1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

skkn một số KINH NGHIỆM dạy và bồi DƯỠNG học SINH GIỎI môn LỊCH sử ở TRƯỜNG THPT CHUYÊN

61 843 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 461 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

3.1.2.Biện pháp 2: Phải trang bị cho học sinh những kĩ năng học và làm bài thi môn Lịch sử Lâu nay, theo quan niệm của nhiều người, thậm chí là của cả một bộphận giáo viên dạy Lịch sử ch

Trang 1

“MỘT SỐ KINH NGHIỆM DẠY VÀ BỒI DƯỠNG

HỌC SINH GIỎI MÔN LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT CHUYÊN”

Tác giả sáng kiến: NGUYỄN THÙY HƯƠNG

Đơn vị công tác: Trường THPT Chuyên Lương Văn Tụy

Trang 2

“MỘT SỐ KINH NGHIỆM DẠY VÀ BỒI DƯỠNG

HỌC SINH GIỎI MÔN LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT CHUYÊN”

Tác giả sáng kiến: NGUYỄN THÙY HƯƠNG

Chức danh: Giáo viên

Học vị: Cử nhân Sư phạm Lịch sử

Đơn vị công tác: Trường THPT Chuyên Lương Văn Tụy

Trang 3

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

- Lĩnh vực áp dụng: dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử

II TÁC GIẢ SÁNG KIẾN:

- Họ và tên: Nguyễn Thùy Hương

- Chức danh: Giáo viên môn Lịch sử

III NỘI DUNG SÁNG KIẾN

1 THỰC TRẠNG CỦA DẠY VÀ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI MÔN LỊCH SỬ HIỆN NAY

- Trong lịch sử dân tộc ta, vấn đề giáo dục, đào tạo nhân tài cho đất nước từlâu đã đóng một vai trò quan trọng: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia…”

- Hiện nay, ở các tỉnh, thành phố trong cả nước đều có trường THPT chuyên.Điều đó thể hiện Đảng và Nhà nước ta từ Trung ương đến địa phương đều rấtquan tâm đến công tác phát hiện, bồi dưỡng nhân tài, đào tạo nguồn nhân lựcchất lượng cao cho đất nước, phục vụ công cuộc công nghiệp hóa-hiện đại

Trang 4

hóa đất nước Nhiệm vụ của các trường chuyên là vừa phải thực hiện giáodục toàn diện, vừa phải bồi dưỡng để phát triển năng khiếu của học sinh vềmột môn học Nhiệm vụ phát triển năng khiếu của học sinh về một môn họcnhất định nói ngắn gọn là công tác dạy chuyên và bồi dưỡng học sinh giỏi làmột nhiệm vụ chính trị thường xuyên, quan trọng của trường chuyên

- Công tác dạy chuyên và bồi dưỡng học sinh giỏi mà kết quả của nó là cónhững học sinh đạt kết quả cao trong các kì thi học sinh giỏi, nhất là cấpQuốc gia không chỉ là mục tiêu, nhiệm vụ của Bộ Giáo dục-Đào tạo, của cáctrường chuyên trên khắp cả nước mà còn là nhiệm vụ, trách nhiệm, là danh

dự nghề nghiệp của mỗi giáo viên dạy chuyên Chính vì vậy, giáo viên dạychuyên thường phải chịu áp lực lớn về tỉ lệ, số lượng học sinh giỏi đạt giảiQuốc gia Ở tỉnh ta, giáo viên dạy lớp 10, 11 chuyên lại thêm áp lực nữa làđến khoảng đầu năm học lớp 11, học sinh phải được trang bị đầy đủ kiến thứccủa chương trình toàn cấp, để các em có thể tham dự và đạt giải trong kì thiHọc sinh giỏi cấp Tỉnh lớp 12 và Học sinh giỏi cấp Quốc gia

- Trong bối cảnh hiện nay, vị trí xã hội của bộ môn Lịch sử còn rất thấp Mặc

dù môn Lịch sử có vai trò là “ôn cố tri tân” – học quá khứ để hiểu biết vềhiện tại và hướng tới tương lai; đồng thời còn góp phần giáo dục đạo đức,nhân cách cho học sinh Nhưng lâu nay, môn Sử vẫn bị coi là “môn phụ” ởcác trường từ tiểu học đến trung học Hơn nữa, một thực tế không ai có thểphủ nhận được là nếu học sinh chuyên tâm vào bộ môn Lịch sử thì cơ hội tốtđối với các em rất ít, trong khi các ngành khác như kinh tế, kĩ thuật… thì lạiđảm bảo cho các em một tương lai tốt hơn Vì vậy, nhiều học sinh dù có nănglực bộ môn nhưng không muốn thi vào lớp chuyên Sử, hoặc không muốntham dự các kì thi học sinh giỏi môn Sử; những em lực học khá, giỏi mà chọnchuyên Sử do đam mê là rất hiếm; đa phần những học sinh chọn thi vào lớpchuyên Sử là do không đủ khả năng thi vào được các lớp chuyên khác

- Trong khung chương trình THPT của Bộ GD-ĐT số giờ dạy Lịch sử ít (lớp

10 có 1,5 tiết/tuần, lớp 11 có 1 tiết/tuần, lớp 12 có 1,5 tiết/tuần), mà đa phần

Trang 5

là dạy lí thuyết, số tiết dạy thực hành hoặc làm bài tập lịch sử là không đáng

kể Bên cạnh đó, số lượng giáo viên Lịch sử của mỗi trường cũng ít, mỗi giáoviên phải dạy nhiều lớp, nhiều khối, thời gian để đầu tư cho chuyên mônkhông nhiều

