1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự phát triển khoa học kỹ thuật của cộng hòa ấn độ từ 1950 đến 2010 luận văn thạc sĩ lịch sử

123 804 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 2,86 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một trong những nguyên nhân tạo nên thànhcông đó là do nhà nước Ấn Độ đã lựa chọn cho mình một hướng đi phù hợp,chú trọng đầu tư về khoa học - kỹ thuật, cụ thể là các cuộc “Cách mạng xan

Trang 3

Để hoàn thành luận văn thạc sĩ này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, đề tài

“Sự phát triển khoa học - kỹ thuật của Cộng hòa Ấn Độ từ 1950 đến 2010”

được hoàn thành nhờ sự hướng dẫn tận tình, chu đáo của PGS TS NguyễnCông Khanh, khoa Lịch sử Trường Đại học Vinh

Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa Lịch sử, PhòngSau đại học trường Đại học Vinh và Bộ môn Lịch sử thế giới đã tạo điều kiệngiúp đỡ tác giả trong quá trình thực hiện đề tài này

Tuy nhiên, do hạn chế về nguồn tư liệu và khả năng nghiên cứu của bảnthân cho nên luận văn này sẽ không tránh khỏi những khiếm khuyết cần đượcgóp ý, sửa chữa

Kính mong được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô và bạn đọc đểluận văn này được hoàn chỉnh hơn

Xin chân thành cảm ơn !

Vinh, tháng 10 năm 2012

Tác giả

Phạm Thị Minh

Trang 4

A MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 5

4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 6

5 Đóng góp của luận văn 7

6 Bố cục luận văn 7

B NỘI DUNG 8

Chương 1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA KHOA HỌC - KỸ THUẬT ẤN ĐỘ TỪ 1950 ĐẾN 2010 8

1.1 Nhân tố quốc tế 8

1.1.1 Cách mạng khoa học - kỹ thuật trên thế giới 8

1.1.2 Xu hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa 9

1.2 Nhân tố trong nước 12

1.2.1 Thuận lợi 12

1.2.2 Khó khăn 14

1.3 Khoa học - kỹ thuật Ấn Độ trong lịch sử 15

1.4 Chính sách khoa học - kỹ thuật của nhà nước Ấn Độ 17

Tiểu kết chương 1 22

Chương 2 QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN VÀ THÀNH TỰU CHÍNH CỦA KHOA HỌC - KỸ THUẬT ẤN ĐỘ TỪ 1950 ĐẾN 2010 24

2.1 Trong nông nghiệp: “Cách mạng xanh”, “Cách mạng trắng” 24

2.1.1 “Cách mạng xanh” 24

2.1.2 “Cách mạng trắng” 30

Trang 5

2.2 Trong Công nghệ thông tin 32 2.3 Khoa học vũ trụ 41

Trang 6

2.5 Năng lượng hạt nhân 57

2.5.1 Chính sách năng lượng hạt nhân Ấn Độ 57

2.5.2 Thành tựu trong lĩnh vực hạt nhân Ấn Độ 60

2.6 Khoa học - kỹ thuật quân sự 71

Tiểu kết chương 2 74

Chương 3 MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA KHOA HỌC - KỸ THUẬT ẤN ĐỘ TỪ 1950 ĐẾN 2010 .76

3.1 Hiệu quả, tác động của sự phát triển khoa học - kỹ thuật đối với Ấn Độ và những hạn chế của nó 76

3.1.1 Hiệu quả, tác động của sự phát triển khoa học - kỹ thuật đối với Ấn Độ 76

3.1.2 Hạn chế của khoa học - kỹ thuật Ấn Độ 80

3.2 Triển vọng khoa học - kỹ thuật Ấn Độ 82

3.3 Quan hệ Ấn Độ - Việt Nam trong lĩnh vực khoa học - kỹ thuật và bài học về sự phát triển khoa học - kỹ thuật đối với Việt Nam .84

3.3.1 Quan hệ Ấn Độ - Việt Nam trong lĩnh vực khoa học - kỹ thuật .84

3.3.2 Bài học về sự phát triển khoa học - kỹ thuật đối với Việt Nam .96

C KẾT LUẬN 103

D TÀI LIỆU THAM KHẢO 107

E PHỤ LỤC

Trang 7

BMD Hệ thống phòng thủ chống tên lửa đạn đạo

CNTT Công nghệ thông tin

CNXH Chủ nghĩa xã hội

DAE Ủy ban Năng lượng nguyên tử quốc gia Ấn ĐộDRDO Tổ chức Nghiên cứu và phát triển quốc phòngFPT Tập đoàn tin học Việt Nam

IAEA Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế

ISRO Tổ chức Nghiên cứu vũ trụ Ấn Độ

KH & CN Khoa học và công nghệ

KH-KT Khoa học - kỹ thuật

NIIT Học viện Công nghệ thông tin Ấn Độ

GD& ĐT Giáo dục và đào tạo

QLNN Quản lý nhà nước

R&D Nghiên cứu và phát triển

TES Chương trình phát triển vệ tinh trinh sát

Tr.CN trước Công nguyên

TTX VN Thông tấn xã Việt Nam

UBKHKHNN Ủy ban Khoa học kỹ thuật Nhà nước

Trang 8

A MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Khoa học - kỹ thuật (KH-KT) có vai trò cực kỳ quan trọng đối với

sự phát triển KT-XH loài người nói chung, mỗi một quốc gia nói riêng Tronglịch sử, nhất là thời cận, hiện đại, để thay thế hình thái kinh tế xã hội này bằnghình thái kinh tế xã hội khác cao hơn thì một trong những điều kiện tiên quyết

đó là sự phát triển của KH, KT Cuộc cách mạng KH-KT ngày nay diễn ranhư vũ bão và tác động to lớn, làm thay đổi sâu sắc mọi mặt đời sống xã hộiloài người, sự thay đổi mạnh mẽ nhất thể hiện rõ ở sự phát triển nhảy vọtchưa từng thấy của sản xuất và lao động; đồng thời cũng làm thay đổi vị trí,

cơ cấu các ngành và các vùng kinh tế, làm xuất hiên nhiều ngành công nghiệpmới, nhiều công cụ sản xuất mới nhờ đó đới sống của con người được cảithiện, mức sống được nâng cao, đồng thời cách mạng KH-KT làm cho nềnkinh tế thế giới ngày càng được quốc tế hoá cao, sự giao lưu hợp tác quốc tếdiễn ra mạnh mẽ đã tạo nhiều cơ hội cũng như các thách thức đối với cácquốc gia khu vực Trong bối cảnh toàn cầu hoá, sự cạnh tranh diễn ra hết sứcquyết liệt, quốc gia, dân tộc nào tận dụng và phát huy được sức mạnh củaKH-KT thì sẽ giành được thắng lợi và uy thế của mình

1.2 Ấn Độ là một trong những cái nôi lớn của lịch sử văn minh nhânloại Thời cổ trung đại, khi phần lớn nhiều nước chưa có tên trên bản đồ thếgiới thì người phương Tây đã biết đến Ấn Độ như một quốc gia lớn và giàu cókhông những về tài nguyên thiên nhiên mà còn về lịch sử - văn hóa Là mộttrong hai trung tâm văn minh lớn, cùng với văn minh Trung Quốc nền vănminh Ấn Độ vĩ đại đã ảnh hưởng không ít đến văn hoá Việt Nam Trong gần

2 thế kỷ dưới ách thống trị của đế quốc thực dân, nhân dân Ấn Độ vẫn giữvững chuyền thống dân tộc, những tư tưởng nhân đạo, hoà bình Tên tuổi củacác nhà khoa học, các danh nhân văn hoá như: R.Tagore, P.Chand được cảnhân loại biết đến

Trang 9

1.3 Từ năm 1947, nhất là từ 1950, Ấn Độ giành được độc lập và bắtđầu kỷ nguyên mới xây dựng đất nước, nhiệm vụ đặt ra cho nhân dân các dântộc Ấn Độ hết sức to lớn: lựa chọn con đường đi đến tương lai để có thể vừatiến theo nhịp bước của thế giới văn minh vừa giữ được bản sắc dân tộc concháu của ông tổ Bharat Nhiệm vụ đó đã được nhân dân Ấn Độ dưới sự lãnhđạo của J.Nehru, I.Gandhi, N.Rao, M.Singh giải quyết có hiệu quả Nếu thế

kỷ XIX được đánh giá là thế kỷ phát triển của nước Anh, thế kỷ XX là thế kỷcủa Mỹ thì thế kỷ XXI được xem là “Thế kỷ châu Á” với sự nổi lên của haitrung tâm Trung Quốc và Ấn Độ Với tốc độ phát triển kinh tế vượt bậc Ấn

Độ được mệnh danh là “con voi” đang không ngừng phát huy ảnh hưởng sâurộng ở khu vực châu Á Thái Bình Dương cũng như trên trường quốc tế Quátrình phát triển kinh tế Ấn Độ đầy thử thách trong đó quốc gia Nam Á này đã

đi theo một cách thức riêng của mình và đã đạt được những thành quả rực rỡ

Từ những ngày đầu đầy khó khăn sau ngày độc lập đến những bước đi tậptễnh trong công cuộc cải cách, những kết quả an ủi trong thập kỷ 90 của thế

kỷ trước Cho đến nay những cố gắng của giới lãnh đạo và nhân dân Ấn Độ

đã thực sự được được bù đắp Một trong những nguyên nhân tạo nên thànhcông đó là do nhà nước Ấn Độ đã lựa chọn cho mình một hướng đi phù hợp,chú trọng đầu tư về khoa học - kỹ thuật, cụ thể là các cuộc “Cách mạng xanh”

“Cách mạng trắng”, với những biện pháp mạnh mẽ trong nông nghiệp, côngnghệ thông tin, năng lượng nguyên tử … đã đưa đất nước phát triển mạnh mẽvới tốc độ đáng kinh ngạc

Sự phát triển của kinh tế nói chung và khoa học - kỹ thuật Ấn Độ nóiriêng ảnh hưởng lớn đến khu vực châu Á - Thái Bình Dương, đến Việt Nam,

nó sẽ tạo ra những thời cơ cũng như những thách thức đối với nhiều nướctrong khu vực Chính vì vậy nghiên cứu khoa học - kỹ thuật Ấn Độ giai đoạnnày có ý nghĩa rất quan trọng

Trang 10

Về ý nghĩa lí luận, việc tìm hiểu quá khoa học - kỹ thuật Ấn Độ sẽ cungcấp cho chúng ta một cái nhìn toàn diện, sự hiểu biết sâu sắc về thành tựucũng như tác động của khoa học thế giới Mặt khác từ việc hiểu biết lĩnh vưcnày của Ấn Độ chúng ta có thể rút ra nhiều điều bổ ích, rút ra được nguyênnhân thành bại, bài học kinh nghiệm từ đó có thể liên hệ tìm hiểu những vấn

đề kinh tế liên quan

Về ý nghĩa thực tiễn, thông qua tìm hiểu nghiên cứu khoa học - kỹthuật Ấn Độ, giúp chúng ta nhìn thấy và nắm bắt được xu thế của thời đại,biết tận dụng những thuận lợi từ nền kinh tế Ấn Độ tạo ra như tăng cườngkhả năng chuyển giao công nghệ, học tập kinh nghiệm phát triển kinh tế củanước này

Tuy vậy, đây là một vấn đề lớn, phức tạp, đòi hỏi trình độ chuyên môn

về kinh tế cao Trong phạm vi khóa luận này, với thời gian, tư liệu, trình độcòn hạn chế, chúng tôi chỉ có thể nói lên những thành tựu chính của khoa học

- kỹ thuật Ấn Độ, những nguyên nhân thành công triển vọng của khoa học Ấn

Độ và bài học đối với Việt Nam

Từ những lí do trên cho thấy, việc nghiên cứu sự phát triển KH-KT Ấn

Độ trong lịch sử hiện đại có ý nghĩa khoa hoc thực tiễn cao Vì vậy, chúng tôi

quyết định chọn đề tài: “Sự phát triển khoa học - kỹ thuật của Cộng hòa

Ấn Độ từ 1950 đến 2010” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình

Trang 11

lại phân tán, số người gọi là chuyên gia Ấn Độ học, nhà nghiên cứu Ấn Độcũng chưa nhiều.

