kỉ XIII, Campuchia đã mất dần một số lãnh thổ phụ thuộc ởbên ngoài Năm 1220, quân Campuchia rút khỏi Chămpa, chấm dứt hơn 30năm đánh chiếm nớc này Từ thế kỉ XV, Campuchia thực sự bớc vào thời kìsuy thoái mà sự kiện lịch sử đợc đánh dấu chính là cái chết của vị hoàng đếcuối cùng của vơng triều III năm 1336 – 2006 cái chết do Tachay, một ngời trồng

da, gây ra “Nguyên nhân sâu xa của quá trình này chính là sự suy thoái từ bêntrong – 2006 sự suy thoái về kinh tế, xã hội sau nhiều thế kỉ đã tận dụng hết cáctiềm năng của mình để xây dựng những công trình đồ sộ và tiến hành các cuộcchiến tranh nhằm củng cố quyền lực và tranh giành lãnh thổ” [18; 42] Ngoài

ra, những cuộc tấn công của ngời Thái từ nớc Ayuthaya cũng làm Campuchiakiệt quệ Đến năm 1434 Campuchia phải dời đô về phía nam Biển Hồ, bên bờsông Tônlê Sáp, tức Pnôm Pênh ngày nay Thời đại Ăngco huy hoàng đến đâychấm dứt Từ đó, suốt bốn thế kỉ tiếp theo, Campuchia lâm vào tình trạngkhủng hoảng triền miên và trầm trọng

ở quốc gia Majapahit, tình hình cũng bắt đầu xấu đi từ thế kỉ XV Sau khi

có sự du nhập của đạo Hồi, quốc gia này bị “chia năm xẻ bảy” bởi các nhómquần chúng đối lập nhau về tôn giáo ở phía đông Giava, vơng quốc Hồi giáoPajajaran tách khỏi Majapahit ở phía bắc Giava, nhiều thành phố quốc giahải cảng theo Hồi giáo cũng đợc củng cố Majapahit mất dần lãnh thổ Cuốicùng vào năm 1527, quốc gia này coi nh bị xóa sổ Nhng nửa sau thế kỉ XVIlại xuất hiện hai quốc gia mới là Bantam và Mataram Các quốc gia mới tồntại không đợc bao lâu thì phải đơng đầu với sự xuất hiện của những ngời ph-

ơng Tây: Bồ Đào Nha, Hà Lan và Anh năm 1511, Bồ Đào Nha chiếm đợcMalacca Năm 1605 Hà Lan chiếm pháo đài của Bồ Đào Nha trên đảoAmbon Năm 1619 Hà Lan xây pháo đài đầu tiên ở một thành phố cảng miềntây Giava, những năm sau đó Inffônesia trở thành thuộc địa của Anh và HàLan

Trang 22

So với các nớc khác trong vùng, chế độ phong kiến ở Miến Điện kéo dàithời thịnh vợng của mình hơn một thời gian Trong thời Tongu (1531 – 20061752), kinh tế và văn hóa Miến Điện khá phát triển Nhng sau đó, các cuộcchiến tranh với ngời Môn (1752 – 20061755), với Trung Quốc (1766 – 2006 1770), vớingời Xiêm (1768 – 2006 1776), với ngời ấn Độ (1794 – 2006 1795) đã làm nớc nàysuy yếu đi nhiều, để rồi sau đó (năm 1885) hoàn toàn rơi vào ách thống trị củathực dân Anh.

Tóm lại, sau một thời kì kéo dài phát triển thịnh vợng, đến khoảng cuối thế

kỉ XVI, phần lớn các quốc gia ở Đông Nam á đều đi vào con đờng suy thoái

Sự suy thoái này có nguyên nhân sâu xa từ trong lòng của chế độ phong kiến

đã lỗi thời Trớc những đòi hỏi cấp bách phải thay đổi nền kinh tế – 2006 xã hội,các nhà nớcphong kiến lúc bấy giờ không những không thực hiện đợc mà còndồn hết sức vào các cuộc chiến tranh liên miên, gây ra những mâu thuẫn xãhội gay gắt Với một tình hình nh thế, cộng với sự xâm nhập của các đế quốcphơng Tây, các quốc gia Đông Nam á càng đi vào con đờng suy sụp nhanhchóng

1.4 Sự xâm nhập của chủ nghĩa thực dân phơng Tây vào các nớc Đông Nam á.

ở phơng Tây vào thời gian này các nớc t bản chủ nghĩa “tự do cạnhtranh” dần dần chuyển sang độc quyền nhà nớc (tức chủ nghĩa đế quốc)

Chủ nghĩa đế quốc kinh tế là động lực chính của việc Châu Âu mở rộng nềnthống trị của họ ở Đông Nam á Cơn đói không bao giờ thỏa mãn đợc vì thịtrờng và các sản phẩm nhiệt đới từ năm 1500 đến 1900 đã trải qua nhiều giai

đọan khác nhau Giai đoạn gay gắt nhất trùng hợp với cuộc cách mạng tronglịch sử loài ngời, đợc mở đầu bằng sự ra đời của xe lửa, máy hơi nớc và điệntín, và đợc tăng cờng do việc sử dụng ôtô, máy bay và vô tuyến điện Nềncông nghiệp Châu Âu ngày càng trở nên phụ thuộc vào những sản phẩm mà

Đông nam á có thể cung cấp nhiều, nh dầu lửa, cao su và các kim loại, đồngthời dân số đang tăng lên ở Châu Âu ngày càng có nhu cầu lớn về gạo, cà phê,chè và đờng của khu vực này

Sau năm 1870 quá trình mở cửa các vùng nội địa đã đợc tiến hành với đà ngàycàng nhanh hơn Đây là kỉ nguyên của khoa học, và trớc bớc tiến của khoa học ứngdụng, tất cả những hàng rào chắn mà trớc đó đã ngăn cản Châu Âu trong việc khaithác các vùng nội địa đều đã bị phá bỏ nhanh chóng Do đó các hệ thống đời sốngkinh tế truyền thống mà hàng thế kỉ đã chống lại sự tác động của Châu Âu và các

Trang 23

đặc điểm bao trùm là nền nông nghiệp tự túc, tiểu công nghiệp gia đình và buôn bánhàng đổi hàng đã đột ngột biến mất và đợc thay bằng những điều kiện mới Theo

đó, các cây trồng đợc ứng tiền trớc và đợc trồng để phục vụ thị trờng thế giới, cònthị trờng trong nớc của ngời nông dân thì tràn ngập hàng hóa Châu Âu, làm phơnghại đến các mặt hàng thủ công bản địa Điều này đã xảy ra trên một quy mô rộnglớn các khu vực trồng lúa nớc ở Đông Nam á và đã có những tác động quan trọngcăn bản đối với mọi nớc trong khu vực

Chính vì vậy các nớc t bản phơng Tây đua nhau ồ ạt xâm lợc thuộc địa củacác nơc Châu á, Châu Phi, Châu Mĩ La Tinh

Tùy vào từng vùng từng quốc gia, và tùy thuộc vào điều kiện cụ thể, các nớc

đế quốc đã tìm những con đờng xâm lợc khác nhau Một số nớc t bản phơngTây sử dụng lá bài kinh tế để phục vụ lợi ích của mình, Có nớc lại dùng sứcmạnh quân sự, với mục đích là giành lấy thuộc địa cũng nh làm căn cứ quân

sự để dựa trên cơ sở đó làm bàn đạp xâm chiếm các nớc khác và sau này là nơixuất cảng t bản để thu lợi nhuận cao

Trong khi đó, các nớc Châu á vẫn đang nằm trong “đêm trờng trung cổ”

nh Trung Quốc, ấn Độ, và Đông Nam á Đứng trớc sự đe dọa của thực dânphơng Tây, các nớc Châu á đã có những đối sách khác nhau để nhằm bảo vệnền độc lập dân tộc của mình