- Tài liệu tham khảo dành cho dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sửkhông nhiều, thường tích hợp với ôn thi Đại học, Cao đẳng nên chỉ tập trungvào kiến thức Lịch sử lớp 12, mà trọng tâm là cung cấp kiến thức chứ chưa

đề cập đến phương pháp dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi

- Giáo viên dạy chuyên và bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử chủ yếu dạybằng kinh nghiệm thực tiễn đúc rút từ năm này qua năm khác: trên cơ sởkhung chương trình, mỗi giáo viên phải lựa chọn nội dung kiến thức, tự tìmtài liệu để phục vụ việc giảng dạy và ôn luyện Thực tế đó gây khó khăn, lúngtúng cho các giáo viên trẻ khi được phân công dạy và bồi dưỡng học sinh giỏimôn Lịch sử

- Thời gian gần đây, Bộ Giáo dục-Đào tạo có nhiều thay đổi về qui chế thi tốtnghiệp THPT và thi Đại học, Cao đẳng, trong đó cho thí sinh được phép lựachọn môn thi; Bộ Giáo dục-Đào tạo cũng đang xây dựng đề án Đổi mớiChương trình sách giáo khoa giáo dục phổ thông, trong đó môn Lịch sử đượctích hợp với một số môn khác thành môn khoa học xã hội Thực tế đó càngtạo thêm nhiều khó khăn cho công tác dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi mônLịch sử

2 GIẢI PHÁP CŨ

Công tác dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử ở trường chuyên cónhiệm vụ đào tạo những học sinh giỏi bộ môn Lịch sử, cần phải đạt được 3mục tiêu chính: giáo dưỡng (cung cấp kiến thức khoa học, chính xác có căn

cứ xác thực), giáo dục (đạo đức, phẩm chất, tư tưởng, tình cảm dựa trên cơ sởkiến thức khoa học) và phát triển kỹ năng (khả năng tư duy và hành động)

Do đó, những học sinh giỏi bộ môn Lịch sử không chỉ là những học sinh nắmvững những kiến thức về khoa học Lịch sử mà cần phải hiểu sâu sắc và biết

Trang 6

vận dụng những kiến thức đã học vào giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt

+ Không thường xuyên được hướng dẫn kĩ năng học và làm bài mônLịch sử

+ Đến giai đoạn ôn luyện mới được trang bị hệ thống câu hỏi nênchoáng ngợp trước khối lượng kiến thức đồ sộ, dễ “học tủ”, “học lệch”

Công tác dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử theo phươngpháp cũ có ưu điểm và hạn chế như sau:

- Ưu điểm: bảo đảm được thời gian và tiến độ thực hiện chương trình dạy vàbồi dưỡng học sinh giỏi bộ môn

- Nhược điểm: lệ thuộc nhiều vào kiến thức của người thày, không kích thíchđược khả năng tư duy, sáng tạo của học sinh; học sinh phải học nhiều kiếnthức nên có tâm lí sợ, ngại học lịch sử

Để góp phần nâng cao chất lượng dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi mônLịch sử, trên cơ sở kinh nghiệm của bản thân đúc rút được qua quá trình đượcphân công dạy chuyên Sử và tham gia bồi dưỡng Học sinh giỏi Quốc gia môn

Trang 7

Lịch sử, tôi chọn đề tài sáng kiến: “Một số kinh nghiệm dạy và bồi dưỡngHọc sinh giỏi môn Lịch sử ở trường THPT chuyên” Với sáng kiến này, tôimuốn trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm của mình với các đồng nghiệp, nhất là vớinhững giáo viên môn Lịch sử trẻ mới bước vào nghề; cũng như mong muốngóp phần nhỏ vào việc nâng cao chất lượng giáo dục môn Lịch sử và tăngcường vị thế về giáo dục - đào tạo của tỉnh nhà.

3 GIẢI PHÁP MỚI

3.1 Nội dung giải pháp

- Học tập nói chung và học tập môn Lịch sử nói riêng là quá trình tiếp thukiến thức Kiến thức lịch sử lại hết sức phong phú và tăng lên với mức độnhanh chóng mà trường chuyên cũng không sao truyền thụ hết được Trongkhi đó, khả năng hiểu biết và khả năng học tập của con người trong cả cuộcđời là có giới hạn Cho nên, việc dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi ở trườngchuyên cần phải phù hợp với đặc điểm tâm lí và khả năng nhận thức của họcsinh năng khiếu, cần phải làm cho quá trình học tập của học sinh trở thànhquá trình chủ động, tiến dần lên quá trình tự nghiên cứu độc lập

- Nhiệm vụ tư duy đặt ra cho học sinh chuyên phần lớn là những vấn đề lịch

sử tổng hợp, sâu rộng Nếu không có vốn tri thức phong phú, không thônghiểu và nắm vững tri thức đã có, không có lòng ham muốn hiểu biết, hammuốn học hỏi, tự học, tự tìm tòi, suy nghĩ, và không biết vận dụng kiến thức

đã học để hiểu biết kiến thức mới thì học sinh không thể nào giải quyết đượccác vấn đề đặt ra của đề thi học sinh giỏi các cấp Muốn học sinh có nhữngphẩm chất trên, vai trò của người thày là rất lớn

Trong những năm được phân công giảng dạy ở lớp chuyên Sử và thamgia bồi dưỡng học sinh giỏi Quốc gia môn Lịch sử, tôi đã tiến hành một sốbiện pháp sau:

3.1.1.Biện pháp 1: Phải xác định mục tiêu, động cơ, hứng thú học tập lịch

sử cho học sinh

Trang 8

Về mặt lí luận, xác định mục tiêu học tập là hình thành ở học sinh động

cơ đúng đắn trong học tập Động cơ là động lực bên trong thúc đẩy trực tiếpcon người ta hoạt động Mọi động cơ của con người đều là biểu hiện của nhucầu Nhu cầu lại được biểu hiện dưới nhiều hình thức như hứng thú, ý định,ham muốn… Hứng thú là biểu hiện tình cảm, nhu cầu nhận thức của conngười Nếu không có động cơ học tập, học sinh sẽ không có nhu cầu tham giatích cực vào bài học, không có hứng thú với bài học, do đó không học tậpmột cách tích cực, không trở thành học sinh giỏi được

Để nâng cao chất lượng dạy học lịch sử ở trường THPT nói chung, bồidưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử nói riêng đầu tiên phải hình thành mục tiêu,động cơ, thái độ học tập đúng đắn, tức là người thày phải khơi gợi được hứngthú của học sinh đối với việc học tập, giúp các em xác định được mục đíchhọc tập Công việc này được thường được tiến hành trong bài mở đầu, tiếthọc đầu tiên, nhưng vẫn có thể được nhắc lại nhiều lần trong suốt quá trìnhgiảng dạy ở lớp chuyên Sử

Động cơ học tập môn Lịch sử của học sinh có thể được tạo ra bằng sứcmạnh của nội dung bài học: Trong bài mở đầu, giáo viên giúp học sinh thấyđược mục đích, yêu cầu của học kì, của năm học, thậm chí của cả cấp họcđồng thời biết nêu ra 1 số vấn đề trong nội dung học tập có khả năng khêugợi hứng thú của học sinh, khiến các em khao khát muốn được biết, muốnđược chiếm lĩnh tri thức, từ đó kích thích tính tích cực học tập của học sinh

Động cơ học tập môn Lịch sử của học sinh cũng có thể được tạo ra bởiquyền lợi được hưởng của các em (được khen thưởng, được cộng điểm hoặcđược vào thẳng 1 số trường Đại học, Cao đẳng…)

Thông qua việc được giáo viên truyền cảm hứng trong những tiết họcđầu tiên, học sinh xác định được mục tiêu học tập, có động cơ, hứng thútrong học tập môn Lịch sử, đây chính là khởi nguồn để phát huy tính tích cựccủa các em trong học tập, là tiền đề để có học sinh giỏi bộ môn Lịch sử

(Xem thêm phụ lục trang 28, 29)

Trang 9

3.1.2.Biện pháp 2: Phải trang bị cho học sinh những kĩ năng học và làm bài thi môn Lịch sử

Lâu nay, theo quan niệm của nhiều người, thậm chí là của cả một bộphận giáo viên dạy Lịch sử cho rằng: Lịch sử là một môn học thuộc, chỉ cầnhọc nhiều, đọc nhiều, nhớ được nhiều sự kiện là trở thành người giỏi sử Đây

là một quan niệm khá sai lầm

Tất nhiên, khi học bất kì một môn học nào (Toán, Lí, Hóa, Văn, Ngoạingữ, Lịch sử…), yếu tố đầu tiên là phải học thuộc, phải nhớ Có nhớ côngthức (của các môn tự nhiên), có nhớ tác phẩm văn học, có nhớ từ mới hoặccấu trúc câu (của môn ngoại ngữ), có nhớ sự kiện và thời gian diễn ra sự kiện(của môn Lịch sử)… mới làm được bài kiểm tra, bài thi môn đó Muốn trởthành học sinh giỏi môn Lịch sử, yếu tố cơ bản đầu tiên là phải học, phải nắmđược các kiến thức lịch sử cơ bản Tuy nhiên, không phải học sinh nào nhớđược nhiều sự kiện, thời gian cũng trở thành giỏi sử, cũng đạt giải cao trongcác kì thi học sinh giỏi môn Lịch sử Các đề thi học sinh giỏi, nhất là đề thiQuốc gia không đòi hỏi thí sinh học thuộc lòng sách giáo khoa để khi làm bàichép lại như sách mà phải: trên cơ sở nắm chính xác những sự kiện cơ bản,phù hợp với trình độ học sinh, các em phải hiểu và giải quyết được vấn đềthực tiễn đặt ra

Thực tế trong dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử nhiều năm,tôi thấy: muốn trở thành một học sinh giỏi môn Lịch sử, đi thi đạt giải cao,học sinh đó phải có những kĩ năng học và làm bài thi môn Lịch sử Những kĩnăng này không phải tự nhiên, hoặc ngày một ngày hai mà có Những kĩ năng

ấy phải được các thày, cô giáo dạy Lịch sử hình thành, bồi dưỡng cho họcsinh ngay từ khi các em học lớp 10 trường THPT chuyên

3.1.2.a Kĩ năng ghi nhớ kiến thức lịch sử

Trí nhớ có vai trò rất quan trọng trong đời sống con người cũng nhưtrong học tập Trong học tập Lịch sử, việc ghi nhớ kiến thức vô cùng quantrọng, là cơ sở để học sinh đi sâu, tìm hiểu bản chất của các sự kiện, hiện

Trang 10

tượng lịch sử; là nền tảng để học tập bộ môn có hiệu quả, để vận dụng mộtcách linh hoạt trong học tập và cuộc sống