Những tài liệu liên quan đến đề tài có rải rác trong một số cuốn sách:

- Lịch sử Ấn Độ của các tác giả Vũ Dương Ninh (chủ biên), Phan Văn

Ban, Nguyễn Công Khanh, Đinh Trung Kiên (NXB Giáo dục H.1995) đã kháiquát về đất nước, con người và nền văn hóa Ấn Độ; giới thiệu các thời kì cổ -trung đại, chặng đường dài từ một thuộc địa trở thành một quốc gia độc lập vàquá trình xây dựng đất nước phồn vinh Quyển sách cũng đề cập đến khoahọc - kỹ thuật Ấn Độ thời cổ trung đại, Tuy nhiên nội dung tác phẩm mangtính khái quát trình bày khá rộng quá trình lịch sử đất nước nên khoa học - kỹthuật ko được chuyên sâu

- Tác giả Đinh Trung Kiên với Ấn Độ hôm nay và hôm qua đề cập đến

thành tựu nổi bật mà Ấn Độ đạt được nói chung trong đó có những cố gắng vềkhoa học - kỹ thuật trong sự so sánh với giai đoạn trước trong lịch sử

- Đỗ Đức Định với chuyên luận Nông nghiệp Ấn Độ đề cập đến điều

kiện thuận lợi của nền nông nghiệp Ấn Độ, những thành tựu mà Ấn Độ đạtđược trong lĩnh vực này Trong đó, tác giả có nhắc đến vai trò của các cuộc

“Cách mạng xanh” và “Cách mạng trắng”

Sự phát triển khoa học - kỹ thuật của Cộng hòa Ấn cũng được đề cậptrong một số công trình, bài viết:

- J.Nehru - Tiểu sử và sự nghiệp của Nguyễn Công Khanh (NXB Giáo

dục H.2002) đề cập đến cuộc đời và cống hiến của lãnh tụ J.Nehru trong đấutranh giành độc lập cho Ấn Độ và phong trào hoà bình thế giới công lao củaông đối với Ấn Độ trong quá trình xây dựng kinh tế từ 1947-1964, với việcxây dựng nền khoa học - kỹ thuật trong giai đoạn đầu khó khăn Bài viết

I Gandhi- một bản lĩnh chính trị lớn của Nguyễn Công Khanh (Tạp chí Nghiên cứu lịch sử 1995) đã khắc họa chân dung nhân vật I Gandhi, công

Trang 12

lao của Bà đối với lịch sử Ấn Độ, đối với sự phát triển kinh tế, khoa học củaquốc gia này

Tuy nhiên, lĩnh vực khoa học chỉ được nhắc đến để làm nổi bật đónggóp toàn diện của nhân vật

Ngoài ra, có thể kể đến một số luận văn thạc sĩ có đề cập đến vấn đề

này Đó là: Đào Thị Hòa (Trường Đại học Vinh, 2007) Sự phát triển kinh tế

Ấn Độ 1999 - 2007, …

Những công trình này ít nhiều đều có đề cập về sự phát triển khoa học

-kỹ thuật Ấn Độ, song, cho đến nay, chưa có một công trình sử học nào trựctiếp một cách đầy đủ và có hệ thống về sự phát triển khoa học - kỹ thuật Ấn

Độ từ khi giành độc lập cho đến nay

Trên cơ sở kế thừa thành quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu,

chúng tôi xác định đề tài “Sự phát triển của khoa học - kỹ thuật của Cộng hòa Ấn Độ từ 1950 đến 2010” là một vấn đề khoa học hết sức cần thiết để

nghiên cứu

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Là sự phát triển KH-KT của Cộng hòa Ấn Độ

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Được giới hạn trên 3 phương diện:

+ Tập trung nghiên cứu những nhân tố tác động, các chính sách, thúcđẩy sự phát triển KH-KT cũng như những thành tựu KH-KT của Cộng hòa

Ấn Độ

+ Về thời gian:

Luận văn trên tập trung từ năm 1950 đến 2010 Tuy nhiên để đảm bảotính lịch sử nghiên cứu thì một số vấn đề trước năm 1950 và trong 2 năm lạinay cũng được chúng tôi đề cập đến trong công trình này

Trang 13

+ Về không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề trên trongphạm vi của nước Cộng hòa Ấn Độ từ năm 1950 đến 2010.

4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn tài liệu

Luận văn được hoàn thành trên cơ sở nguồn tài liệu:

- Các văn bản của Chính phủ Ấn Độ;, các công trình khoa học của các

nhà nghiên cứu nêu lên các vấn đề liên quan đến đề tài

- Những công trình nghiên cứu gồm sách, báo, tạp chí, luận văn, luận

án … về sự phát triển khoa học - kỹ thuật của Cộng hòa Ấn Độ

- Nguồn tài liệu chủ yếu là Thông tấn xã Việt Nam (TTX VN): Tin thếgiới và các tài liệu Tham khảo đặc biệt…, từ các báo Nhân dân, báo Hà Nộimới, báo Lao động, báo Quân đội nhân dân, báo Sài Gòn giải phóng…, sựphát triển của KH-KT của Cộng hòa Ấn Độ từ năm 1950 đến 2010 là rấtquan trọng và có ý nghĩa khoa học vừa có ý nghĩa thực tiễn, nhất là đối vớiViệt Nam trong giai đoạn hiện nay

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở có những nguồn tài liệu đã thu thập được, với những yêucầu về đối tượng và phạm vi nghiên cứu đã đặt ra, trong quá trình nghiên cứu,chúng tôi đã vận dụng những quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lê nin, tưtưởng Hồ Chí Minh và hai phương pháp chuyên ngành cơ bản của khoa họclịch sử là phương pháp lịch sử, phương pháp logic Đây là công cụ cơ bản đểchúng tôi định hướng đề tài, xác định trọng tâm nghiên cứu vấn đề để xử lýnguồn tư liệu một cách khoa học, chân thực và khách quan

Ngoài ra để giải quyết các yêu cầu khoa học của đề tài, chúng tôi cũngvận dụng cơ sở phương pháp luận, các phương pháp liên ngành khác nhưphương pháp quan hệ kinh tế, phân tích, tổng hợp, thống kê, đối chiếu, suyluận, trong quá trình hoàn thành luận văn

Trang 14

5 Đóng góp của luận văn

- Làm rõ sự phát triển của KH-KT ở CH Ấn Độ và vai trò của nó đốivới nước này

- Bài học kinh nghiệm về tầm quan trọng của việc phát triển KH-KTđối với sự nghiệp phát triển và hiện đại hoá đất nước trong giai đoạn này

- Đã góp phần cung cấp nguồn tư liệu trong nghiên cứu và giảng dạylịch sử thế giới đặc biệt là lịch sử Ấn Độ hiện đại

Trang 15

B NỘI DUNG Chương 1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN

CỦA KHOA HỌC - KỸ THUẬT ẤN ĐỘ TỪ 1950 ĐẾN 2010

1.1 Nhân tố quốc tế

1.1.1 Cách mạng khoa học - kỹ thuật trên thế giới

Cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật lần thứ 2 ra đời từ những năm 40

Từ những năm 70, 80 của thế kỉ XX, cuộc cách mạng KH-KT còn được gọi làcách mạng khoa học - công nghệ diễn ra mạnh mẽ và tác động đến hầu hếtcác quốc gia, dân tộc trên thế giới Cuộc cách mạng đó được tiến hành trongcác lĩnh vực khoa học - kỹ thuật, công nghệ, kinh tế và xã hội Sự phát triểnvượt bậc của KH-KT được thể hiện bằng một loạt các cuộc cách mạng nốitiếp nhau như: Cách mạng công nghệ mới, cách mạng thông tin, các ngành cóhàm lượng KH-KT cao…nó góp phần đẩy nhanh quá trình tự động hóa sảnxuất làm giảm tỷ trọng các ngành sản xuất vật chất trong nền kinh tế, tăng tỷtrọng ngành dịch vụ trong đó ngành thông tin phát triển mạnh nhất Dưới tácđộng của cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật, nền chính trị xã hội các nước

tư bản bước sang một giai đoạn mới - giai đoạn Tư bản độc quyền nhà nước

và nó trực tiếp tác động vào mọi ngành kinh tế quốc dân, mọi lĩnh vực xã hội.Nền sản xuất xã hội chuyển từ nền văn minh công nghiệp sang thời đại hậucông nghiệp hay văn minh truyền tin [24, 10]

Cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật đã đẩy chủ nghĩa tư bản pháttriển lên một bước mới về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, quốc tếhóa, khu vực hóa các tổ chức kinh tế Cũng nhò ứng dụng những thành tựumới của KH và CN, cải tiến phương pháp quản lý, thay đổi cơ cấu sản xuất,điều chỉnh các hình thức sở hữu và chính sách xã hội mà các nước tu bản

Trang 16

tiếp tục phát triển với tốc độ chưa từng có Cuộc cách mạng khoa học - kỹthuật diễn ra rất nhanh chóng và sâu rộng trên phạm vi toàn cầu cũng làmthay đổi cục diện chính trị thế giới, chuyển cuộc đấu tranh về chính trị quân

sự sang cuộc chạy đua giành ưu thế về kinh tế, khoa học - kỹ thuật và côngnghệ giữa các nước, giữa các trung tâm Đồng thời cũng làm cho quá trìnhquốc tế hóa nền kinh tế diễn ra mạnh mẽ tạo ra nhiều cơ hội cũng như tháchthức đối với các quốc gia

1.1.2 Xu hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa.

Toàn cầu hóa, mà chủ yếu là toàn cầu hóa kinh tế, là quá trình gia tăngmạnh mẽ sự lưu thông hàng hóa, dịch vụ, vốn và lao động giữa các quốc gia,các khu vực trên toàn thế giới Hay nói khác đi, toàn cầu hóa kinh tế là cácmối quan hệ kinh tế song phương và đa phương tác động lẫn nhau, phụ thuộclẫn nhau của các quốc gia trên toàn thế giới Các mối quan hệ đó đã trở thànhphổ biến, ngày một sâu sắc và gia tăng mạnh mẽ