Trớc nguy cơ xâm lợc của t bản phơng Tây triều đình Mãn Thanh tiếp tụcthc hiện chính sách “Bế quan tỏa cảng” Nhằm bảo vệ đất nớc

Lúc này triều đình nhà Nguyễn (Việt Nam) đã thi hành một đờng lối hết sứcbảo thủ, lạc hậu, nhà Nguyễn cự tuyệt những đề nghị cải cách hợp thời của cácnhà duy tân trong nớc, khăng khăng duy trì chính sách “Bế quan tỏa cảng”cấm đoán nhân dân không đợc tiếp xúc giao lu với thế giới bên ngoài Đặcbiệt là các nớc phơng Tây

Tiếng súng của chiến tranh thuốc phiện ở Trung Quốc (1840 - 1842) chẳngnhững làm rung động đất nớc Trung Hoa mà còn gây lo ngại cho hầu hết cácnớc Đông Nam á Nh vậy chỉ trong vòng 100 năm, chủ yếu là 30 năm cuốithế kỷ XIX, ngời Châu Âu đã hoàn thành việc thôn tính lãnh thổ và xây dựngnền hành chính thực dân ở các nớc Đông Nam á [ ; 368] Các quốc gia khuvực này lần lợt biến thành thuộc địa Inđônêxia thuộc Hà Lan; Philippin thuộcTây Ban Nha sau đó rơi vào tay Mỹ; Mã lai, Miến Điện thuộc Anh và ba nớc

Đông Dơng thuộc Pháp Vơng quốc Xiêm nằm ở vị trí nớc đệm giữa hai thếlực Anh và Pháp, lại tiến hành một số cải cách dới thời vua Mongkut và

Trang 24

Chulolongkorn nên tuy không bị rơi vào tình trạng thuộc địa nhng cũng chẳngthoát khỏi số phận lệ thuộc nớc ngoài.

Chơng 2 Thành tựu chủ yếu của văn hóa Đông Nam á cổ - trung đại

2.1 Những nét cơ bản về ảnh hởng văn hóa ấn Độ - Trung Hoa.

2.1.1 ảnh hởng về tôn giáo.

Ngời ta biết rằng mối quan hệ giữa bán đảo ấn Độ và miền Đông NamChâu á đã có từ rất lâu đời, có lẽ từ thời đại VêĐa trong lịch sử ấn Độ cổ đại,thời đại chủng Aria bắt đầu xâm nhập và dần dần làm chủ cả bán đảo ấn Độ(Thiên niên kỷ II Trớc Công Nguyên) Mặt khác ngời ta cũng biết rằng sau đạihội Phật Giáo họp năm 242 Trớc Công Nguyên ở kinh đô Pataliputơra, hoàng

đế Axôka (273 – 2006 237 Trớc Công Nguyên) thuộc vơng triều Môria đã pháinhiều nhà tu hành đi truyền bá đạo Phật ở nhiều nớc thuộc Đông Nam á, trớchết ở Xây Lan, Miến Điện , Malayxia, Xumatơra

Sự truyền bá của đạo Phật nói riêng và của nền văn hóa ấn Độ nóichung sang các nớc Đông Nam á có nhiều nguyên nhân khác nhau Nhng mộttrong những nguyên nhân quan trọng nhất chắc chắn là sự phát triển của đạoPhật Những giáo lý của Bàlamôn, cấm bất cứ tín đồ ngời ấn Độ nào cũngkhông đợc phép vợt biển ra khỏi để tiếp xúc với ngời nớc ngoài mà họ cho là

“không trong sạch” ai vi phạm sẽ bị khai trừ ra khỏi đẳng cấp của mình Điều

đó đối với mọi tín đồ Bàlamôn là một hình phạt hết sức nặng nề hơn cả tội tửhình Song đối với tín đồ đạo Phật là những ngời không thừa nhận chế độ đẳngcấp “vác na” dựa trên giáo lý Bàlamôn thì điều cấm đoán đó là không có tácdụng, họ đã vứt bỏ mọi thành kiến và kì thị chủng tộc Họ có thể vợt đại dơng

để đi truyền đạo ở khắp miền Đông Nam á

Từ những thế kỉ đầu Công Nguyên, những tôn giáo lớn từ ấn Độ (ấn Độgiáo và Phật giáo) bắt đầu du nhập và phát huy ảnh hởng tới đời sống văn hóatinh thần của các dân tộc Đông Nam á

Trong buổi đầu lập quốc, ngời Phù Nam có thể đã tiếp thu và thờ các vịthần ấn Độ giáo, nhng sau lại theo Phật giáo và trở thành một trung tâm Phậtgiáo ở Đông Nam á

Các tôn giáo ấn Độ cũng có vai trò rất lớn đối với ngời Chăm Qua bia

kí nghệ thuật điêu khắc ta thấy cả hai tôn giáo lớn của ấn Độ là Phật giáo và

ấn Độ giáo đều đã có mặt ở Chămpa Nhng tôn giáo đợc thịnh hành nhất là

Trang 25

Siva giáo Ngời Chăm thờ thần Siva chủ yếu dới dạng Siva – 2006 Linga biểu tợngcho sức mạnh sinh thành của vũ trụ, cho uy lực của vơng quyền.

Nh nhiều dân tộc khác ở Đông Nam á ban đầu ngời Khơme cũng tiếpnhận cả hai tôn giáo của ấn Độ Nhng rồi họ đã kết hợp nhiều yếu tố khácnhau lại thành hình tợng tôn giáo mới là Hari Hara – 2006 một hình tợng kết hợpcả Siva và Visnu Từ thời Jayavarman II (802 – 2006 850) bắt đầu áp dụng một tôngiáo mới: thờ thần – 2006 vua Để làm việc này, đức vua đã cho đón Hiranyadama– 2006 một pháp s Bàlamôn về kinh đô dạy kinh và giúp làm lễ thần – 2006 vua Theo

đó đức vua nhận từ tay Bàlamôn chủ lễ một linh tợng Linga để đa vào thờ ởtrong tháp chính, giữa hoàng cung Từ đó, linh tợng Linga tợng trng cho vơngquyền và cũng từ đó mỗi vị vua thời Ăngco đều phải có trách nhiệm xây dựngcho mình một đền tháp để đặt Linga của vơng triều Vì thế, ở đây mọc lênnhững đền tháp – 2006 tháp kì vĩ tợng trng cho vinh quang chói ngời của thời đại

Ăngco Ngày nay, Phật giáo tiểu thừa vẫn là tôn giáo chính của Campuchia.Mỗi làng đều có một ngôi chùa riêng và chùa Phật đã trở thành trung tâm vănhóa của các làng xóm gần xa Phật giáo góp phần vào việc liên kết mọi thànhviên trong xã hội Campuchia và một nền văn minh chung

Phật giáo cũng đã có mặt ở Mianma, Thái Lan, Malayxia từ rất sớm.Theo nguồn sử liệu cổ của Xri Lanca – 2006 cuốn Mahavamsa và bút tích của vuaAsôca đã phái 9 đoàn truyền giáo ra nớc ngoài, trong đó có một đoàn gồm bacao tăng đã tới vùng đất vàng (Suvarnabhumi) ở phía đông Vào những thế kỉ

đầu Công Nguyên, hai thành phố Thatơn và Prôme đã là những trung tâm Phậtgiáo nổi tiếng Tại đây ngời ta đã tìm thấy những kiến trúc Xtupa bằng đá, t-ợng Phật A di đà và Quan Thế Âm Bồ Tát cả một “cuốn sách” gồm 20 tờ

“giấy” bằng vàng có các đoạn kinh Phật thuộc phái tiểu thừa và hàng trămbảng tạ lễ bằng đất nung có khắc những đoạn kinh Sanxcrit thuộc phái ĐạiThừa Có lẽ Phật giáo đã phát triển ở đây cho đến thế kỉ IX thì bị suy yếu dần,

Trang 26

để rồi, đến đầu thế kỉ XI (bắt đầu từ thời Pagan) lại hng thịnh và trở thànhquốc giáo của Mianma Thời kì Pagan là thời kì xây dựng các công trình tôngiáo vĩ đại có một không hai trong lịch sử Mianma Chỉ riêng ở Pagan đã cótới 13.000 công trình lớn nhỏ và trải qua nhiều lần thiên tai địch họa đến nayvẫn còn gần 5000 chùa tháp Không phải ngẫu nhiên mà ngời ta thờng gọiMianma là “đất nớc chùa vàng”.