Lịch sử là cụ thể Mỗi sự kiện, hiện tượng lịch sử luôn luôn gắn liềnvới một không gian, thời gian, nhân vật lịch sử nhất định, mà nếu tách cácyếu tố đó ra thì chúng ta không thể hiểu Lịch sử được nữa Vì vậy, trong quátrình dạy học, để học sinh có kĩ năng ghi nhớ kiến thức lịch sử hiệu quả, giáoviên cần hướng dẫn học sinh sử dụng và thường xuyên rèn luyện các cáchnhớ, dạng nhớ khác nhau bao gồm: Ghi nhớ các sự kiện, hiện tượng lịch sửđiển hình; Ghi nhớ thời gian xảy ra sự kiện, hiện tượng lịch sử; Ghi nhớkhông gian xảy ra sự kiện, hiện tượng lịch sử; Ghi nhớ nhân vật lịch sử

3.1.2.a.1 Để ghi nhớ các sự kiện, hiện tượng lịch sử điển hình: giáo viên có

thể rèn luyện cho học sinh bằng các cách như:

- Tìm ý, diễn đạt các ý bằng ngôn ngữ của mình để ghi nhớ:

Sách giáo khoa thường viết theo một trật tự nhất định, trong đó gồmphần kiến thức trọng tâm – các “từ khóa”, và các “từ nối” Để ghi nhớ đượcnội dung cơ bản, học sinh cần kết hợp đọc sách giáo khoa với bài giảng củagiáo viên để tìm xem mỗi nội dung có mấy ý, chỉ cần nhớ ý chính mà khôngcần nhớ trọn vẹn câu chữ Trên cơ sở các ý đã chọn, học sinh tự diễn đạt (nóihoặc viết) bằng ngôn ngữ của mình, không nhất thiết phải lặp lại câu chữtrong sách giáo khoa Việc này không khó nhưng phải luyện nhớ nhiều lần

Ví dụ:

Khi học diễn biến một cuộc cách mạng, nhất thiết phải chọn các mốc

mở đầu, đỉnh cao, kết thúc, cùng một số sự kiện quan trọng khác để nhớ

Khi học ý nghĩa thắng lợi của mỗi cuộc cách mạng lớn đều có ý nghĩadân tộc và ý nghĩa quốc tế; ý nghĩa dân tộc thường là kết thúc cái gì và mở racái gì, ý nghĩa quốc tế thường là tác động ra sao đến bạn và thù của lực lượnglàm cách mạng

- So sánh sự kiện này với sự kiện khác tìm ra điểm tương đồng và khác biệt.

Trang 11

Kĩ năng này giúp học sinh dễ nhớ kiến thức lịch sử Kiến thức lịch sử

có những cặp sự kiện khi mới tiếp xúc tưởng giống nhau, nếu học không kĩ,rất dễ nhầm lẫn Để phân biệt chúng, học sinh cần so sánh xem chúng giống

và khác nhau ở những điểm nào

Ví dụ:

So sánh Cương lĩnh tháng 2/1930 của Đảng Cộng sản Việt Nam vớiLuận cương tháng 10/1930 của Đảng Cộng sản Đông Dương, tìm ra điểmgiống và khác nhau

- Ghi nhớ sự kiện, hiện tượng lịch sử qua hình ảnh.

Đây là cách ghi nhớ rất có hiệu quả vì hình ảnh trực quan chọn lọcgiúp học sinh dễ hiểu và tạo hứng thú học tập

Ví dụ:

Sử dụng hình ảnh về nạn đói năm 1945 để khắc sâu kiến thức về tội áccủa bọn thực dân – phát xít ở nước ta trước cách mạng tháng Tám 1945

- Sử dụng cách nói ví von để ghi nhớ sự kiện, hiện tượng lịch sử.

Cách nói ví von, giàu hình ảnh tượng trưng, quy cái chưa biết về cái đãbiết, biến cái phức tạp thành cái đơn giản giúp học sinh dễ nhớ kiến thức lịchsử

Ví dụ:

Hồ Chí Minh ví chủ nghĩa đế quốc như “con đỉa có 2 vòi”

Tình thế nước ta sau cách mạng tháng Tám 1945 được ví như “ngàncân treo sợi tóc”

3.1.2.a.2 Để ghi nhớ thời gian xảy ra sự kiện, hiện tượng lịch sử: giáo viên

cần hướng dẫn học sinh nhớ nhanh, nhớ lâu các mốc thời gian quan trọng,làm cơ sở để hiểu sâu sắc bản chất của sự kiện, hiện tượng lịch sử; đồng thờihướng dẫn học sinh cách nhớ thời gian xảy ra sự kiện một cách hiệu quả như:

- Nhớ thời gian xảy ra sự kiện, hiện tượng lịch sử một cách tương đối dựa

theo đặc trưng của các mùa trong năm (xuân, hạ, thu, đông); nhớ theo thậpniên, thế kỉ, thiên niên kỉ

Trang 12

Ví dụ:

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời vào mùa xuân năm 1930

Khởi nghĩa Yên Thế kéo dài gần 30 năm cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉXX

- Nhớ thời gian một cách logic: Chọn một mốc thời gian quan trọng, dễ nhớ

làm điểm tựa rồi suy ra các mốc thời gian khác (so sánh các con số, tìm raquy luật để nhớ)

3.1.2.a.3 Để ghi nhớ không gian xảy ra sự kiện, hiện tượng lịch sử: giáo viên

có thể dùng các phương tiện như đồ dùng trực quan (bản đồ, lược đồ, sơ đồlịch sử), tranh ảnh, phim tư liệu kết hợp với trình bày miệng (miêu tả, nêu đặc

điểm ), và tài liệu tham khảo (Xem thêm phụ lục trang 30)

3.1.2.a.4 Ghi nhớ nhân vật lịch sử:

Lịch sử là do con người sáng tạo nên, hoạt động của các nhân vật gópphần cụ thể hóa quá trình phát triển của lịch sử, của một chế độ chính trị liênquan đến nhân vật đó Để nhớ các nhân vật lịch sử, giáo viên hướng dẫn chohọc sinh các cách:

- Nêu đặc điểm của nhân vật, kết hợp với tranh ảnh chân dung.