Trước kia, các quốc gia dân tộc thường cát cứ, biệt lập, ít có quan hệvới nhau Biên giới quốc gia dân tộc còn là địa bàn cho lực lượng sản xuấtphát triển Nhưng khi lực lượng sản xuất phát triển đến trình độ mà biên giớiquốc gia dân tộc đã trở nên chật hẹp thì nó đòi hỏi phải tháo bỏ hàng rào biêngiới quốc gia để mở rộng giới hạn cho sự phát triển của nó Các quan hệ kinh

tế quốc tế dần hình thành và quá trình quốc tế hóa kinh tế bắt đầu

Toàn cầu hóa hiện nay là một hiện tượng đa dạng và phức tạp, cónhững mặt tích cực và tiêu cực Có thể nói rằng, nó đang trong thời kỳ quá độ,biến đổi từ chất cũ sang chất mới Trong quá trình đó, cái mới và cái cũ đangđấu tranh với nhau, chuyển hóa lẫn nhau Chính vì thế, chủ nghĩa dân tộckinh tế cũng nổi lên như một đối trọng của toàn cầu hóa kinh tế, như cái cũchống lại cái mới, nhưng rút cuộc vẫn phải đi theo cái mới, không thể cưỡnglại tất yếu khách quan

Trang 17

Toàn cầu hóa kinh tế là điều kiện khách quan để làm giảm dần sự lạchậu của các nước đang và kém phát triển Thực tế là, các nguồn đầu tư trựctiếp nước ngoài (FDI) và viện trợ phát triển chính thức (ODA) từ các nướccông nghiệp phát triển đã góp phần nâng cao trình độ của lực lượng sản xuất

ở các nước đang và kém phát triển Tuy là vốn nước ngoài, nhưng những cơ

sở sản xuất được xây dựng bằng vốn đầu tư đó đã trở thành bộ phận cấu thànhcủa nền kinh tế bản xứ Lực lượng sản xuất ngoại lai có trình độ cao ấy sẽ lạitác động đến lực lượng sản xuất bản xứ Nó bắt buộc lực lượng sản xuất bản

xứ phải tự vươn lên trong cạnh tranh để tồn tại

Sự quyết tâm làm giàu của các cá nhân, của tập thể và của cả một dântộc với lòng tự trọng là ảnh hưởng lớn nhất của toàn cầu hóa đối với các nướcđang và kém phát triển Các nước đó ý thức được rằng, nếu không tham giavào quá trình này là tự cô lập mình, giam hãm mình trong cảnh nghèo nàn, lạchậu, xa lánh nền văn minh nhân loại

Song, toàn cầu hóa đâu phải chỉ có mặt tích cực Nó còn có cả nhữngmặt tiêu cực Toàn cầu hóa đã bị những nước tư bản giàu có lợi dụng vì lợiích của họ Nó đặt các nước đang và kém phát triển trước những thách thức tolớn Nếu khôn khéo, biết vượt qua thách thức thì phát triển Còn nếu vụng về,thất bại thì mất mát không phải ít Toàn cầu hóa làm trầm trọng thêm sự bấtcông xã hội, làm cho khoảng cách giàu nghèo trong từng nước và giữa cácnước ngày một doãng ra Hiện nay, các nước công nghiệp phát triển vớikhoảng 1,2 tỉ người chiếm tới 86% GDP toàn cầu, 4/5 thị trường xuất khẩu,trong khi các nước nghèo nhất chiếm 1/5 dân số thế giới chỉ tạo ra 1% GDPcủa thế giới Mặc dù sản xuất thực phẩm cơ bản toàn thế giới đã ở mức 110%nhu cầu, nhưng hằng năm vẫn có khoảng 30 triệu người nghèo tiếp tục bị chếtđói và khoảng trên 800 triệu người đang thiếu ăn (2)

Toàn cầu hóa đã làm suy yếu vai trò của quốc gia dân tộc, thu hẹpquyền lực, phạm vi và hiệu quả tác động của các nhà nước dân tộc Ranh

Trang 18

giới quốc gia dường như bị xóa nhòa, bản sắc dân tộc dường như cũng bịphai nhạt dần do sự xâm nhập của lối sống và văn hóa phương Tây Và,điều nguy hại nhất là nó đẩy một bộ phận người nghèo, thất nghiệp vào tâmtrạng chán chường, bất mãn, tự hủy hoại đời mình bằng ma túy, mại dâm,trộm cướp

Toàn cầu hóa đã làm cho mọi mặt hoạt động và đời sống của từng conngười, từng gia đình, từng quốc gia và toàn thế giới trở nên kém an toàn hơn

Chính các mặt tiêu cực này, nói rộng ra là những thách thức của toàncầu hóa đã thôi thúc chủ nghĩa dân tộc kinh tế trỗi dậy mạnh mẽ Chủ nghĩadân tộc kinh tế hướng các nhà nước dân tộc vào việc bảo vệ lợi ích quốc gia

Tư tưởng chỉ đạo chính của chủ nghĩa dân tộc kinh tế là mọi hoạt động kinh tếphải phục vụ cho mục tiêu lớn xây dựng nhà nước giàu mạnh Vì vậy, việctheo đuổi lợi nhuận tối đa bằng mọi cách có thể là thủ đoạn chính để đạt mụctiêu Nó kiên quyết chống lại toàn cầu hóa nếu vi phạm lợi ích kinh tế củaquốc gia dân tộc Chủ nghĩa dân tộc kinh tế hoài nghi và thậm chí phủ địnhlợi ích thế giới của toàn cầu hóa Nó cho rằng, lợi ích kinh tế của quốc gia dântộc này chỉ đạt được bằng sự hy sinh lợi ích kinh tế của quốc gia dân tộc khác.Tuy nhiên, trên thực tế, đôi khi chủ nghĩa dân tộc kinh tế cũng đồng tình vàủng hộ toàn cầu hóa, nhưng chỉ khi nào nó thấy có thể lợi dụng toàn cầu hóanhư là một phương tiện để đạt mục tiêu [60]

Trong bối cảnh trên tất cả các nước nói chung, Ấn Độ nói riêng muốnvươn lên phát triển đất nước khẳng định vị thế của mình thì đều phải điềuchỉnh chính sách để thích ứng với hoàn cảnh mới, xu hướng chung là đa dạnghoá quan hệ và điều chỉnh cơ cấu kinh tế cho phù hợp với đặc điểm ngày càngphụ thuộc lẫn nhau nhiều hơn của nền kinh tế thế giới, phải tiến hành đầu tưcho cách mạng khoa học - kỹ thuật, dùng sức mạnh của cách mạng khoa học -

kỹ thuật để phát triển kinh tế quốc phòng

Trang 19

1.2 Nhân tố trong nước

1.2.1 Thuận lợi

Cộng hòa Ấn Độ là một quốc gia rộng lớn thuộc vùng Nam Á, đứngthứ 7 thế giới về diện tích với hơn 3,3 triệu km2 Phía Bắc giáp vớiApganistan, Trung Quốc, Nêpan, Bhittan Phía Đông giáp Bănglađet, Mianma

và vịnh Bengan Phía Nam giáp eo biển Pack, vịnh Mannr và Ấn Độ Dương.Phía Tây giáp biển Ả Rập và Pakistan [52]

Ấn Độ có nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào, phong phú, có vị tríđịa lí thuận lợi để xây dựng và phát triển đất nước

Ấn Độ có những đồng bằng phì nhiêu vào loại lớn nhất thế giới đểtrồng lúa gạo Đồng bằng Gange nằm ở phía nam và song song với vùng núinon Himalaya, một vành đai đất thấp rộng từ 280 đến 400 km hình thành bởicon sông Gange Thung lũng Assam nằm cách đồng bằng gange bởi một hànhlang đất hẹp, thung lũng này được tưới mát bởi con sông Brahmaputra là nơitrồng gạo đạt năng suất cao Bán đảo Ấn Độ được bao bọc hầu hết là nhữngvùng duyên hải phì nhiêu Vùng ven biển phía tây gồm những cư dân sống vềnông và ngư nghiệp Ngoài những đồng bằng phì nhiêu còn có những caonguyên rộng lớn để trồng lúa mì và các loại hoa quả, cây công nghiệp, làmđồng cỏ chăn nuôi như cao nguyên Đê Can, cao nguyên Arvalli,…

Vùng rừng núi Ấn Độ chiếm phần lớn diện tích đất nước (21,9% đấtđai), với nguồn tài nguyên thực vật và động vật phong phú có giá trị kinh tếcao dành cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu Các loại gỗ có giá trị thươngmại cao như gỗ tếch, gỗ hồng mộc, tre Đặc biệt, Ấn Độ có nguồn gien sinhvật phong phú với hơn 45000 giống cây trong đó 33% là cây bản địa, 15000giống cây có hoa quý, gần 5000 loài thú lớn, quý hiếm như hổ, báo, sư tử…

có thể phục vụ cho sự phát triển kinh tế [7, 31] Nhiều vùng rừng ở Ấn Độ với

sự phong phú của động thực vật trở thành những địa bàn phát triển du lịchthuận lợi (du lịch sinh thái, du lịch mạo hiểm…)

Trang 20

Dưới lòng đất, Ấn Độ chứa nhiều tài nguyên khoáng sản quý, phân bốkhắp mọi nơi Các mỏ có trữ lượng lớn như than đá với 120 tỷ tấn, bao gồmmột vành đai trải rộng từ bang Mahrshtra qua vùng đồi núi của các bangMadhya Pradesh và Bihr đến bang Ben gan quặng sắt chiếm 1/4 trữ lượngcủa thế giới với khoảng 22,4 tỉ tấn Man gan khoảng 180 tỉ tấn, đứng thứ 3 thếgiới tập trung chủ yếu ở miền Trung Ấn Độ Ngoài ra các khoáng sản nhưcrôm, bô xit, đồng, kẽm, vàng, dầu mỏ đều có trữ lượng lớn ở Ấn Độ.

Ấn Độ còn có một vùng biển rộng lớn giàu về hải sản và các nguồn lợikhác nhau… là điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế Hiện nay Ấn Độ làmột trong những nước xuất khẩu hải sản mạnh nhất thế giới

Ấn Độ là nước có dân số đông, lực lượng lao động dồi dào Tính đếntháng 7 năm 2006 dân số Ấn Độ lên đến 1,1 tỉ người, kết cấu dân số trẻ (trong

độ tuổi lao động chiếm 64,3%) là điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế Giánhân công tương đối rẻ cùng với trình độ tiếng Anh cao đang là một lợi thếtrong cạnh tranh nói chung và thu hút nguồn đầu tư FDI nói riêng của Ấn Độ.Lao động của Ấn Độ được đào tạo bài bản, có tay nghề cao, trình độ được cảthế giới thừa nhận Ấn Độ còn có nhiều nhà khoa học tầm cỡ thế giới Đặcbiệt là khả năng toán học và phương pháp tư duy trừu tượng làm cho đội ngũlàm công nghệ phần mềm có ưu thế vượt trội hẳn lên

Ấn Độ xây dựng nền kinh tế trong bối cảnh quốc tế có nhiều thuận lợi

Xu thế quốc tế hoá, khu vực hoá diễn ra mạnh mẽ, giao lưu quốc tế ngày càng

mở rộng, cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật diễn ra nhanh chóng là điềukiện để Ấn Độ tiếp thu thành tựu khoa học - kỹ thuật, văn hoá, trao đổi hànghoá, đẩy mạnh xuất khẩu, thu hút vốn đầu tư

Những ưu đãi của tự nhiên, những thuận lợi của quốc tế cùng vớichính sách phát triển kinh tế đúng đắn, khát vọng muốn xây dựng một đấtnước giàu mạnh sau hàng trăm năm nô lệ của nhân nhân là nguyên nhân dẫn

Trang 21

tới những thành tựu to lớn trong công cuộc xây dựng đất nước Ân Độ, đưaquốc gia Nam Á này tiến nhanh trên con đường trở thành một cường quốc.