ở miền trung Thái Lan, đặc biệt là ở Nakhon pathom, ngời ta đã pháthiện đợc nhiều di tích Phật giáo cổ, nh các bánh xe pháp luân xây bằng đá,các tấm thờ có hình Phật bằng đất nung, Ngoài ra các hình Phật còn tìm thấy ởNakhon Rachasima (Kò Rạt), ở Sungai Kô Lốc (Narathivat) đều thuộcphong cách Amaravati của ấn Độ (thế kỉ I – 2006 III sau Công Nguyên) Điều đóchứng tỏ Phật giáo đã có mặt ở Thái Lan rất sớm, ít nhất cũng từ những thế kỉ

đầu của Công Nguyên Dòng Phật giáo này còn tồn tại ở miền trung Thái Lan,trong phạm vi của vơng quốc Môn Đơvaravati và đã tạo nên ở đây một phongcách nghệ thuật độc đáo – 2006 phong cách Đơvaravati

Trong khi đó, ở vùng ven biển phía nam bên bờ vịnh Thái Lan lại là nơitruyền bá của Phật giáo đại thừa Theo một số nguồn sử liệu năm 417, một

đoàn truyền giáo của vua KuSana đã đến Xumatơra, rồi sang Giava và ngợclên, ở Bukit Xeguntang gần Palembang (Xumatơra), ở phía nam tỉnh Giembe(Đông Giava), ở Xepaga (đảo Xelebet) thuộc Inđônêxia, ngời ta đã tìm thấynhững điêu khắc thể hiện Đức Phật, ở thế kỉ II – 2006 III sau Công Nguyên, sau đóvào thế kỉ thứ VII một cao tăng ấn Độ Dharmapala đã đến Xumatơra Ông làngời đặt nền móng cho Phật giáo đại thừa – 2006 một dòng tại vùng quần đảoInđônêxia Từ đầu thế kỉ VII, cả một vùng rộng lớn bao gồm Xumatơra,Giava, Boocnêô, một phần bán đảo Mã Lai và vùng duyên hải nam Thái Lan,

đều thuộc quyền cai trị của vơng quốc Xrivijaya Trong suốt bốn thế kỉ tồn tạiXrivijaya là một trong những trung tâm Phật giáo lớn nhất ở Đông Nam á Phật giáo đợc truyền bá vào Lào từ khoảng thế kỉ VII – 2006 VIII, nhng chỉ

đến thời Phàngừm mới chính thức trở thành quốc giáo của vơng quốc LanXang

Suốt nhiều thế kỉ, Phật giáo đã có vai trò to lớn trong đời sống chính trị xã hội và văn hóa của c dân Đông Nam á Vì thế các tổ chức s tăng cũng nhnhà nớc rất chú ý tới việc phổ biến t tởng Phật giáo trong dân chúng, đặc biệt

-là qua hệ thống giáo dục Ngôi chùa không chỉ -là trung tâm văn hóa mà còn -là

Trang 27

hình tợng cho chân – 2006 thiện – 2006 mĩ đối với mọi ngời dân, trở thành nơi lu giữphổ biến văn hóa, tri thức cho dân chúng

Nếu nh văn hóa ấn Độ thâm nhập vào Đông Nam á bằng con đờng hòabình, thì văn hóa Trung Quốc xâm nhập vào khu vực Đông Nam á bằng cáchcỡng bức Truyền bá các hệ t tởng nh Nho giáo, Đạo giáo vào Đông Nam á Nho giáo vào Đông Nam á ngay từ Trớc Công Nguyên song suốt mờithế kỉ nó vẫn cha khẳng định đợc sự tồn tại bền vững của mình ở khu vực này

Số ngời theo Nho học rất ít, những ngời theo Nho học chủ yếu là tầng lớp trêncủa xã hội Dẫu sao đây cũng là giai đoạn chuẩn bị, một cơ sở cho sự pháttriển cao hơn của Đạo Nho ở giai đoạn sau

Cùng với Đạo Nho, Đạo Giáo và Đạo Lão Trang cũng đợc truyền vào

Đông Nam á Cả hai đạo này tuy có ảnh hởng không nhiều nhng cũng đã trởthành một bộ phận trong t tởng và quan niệm của c dân Đông Nam á

ơng để chạy những thuyền buồm có khả năng chở đến hàng sáu, bảy trămhành khách và thực hiện những chuyến đi dài ngày ngoài biển khơi Các nớc

Đông Nam á vốn nằm trên con đờng giao thông buôn bán náo nhiệt giữa ấn

Độ và Trung Hoa, từ lâu đã quyến rũ thơng nhân ấn Độ bởi những tài nguyênvô cùng phong phú và sự giàu có kì diệu của mình Trong nhiều tác phẩm vănhọc cổ ấn Độ thuộc thời kì này thờng có nói đến một vùng đất đai rộng lớnbao gồm một phần lục địa và nhiều quần đảo ở đông nam Châu á và đợc gọi

là “Xuvacnabuni” có nghĩa là “sứ vàng” hay đảo vàng Tại đây tàu bè và thơngnhân ấn Độ đã từng sang tìm mua một cách dễ dàng và với giá rẻ, những sảnvật hiếm quý, những gia vị nh hồ tiêu, đậu, những hơng liệu nh gỗ hơng, quế,các loại dầu thơm, long não, cánh kiến, và trớc hết là vàng Họ buôn nhữngsản phẩm hiếm quý đó đem về ấn Độ để rồi bán lại cho thơng nhân phơngTây đem về thế giới Địa Trung Hải vốn rất khao khát các loại hàng xa xỉphẩm này

Trang 28

Theo gót chân các thơng nhân, các thủy thủ và các nhà tu hành là nhữngngời thuộc tầng lớp trí thức thợng lu, là những vơng công quý tộc dòng dõi

“Kaxatơria” bị sa cơ thất thế và bị tớc đoạt hết ruộng đất, những tăng lữBàlamôn giáo đã vứt bỏ những thành kiến tôn giáo về việc xuất dơng Tất cả

đều muốn sang sinh cơ lập nghiệp ở miền đất đai trù phú, dân c hiền lành vàmến khách này, về kinh tế và cũng vì mến cảnh, mến ngời mà họ đã định c vàxây dựng lên ở đây nhiều thơng điếm và khu c trú riêng của họ Những nơinày dần dần trở thành những trung tâm kinh tế và văn hóa tập trung ngày càng

đông đảo các tầng lớp thơng nhân, thợ thủ công, nghệ nhân, học giả và nhà tuhành Không có thông ngôn, họ cố học lấy tiếng ngời bản xứ Một số đemtheo vợ con, một số lấy ngay đàn bà, con gái các bậc thổ hào, địa phơng vàsống hòa lẫn với ngời dân bản xứ

Trải qua nhiều đời sống chung đụng với nhau, đến một lúc nào đó, có

lẽ là vào khoảng những thế kỉ đầu của Công Nguyên ngời ta khó lòng phânbiệt đợc ai là ngời ấn Độ đã bị đồng hóa theo ngời bản xứ, đã bị “ấn Độ hóa”.Nhng có điều chắc chắn là lúc này ở nhiều vùng của miền Đông Nam á, đã và