Ví dụ:

Để nhớ nhân vật vua Hàm Nghi, cần kết hợp nhớ hình ảnh – chân dungvua, với sử dụng tài liệu tham khảo để nhớ tính cách, hoạt động của ông:trang phục giản dị như dân thường, vẻ mặt lộ rõ sự kiên nghị, tính tình khảngkhái…

Bixmac được mệnh danh là “Thủ tướng sắt và máu”…

Trang 13

- “Lấy người nói việc”:

Ví dụ:

C.Mác là linh hồn của Quốc tế thứ nhất

Ph.Ăngghen là linh hồn của Quốc tế thứ hai…

- “Lấy việc nói người”:

Mác nói về Chie- “tên quỷ lùn khét tiếng tàn bạo”

Lý Thường Kiệt với kế “tiên phát chế nhân”

3.1.2.b Kĩ năng tư duy lịch sử

Tư duy lịch sử là một hoạt động trí tuệ, giúp con người đi sâu vào nhậnthức bản chất sự kiện, hiện tượng cũng như mối liên hệ, quan hệ có tính quyluật giữa chúng Đặc điểm của tư duy lịch sử là: biết miêu tả, khôi phục lạinhững sự kiện lịch sử quá khứ trên cơ sở tài liệu; nêu được nguyên nhân xuấthiện của sự kiện lịch sử; xác định được điều kiện, hoàn cảnh, những mối liên

hệ của các sự kiện; nhận biết tính chất, ý nghĩa, bài học kinh nghiệm rút ra từ

sự kiện, nhất là những sự kiện lớn, quan trọng; xác định động cơ hoạt độngcủa những tầng lớp, tập đoàn, cá nhân trong lịch sử; biết liên hệ, so sánh, đốichiếu sự kiện lịch sử với đời sống và rút ra bài học kinh nghiệm

Theo tôi, đối với học sinh nói chung và học sinh chuyên Sử nói riêng,rất cần thiết phải được phát triển kĩ năng tư duy lịch sử Có kĩ năng tư duylịch sử, học sinh mới hiểu được lịch sử, say mê lịch sử và bộ môn Lịch sửmới phát huy hết giá trị “ôn cố tri tân” của mình - tức là học quá khứ để hiểubiết hiện tại và dự đoán tương lai Nếu không có kĩ năng tư duy lịch sử thì đốivới học sinh, môn Lịch sử chỉ là một môn học khô khan, chán ngấy, với một

Trang 14

tập hợp khổng lồ những sự kiện cùng ngày, tháng khó học, khó nhớ, giá trịthực tiễn không cao Khi học sinh không có hứng thú với bộ môn, chắc chắn

sẽ không có nhân tài, không có học sinh giỏi Để phát triển kĩ năng tư duylịch sử cho học sinh chuyên, tôi áp dụng các cách sau: tạo tình huống có vấnđề; sử dụng hệ thống câu hỏi; sử dụng bảng so sánh

3.1.2.b.1 Tạo tình huống có vấn đề: giáo viên tạo tình huống có vấn đề thông

qua bài tập nhận thức để tập trung sự chú ý của học sinh, làm nảy sinh khátvọng muốn tìm kiếm kiến thức mới để giải đáp những điều chưa biết

Ví dụ:

Khi dạy bài Nhật Bản (cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX), giáo viên đưa

ra bài tập nhận thức: “Vì sao trong khi hầu hết các nước châu Á đều bị biến thành thuộc địa (Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam) thì Nhật Bản là nước duy nhất giữ được độc lập và trở thành một nước tư bản hùng mạnh?”

Với bài tập nhận thức này, học sinh được đặt vào tình huống có vấn đề,tức là trong tư duy của các em xuất hiện xung đột, kiến thức cũ không giảiquyết được, đòi hỏi phải huy động kiến thức mới để giải quyết, qua đó kíchthích tư duy học sinh phát triển trong suốt bài học

3.1.2.b.2 Sử dụng hệ thống câu hỏi trong dạy học lịch sử là một trong những

biện pháp có ưu thế để phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh Tuy nhiên,giáo viên cũng cần đặt câu hỏi vừa sức với học sinh, tránh câu quá đơn giảnchỉ cần trả lời “có”, “không” hoặc quá khó sẽ không có tác dụng phát triển tưduy cho học sinh

Trong quá trình dạy học, tôi luôn sử dụng các loại câu hỏi sau để tạo điềukiện cho phát triển tư duy học sinh:

- Sử dụng loại câu hỏi “Vì sao…?”, “Nguyên nhân nào…?” (ở phần đầu

của bài giảng): để kích thích học sinh tìm hiểu về sự phát sinh của các sựkiện, hiện tượng lịch sử

- Sử dụng loại câu hỏi “quá trình diễn biến, phát triển của sự kiện, hiện tượng lịch sử”: loại câu hỏi này tuy học sinh ít suy luận vì chủ yếu dựa vào

Trang 15

sách giáo khoa để trình bày nhưng đòi hỏi các em phải có trí nhớ, phải biếtnhiều về sự kiện, địa danh, nhân vật lịch sử.