Cơ sở hạ tầng yếu kém, chất lượng giáo dục còn chưa cao, những hậuquả từ chính sách cai trị lâu đời của thực dân Ấn Độ khó có thể vực dậy nềnkinh tế đất nước trong hoàn cảnh mới

Sự thiếu ổn định về chính trị - xã hội cũng là một khó khăn lớn trongviệc ổn định và phát triển kinh tế đất nước Ấn Độ là một đất nước rộng lớn,

đa dạng về tôn giáo, dân tộc, sắc tộc, những tàn dư của chế độ đẳng cấp vẫncòn tồn tại rất nặng nề Tình trạng này dẫn đến những mâu thuẫn xung độtdưới nhiều dạng khác nhau, trong các nhóm xã hội khác nhau, trong đó đáng

kể nhất là những xung đột, tôn giáo, sắc tộc đẫ dẫn đến những vụ bạo loạn, likhai Những bất ổn này không những ảnh hưởng đến các dự án đầu tư nướcngoài ở những vùng này mà còn ảnh hưởng không nhỏ đến chương trình pháttriển kinh tế- xã hội nói chung của toàn thể đất nước Sự xuất hiện, tồn tạinhiều đảng phải chính trị cũng gây nhiều khó khăn cho nền kinh tế Ấn Độ, sựchống đối, công kích lẫn nhau của các đảng phái dẫn đến những chính sáchkinh tế không được thống nhất [20, 8]

Trong quá trình phát triển kinh tế, giới lãnh đạo Ấn Độ đã có nhiều cốgắng hạn chế dần những khó khăn, phát huy lợi thế vốn có nhằm đưa Ấn Độtiến những bước dài trên trường quốc tế

Trang 22

1.3 Khoa học - kỹ thuật Ấn Độ trong lịch sử

Ấn Độ là một trong những cái nôi của nền văn minh nhân loại Người

Ấn Độ từ rất sớm đã có những đóng góp cho loài người về KH-KT

Về Thiên văn, người Ấn Độ cổ đại đã làm ra lịch, họ chia một năm ralàm 12 tháng, mỗi tháng có 30 ngày (Như vậy năm bình thường có 360ngày) Cứ sau 5 năm thì họ lại thêm vào một tháng nhuận Về Toán học, cáctri thức về lĩnh vực này đã có từ thời Veđa, với Shatapatha Brahmana (khoảngthế kỉ IX Tr.CN), trong đó có xấp xỉ số π chính xác tới 2 chữ số thập phân vàSulba Sutras (khoảng 800-500 Tr.CN) là các văn bản hình học sử dụng số vô

tỉ, số nguyên tố, luật ba, và căn bậc ba; tính căn bậc hai của 2 tới năm chữ sốthập phân; đưa ra phương pháp cầu phương hình tròn, giải phương trình tuyếntính và phương trình bậc hai; phát triển bộ ba Pythagore theo phương pháp đại

số, phát biểu và nêu chứng minh cho Định lý Pythagore Panini (khoảng thế kỉ

V Tr.CN) đã lập công thức cho ngữ pháp của tiếng Phạn Kí hiệu của ôngtương tự với kí hiệu toán học, và sử dụng các ngôn luật, các phép biến đổi, đệqui với độ phức tạp đến mức ngữ pháp của ông có sức mạnh tính toán ngangvới máy Turing Công trình của Panini cũng đi trước cả lý thuyết hiện đại ngữpháp hình thức (formal grammar) (có vai trò quan trọng trong điện toán),trong khi dạng Panini-Backus được sử dụng bởi những ngôn ngữ lập trìnhhiện đại nhất lại rất giống với luật ngữ pháp của Panini Pingala (khoảng thế

kỉ III đến thế kỉ I Tr.CN) trong bản luận thuyết của mình về thi pháp đã sửdụng một phương pháp ứng với hệ nhị phân Thảo luận của ông về tổ hợp củacác phách, tương ứng với định lý nhị thức Công trình của Pingala cũng chứacác ý tưởng cơ bản của các số Fibonacci (được gọi là matrameru) Văn bảnchữ Brahmi được phát triển ít nhất từ thời triều Môria vào thế kỉ IV Tr.CN,với những bằng chứng khảo cổ học cho thấy nó xuất hiện vào khoảng 600Tr.CN Chữ số Brahmi ở vào khoảng thế kỉ 3 TCN.Giữa năm 400 TCN và

Trang 23

200 CN, các nhà toán học Jaina bắt đầu nghiên cứu toán học với mục đíchduy nhất cho toán học Họ là những người đầu tiên phát triển transfinitenumber, lý thuyết tập hợp, logarit, các định luật cơ bản của lũy thừa, phươngtrình bậc ba, phương trình bậc bốn, dãy số và dãy cấp số, hoán vị và tổ hợp,bình phương và lấy xấp xỉ căn bậc hai, và hàm mũ hữu hạn và vô hạn Bảnthảo Bakshali được viết giữa năm 200 Tr.CN và 200 CN bao gồm cách giải

hệ phương trình tuyến tính tới năm ẩn, nghiệm phương trình bậc hai, cấp sốcộng và cấp số nhân, dãy phức hợp, phương trình vô định bậc hai, phươngtrình không mẫu mực, và sự sử dụng số 0 và số âm Các tính toán chính xáccho số vô tỉ đã được tìm ra, bao gồm tính căn bậc hai của các số tới bao nhiêuchữ số sau dấu phẩy tùy thích (từ 11 chữ số trở lên) [7, 301-310]

Người Ấn Độ thời cổ đại chính là chủ nhân của hệ thống chữ số màngày nay ta quen gọi là số Arập Đóng góp lớn nhất của họ là đặt ra số không,nhờ vậy mọi biến đổi toán học trở thành đơn giản, ngắn gọn hẳn lên (NgườiTây Âu vì vậy mà từ bỏ số La Mã mà sử dụng số Arập trong toán học.) Họ đãtính được căn bậc 2 và căn bậc 3; đã có hiểu biết về cấp số, đã biết về quan hệgiữa 3 cạnh trong một tam giác Pi = 3,1416

Về Vật lí, người Ấn Độ cổ đại cũng đã có thuyết nguyên tử Thế kỉ VTr.CN, có một nhà thông thái ở Ấn Độ đã viết “ trái đất, do trọng lực củabản thân đã hút tất cả các vật về phía nó” Y học cũng khá phát triển Người

Ấn Độ cổ đại đã mô tả các dây gân, cách chắp ghép xương sọ, cắt màng mắt,theo dõi quá trình phát triển của thai nhi Họ để lại hai quyển sách là “Y họctoát yếu” và “Luận khảo về trị liệu”

Các thành phố được kế hoạch hóa hoàn hảo và xây dựng có tính kỹthuật là bằng chứng cho một mức độ phát triển cao của khoa học thời bấy giờ.Con người của nền văn hóa sông Ấn đạt đến một mức độ chính xác đáng kinhngạc trong đo lường về chiều dài, khối lượng và thời gian Người dân nền văn

Trang 24

hóa sông Ấn có lẽ là những người đầu tiên phát triển và sử dụng các trọnglượng và kích thước thống nhất Đo lường của họ hết sức chính xác Đơn vịchiều dài nhỏ nhất được tìm thấy trên một thước đo làm bằng ngà voi tại

Lothal tương ứng với khoảng 1,704 mm, là đơn vị nhỏ nhất trên một thước đothuộc thời kỳ đồ đồng đã từng được tìm thấy Trọng lượng dựa trên đơn vị0,05; 0,1; 1; 2; 5; 10; 20; 50; 100; 200 và 500, trong đó mỗi đơn vị nặng vàokhoảng 28 gram Hệ thống thập phân cũng đã được biết đến và sử dụng Đượcdùng làm vật liệu xây dựng lần đầu tiên trong lịch sử của loài người là gạchđược nung với tỷ lệ kích thước toàn hảo 1:2:4 vẫn còn thông dụng cho đếnngày nay Trong luyện kim, nhiều kỹ thuật mới cũng được phát triển, thợ thủcông của nền văn hóa Harappa đã sử dụng những kỹ thuật này trong lúc giacông đồng, đồng thau, chì và thiếc.Các khai quật được tìm thấy trong năm

2001 từ Merhgarh cho thấy ngay cả cơ bản về y học và nha khoa cũng đượcbiết đến

Chính sự phát triển khoa học - kỹ thuật Ấn Độ trong lịch sử đã đạt nềnmóng cho sự phát triển của Ấn Độ thời hiện đại nói chung và nền khoa học -

kỹ thuật nói riêng

1.4 Chính sách khoa học - kỹ thuật của nhà nước Ấn Độ

Năm 1956, Thủ tướng Ấn Độ, J Nehru đã tuyên bố tại Quốc hội rằng

Ấn Độ muốn tiến bộ cần phải thông qua con đường khoa học - kỹ thuật, ứngdụng những thành tựu khoa học - kỹ thuật mới nhất tiên tiến nhất vào quátrình phát triển đất nước

Đi theo đường lối đó, Ấn Độ đã có một chính sách khoa học - kỹ thuậtđược hoàn chỉnh từng bước, các hoạt động khoa học - kỹ thuật hiện nay đượcchỉ đạo bằng nghị quyết về chính sách khoa học được thông qua 1957 Mộtnghị quyết đã vạch ra phương hướng hoạt động cơ bản cho các cơ quan khoahọc - kỹ thuật của Ấn Độ Để chỉ đạo cụ thể công tác này, chính phủ Ấn Độ

Trang 25

đã lập Ủy ban tư vấn khoa học làm công tác vạch chính sách khoa học Nốitiếp cha mình, tháng 4 năm 1981, Thủ tướng Indira Gandhi lại thành lập Ủyban khoa học - kỹ thuật gồm 9 người do Bà trực tiếp làm Chủ tịch Mục tiêucủa các cơ quan này là đẩy mạnh việc nghiên cứu và áp dụng các thành tựukhoa học - kỹ thuật vào sản xuất để nâng cao năng suất lao động Phát biểu tạicuộc họp chung đầu tiên giữa hai cơ quan này, Thủ tướng I Gandi đã nhấnmạnh sự cần thiết đưa khoa học vào quần chúng và bắt khoa học phục vụ mọimặt của cuộc sống [7, 315-318].