đang diễn ra một quá trình biến hóa xã hội rất sâu sắc mà học giả Đông Nam

á thờng gọi là công cuộc “ấn Độ hóa” Sự thâm nhập này đã du nhập vào

Đông Nam á về kinh tế sản xuất, truyền bá rộng rãi nền văn minh ấn Độ cổ

đại sang miền Đông Nam á, đẩy mạnh quá trình tan rã nhanh chóng của chế

độ công xã nguyên thủy cũng nh quá trình hình thành những xã hội có giaicấp sớm nhất và những nhà nớc đầu tiên ở vùng này

Sự bành trớng của Trung Hoa xuống Đông Nam á đã tạo ra sự tiếp xúccỡng bức giao thoa văn hóa Đông Nam á - Hoa, Hán ở đời Tần các vơngquốc Đông Nam á tiền sử ở miền nam sông Dơng Tử – 2006 nơi những ngời “namman” sinh sống bị đồng hóa vào văn hóa Trung Hoa Ngời “nam man”, tức tộcngời có cơ tầng văn hóa Đông Nam á tiền sử bị đồng hóa với Hoa tộc để cùngtrở thành Hán tộc Tuy nhiên sự đồng hóa này có tính chất hai chiều, nghĩa làcả hai bên đều có sự tác động qua lại Vì vậy trong văn hóa Hán tộc cũng cónhiều yếu tố phơng Nam chẳng hạn “việc trồng lúa nớc, việc trồng dâu nuôitằm lấy tơ lụa, việc trồng cây chè và uống chè là những thành tựu của vùng

Đông Nam á mà Hoa tộc đã tiếp thu đợc khi đồng hóa các c dân nam sông

D-ơng Tử để cùng trở thành Hán tộc” [5; 59]

Trong khi văn hóa ấn phát huy ảnh hởng ở miền nam Đông Nam á, thì

ở bắc Đông Dơng, đặc biệt bắc Việt Nam, văn minh Hoa Hạ cũng đang tìm

Trang 29

cách thâm nhập Từ sau khi thống nhất đợc Trung Quốc, bằng các biện pháp

vũ lực nhà Tần có mu đồ thâu tóm cả vùng biên viễn và phên dậu, nhất là vùng

đất phía nam giàu có, nhiều hơng liệu, của ngon vật lạ quý hiếm Nhng vốnkhông giỏi đi biển, nên đối với các triều đại phong kiến Trung Quốc, đờng bộqua Việt Nam trở thành con đờng thẩm lậu văn hóa và gây áp lực quân sự rấtquan trọng Cũng chính vì đi bằng đờng bộ, các thế lực phong kiến phơng Bắcvấp phải sự phản kháng của các thủ lĩnh cát cứ ở miền nam nơi văn hóa Hánmới chỉ ảnh hởng ở lớp mặt còn bên dới chủ yếu vẫn là cơ tầng văn hóa ĐôngNam á Không giống nh văn minh ấn Độ, văn hóa Hán xuống phía nam chủyếu bằng các biện pháp quân sự, cỡng chế và đồng hóa nên nó không đợc tiếpnhận một cách tự giác và êm dịu, mà thờng là đụng độ

Đồng thời với việc xâm chiếm lãnh thổ, đế quốc Tần, Hán đã tiến hànhhàng loạt chính sách đồng hóa Đông Nam á trên mọi lĩnh vực Chúng bắt dânbản xứ Đông Nam á tổ chức xã hội, học tập, làm ruộng rồi ăn mặc, ở đúng

nh ngời Hán Điều đó có nghĩa là đế quốc Tần, Hán muốn thiết lập ở ĐôngNam á một thể chế chính trị, một cơ cấu xã hội, thậm chí một phong tục tậpquán theo kiểu Trung Hoa

2.1.3 ảnh hởng về phong tục tập quán.

Qua các văn bia, ngời ta biết rằng chữ Phạn (Sanxkrit) ở ấn Độ đã đợc

du nhập vào Đông Nam á từ rất sớm Bia võ cạnh (Nha Trang) có niên đại thế

kỉ IV Công Nguyên là bia chữ Phạn cổ nhất ở Đông Nam á và cũng là bằngchứng đầu tiên về sự du nhập chữ Phạn vào Chămpa Từ đó cho đến nay khi v-

ơng quốc Chămpa chấm dứt sự tồn tại của mình, chữ Phạn luôn luôn là chữ

đ-ợc dùng trong triều đình Chămpa Song cũng nh nhiều dân tộc khác ở ĐôngNam á, ngời Chăm đã sớm tiếp thu văn tự cổ ấn Độ để sáng tạo ra chữ viếtcủa chính mình Bia Đông Yên Châu nói về vị thánh Naga của vuaBhađravarman có niên đại thế kỉ IV đã đợc viết bằng chữ Chămpa cổ Cácnguồn sử liệu Trung Quốc cũng cho biết, ngay từ thế kỉ thứ VII ngời Chăm đãdùng văn tự của mình để ghi chép kinh sách và trao đổi th từ Thế kỉ XIII trở

đi, chữ Chăm cổ chuyển sang kiểu chữ vuông của bắc ấn Sau thế kỉ XV, chữChăm trở lại nét cong và móc nhng phóng khoáng hơn Theo một số nhànghiên cứu, chữ chăm có 65 kí tự, trong đó có 41 chữ cái và 24 chân chữ bắtnguồn từ hệ thống chữ thảo của ấn Độ

Chữ viết Khơme bắt đầu từ chữ ở miền nam ấn Độ và theo truyềnthuyết thì xuất hiện khá sớm Nhng tấm bia đầu tiên viết bằng chữ Khơme

Trang 30

hiện nay ta biết đợc là bia Ăngco Bôrêi (Ta keo), có niên đại năm 611 Bia viết

về việc dựng một ngôi đền, trong đó có 22 nhạc công và vũ nữ, 58 nô lệ làmruộng, 100 bò và 20 trâu

Theo những dấu tích đã biết, có thể là chữ Thái cổ đã hình thànhkhoảng đầu thế kỉ XIII ở vùng dân c Thái quần tụ ở phía bắc Đông Dơng – 2006phía tây nam Trung Quốc Qua chữ Shan ở bắc Mianma, ngời ta thấy văn tựThái cổ có mang nhiều yếu tố cuả chữ Pê gu cổ, còn chính chữ Pê gu cổ từ khixuất hiện vào khoảng thế kỉ đầu Công Nguyên lại chịu ảnh hởng của chữ ấn

Độ Chữ Thái – 2006 Xiêm, chữ viết của những c dân nói tiếng Thái ở khu vựcChao praya, đã ra đời vào khoảng thế kỉ XIII trên cơ sở đó Bia đầu tiên bằngchữ Thái – 2006 Xiêm mà ta biết đợc là bia Rama Kam heng có niên đại năm

1296 Nh thế có thể thấy rằng chữ Thái – 2006 Xiêm đợc Rama Kam heng khởi ớng từ năm 1283 và đến năm 1296 thì đợc dùng khắc bia và điều đó chứng tỏ

x-nó đã đợc định hình, đợc sử dụng khá nhuần nhuyễn

Nh thế, việc sáng tạo chữ viết và quá trình cải tiến nó của các c dân

Đông Nam á không phải là sự bắt chớc đơn giản mà là cả một quá trình lao

động công phu sáng tạo, một thành tựu đáng kể về văn hóa của khu vực

Về phơng diện văn học, hai trờng ca nổi tiếng của ấn Độ Ramayana vàMahabharata đợc truyền sang nhiều vùng Đông Nam á và, thậm chí ở một sốnơi chẳng hạn ở đảo giava (Inđônêxia), dựa theo cốt chuyện gốc này, ngời ta