- Sử dụng loại câu hỏi “Tìm hiểu kết quả, ý nghĩa…” của sự kiện, hiện

tượng lịch sử (ở cuối bài): để buộc học sinh phải biết tổng hợp kiến thức, tựrút ra nhận định, đánh giá phù hợp với nội dung, diễn biến sự kiện

- Sử dụng loại câu hỏi “Nêu đặc trưng, bản chất…” của các hiện tượng lịch

sử (ở cuối bài): loại câu hỏi này đòi hỏi học sinh phải biết phân tích, đánh giá,bày tỏ thái độ của mình đối với sự kiện, hiện tượng lịch sử

- Sử dụng loại câu hỏi “Đối chiếu, so sánh, các sự kiện, hiện tượng lịch sử này với sự kiện, hiện tượng lịch sử khác” (trong ôn tập), đòi hỏi học sinh

phải đào sâu suy nghĩ để tìm ra điểm giống, khác nhau, từ đó thấy được bản

chất của sự kiện, hiện tượng lịch sử (Xem thêm phụ lục trang 31, 32)

3.1.2.b.3 Sử dụng bảng so sánh

Bảng so sánh là loại đồ dùng trực quan qui ước dùng để đối chiếu, sosánh nhằm làm rõ bản chất, đặc trưng của các sự kiện, hiện tượng lịch sử.Qua việc giáo viên sử dụng Bảng so sánh khi giảng dạy và hướng dẫn họcsinh cách lập Bảng so sánh, kĩ năng tư duy đối sánh của học sinh được pháttriển

Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng tháng

11/1939

Đấu tranh chống chế độ phản

động thuộc địa, chống phát xít,

chống chiến tranh, đòi tự do,

dân sinh, dân chủ, cơm áo, hòa

bình

Nhiệm vụ Đánh đổ đế quốc và tay sai, làm

cho Đông Dương hoàn toàn độclập

Đòi tự do, dân sinh, dân chủ, Khẩu “Tịch thu ruộng đất của đế quốc

Trang 16

cơm áo, hòa bình hiệu và địa chủ phản cách mạng”,

“Thành lập chính phủ dân chủcộng hòa”

Kết hợp các hình thức công

khai-bí mật, hợp pháp-bất hợp

pháp

Phươngpháp

“Mặt trận thống nhất dân tộcphản đế Đông Dương “

Với việc sử dụng Bảng so sánh trên, giáo viên giúp học sinh nhận thứcmột cách sâu sắc hơn về sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng củaĐảng từ năm 1939, đồng thời học sinh thấy được sự khác nhau trong chủtrương của Đảng qua 2 thời kì cách mạng 1936-1939 và 1939-1945

3.1.2.c Kĩ năng sử dụng sơ đồ lịch sử và sơ đồ tư duy trong học tập

Sơ đồ lịch sử là loại đồ dùng trực quan nhằm cụ thể hóa nội dung một

sự kiện, hiện tượng lịch sử bằng những mô hình hình học đơn giản để họcsinh nắm được những nét đặc trưng của mỗi sự kiện, hiện tượng lịch sử vànêu lên mối liên hệ giữa các sự kiện, hiện tượng lịch sử

Sơ đồ tư duy là một hình thức “ghi chép” bằng cách kết hợp việc sửdụng đồng thời những “từ khóa”, hình ảnh, đường nét, màu sắc với sự tư duytích cực, nhằm tóm tắt những ý chính của một nội dung, hệ thống hóa kiếnthức của một chủ đề, hay cách giải của một dạng bài tập… So với sơ đồ lịch

sử, sơ đồ tư duy mới được áp dụng ở Việt Nam từ năm 2006, nhưng vẫn chưađược ứng dụng đại trà trong dạy học Lịch sử

Để giúp học sinh học tập bộ môn hiệu quả, nhiều lần tôi đã sử dụng vàhướng dẫn học sinh sử dụng 2 loại sơ đồ này Tuy nhiên do điều kiện cơ sởvật chất nhà trường, nên việc áp dụng sơ đồ tư duy vào dạy - học mới chỉdừng lại ở cách lập truyền thống với hình thức đơn giản nhất (dùng phấn, bút,bảng, giấy)

Trang 17

3.1.2.c.1 Hướng dẫn học sinh kĩ năng xây dựng sơ đồ lịch sử và trình bày kiến thức qua sơ đồ:

- Bước 1: Xây dựng khung sơ đồ

Xác định kiến thức cơ bản nhất và mã hóa bằng các hình quy ước đểlàm khung sơ đồ (sử dụng các hình vuông, hình chữ nhật hoặc hình tròn…)

- Bước 2: Dùng mũi tên hoặc các đoạn thẳng để nối các khung sơ đồ với nhau

để diễn tả mối quan hệ giữa nội dung các khung sơ đồ

- Bước 3: Hoàn thiện sơ đồ (đặt tên và kiểm tra độ chính xác của sơ đồ)

- Bước 4: Tập trình bày kiến thức theo sơ đồ (theo chiều từ phải sang tráihoặc từ trên xuống dưới, từ đỉnh xuất phát đến đỉnh cuối), ngôn ngữ trình bày

rõ ràng, ngắn gọn, dễ hiểu; đánh giá, rút ra kết luận về mối quan hệ giữa các

sự kiện, hiện tượng lịch sử qua sơ đồ (Xem thêm phụ lục trang 33, 34)

3.1.2.c.2 Hướng dẫn học sinh kĩ năng xây dựng sơ đồ tư duy và trình bày kiến thức qua sơ đồ:

- Bước 1: Xác định chủ đề trung tâm của sơ đồ, chọn cụm từ trung tâm (từkhóa) là tên của bài học hay một mục kiến thức

- Bước 2: Vẽ các nhánh cấp 1 là nội dung (ý chính) của chủ đề trung tâm, tùytheo số lượng nhánh cấp 1 mà bố trí cho cân đối xung quanh (từ khóa) trungtâm