Ấn Độ cũng đã đưa ra những mục tiêu thiết thực trong chính sách pháttriển khoa học cụ thể là: thúc đẩy và phát triển bằng mọi biện pháp, việc mởrộng công tác nghiên cứu khoa học trên mọi lĩnh vực đảm bảo cung cấp mộtcách thỏa đáng cho đất nước các nhà nghiên cứu khoa học có chất lượng cao

và coi công việc của họ là một bộ phận quan trọng trong thế mạnh của đấtnước, khuyến khích và thực hiện nhanh nhất các công trình đào tạo cán bộkhoa học - kỹ thuật để đáp ứng những yêu cầu của đất nước về khoa học, giáodục, nông nghiệp công nghiệp và quốc phòng, đảm bảo khuyến khích tài năngsáng tạo của mọi người, nam cũng như nữ và phát triển cao độ các hoạt độngkhoa học

Nhờ các chủ trương nói trên, những năm 80 của thế kỉ XX, Ấn Độ cómột đội ngũ cán bộ khoa học - kỹ thuật đứng hàng thứ ba trên thế giới sauLiên Xô và Mỹ Hàng năm, Ấn Độ đào tạo được khoảng 150.000 cán bộ khoahọc và kỹ thuật Tổng số cán bộ khoa học - kỹ thuật có trình độ chuyên mônước tính khoảng hai triệu rưỡi Trong 40 năm sau khi giành được độc lập, Ấn

Độ đã thành lập được 119 trường Đại học, khoảng 1650 trường cao đẳng, 5viện nghiên cứu kỹ thuật, 150 trường cao đẳng kỹ thuật và khoảng 100 trường

Y, 350 trường bách khoa Một số trường nổi tiếng như Đại học Delhi với sốlượng khoảng 300.000 sinh viên và nghiên cứu sinh theo học hằng năm Đại

Trang 26

học Mumbai với 354 trường cao đẳng trực thuộc và 36 ngành Đại học Puneđược trải rộng trên một diện tích 411 mẫu Anh và được biết đến như là

“Oxford của phương Đông” Đại học Hữu nghị với hơn 80.000 sinh viên vànghiên cứu sinh [25] Ngoài ra trong nước còn có 130 phòng thí nghiệm vàviện nghiên cứu chuyên môn Đó là chưa kể 600 phòng nghiên cứu riêng củacác nhà máy, xí nghiệp trong khu vực nhà nước và tư nhân Riêng trong lĩnhvực hạt nhân, Ấn Độ hiện có 8000 công nhân lành nghề và 2 nghìn kĩ sư Đếnnăm 2000, Ấn Độ có 130.000 Công nhân lành nghề và 32000 các kĩ sư làmviệc trong lĩnh vực này

Trong kế hoạch 5 năm lần thứ 6 (1981-1985), chính phủ chi cho côngtác khoa học - kỹ thuật 33 tỷ Rupi Một điều quan trọng được nêu ra trong kếhoạch này là áp dụng nhiều hơn nữa khoa học - kỹ thuật để tăng sản lượngtrong mọi lĩnh vực Trong thời gian qua, các nhà khoa học nông nghiệp Ấn

Độ đã nghiên cứu và gây tạo được nhiều giống lúa cao sản mới, không ngừngnâng cao sản lượng lương thực Cuộc cách mạng về lúa ở Ấn Độ đã đưa sảnlúa tăng gần 4 lần, sản lượng các loại ngũ cốc khác cũng tăng đáng kể Cùngvới các biện pháp trồng trọt mới và giống lúa mới, sản lượng lương thực Ấn

Độ 1980-1981 đã đạt mức cao chưa từng có là 133,3 triệu tấn Trên lĩnh vựccông nghiệp Ấn Độ đang vươn tới những đỉnh cao mới những năm 80, Ấn

Độ đã có thể sản xuất được các loại thiết bị cho nhà máy thủy điện nhiệt điện,nhà máy điện nguyên tử, lò phản ứng hạt nhân cũng như sản xuất được cácloại tên lửa, vệ tinh…

Chính sách khoa học - kỹ thuật trong kế hoạch 5 năm (1981-1985), cóthể tóm tắt ở hai mục tiêu: đẩy mạnh các hoạt động khoa học và đẩy mạnhviệc áp dụng khoa học - kỹ thuật nhằm giảm dần lao động khó nhọc đối vớicon người

Đến năm 1991, trước những khó khăn của tình hình kinh tế- chính trị,

Ấn Độ đã thực hiện cuộc cải cách kinh tế toàn diện: Điều chỉnh các chính

Trang 27

sách kinh tế vĩ mô, chuyển từ một nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấpđóng cửa sang nền kinh tế thị trường tự do hóa và mở cửa, nâng cao khả năngcạnh tranh từng bước hội nhập vào quốc tế Trong các cải cách đó, chính sáchkhoa học - kỹ thuật được đặc biệt chú trọng.

Ấn Độ ưu tiên đặc biệt khoa học - kỹ thuật cho những ngành côngnghiệp mũi nhọn, như công nghiệp điện tử năm 1998 chính phủ Ấn Độ đưa

ra kế hoạch “xây dựng quốc gia siêu cường và những doanh nghiệp tin học”

Từ 1998 Ấn Độ đưa ra mục tiêu năm 2008 thực hiện giá trị sản phẩm phầnmềm đạt 87 tỷ USD, xuất khẩu 50 tỷ USD, đặt ra kế hoạch năm 2010 trởthành nước lớn về công nghệ tin học, nước lớn về kỹ thuật hạt nhân và côngnghệ sinh học Lĩnh vực phần mềm của Ấn Độ đã nhanh chóng trở thành mộtngành xuất khẩu mũi nhọn của đất nước đặc biệt giai đoạn 1996, Ấn Độ đãxuất khẩu phần mềm sang 75 nước Với chính sách mở cửa Ấn Độ thu hútđược các công ty công nghệ thông tin lớn nhất thế giới và xây dựng cơ sở vậtchất tại 7 khu công nghệ cao phân bổ trên toàn đất nước Ấn Độ

Để thực hiện chính sách viễn thông mới thông qua năm 1999 và đẩymạnh việc sử dụng mạng thông tin quốc tế, buôn bán điện tử và thúc đẩy pháttriển các cơ quan kinh doanh bằng trí tuệ, tháng 11/1999 Ấn Độ thành lập bộcông nghệ thông tin thay cho cục công nghệ thông tin và điện tử Bộ này sẽđưa ra kế hoạch hành động cụ thể nhằm biến Ấn Độ thành một siêu cườngquốc tế về kĩ nghệ thông tin

Bên cạnh đó chính phủ Ấn Độ cũng quan tâm đặc biêt đến những lĩnhvực như năng lượng nguyên tử, nghiên cứu vũ trụ và phát triển đại dương.Hiện Ấn Độ cũng là một trong những nước đi đầu trong những ngành này

Sang thế kỉ XXI, trước những thay đổi quốc tế, những khó khăn trongnước đặt ra một vấn đề bức thiết: Làm thế nào để vượt qua thời kì khó khăn

để cùng với Trung Quốc, Nhật Bản trở thành “đầu tàu” châu Á Giới lãnh đạo

Trang 28

Ấn Độ đã nhanh chóng nắm bắt được tình hình và quyết tâm thực hiện cuộc

“cải cách vòng hai” với khẩu hiệu “vì một nước Ấn Độ kiêu hãnh và thịnhvượng” bằng những nỗ lực lớn hơn, những chính sách mang tính đột phá hơn

Với phương châm khoa học công nghệ là sức mạnh, nền tảng cho sựphát triển kinh tế, Chính phủ Ấn Độ đang đầu tư mọi khả năng vào nghiêncứu khoa học Ngân sách cho nghiên cứu khoa học và công nghệ hàng nămchiếm trên 16%, hơn 1280 dự án nghiên cứu được chính phủ hỗ trợ, 200phòng thí nghiệm và 220 trường Đại học được hiện đại hoá, 20 trung tâmnghiên cứu đựoc xây dựng mới, đã thể hiện quyết tâm của Chính Phủ Ấn

Độ trong việc biến khoa học công nghệ trở thành động lực và là mục tiêuchính để phát triển kinh tế [1]

Các nhà khoa học Ấn Độ có lí do để tự hào về các bước đột phá củamình trong nghiên cứu không gian, công nghệ vệ tinh và các ứng dụng dân cưcủa công nghệ hạt nhân Ấn Độ có một lực lượng nhân sự có trình độ kỹ thuậtchuyên nghiệp lớn thứ 3 trên thế giới, và hiện nay cũng là nước xuất khẩuphần mềm vi tính vào hàng lớn nhất thế giới

Hiện nay Ấn Độ đang nổi lên là một trung tâm nghiên cứu và phát triểncủa thế giới Số đơn xin cấp bằng phát minh sáng chế tại Ấn Độ đã tăng từ

4000 chiếc năm 1995 lên 15000 chiếc năm 2005 Số nghiên cứu của Ấn Độxin cấp bằng sáng chế tại Mỹ cũng tăng từ 183 năm 1997 lên 1700 năm 2003

Những chương trình và chính sách nhằm gia tăng khả năng khoa họccông nghệ của Ấn Độ được thực hiện thông qua 5 bước: Xây dựng cơ sở hạtầng; Định hướng lại; Thúc đẩy công nghệ trong nước; Hướng tới sự tự dokinh tế; Khoa học và công nghệ trong tự do kinh tế Để tạo mọi điều kiện chophát triển khoa học và công nghệ, các thủ tục hành chính, quy định của Chínhphủ được nới lỏng và trở nên linh động với mục đích mở ra một lộ trình mớicho nền khoa học của đất nước này đi lên, hỗ trợ một cách tối ưu nhất cho các

Trang 29

nhà khoa học để họ có thể phát triển ở ngay tại đất nước thay vì theo đuổi sựnghiệp ở nước ngoài Chảy máu chất xám không còn là vấn đề đáng lo ngại.Trong những năm qua, với những chính sách sử dụng nhân tài đúng đắn đãkéo hơn 30.000 nhà khoa học và chuyên gia hàng đầu trở về quê hương.Những tài năng trẻ Ấn Độ đã chọn con đường trở về đại bản doanh công nghệthông tin và công nghiệp phần mềm ngay trên quê hương mình và không hề

có ý định quay trở lại theo đuổi sự nghiệp ở những nước phương Tây Khôngchỉ có thế, nhiều sinh viên giỏi các nước đang theo học ở những trường đạihọc hàng đầu thế giới cũng đều muốn chọn Ấn Độ như là một nơi lý tưởng đểthực tập và tích lũy kinh nghiệm

Chính phủ Ấn Độ đang ưu tiên và gia tăng tiềm lực tập trung vàonhững mũi nhọn chiến lược như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học,nghiên cứu không gian, năng lượng hạt nhân để phát triển kinh tế xã hội, đảmbảo an ninh, thực hiện hóa ước mơ trở thành một trong những cường quốckinh tế lớn nhất thế giới vào năm 2020

Tiểu kết chương 1

Cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật diễn ra rất nhanh chóng và sâurộng trên phạm vi toàn cầu cũng làm thay đổi cục diện chính trị thế giới,chuyển cuộc đấu tranh về chính trị quân sự sang cuộc chạy đua giành ưu thế

về kinh tế, khoa học - kỹ thuật và công nghệ giữa các nước, giữa các trungtâm Cùng với nó là sự xuất hiện của xu thế toàn cầu hóa, các mối quan hệkinh tế song phương và đa phương tác động lẫn nhau, phụ thuộc lẫn nhaugiữa các quốc gia trên toàn thế giới Các mối quan hệ đó đã trở thành phổbiến, ngày một sâu sắc và gia tăng mạnh mẽ

Để thích ứng với những thay đổi của thế giới, bắt kịp sự vươn lên củacác cườ quốc, xu hướng chung trên thế giới mà Ấn Độ không phải là ngoại lệ

là đa dạng hoá quan hệ và điều chỉnh cơ cấu kinh tế cho phù hợp với đặc điểm

Trang 30

ngày càng phụ thuộc lẫn nhau nhiều hơn của nền kinh tế thế giới, phải tiếnhành đầu tư cho cách mạng khoa học - kỹ thuật, dung sức mạnh của cáchmạng khoa học - kỹ thuật đẻ phát triển kinh tế quốc phòng.