đã tạo nên những biến thể khác tơng tự Sự xâm nhập của hai trờng ca ấn Độvào giava sâu đến mức c dân địa phơng đã không biết chúng có nguồn gốc

ấn Độ Họ vẫn quan niệm đó là của chính họ

Nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc ấn Độ đợc thể hiện rõ nét ở các đềntháp, chùa chiền đợc xây dựng ở khắp Đông Nam á mà tiêu biểu hơn cả là

Ăngco Voat (Campuchia), hệ thống các tháp ở vơng quốc ChămPa, chùaBorobudur (Inđônêxia), chùa Thạt Luông (Lào) Đối với các công trình kiếntrúc đồ sộ này, ảnh hởng của quan niệm nghệ thuật kiến trúc tôn giáo ấn Độrất đậm đà: Đó là kiến trúc HinĐu giáo (Ăngco Voat Tháp Chăm Pa) và kiếntrúc phật giáo (Borobudur, Thạt luông)

Bên cạnh đó, sự tiếp xúc cỡng bức và giao thoa văn hóa Đông Nam á Hán rõ nhất là Việt Nam “Còn để lại dấu ấn trong những lĩnh vực khác nhcách ăn, mặc, ở, đi lại, phơng thức sản xuất, quan hệ xã hội, ngôn ngữ" [ 5;89]

Trang 31

Về âm nhạc bên cạnh những nhạc cụ mang bản sắc riêng Đông Nam á,một số nhạc cụ Trung Hoa nh Khánh, Chuông cũng đợc ngời Việt và một sốdân tộc Đông Nam á khác tiếp nhận và sử dụng.

Tóm lại, trên cơ sở của một nền văn hóa bản địa vững chắc – 2006 nền vănhóa nông nghiệp lúa nớc – 2006 Trong thiên niên kỉ đầu công nguyên, nhân dân

Đông Nam á đã tiếp thu nhiều yếu tố văn hóa mới (cả về vật chất lẫn tinhthần) từ Trung Quốc và ấn Độ Và điều đó đã làm cho bức tranh Đông Nam ángày càng phong phú, đa dạng và giàu có Tuy nhiên cần khẳng định rằngnhững sự tác động, ảnh hởng từ bên ngoài đến Đông Nam á không thể biếnvùng này thành khu vực “ấn Độ hóa" Hay “ Trung Hoa hóa” đợc

Quá trình tiếp thu văn hóa ấn Độ và Trung Quốc ở Đông Nam á trongthời kỳ này gắn liền chặt chẽ với quá trình dựng nớc và giữ nớc sôi động trêntoàn khu vực Trong khi “Các dân tộc ở nam bán đảo Trung ấn và ngoài hải

đảo tiếp thu các yếu tố văn hóa để dần dần hoàn thiện tổ chức xã hội của mình(dựng) thì các dân tộc ở bắc bán đảo Trung ấn – 2006 mà chủ yếu là ngời Việt – 2006phải đơng đầu chống lại sự Hán hóa (giữ) mặc dù vẫn tiếp thu văn hóa Hán.Thực chất xét trên toàn miền (ở đây tác giả dùng từ “miền” để chỉ khu vực

Đông Nam á) đó chỉ là hai mặt của một vấn đề có tác động tơng hỗ nhau.Không phải ngẫu nhiên mà vào khoảng thế kỉ VI sau công nguyên tình thế đãdiễn ra là trong khi hầu khắp trên Đông Nam á, nhiều dân tộc, sau một quátrình tìm tòi tiếp thu có chọn lọc văn hóa ấn Độ, đã thể dựng lên đợc nhữngnhà nớc có tính dân tộc bản địa nh Chân Lạp, Dvaravati, Haripunjaya, ThaTon, Pegu, Palembang, Kalinga thì trong địa bàn của mình ngời Việt đã phảicam go đơng đầu với cuộc tấn công toàn diện của phong kiến phơng bắc và,qua nhiều cuộc khởi nghĩa liên tiếp – 2006 mà quan trọng nhất là Hai Bà Trng (40

- 43), Bà Triệu (248) và Lý Bôn (544) - đã dựng nên đợc nhà nớc Vạn Xuân(thế kỉ VI) , nhịp bớc với đà tiến chung của toàn miền Có thể nói cuộc đấutranh của ngời Việt chống đế quốc phơng Bắc thời bấy giờ để tự khẳng địnhmình cũng đã có tác dụng chặn bớc nam tiến của các đế quốc đó là bảo đảm

Trang 32

đợc một thế hòa bình ổn định cho toàn miền, chí ít là khu vực bán đảo Trung

ấn Và ngợc lại thông qua c dân Đông Nam á mà ngời Việt đã tiếp thu Phậtgiáo làm một thứ vũ khí tinh thần trong cuộc đấu tranh chống Hán hóa, đồngthời cũng là một chất keo liên kết dân trong làng xóm lại với nhau [27; 66] Các dân tộc Đông Nam á tiếp thu văn hóa Trung Hoa và ấn Độ khôngphải một cách thụ động mà chủ động, sáng tạo, làm cho các yếu tố văn hóangoại phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện của mình Điều này có nguồn gốc sâu

xa từ bản chất của con ngời Đông Nam á Luôn luôn cởi mở (sẵn sàng tiếpnhận) và năng động (sáng tạo) Tính chất sáng tạo này đợc thể hiện ở nhiềumặt, nhiều phơng diện, lĩnh vực

Đồng thời với việc du nhập những yếu tố văn hóa mới từ Trung Quốc,

ấn Độ, các dân tộc Đông Nam á còn biết kết hợp những yếu tố mới đó vớinhững yếu tố văn hóa bản địa của mình Chính sự kết hợp tài tình này đã vừalàm phong phú văn hóa Đông Nam á vừa giữ cho các yếu tố văn hóa bản địakhông bị các yếu tố ngoại lai chèn ép, tiêu diệt, thay thế Trong các bộ nhạc

cụ của các dân tộc Đông Nam á, ta thờng thấy có cả Khánh, Chuông (du nhập

từ Trung Hoa), trống cơm, hồ cầm (du nhập từ ấn Độ, Trung á) lẫn cồng,chiêng (nhạc cụ Đông Nam á) Ngay bản thân các nghi thức tôn giáo vốnkhá chặt chẽ ở nớc ngoài khi du nhập vào Đông Nam á cũng “bị phối hợp”với các tín ngỡng dân gian bản địa, nói theo nhà sử học nổi tiếng D G E.Hall, “đợc chiết ghép vào những tục thờ cúng” [8; 313], thậm chí, có lúc, cónơi trong sự phối hợp ấy, các tín ngỡng dân gian bản địa lại có vai trò trội hơn.Ngay ở chùa Dâu (Bắc Ninh) một chùa nằm cạnh Luy Lâu, nơi phật giáo cócơ sở vào loại vững chắc nhất nớc ta trớc đây – 2006 các lễ thức liên quan đến Phậtgiáo vẫn bị mờ nhạt trớc các lễ thức và các trò diễn xớng dân gian liên quan

đến nữ thần địa phơng Quan sát nghệ thuật kiến trúc tháp Chăm chúng tacũng thấy một tình hình tơng tự về hình dáng, tháp Chăm vừa mang hình núi(biểu tợng cho núi Meru gọi là Sikhara – 2006 truyền thuyết trong Balamôn giáo

ấn Độ) lại vừa có những kiến trúc phụ có mái cong hình thuyền (kiến trúc đặcthù của nhà cửa c dân Đông Nam á) Chính sự phối hợp tài tình ấy đã tạo nênmột kiến trúc hết sức độc đáo của tháp Chăm

2.2 Thành tựu văn hoá

Trên cái nền của văn hoá bản địa, cộng với sự tiếp thu văn hoá Trung, ấncủa thiên niên kỷ đầu công nguyên, trong thiên niên kỷ tiếp theo của thời kỳ

Trang 33

lịch sử, văn hoá Đông Nam á đã đạt đợc những thành tựu đáng kể cả về mặtvật chất lẫn tinh thần.