“Khoa học mang đến hai sự thay đổi lớn cho cuộc sống Thứ nhất,khoa học là một cách tư duy cải hóa con người Thứ hai, khi khoa học đãchuyển thành công nghệ, nó có thể mang đến một sự phát triển nhanh chóngcho quốc gia Đó là lý do tại sao, kể từ năm 1947, khoa học và công nghệluôn là ưu tiên hàng đầu của tất cả các Chính phủ” (Thủ tướng Ấn Độ AbdulKalam)

Với phương châm lấy sức mạnh công nghệ là nền tảng, Ấn Độ đã biếtlợi dụng những tác động tích cực của cách mạng khoa học - kỹ thuật trên thếgiới, đồng thời phát huy những điều kiện thuận lợi về tự nhiên, xã hội của đấtnước mình để trở thành một quốc gia hùng mạnh trên mọi lĩnh vực đặc biệt làkhoa học Quốc gia Nam Á này cũng nhận diện được những mảng tối còn tồntại, những khó khăn để cải cách hệ thống khoa học để tạo ra những đột phámới trong một lĩnh vực được đánh giá là rất giàu tiềm năng này

Trang 31

Chương 2 QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN VÀ THÀNH TỰU CHÍNH

CỦA KHOA HỌC - KỸ THUẬT ẤN ĐỘ TỪ 1950 ĐẾN 2010

2.1 Trong nông nghiệp: “Cách mạng xanh”, “Cách mạng trắng”

2.1.1 “Cách mạng xanh”

Nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Ấn Độ Ở đấtnước Nam á rộng lớn này vai trò của nông nghiệp nông thôn lớn đến mức bất

kì một sự thay đổi dù tích cực hay tiêu cực đều có ảnh hưởng rất lớn đến toàn

bộ nền kinh tế Khu vực nông nghiệp còn là điểm tựa cho bức tường an ninhlương thực của Ấn Độ vì vậy cũng là bức tường an ninh của quốc gia Ấn Độ

Giành được độc lập năm 1947 là một thành tựu to lớn của nhân dân Ấn

Độ nhưng đồng thời cũng là một thách thức lớn cho những người dân độc lập:

Họ phải khắc phục tình trạng thiếu ăn và nạn đói kéo dài từ thời thực dân đểlại, xây dựng một xã hôi đầy đủ và thịnh vượng

Ấn Độ có diện tích lãnh thổ là 329 triệu ha, xếp thứ 7 trong số nhữngnước có diện tích lớn nhất thế giới nhưng diện tích canh tác nông nghiệp của

Ấn Độ lúc đó mới chiếm khoảng 143 triệu ha, bằng 43,5% tổng diện tích đấtđai cả nước Do đất đai rộng lớn và địa hình đa dạng nên khí hậu các miềncủa Ấn Độ khác nhau rõ rệt Phía nam có khí hậu nhiệt đới, phía Đông và tâyảnh hưởng của khí hậu đại dương Thời tiết của vùng khí hậu nhiệt đới giómùa này được chia thành 4 mùa rõ rệt: Mùa đông, mùa hè, mùa mưa và mùagió tây nam Lượng mưa của Ấn Độ phụ thuộc vào từng mùa và từng khuvực, lượng mưa trung bình hàng năm là 119,4 cm nhưng không đều cho nên

Ấn Độ thường xẩy ra lũ lụt về mùa hè và hạn hán về các mùa khác

Toàn bộ đất nước Ấn Độ có bốn hệ thống sông ngòi: Hệ thống sôngHymalaya - Hệ thống sông bán đảo Đê can - Hệ thống sông vùng biển và - Hệthống sông thủy nông

Trang 32

Với đồng bằng vào loại rộng lớn nhất thế giới, với khí hậu thời tiếtthường xuyên thay đổi theo mùa và theo vùng các hệ thống sông trên chưa thểgiúp người dân Ấn Độ làm chủ được công việc trồng trọt của mình Nanj hạnhán lũ lụt vẫn thường xuyên xẩy ra Phần lớn các bang trong nước chưa cósông thủy nông, cho nên chưa khai thác và sử dụng hết đất đai, chưa chủ độngđược tưới tiêu.

Về mặt xã hội, chế độ sở hữu ruộng đất của Ấn Độ rất bất bình đẳng.Phần lớn ruộng đất tập trung trong tay địa chủ, phú nông và những người chovay nặng lãi Những người này chiếm khoảng 15% dân số nông thôn nhưngchiếm tới 85% ruộng đất, trong khi đó nông dân chiếm 85% dân số nông thôn

mà chỉ sở hữu 155 ruộng đất mặt khác hệ số sử dụng ruộng đất rất thấp vàhầu như không thay đổi gì kể từ khi giải phóng cho đến cuối kế hoạch 5 nămlần thứ hai chỉ ở mức 1,14 đến 1,16 lần Mạng lưới thủy lợi lúc bấy giờ cònrất yếu, diện tích được tưới tiêu chỉ khoảng 15,8% đến 21% tổng số đất đaicanh tác Kỹ thuật canh tác ở Ấn Độ vẫn lạc hậu, công việc cày kéo vẫn chủyếu dựa vào sức người và súc vật Mức sử dụng phân bón thấp Ở đây người

ta chỉ sử dụng 50% phân hữu cơ, số còn lại phơi khô dùng để làm chất đốt Sốlượng phân hóa học cũng rất ít, khoảng 3 kg/ha, trong khi đó ở Nhật Bản là

139 kg/ha

Do nông nghiệp kém phát triển và dân số đông nên tình trạng thiếu đóirất trầm trọng, trước ngày giành được độc lập, Ấn Độ có khoảng 350 triệungười, là một nước nông nghiệp mà không sản xuất đủ lương thực Thời kì đóngười ta gọi Ấn Độ là trung tâm chết đói của thế giới Tình trạng thiếu lươngthực kéo dài đến tận những năm 60, đỉnh cao là các năm 1965-1966

Để bù vào tình trạng thiếu hụt lương thực, hàng năm chính phủ Ấn Độphải nhập một khối lượng lớn lương thực của nước ngoài Swaminathan - mộtnhà Khoa học của Ấn Độ đã phát biểu về sự thật đau lòng này như sau: “nhập

Trang 33

khẩu lương thực có nghĩa là chúng ta nhập khẩu sự thất nghiệp” và cả đấtnước Ấn Độ đều nhận thức được điều đó.

Nạn thiếu lương thực của Ấn Độ xẩy ra chủ yếu do hai nguyên nhân:

kỹ thuật canh tác lạc hậu và chế độ kinh tế, quan hệ sản xuất phong kiến lỗithời làm cho sản xuất không tăng và năng suất lao động thấp Trước tình hình

đó, để phát triển nông nghiệp một nhiệm vụ cấp bách được đăt ra với chínhphủ Ấn Độ là cải cách ruộng đất

Cuộc cải cách ruộng đất ở Ấn Độ đã giảm một phần số dân nông thônkhông có ruộng hoặc có dưới mức tối thiểu để duy trì cuộc sống, có tác dụngnhất định đối với sản xuất nông nghiệp, cho phép tiếp thu kỹ thuật mới

Đồng thời với cải cách ruộng đất, thời kì từ 1950-1951 đến 1964-1965

Ấn Độ đã tiến hành giai đoạn thứ nhất của chương trình phát triển nôngnghiệp, nhiều người gọi đây là giai đoạn trước cách mạng xanh, nội dung chủyếu là phát triển nông nghiệp theo hướng quảng canh, đưa vào sử dụng diệntích đất chưa được trồng trọt và bỏ hoang, khoảng 100,45 triệu ha

Cải cách ruộng đất và quảng canh của Ấn Độ tuy đã giúp cho Ấn Độgiảm bớt được phần nào tình trạng thiếu đói lương thực nhưng chưa được baonhiêu vì năng suất cây trồng vẫn quá thấp Sản lượng lương thực giẩm sútnăm 1957-1958 đã gây lo ngại lớn cho Ấn Độ Nhiều nhà kinh tế phương Tâycho rằng Ấn Độ không thể tự túc được lương thực Một số nhà kinh tế Ấn Độcũng tán thành quan điểm đó Nhưng phần lớn các nhà lãnh đạo và các nhàkinh tế Ấn Độ cho rằng với đất đai rộng lớn chưa tận dụng hết khả năng pháttriển, nếu áp dụng khoa học - kỹ thuật tiên tiến để cải tạo chế độ canh tác, cảitạo chế độ kinh tế lạc hậu thì Ấn Độ hoàn toàn có thể phát triển mạnh nôngnghiệp và tự túc lương thực Quan điểm này đã trở thành quan điểm chỉ đạo,chi phối các chính sách phát triển nông nghiệp ở Ấn Độ

Với những kết quả nghiên cứu đạt được trong nước, kết hợp với việctham khảo ý kiến tư vấn của các chuyên gia nước ngoài nhất là đoàn chuyên

Trang 34

gia nông nghiệp do tổ chức Ford Foundation tài trợ đến cùng làm việc với cácchuyên gia Ấn Độ năm 1959, Chính phủ Ấn Độ đã quyết định thực hiện mộtchương trình nông nghiệp mới, chương trình thâm canh từ kế hoạch 5 năm lầnthứ 3 (1961-1966) Kế hoạch 5 năm lần thứ 3 đặt ra mục tiêu tự túc lươngthực với tổng sản lượng 101,6 triệu tấn Nhưng do hạn hán nặng nề 1965-

1966 nên chỉ đạt 72,35 triệu tấn Nói chung sản xuất nông nghiệp trong kếhoạch 5 năm lần thứ 3 bị thất bại, do vậy từ 1966-1967 một chiến lược nôngnghiệp mới đã được triển khai với nội dung chính là phát triển các giống lúacao sản, đồng thời áp dụng phương pháp bảo vệ cây trồng có hiệu quả cungcấp nước đầy đủ, sử dụng kỹ thuật hóa học hiện đại và có chính sách giá cảlương thực thích hợp Trong thực tế Ấn Độ đã ưu tiên phát triển các khâu thenchốt của sản xuất nông nghiệp như giống, phân bón, thuốc trừ sâu, thủy lợi,nông cụ, kỹ thuật canh tác và tín dụng [12, 17-19]

Phát triển giống cao sản là một trong những nội dung quan trọng nhấtcủa cuộc cách mạng xanh Loại giống cao sản đầu tiên sử dụng ở Ấn Độ làgiống lúa mì nhập từ Mêhicô từ những năm 40 Lúc đầu giống lúa mới này đã

tỏ ra có nhiều ưu thế hơn so với các loại giống cổ truyền Ấn Độ nhưng về sauchúng phát triển không ổn định trong các điều kiện khí hậu thời tiết dịch bệnh

ở Ấn Độ Trước tình hình đó Ấn Độ đã phải đẩy mạnh phát triển khoa họcnông nghiệp, tìm tòi, phát hiện các giống cây mới phù hợp với điều kiện đấtnước mình Đội ngũ cán bộ và kĩ sư nông nghiệp được đào tạo ngày càngnhiều, các cơ sở nghiên cứu nông nghiệp, các phòng thí nghiệm, trạm nhângiống, các trường Đại học nông nghiệp được thành lập ngày càng nhiều, ngàycàng nâng cao khả năng nghiên cứu và đạo tạo Với sự tham gia của 21trường Đại học và 33 viện nghiên cứu thuộc các cơ quan nghiên cứu nôngnghiệp lớn, Ấn Độ đã lai tạo được các loại giống mới, tìm được những kỹthuật canh tác khoa học cho các vùng cụ thể cho đất nước Viện nghiên cứulúa trung ương Ấn Độ ở bang Orissa đã tạo được giống lúa CR 666 có thể thu

Trang 35

hoạch sau 60 ngày gieo trực tiếp Năng suất giống lúa này là 1,5-2 tấn/hatrong điều kiện phân bón 20-30 kg đạm/ha và cần lượng nước không đáng kểtrong thời gian sinh trưởng Thành công này đã tạo ra một bước ngoặt lịch sử

mà nười ta coi là bước mở đầu cho cuộc cách mạng xanh, một cuộc cáchmạng vĩ đại trong nông nghiệp, tạo tiền đề cho sự phát triển của nông nghiệpcác nước châu Á sau này Bên cạnh việc lai tạo các loại giống mới, công tácnhân giống và phổ biến các loại giống mới cũng được chú trọng Năm 1963

Ấn Độ thành lập liên đoàn giống quốc gia bao gồm hai trạm nhân giống lớn

và 121 nhà máy xử lí giống Ngoài ra ở mỗi bang cũng có liên đoàn giống.Các liên đoàn giống quốc gia và địa phương đã góp phần to lớn trong việcthúc đẩy cách mạng xanh, đảm bảo cung cấp giống cho cả nước về 4 loại: Lúa

mì, lúa gạo, ngô và đậu là những loại cây mà nhân dân Ấn Độ có nhu cầu cao

và có giá trị xuất khẩu lớn Đến 1966, Ấn Độ lại đạt được thành tựu lớn trongnghiên cứu giống cây mới: Nhà khoa học Swaminathan với sự giúp đỡ của tổchức RockeFeller Founddation đã tạo ra giống lúa mì lai giữa hai giống lúa

mì vốn đã có năng suất cao của Nhật Bản và Mêxico Cũng trong năm 1966,Swaminathan với tư cách là giám đốc cơ quan nghiên cứu nông nghiệp, ông

đã lập được 2000 mô hình trang trại ở ngoại ô NewDelhi Đây là những môhình sản xuất ứng dụng khoa học - kỹ thuật nông nghiệp dùng những giốngcây trồng mới đạt năng suất cao, khắc phục dần tất cả những khó khăn về thóiquen canh tác cũ, điều kiện thủy lợi, thổ nhưỡng, vật tư Những vụ thu hoạchgiống lúa mới cho năng suất cao gấp ba lần giống lũa cũ [29, 44-50]

Nhờ có cách mạng xanh, Nông nghiệp Ấn Độ đạt được thành quả to lớn.Sản lượng lương thực tăng từ 72,35 triệu tấn (1966) lên 176 triệu tấn (1990) vàđạt đến 203 triệu tấn (2000) trong đó gạo chiếm vai trò quan trọng Trong tổngdiện tích trồng cây lương thực ở Ấn Độ thì diện tích trồng lúa chiếm 31% Sảnlương gạo trong nững năm gần đây Ấn Độ đạt mức trung bình 75 triệu tấn/năm Năm1998-1999, Ấn Độ xuất khẩu 3 triệu tấn gạo, đứng hàng thứ 2 thế

Trang 36

giới về xuất khẩu Hai bang sản xuất gạo lớn nhất Ấn Độ là Hariana vàPungiap Trên thị trường thế giới gạo Baxmati của Ấn Độ được coi là đầu bảngkhông có đối thủ Chiếm tỉ trọng lớn trên thị trường xuất khẩu gạo thế giớithường là Thái Lan, Mỹ, Việt Nam, Pakixtan…các nước này chiếm tới 73%tổng sản lượng gạo trên thị trường Tuy nhiên nếu xét về sản lượng thì 4 nướcnày chỉ có 9,8% trong khi đó Trung Quốc và Ấn Độ đã chiếm 58% sản lượngtoàn cầu mặc dù tỷ trọng xuất khẩu của hai nước này nhỏ [33].

Từ chỗ thiếu lương thực thường xuyên phải nhập một khối lượng lớnhàng năm đến chỗ tự túc được lương thực vào đầu những năm 80, có dự trữ

và xuất khẩu

Năm 1990 cây có củ đạt gần 21 triệu tấn trong đó khoai tây Ấn Độđứng đầu châu Á về năng suất, đứng thứ hai về sản lượng Sản lượng đậu đỗđạt gần 13 triệu tân, chiếm hơn 60% đậu đỗ của cả châu Á Sản lượng cây códầu Ấn Độ đứng đầu châu Á, riêng sản lượng lạc là 7,5 triệu tấn, chiếm 50%sản lượng lạc của cả châu Á Sản lượng mía đạt 190 triệu tấn, chiếm 50% sảnlượng mía của cả châu Á Cây ăn quả của Ấn Độ đạt 600.000 tấn, đứng đầu

cả châu Á, tơ tằm đứng thứ hai châu Á, trên Nhật Bản và sau Trung Quốc Từ

đó đến nay sản lượng lương thực tiếp tục tăng Năm 2005-2006 sản lượnglương thực đạt 210 triệu tấn, diện tích gieo trồng lương thực cũng tăng đến142,2 triệu ha góp phần đưa lương thực dự trữ của Ấn Độ lên 60 triệu tấn vàonăm 2001 [34, 55] Việc Ấn Độ cùng với Trung Quốc, Brazin trở thành cườngquốc nông nghiệp thế giới đã sản xuất ra khổi lượng lương thực nhiều hơnbao giờ hết Trong 35 năm qua sản lượng lương thực toàn cầu đã tăng vớinhịp độ nhanh hơn dân số

Cách mạng xanh đã tạo ra một bước ngoặt kì diệu, giúp ổn định cuộcsống của gần 500 triệu người Từ đây, Ấn Độ không còn cảnh chết đói, khôngphải nhập hàng triệu tấn lương thực để đáp ứng nhu cầu của nhân dân Do đólấy lại được niềm tin của Ấn Độ về thời kì cực thịnh xa xưa được miêu tả

Trang 37

trong các sách cổ thơ ca khi có những vụ mùa bội thu: sữa, mật ong tràn đầy,

cỏ hoa thơm ngát…

2.1.2 “Cách mạng trắng”

Tiếp sức cho cuộc cách mạng xanh là cuộc cách mạng trắng, với mụctiêu phát triển đàn trâu sữa, bò sữa, dê sữa nhằm cung cấp sữa tươi chất lượngcao, giá rẻ trở thành nguồn dinh dưỡng chủ lực cho mọi người dân Ấn Độ

Sữa là một trong những sản phẩm quan trọng nhất trong chính sáchphát triển chăn nuôi của Ấn Độ Nhân dân Ấn Độ theo nhiều tôn giáo khácnhau, rất nhiều người ăn chay, người Ấn Độ không giết và ăn thịt bò, ngườiHồi giáo không ăn thịt lợn…do đó sữa là một nguồn thức ăn rất quan trọng đểcung cấp đạm thay thế thịt cho người ăn chay Sữa đã trở thành một nhu cầucần thiết đối với nhân dân như là ngũ cốc Nhận thức được tầm quan trọngcủa loại sản phẩm này, Ấn Độ không những chủ trương thực hiện “Cáchmạng xanh” mà còn thực hiện cả cuộc “Cách mạng trắng” tập trungb chủ yếuvào chăn nuôi trâu, bò sữa, dê sữa…

Năm 1970, Ấn Độ đưa ra chương trình sản xuất sữa toàn quốc Số hợptác xã sản xuất sữa của các làng của Ấn Độ đã tăng từ 1500 đến 12000 Tất cả

có khoảng 1,6 triệu người sản xuất sữa ở nông thôn tham gia vào chương trìnhnày, tạo nguồn việc làm và thu nhập quan trọng cho nông dân Để khuyếnkhích phát triển chăn nuôi và sản xuất sữa, Hội đồng sữa toàn quốc Ấn Độ đãgiúp các bang, các thành phố làm quy hoạch phát triển chăn nuôi, thu mua,chế biến, cung cấp sữa cho các thành phố, thiết kế nhà máy chế biến sữa, các

xí nghiệp sản xuất thức ăn gia súc

Ở Ấn Độ có những giống trâu bò có sản lượng sữa hàng năm cao nhấtthế giới (1500 kg) Các trang trại nuôi trâu sữa của nhà nước chủ yếu đảm bảogây dựng các giống tốt và đưa ra các kinh nghiệm chăn nuôi hợp lí về phươngdiện kỹ thuật Năng suất sữa thông dụng là 708 kg /con, loại kỷ lục là 140-180kg/con [25, 5]

Trang 38

Những đàn dê lấy sữa ở Ấn Độ rất lớn và rất tốt Tuy nhiên Ấn Độchưa hài lòng với các giống bò như Xakivan vì thế đã cố gắng tạo ra cácgiống bò sữa tốt hơn

Tháng 1 năm 1987 bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm tạiviện nghiên cứu nông nghiệp ở thủ đô Niu Đêli, con bê Lohri đầu tiên của Ấn

Độ ra đời Lohri đã khắc phục được những yếu điểm của bò Ấn Độ, nó cónăng suất cao và đặc tính di truyền cao hơn Sự ra đời của Lohri được coi làmột dấu hiệu của “cách mạng động vật” mới [33]