Về mặt t tởng, trớc hết phải kể đến sự xuất hiện của một số tôn giáo mới

ở Đông Nam á, Hồi giáo và Kitô giáo Hồi giáo đợc truyền vào các quốc giahải đảo Đông Nam á từ thế kỷ XIII mà lãnh thổ đầu tiên của nó là vùng BắcSumatra Ngời Ache là c dân đầu tiên theo Đạo Hồi Khi Malacca trở nên c-ờng thịnh thì nó trở thành trung tâm chủ yếu truyền bá đạo Hồi Có một điều

đặc biệt là đa Đạo Hồi đến Đông Nam á thờng không phải là những nhàtruyền đạo chuyên nghiệp mà là các thơng gia ấn Độ, A Rập và Ba T Và nếu

nh Đạo Hồi đến Trung Cận Đông và ấn Độ bằng những cuộc chiến tranh

“thần thánh” thì, trái lại, nó đến Đông Nam á hoàn toàn bằng con đờng thơngmại, hoà bình Cũng từ đây, văn hoá A Rập, Ba T bắt đầu có ảnh hởng ở ĐôngNam á So với ấn Độ giáo, Hồi giáo có tính dân chủ hơn hẳn bởi lẽ nó không

bị gò bó bởi tính chất đẳng cấp nặng nề Nó đáp ứng đợc những khát vọng củaquần chúng nhân dân về sự công bằng, bình đẳng, do đó, ở một mức độ nhất

định và trong những hoàn cảnh lịch sử nhất định, Hồi giáo đã góp phần đáng

kể vào việc đoàn kết các dân tộc trong việc chống ngoại xâm

Muộn hơn Hồi giáo một thời gian, Kitô giáo cũng xâm nhập vào một sốquốc gia Đông Nam á Kitô giáo vào Philippin từ thế kỷ XVI, ở PhilippinKitô giáo đợc khởi xớng bởi giáo sĩ Andres de Urdaneta vào năm 1571 Năm

1574, Manila đợc Tây Ban Nha và toà thánh Vatican đặt tên là “Thành phốthanh cao và muôn đời trung nghĩa” và nó trở thành trung tâm Kitô giáo củaquần đảo Philippin Kitô giáo cũng vào Cămpuchia và Việt Nam từ thế kỷXVI “Năm Nguyên Hoà thứ I (1533), đời vua Lê Trang Tông có một ngờiTây Dơng tên là Inêkhu theo đờng biển lẻn vào giảng đạo Gia tô ở các làngNinh Cờng, Quần Anh, Trà Lũ” (nay thuộc Nam Định) [ 6 ; 548] Từ đó cácgiáo sĩ phơng Tây (Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha) tìm đến ngày càng đông đểtruyền đạo ở Majapahit, đạo Kitô xuất hiện ở thế kỷ XVI còn đạo Tin lànhthì đợc ngời Hà Lan đa vào từ thế kỷ XVII Đạo Kitô theo chân thực dân Bồ

Đào Nha lúc đầu đến Sumatra, rồi đến Giava và các đảo khác Nhng sau đó,

do Anh thế chân Bồ Đào Nha, đạo Tin lành đợc phổ biến hơn

Đồng thời với sự xuất hiện của đạo Hồi và đạo Kitô, tuỳ ở từng quốc gia,những tôn giáo đã du nhập vào Đông Nam á trớc đấy, ở thời kỳ này , cũngvẫn có những ảnh hởng đáng kể ở Cămpuchia, bắt đầu từ thời Jayavarma VII(1181-1219 ), Phật giáo đã hoàn toàn thay thế ấn Độ giáo và trở thành quốc

Trang 34

giáo của ngời Khmer Từ đó Phật giáo Tiểu thừa trở thành tôn giáo của cả tầnglớp quý tộc lẫn bình dân Nó góp phần không nhỏ vào việc đoàn kết toàn dân.

ở Việt Nam, trong thời Lý-Trần, triều đình thực hiện chính sách tam giáo(Nho-Phật-Đạo) đồng nguyên không hạn chế sự phát triển của bất kỳ tôn giáonào Do đó, tinh thần văn hoá Lý-Trần là tinh thần khai phóng đa nguyên,phối hợp Phật -Đạo-Nho cũng với các tín ngỡng dân gian khác [ 6; 116]

Trong số những thành tựu về văn hoá tinh thần ở thời kỳ này phải kể đến

sự xuất hiện một số bộ luật ở các quốc gia Đông Nam á ở Giava, một bộluật cổ có tên là Sivasaxana do vua Erelanga xây dựng đã ban hành ở Miến

Điện, bộ luật đầu tiên bằng tiếng Miến Điện cũng đã đợc soạn thảo trong thờiTongu Bộ luật này có tên gọi là Maharaja Dhamathat ở Việt Nam, một bộluật đồ sộ, mang tính văn hoá cao, đợc thực thi trong một thời gian khá dài là

bộ luật Hồng Đức Năm 1483, dới sự chỉ đạo của Lê Thánh Tông, tất cả những

điều luật đã đợc ban hành đợc tập hợp lại một cách hệ thống và chỉnh lý, bổsung thành một bộ luật hoàn chỉnh Bộ luật Hồng Đức đợc sử dụng đến tậncuối thế kỷ XVIII, sau đó đợc tiếp tục bổ sung, gồm 721 điều, chia thành 6quyển, 16 chơng Đây là một bộ luật lớn, bao hàm nhiều lĩnh vực: luật hình

sự, luật dân sự-tố tụng, luật hôn nhân-gia đình Sự xuất hiện của nhiều bộ luậtvào thời kỳ này đánh dấu một bớc phát triển quan trọng của lịch sử phápquyền Đông Nam á

Một thành tựu khác của văn hoá Đông Nam á cần phải kể đến là sự xuấthiện các chữ viết mới của các dân tộc, phơng tiện chuyển tải thông tin quantrọng nhất của con ngời

Theo những dấu tích đã biết, chữ Thái cổ đã hình thành ở vùng bắc ĐôngDơng-tây nam Trung Quốc, tức là khu vực đông ngời Thái sinh sống ChữThái cổ có nhiều yếu tố giống chữ Pegu cổ (ở Miến Điện) vốn xuất hiện vào

đầu công nguyên Song bản thân chữ Pegu cổ thực ra cũng bắt nguồn từ chữ

ấn Độ cổ Chữ Thái-Xiêm, tức chữ viết của c dân Thái khu vực Chao Praya ra

đời vào khoảng thế kỷ XIII

Chữ Lào ra đời khoảng thế kỷ XIV trên cơ sở chữ Xiêm cổ Một văn bản

có niên đại chính xác liên quan đến sự xuất hiện của chữ Lào là lời huấn thịcủa Pha nguồn năm 1353 Các văn bản muộn hơn là văn bia Vat that (LuôngPha Băng) năm 1548, văn bia Donsai năm 1560 và văn bia That Luôn (ViênChăn) năm 1566 [ 9 ; 64]

Trang 35

ở Việt Nam, đồng thời với chữ Hán, chữ Nôm cũng đã xuất hiện trongthời Lý-Trần ở thời kỳ này, nhiều tác phẩm nổi tiếng đã đợc viết bằng chữNôm “c trần lạc đạo phú”, “đắc thử lâm tuyền thành đạo ca” của Trần NhânTông, “Giáo tử phú” của Mạc Đĩnh Chi, “Vịnh hoa Yên Tự phú” của HuyềnQuang… và một số tạp chí nghiên cứu Đông Nam Một sự kiện quan trọng khác trong lĩnh vực chữ viết là sự ra đời củachữ Quốc ngữ thế kỷ XVII Sự ra đời cuả chữ Quốc ngữ trớc hết phục vụ chomục đích truyền đạo Lúc bấy giờ, để việc truyền đạo có hiệu quả, các giáo sĩphơng Tây đã học tiếng Việt, dùng tiếng Việt để truyền giáo Để ghi âm tiếngViệt, không thể dùng chữ Hán (vì chữ Hán vừa “khó vào” đối với quần chúngvừa khó học đối với bản thân các giáo sĩ) nên họ đã sáng tạo ra một thứ chữmới trên cơ sở con chữ Latinh.