Năm 1990, Ấn Độ có 197,3 triệu con bò và 75 triệu con trâu, đứng đầuchâu Á về đàn trâu bò, 110 triệu con dê, đứng đầu châu Á, 54,6 triệu con cừuđứng thứ nhì châu Á, 385 triệu gà vịt và 10,4 triệu con lợn Ấn Độ là mộtnước đứng đầu châu Á về sản lượng sữa Năm 1970 sản xuất ra 20,8 triệu tấnsữa, đến năm 1990 đã tăng lên đến 55,3 triệu tấn và năm 1993 đạt 58 triệu tấnsữa Với mức tăng bình quân 5%/năm.Năm 1996 chiếm 15% sản lượng sữa

bò và 55% sản lượng sữa trâu thế giới, đưa Ấn Độ lên hàng thứ 2 thế giới vềsản lượng sữa Đến đến năm 2000, Ấn Độ sẽ đạt 70 triệu tấn sữa và vượt Mỹ

về sản lượng sữa (hiện nay Mỹ sản xuất 67 triệu tấn sữa, nhưng đang có kếhoạch giảm vì nhu cầu tiêu thụ trong nước đã bão hòa, còn xuất khẩu sữa thìgặp khó khăn về thị trường) Có thể thấy thành quả cuộc “Cách mạng trắng”qua bảng sau:

Sản lượng cá, trứng, sữa của Ấn Độ thời kì 1980 - 2000

Năm Cá (triệu tấn) Sữa (triệu tấn) Trứng (triệu tấn)

Trang 39

Nếu như trước đây, sữa và lương thực là vấn đề khó khăn đối với Ấn

Độ để đảm bảo cho nguồn dân số đông nhất nhì thế giới thì nay, Ấn Độ khôngnhững cung cấp đủ trong nước mà còn có một lượng xuất khẩu lớn mà khôngphải nước nào cũng có được

2.2 Trong Công nghệ thông tin

Kể từ khi giành được độc lập năm 1947, Ấn Độ đã đạt được nhữngthành tựu to lớn trong phát triển khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệthông tin (IT) IT Ấn Độ được coi là lĩnh vực có sự phát triển vượt bậc côngnghệ thông tin đã giúp Ấn Độ, nước luôn giữa vị trí thứ hai trên thế giới vềtốc độ tăng trưởng, trở thành một trung tâm công nghệ hàng đầu của lục địaÁ-Âu, nhờ sự phát triển của IT, Ấn Độ nổi lên như một cường quốc hùngmạnh không chỉ ở châu Á mà còn trên thế giới

Ấn Độ xác định công nghệ thông tin là lĩnh vực trọng yếu trong nềnkinh tế quốc dân Xác định phát triển công nghệ thông tin là một cơ hội đểkhắc phục những khiếm khuyết của lịch sử và là “chìa khóa” nắm vận mệnhphát triển đất nước [9]

Tại cuộc họp cấp cao Ấn Độ -Mỹ với chủ đề “Miền nam năng động”,đại sứ của Mỹ tại Ấn Độ Richard Celeste nói: “tam giác Silicon tại miền nam

Ấn Độ (bao gồm Chennai, Bangalore và Hydetabad) là địch thủ của thunglũng Silicon-trung tâm công nghệ thông tin lớn nhất của Mỹ tại Califonia”.Mới đây tổng thống Mỹ Bill Clionton lại ca ngợi thành công của cách mạngcông nghệ thông tin ở Ấn Độ

Quả thật ngành công nghiệp công nghệ thông tin Ấn Độ đã đạt đượcnhững bước phát triển kì diệu Ấn Độ xác định rằng hiện nay cũng như tươnglai, trí não chứ không phải cơ bắp là chìa khóa phát triển kinh tế Sự phát triểncủa dịch vụ đặc biệt là lĩnh vực công nghệ cao đã trở thành nhân tố chính đốivới sự cạnh tranh của các ngành kinh tế Nhận thức được tầm quan trọng của

Trang 40

công nghệ thông tin chính phủ Ấn Độ đã đề ra mục tiêu đồ sộ biến Ấn Độ trởthành siêu cường về công nghệ thông tin toàn cầu [14].

Ấn Độ đã thành lập một lực lượng chuyên trách về công nghệ thông tinquốc gia và đưa ra một chính sách công nghệ thông tin quốc gia cụ thể chochính sách này, Ấn Độ phấn đấu đạt doanh thu 85 tỷ USD vào năm 2008,trong đó có 50 tỷ USD thu từ xuất khẩu; đề nghị tăng cường cơ sở hạ tầngthông qua việc thành lập tại mỗi bang một viện công nghệ thông tin

Công nghiệp phần mềm và intenet là lĩnh vực nổi bật nhất trong cácngành công nghiệp mới của Ấn Độ Ấn Độ đang đứng trong hàng ngũ cácquốc gia đang phát triển, song nước này lại có một ngành công nghiệp mũinhọn mà ngay cả những nước công nghiệp hàng đầu thế giới cũng phải vị nể -công nghệ phần mềm Đây là ngành có thể tận dụng và khai thác tài năng củađông đảo đội ngũ khoa học - kỹ thuật và kĩ sư Ấn Độ Không như các siêucường kinh tế khác, Ấn Độ không đủ lực để phát triển ồ ạt các ngành côngnghệ cao, phát triển công nghệ phần mềm là cách đi ngắn nhất để Ấn Độ cóthể bắt kịp những cường quốc như Mỹ, sẽ không có cơ hội này nếu chọn

ngành công nghiệp khác làm mũi nhọn Khẩu hiệu đưa ra là: “Công nghiệp phần mềm Ấn Độ là kiểu mẫu của sức mạnh và thành công” [34].

Nhận xét về công nghiệp phần mềm Ấn Độ, ông N.Vittat cục trưởng

cục điện tử Ấn Độ cho biết: Có một thời thế giới thường nói về các tập đoàn Nhật Bản, giờ đây người ta bắt đầu nói đến các tập đoàn của Ấn Độ, nhất là lĩnh vực phần mềm Chính phủ Ấn Độ đã đầu tư tất cả những gì cần thiết đào tạo nhân lực, thông tin dữ liệu với tốc độ cao, xây dựng một hệ thống xóa bỏ quan liêu Thực ra điều này đã mở ra cho ngành công nghiệp này một con đường sáng lạn”.

Lần đầu tiên Ấn Độ đưa ra các biện pháp khuyến khích đối với cáccông ty có công nghệ cao là vào năm 1986, đến năm 2000, là một thành phố

có 7 khu sản xuất phần mềm và 5 triệu dân Bangalore là một trong những nơi

Ngày đăng: 15/12/2015, 09:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Linh An (2007), “Những cuộc cách mạng trí tuệ đổi mới diện mạo Ấn Độ”, Báo Quân đội nhân dân, 15/3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cuộc cách mạng trí tuệ đổi mới diện mạo Ấn Độ”, Báo "Quân đội nhân dân
Tác giả: Linh An
Năm: 2007
2. “Ấn Độ phóng thành công tàu thám hiểm lên mặt Trăng”, Báo Lao động 23/10/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ấn Độ phóng thành công tàu thám hiểm lên mặt Trăng”, Báo "Lao động
3. “Ấn Độ thực hiện việc thám hiểm mặt trăng”, Báo Nhân dân 21/10/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ấn Độ thực hiện việc thám hiểm mặt trăng”, Báo "Nhân dân
4. Phan Văn Ban (1993) Quan hệ Việt Nam - Ấn Độ trong lịch sử, Kỉ yếu Hội thảo khoa học, Đại học sư phạm Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ Việt Nam - Ấn Độ trong lịch sử
5. Lê Bình (2003), “Ấn Độ phát triển kỹ thuật số với hai tốc độ”, Nghiên cứu quốc tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ấn Độ phát triển kỹ thuật số với hai tốc độ”
Tác giả: Lê Bình
Năm: 2003
6. Công nghệ thông tin “IT”Ấn Độ đặc điểm và triển vọng, Những vấn đề KT- CTTG, số 6 (134) 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ thông tin “IT”Ấn Độ đặc điểm và triển vọng
7. Will Durant (2004). Lịch sử văn minh Ấn Độ - Nxb Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn minh Ấn Độ
Tác giả: Will Durant
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2004
9. Nguyễn Hoàng Giáp (2003), “Ấn Độ phát triển công nghệ cao”, Báo Thế giới mới, (533), 28/4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ấn Độ phát triển công nghệ cao”, Báo" Thế giới mới
Tác giả: Nguyễn Hoàng Giáp
Năm: 2003
10. Nguyễn Thừa Hỷ (1986). Ấn Độ qua các thời đại. Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ấn Độ qua các thời đại
Tác giả: Nguyễn Thừa Hỷ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1986
11. Nguyễn Thị Phương Hảo (2005) Quan hệ Việt Nam - Ấn Độ từ 1991- 2001, Luận văn thạc sĩ sử học, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ Việt Nam - Ấn Độ từ 1991-2001
12. Đào Thị Hòa, (2008), Tình hình kinh tế Ấn Độ từ 1991-2007, Luận văn thạc sĩ sử học, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình kinh tế Ấn Độ từ 1991-2007
Tác giả: Đào Thị Hòa
Năm: 2008
13. Quang Hưng, (2000), “Ấn Độ - chảy máu chất xám”, Báo Thương mại, 29/8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ấn Độ - chảy máu chất xám”, Báo "Thương mại
Tác giả: Quang Hưng
Năm: 2000
14. Vũ Hội, (2003), “Ngành công nghệ thông tin (IT) Ấn Độ phát triển mạnh”, Kinh tế thế giới, 28/12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngành công nghệ thông tin (IT) Ấn Độ phát triển mạnh”, "Kinh tế thế giới
Tác giả: Vũ Hội
Năm: 2003
15. Khánh Hiền, (2003), “Ấn Độ với giấc mơ chinh phục mặt trăng”, Báo Quân đội, 11/1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ấn Độ với giấc mơ chinh phục mặt trăng”, Báo "Quân đội
Tác giả: Khánh Hiền
Năm: 2003
16. Đinh Trung Kiên (2000), Ấn Độ hôm nay và hôm qua, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ấn Độ hôm nay và hôm qua
Tác giả: Đinh Trung Kiên
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 2000
17. Nguyễn Công Khanh (1995), “Indira Gandhi - một bản lĩnh chính trị lớn”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử Sách, tạp chí
Tiêu đề: Indira Gandhi - một bản lĩnh chính trị lớn”, Tạp chí
Tác giả: Nguyễn Công Khanh
Năm: 1995
18. Nguyễn Công Khanh (2002), J.Nehru - tiểu sử và sự nghiệp, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: J.Nehru - tiểu sử và sự nghiệp
Tác giả: Nguyễn Công Khanh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2002
19. Lê Phụng Hoàng (1999), Lịch sử văn minh thế giới, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn minh thế giới
Tác giả: Lê Phụng Hoàng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
20. Vũ Dương Ninh, Phan Văn Ban, Nguyễn Công Khanh, Đinh Trung Kiên (1995), Lịch sử Ấn Độ, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Ấn Độ
Tác giả: Vũ Dương Ninh, Phan Văn Ban, Nguyễn Công Khanh, Đinh Trung Kiên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1995
21. Vũ Dương Ninh (1999), Lịch sử văn minh thế giới, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn minh thế giới
Tác giả: Vũ Dương Ninh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w