Văn học Đông Nam á trong thiên niên kỷ thứ II cũng hng thịnh theo sựhng thịnh của các quốc gia ở hải đảo, một trong những tác phẩm nổi tiếngnhất ở thế kỷ XV phản ánh sự hng thịnh của vơng quốc Majapahit là cuốnPararaton (hay là “Sách của các ông vua”) Tác phẩm đợc viết bằng ngôn ngữGiava cổ với nội dung ca ngợi quê hơng đất nớc, ca ngợi tinh thần thống nhấtquốc gia Một tác phẩm khác là trờng ca Negarak retagama của nhà thơPrapantra miêu tả những cuộc du ngoạn khắp đất nớc của ông vua thờiMariphahit và sự quan tâm của ông đối với đời sống nhân dân Trong tácphẩm này, Prapantra đã đề cập đến nhiều vấn đề quan trọng nh quan hệ giữanhà vua và nhân dân, việc lãnh đạo quốc gia, vấn đề quyền lực cá nhân, chínhsách đối nội… và một số tạp chí nghiên cứu Đông Nam

Sự thịnh vợng của vơng quốc Malacca đợc phản ánh rõ nhất qua tác phẩmkhuyết danh “Truyện sử Malai” ở đây tác giả miêu tả nhiều sự kiện lịch sử,kết hợp với trí tởng tợng phong phú của mình Tác phẩm khuyết danh này kể

về cuộc sống cung đình, hệ thống cai trị, phong tục tập quán… và một số tạp chí nghiên cứu Đông Nam của quốc vơng

và c dân Malacca Đây là một tác phẩm lớn, kết hợp nhuần nhuyễn giữa tínhchất cung đình và các sáng tác dân gian nh ngụ ngôn, truyền thuyết [17; 87 -88]

Cũng trong thời kỳ này có nhiều tác phẩm cổ vũ, tuyên truyền cho t tởngHồi giáo, đề ca thiên thần Môhamet thực hiện ý chí của đức thánh Allah Phầnlớn các tác phẩm này đều chịu ảnh hởng của văn học A Rập, Ba T

Đồng thời với sự phát triển của văn hoá tinh thần là sự phát triển của vănhoá vật chất-tiền sử, cơ sở cho sự phát triển văn hoá tinh thần Trong thiênniên kỷ này, có thể nói văn hoá vật chất Đông Nam á có sự phát triển vợt bậc

Trang 36

mà một số thành quả của nó không chỉ có ý nghiã hôm nay mà còn cho muôn

đời sau

Cămpuchia, trong thời kỳ ăng co huy hoàng, đã xây dựng đợc nhiềucông trình văn hoá Dới thời Jayavarma VII, một hệ thống đờng giao thôngtrên khắp đế quốc Cămpuchia đã đợc xây dựng và mở rộng Dọc theo các con

đờng, ông cho lập 121 trạm dừng chân, mỗi trạm cách nhau 15 km và trong đó

đều có các bếp lửa cho khách Vua còn cho xây dựng 102 bệnh viện trên khắpmọi nơi Và một điều đặc biệt là ở tất cả các bệnh viện đều có dòng chữ “ngời

đau đớn vì bệnh tật của thần dân hơn là của chính ngời, vì nỗi đau đớn củamọi ngời đã gây nên nỗi đau đớn của các vua chứ không phải bởi chính nỗi

đau đớn của các vua” [28 ; 32]

Công trình kiến trúc nổi tiếng thế giới của Cămpuchia mà mọi ngời đềubiết là khu đền ăngco, cách thủ đô Phnôngpênh ngày nay khoảng 250 km.Khu đến này bao gồm ăngco voát, ăngco thom và hàng loạt chùa xungquanh Đợc xây dựng từ thế kỷ XII (bắt đầu xây dựng năm 1122 và hoànthành năm 1150), ăngco voat chiếm một diện tích chừng 200 ha.Đền cao60m, chia thành 3 tầng, với tổng số buồng lên tới 438 Bên trên đều là 5 ngọntháp ở ăngco voat có đến hàng nghìn mét vuông phù điêu, hàng nghìn hìnhtiên nữ ápsara xinh đẹp đợc khắc trên vách đá

ăngco thom là khu đền hình vuông, mỗi chiều khoảng 5km, có thành luỹbao quanh Trung tâm của quần thể ăngco thom là khu đền Bay on, một hình

ảnh tuyệt vời nhất về nghệ thuật biểu tợng hoành tráng khmer Toàn bộ Bayon

có khoản hơn 50 tháp lớn nhỏ, lô nhô trông nh một rừng đá

Cả khu đền ăngco đợc xây dựng bằng những phiến đá khổng lồ, khối nọxếp chồng lên khối kia Khu đền là một tác phẩm vĩ đại, kiệt tác cả về mặtkiến trúc, hội họa lẫn điêu khắc, đó là hàng loạt những bức hoạ trên đá, chiến

đấu, sinh hoạt của ngời dân khmer Với khu đền này, Cămpuchia thực sự bớcvào một kỷ nguyên mới trong sự phát triển của mình: kỷ nguyên thịnh vợngcủa nền văn hoá ăngco huy hoàng

Thế kỷ XIII cũng là thời kỳ Pagan phát triển khá toàn diện cả về lãnh thổ,kinh tế - xã hội Xét về văn hoá vật chất, nông nghiệp Pagan khá phát triển,

đặc biệt là hệ thống thuỷ lợi Nhiều hồ nớc và đập nớc đợc xây dựng mà tiêubiểu nhất là hồ chứa nớc Mrakan trên núi Tiuin Cũng trong thời kỳ này ngời

ta đã xây dựng những ngôi chùa tháp với bức hoạ phù điêu nổi lớn Hàngnghìn ngôi chùa đã đợc xây dựng, trong đó vĩ đại nhất là chùa Svegutgi (chùa

Trang 37

vàng) đợc xây dựng từ thế kỷ XIV Chùa vàng đợc coi là biểu tợng của nhândân Mianma, bởi vậy nói đến Mianma ngời ta không thể không nhắc tới chùavàng, một trong những công trình kiến trúc vĩ đại bậc nhất của Đông Nam á.

ở Thái Lan vào thế kỷ XVIII, có một sự kiện quan trọng là việc dờithủ đô từ Ayuthaya về Thon Buri vào năm 1782 Để thủ đô mới không kém gìAyuthaya, nơi đã từng hơn 400 năm là kinh đô của các triều đại lừng lẫy,Rama I đã dồn tâm sức vào việc xây dựng tờng thành bao quanh kinh đô, xâydựng cung điện lớn (Grand Palace) và các công trình công cộng khác, riêngbức tờng thành cũng là một công trình vĩ đại lúc bấy giờ

Trong số các vơng quốc hải đảo thì Philippin là nơi thịnh hành Thiênchúa giáo hơn cả Do đó, những công trình kiến trúc nổi tiếng ở đây chính lànhững nhà thờ Thiên chúa giáo đợc xây dựng từ các thế kỷ XVI - XVII Cácnhà thờ này thờng theo phong cách barocco Chúng đợc xây dựng bằng đá lớn

và trang trí phu điêu đắp nổi và chạm khắc lộng lẫy

ở Giava, từ thế kỷ X-XV, những công trình kiến trúc về thờ tự đợc tậptrung ở núi Penangungan Có đến khoảng 80 công trình đợc xây dựng dọctheo các triền núi cao này Trong số những công trình đó, có vai trò quantrọng và độc đáo nhất là hồ nớc Jalatunda và Belakhan [25; 150]

Từ thế kỷ thứ XVI, với sự có mặt của ngời Hà Lan, nhiều công trình kiếntrúc của Inđônêxia mang đậm phong cách châu Âu mà tiêu biểu nhất là thànhphố Batavia đợc xây dựng vào thế kỷ XVII

Sau khi dời đô về Thăng Long, tại đây nhà Lý đã cho xây dựng nhiềucung điện, đền đài, thành luỹ Thành Thăng Long là một công trình xây dựnglớn nhất trong các triều đại phong kiến Việt Nam Toàn bộ thành dài khoản 25

km đợc bố trí thành hai vòng Bên trong thành có nhiều cung điện rực rỡ.Những công trình kiến trúc lớn của đời Lý là Chùa Một Cột, chùa Giạm, thápBảo Thiên,… và một số tạp chí nghiên cứu Đông Nam Nghệ thuật điêu khắc trên gốm, đá và gỗ thời Lý khá đặc sắc

Bố cục các pho tợng gọn, đẹp và cân xứng Kiến trúc và Mỹ thuật ở Việt Namthời kỳ này rất gần với kiến trúc mỹ thuật Chăm và các nớc Đông Nam á khác[16; 115]

Từ thế kỷ X, Phật giáo đóng vai trò quan trọng trong đời sống nhân dân,vì vậy năm 1031 triều Lý đã bỏ tiền xây dựng 950 ngôi chùa.Nho giáo, mặt dùcha mạnh, song cũng đợc chú ý Năm 1070 nhà Lý dựng văn miếu, mở Quốc

tử giám để đào tạo nhân tài và tuyển chọn quan lại cho bộ máy hành chính nhànớc

Trang 38

Sang thế kỷ XVI-XVII kiến trúc đình làng phát triển mạnh Hàng loạt

đền, đình, chùa lại tiếp tục đợc xây dựng Tiêu biểu cho phong cách điêu khắc

và kiến trúc thế kỷ XVII là đình làng Đình Bảng (Bắc Ninh), đình Thạch Lôi(Hng Yên)… và một số tạp chí nghiên cứu Đông Nam

Đầu thế kỷ XIX công trình kiến trúc vĩ đại nhất Việt Nam là kinh thànhHuế và bố cục ba lớp bao bọc: kinh thành, hoàng thành và tử cấm thành Làmột toà kiến trúc đồ sộ và kiên cố, kinh thành Huế thực sự là một công trìnhvăn hoá vật chất có giá trị của Việt Nam

Tóm lại, xét về văn hoá vật chất, các công trình xây dựng ở Đông Nam átrong thiên niên kỷ thứ hai thờng tập trung vào Việc phát triển nông nghiệp,làm thuỷ lợi, xây dựng đập, hồ chứa nớc Việc phát triển giao thông vận tải,

đặc biệt là đờng sá Việc xây dựng những công trình phục vụ tôn giáo nh chùachiền, nhà thờ, thánh đờng, đền đài Việc xây dựng các thành phố, thủ đô mới.Trên tất cả các lĩnh vực này, nhiều công trình vẫn có giá trị đến ngày nay vàmai sau

Thế kỷ XII cũng là thời kỳ Pagan phát triển toàn diện cả về lãnh thổ lẫnkinh tế -xã hội

Trang 39

Cách chế biến và các phụ gia không tạo nên món mới hỗn tạp và tinh

tế, vậy mà khi ăn món này với món kia ngời ăn sẽ có đợc những vị ngon khácnhau: vị ngon của cơm với cá kho khác vị ngon của cơm với canh cá nấu chua.Dới đây là những phong tục ăn của một số dân tộc ở Đông Nam á:

Của ngời Việt: Chúng ta ai mà không quen thuộc với bữa ăn dân dã ờng ngày của ngời Việt Cả gia đình, mỗi ngời một đôi đũa và bát ăn cơmriêng, quây quần bên mâm cơm Đĩa rau luộc, bát nớc mắm, đĩa da muối hayvài quả cà, một đĩa cá rán Là những thức ăn thờng thấy trong mâm cơm.Ngoài mâm cơm, là nồi cơm nghi ngút khói thơm và nồi nớc canh Bữa nayrau luộc, bữa mai có thể là canh chua nấu cá Mùa này ăn rau chua, cà muối,

Trang 40

th-mùa tới có thể là rau sống, hành chua (kiệu) Những ngày giỗ tết, những hôm

có khách khứa mâm cơm có thể thêm thịt, thêm cá, nồi cơm có thể thay bằngrá bún Những ngày hội lễ truyền thống các gia đình còn thêm bánh trái Mỗi ngày tết đều có những thứ bánh riêng: tết Nguyên Đán (năm mới) cóbánh chng, bánh dày tợng trng cho đất trời, tết mùng ba có bánh trôi, bánhchay, tết trung thu co bánh dẻo, bánh nớng, tết gạo mới có bánh cốm

Ngời Việt có rất nhiều món ăn, mỗi món ăn lại có nhiều dạng, nhiều vị,nhiều hình thức khác nhau Chỉ xin dẫn ra đây một con số, ta sẽ thấy món ăncủa ngời Việt rất phong phú Theo điều tra của các nhà nghiên cứu riêng ởHuế, đã có hơn 600 món ăn, trong đó khoảng 125 món ăn chay, hơn 300 món

ăn mặn, hơn 50 loại chè, cháo, da, mắm và hàng chục loại nớc mắm Số cácmón ăn của Huế thật là một con số kỷ lục so với nhiều vùng của thế giới Của ngời Khơme: Thức ăn chính của ngời Khơme là cơm Cơm nấutrong nồi kín, không hề kèm phụ gia kể cả muối Ăn cùng với cơm, bao giờcũng có ít cá khô, mắm cá (Pra hốc) và rau

Ngời Khơme ăn thịt lợn, bò, gà, trứng gà, vịt Nhng ít khi ăn trongbữa ăn thờng ngày, đặc biệt đối với ngời lao động

Trớc khi ăn mọi ngời rửa tay chân hoặc tắm rửa, rồi ngồi trên chiếu,quanh chiếc mâm bày liễn cơm to, mấy bát thức ăn và một bát nớc để “tráng”các ngón tay mỗi khi bốc thức ăn lên miệng Ngời Khơme ăn bốc

Ngoài mắm cá, rau (luộc hoặc hấp), ngời Khơme đặc biệt thích ăncác loại gia vị nh rau thơm, hành, tỏi, ớt phổ biến nhất và cũng đợc a thíchnhất đối với bữa cơm thờng ngày là các loại canh cá nấu với các loại rau quảchua, nh dọc, chanh, cá đợc chế biến dới nhiều dạng: Nấu, rán, chả

Của ngời Lào: Trong bữa ăn của ngời Lào, cơm bao giờ cũng làchính Ngời Lào thờng ăn cơm với cá, rau, và đôi khi với thịt, cơm đợc đồ, nh-

ng a thích nhất là cơm lam – 2006 thứ cơm nấu trong ống tre non Đôi khi cơmlam nấu lẫn với các loại đậu Ngời Lào ăn gạo nếp là chính

Ngời lào ăn thịt không nhiều và thờng ăn thịt gà Chỉ trong nhữngngày lễ tết, ngời ta mới thịt bò, thịt lợn Ngời vùng núi rừng còn ăn thịt cácloại chim, thú Thức ăn phổ biến nhất là cá Cá đợc nấu, luộc hoặc làm chả Đ-

ợc a thích nhất, và phổ biến nhất, là cá mắm Ngời Lào ăn rau khá nhiều Họthích uống các loại nớc nấu với lá cây hay nớc quả

Ngày đăng: 19/12/2013, 09:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w