- Bước 3: Vẽ bổ sung các nhánh cấp 2, cấp 3, cấp 4… Đây là sự lặp lại củaBước 2, các cụm từ ở nhánh cấp 1 bây giờ là (từ khóa) trung tâm của nhánhđó

- Bước 4: Hoàn thiện sơ đồ tư duy, đặt tên

- Bước 5: Trình bày kiến thức qua sơ đồ tư duy bằng ngôn ngữ rõ ràng, ngắn

gọn, dễ hiểu (Xem thêm phụ lục trang 35)

3.1.2.d Kĩ năng làm bài thi môn Lịch sử

Thi học sinh giỏi môn Lịch sử hiện nay vẫn theo hình thức thi tự luận.Mỗi đề thi học sinh giỏi có nhiều câu (cấp Quốc gia là 7 câu), trong một thờigian có giới hạn (180 phút), đòi hỏi học sinh phải có kĩ năng làm bài cơ bản

Trang 18

mới giải quyết được đề thi Kĩ năng làm bài gồm có: nhận thức đề, giải quyết

đề, phân phối thời gian và trình bày bài

3.1.2.d.1 Nhận thức đề và Giải quyết đề:

Đề thi học sinh giỏi gồm nhiều câu hỏi, mỗi câu hỏi có thể đề cập tớimột hoặc nhiều sự kiện, vấn đề Các câu hỏi trong đề thi học sinh giỏi nhất làcấp Quốc gia thường ra theo các cấp độ nhận thức như sau:

- Nhận biết: thể hiện qua các động từ “nêu, liệt kê, trình bày, kể tên,

nhận biết…”

- Thông hiểu: thể hiện qua các động từ “hiểu được, giải thích, phân

biệt, tại sao, vì sao, hãy lí giải, vì sao nói, khái quát…”

- Vận dụng (bậc thấp): thể hiện qua các động từ “xác định, dự đoán,

thiết lập liên hệ, phân biệt, chứng minh, phân tích, so sánh…”

- Vận dụng (bậc cao): thể hiện qua các động từ “bình luận, nhận xét,

đánh giá, rút ra bài học lịch sử, liên hệ với thực tiễn…”

Để làm một bài thi tốt, cần phải xác định đúng đề bài, xác định đúngyêu cầu về kiến thức và kĩ năng làm từng câu hỏi: câu hỏi yêu cầu trình bàykiến thức nào, diễn ra trong thời gian nào, không gian nào; làm theo cáchnào Vì vậy, nếu không hiểu kĩ đề và không biết cách giải quyết các câu hỏithì khó có thể bài bài đúng, đủ nội dung, không thể đạt kết quả cao Để họcsinh có những kĩ năng này, tôi thường rèn luyện cho các em theo các bướcsau:

- Nhất thiết phải dành thời gian từ 10-15 phút/ 180 phút của bài thi để đọc,hiểu những yêu cầu, nội dung cơ bản của mỗi câu hỏi là gì

- Gạch vào tờ đề hoặc viết ra giấy nháp những từ, cụm từ quan trọng, từ đótìm ra những ý chính, vấn đề chính cần quan tâm; chú ý những thuật ngữ lịch

sử có trong các “từ khóa” của đề

- Sắp xếp các ý chính theo trình tự thời gian và tầm quan trọng để giải quyếtvấn đề được đặt ra

Trang 19

Ví dụ: “Nêu lí do thành lập và vai trò của mặt trận thống nhất dân tộc đầu tiên của riêng Việt Nam do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo” (trích

Đề thi học sinh giỏi Quốc gia năm 2011)

Với câu hỏi này, mức độ kiến thức cần đạt được chỉ ở mức độ “nhậnbiết”, nhưng quan trọng nhất thí sinh phải xác định được mình phải trình bày

về vấn đề nào thông qua các “từ khóa” của đề

Nếu học sinh không đọc kĩ đề, lại thêm tác động của tâm lí trongphòng thi, có thể học sinh sẽ chọn trình bày vấn đề “Mặt trận thống nhất nhândân phản đế Đông Dương”, dẫn tới làm bài lạc đề

Nhưng nếu các em đọc kĩ đề, gạch chân những “từ khóa” quan trọng

(“lí do thành lập”, “vai trò”, “mặt trận thống nhất dân tộc đầu tiên của riêng Việt Nam”) thì sẽ xác định được vấn đề cần phải trình bày đó là “Mặt trận Việt Minh”.

Tiếp đó, các em phải xác định được nội dung, phạm vi của kiến thứccần trình bày đó là: lí do thành lập và vai trò của “Mặt trận Việt Minh” đốivới cách mạng Việt Nam; những nội dung khác không hỏi thì không trình bày

để tiết kiệm thời gian

Như vậy, kĩ năng nhận thức đề và giải quyết đề rất quan trọng, tuynhững thao tác này chỉ chiếm một khoảng thời gian nhỏ (10-15 phút) trong

180 phút làm bài, nhưng nó quyết định một nửa thành công của bài thi

3.1.2.d.2 Phân phối thời gian

Đề thi học sinh giỏi các cấp trong những năm gần đây thường có thờigian làm bài là 180 phút, với 7 câu hỏi, gồm cả phần lịch sử thế giới và lịch

sử Việt Nam Nếu học sinh không biết phân phối thời gian làm bài một cáchchính xác thì không thể nào hoàn thành bài thi, không thể đạt kết quả caođược

Để học sinh có được kĩ năng phân phối thời gian chính xác khi làm bài thi,trong quá trình ôn tập, tôi luôn rèn luyện cho các em:

- Dành 10-15 phút để nhận thức đề

Trang 20

- Chia đều thời gian làm bài cho 7 câu:

+ Câu 2,5 điểm dành khoảng 20 phút/câu, câu 3 điểm dành khoảng 25phút/câu

+ Cố gắng hoàn thành các câu của bài thi trong thời gian đã xác định; khôngđược phép dồn thời gian nhiều cho một câu, những câu còn lại thì thiếu thờigian để làm

Việc phân phối thời gian này không chỉ trên lí thuyết mà tôi yêu cầuhọc sinh áp dụng triệt để khi làm bài (ở nhà và trên lớp) Thông thườngnhững học sinh đi thi đạt kết quả cao nhất là những em thực hiện đúngnguyên tắc phân phối thời gian nêu trên

3.1.2.d.3 Trình bày bài

Một bài thi có đạt kết quả cao hay không cũng phụ thuộc nhiều vàophần trình bày bài của thí sinh Kĩ năng trình bày bài bao gồm:

- Đảm bảo làm hết tất cả các câu, độ dài khoảng 11-12 trang giấy thi (khoảng

3 tờ) Sự kiện phải đúng, ý phải đủ hoặc tương đối đủ

- Tùy từng loại câu hỏi mà có cách trình bày phù hợp: chỉ viết phần mở bàiđối với những câu có yêu cầu “bình luận”, hoặc “trình bày suy nghĩ” Đa sốcác câu hỏi khác không cần thiết mở bài mà nên trình bày thẳng vào vấn đề

- Trong một câu của bài làm có thể gồm nhiều luận điểm, mỗi luận điểm cầnphải có các luận cứ và dẫn chứng Khi trình bày xong một luận điểm cầnxuống dòng, tránh trường hợp viết liên tục kéo dài hàng trang, nhưng cũngtránh trường hợp gạch đầu dòng một cách tùy tiện

- Cách thức diễn đạt ngắn gọn, rõ ràng, đúng ngữ pháp, không sai chính tả

- Bài làm cần thể hiện được cảm xúc của người viết một cách phong phú, đadạng, hấp dẫn, có sức thuyết phục

- Chữ viết rõ ràng, sạch đẹp thì càng tốt

Ví dụ: “Hãy đánh giá trách nhiệm của nhà Nguyễn trong việc để mất nước hồi cuối thế kỉ XIX”.

Trang 21

Đây là câu hỏi vận dụng ở cấp độ cao, yêu cầu là “đánh giá” thì thísinh khi làm bài nên có phần đặt vấn đề một cách ngắn gọn thể hiện rõ quanđiểm của người viết: “Trong việc để Việt Nam mất nước, rơi vào tay thực dânPháp hồi cuối thế kỉ XIX, nhà Nguyễn với đường lối, chính sách của mìnhhoàn toàn phải chịu một phần trách nhiệm”.

Trong phần giải quyết vấn đề, thí sinh phải trình bày theo từng luậnđiểm, gồm các luận cứ và dẫn chứng phù hợp:

- Trước nguy cơ bị xâm lược, nhà Nguyễn vẫn thi hành chính sách phảnđộng

+ Nêu rõ nguy cơ đó là gì…

+ Chính sách cai trị của nhà Nguyễn như thế nào…

+ Hậu quả của chính sách đó là gì…

- Khi thực dân Pháp tiến hành xâm lược nước ta:

+ Đường lối kháng chiến chống Pháp của nhà Nguyễn như thế nào…+ Thái độ kháng chiến của nhà Nguyễn…

+ Chính sách cai trị của nhà Nguyễn…

……

Kĩ năng làm bài của học sinh cần được rèn luyện thường xuyên, đặcbiệt nhất là trong thời gian ôn luyện chuẩn bị cho một kì thi Học sinh chỉ cóthể đạt kết quả cao trong một kì thi nếu hội tụ đầy đủ các yếu tố: chuẩn bị kĩ

về mặt kiến thức và nắm chắc các kĩ năng làm bài Do vậy, trong thời gian ônluyện, giáo viên cần tăng cường giao bài tập về nhà, bố trí thời gian để họcsinh làm bài kiểm tra viết ngay trên lớp, sau đó chấm, trả bài nghiêm túc kèmnhững nhận xét, đánh giá khách quan, chính xác Việc làm này giúp học sinhnhận thức rõ ưu, nhược điểm của bản thân, rèn luyện kĩ năng viết bài của các

em ngày càng thuần thục để chinh phục các kì thi

3.1.3.Biện pháp 3: Xây dựng hệ thống câu hỏi đáp ứng yêu cầu phát triển năng lực học sinh

Trang 22

Câu hỏi ôn tập lịch sử chính là những nội dung kiến thức cơ bản nhất,quan trọng nhất của một giai đoạn lịch sử hoặc một khóa trình lịch sử được

cụ thể hóa dưới những dạng câu hỏi khác nhau, bắt buộc học sinh phải nắmvững kiến thức mới giải quyết được

Muốn nâng cao chất lượng dạy, học và bồi dưỡng học sinh giỏi mônLịch sử, trong mỗi bài, mỗi chương, mỗi giai đoạn lịch sử, người giáo viêncần xây dựng và cung cấp cho học sinh một hệ thống câu hỏi phong phú Hệthống câu hỏi đó được xây dựng theo hướng: vừa củng cố kiến thức cơ bảncủa mỗi giai đoạn lịch sử đã học, vừa phải tăng cường các câu hỏi mang tínhchuyên sâu, nâng cao để bồi dưỡng học sinh giỏi bộ môn Nghĩa là việc xâydựng hệ thống câu hỏi đó phải góp phần phát triển năng lực học sinh, phảnánh được ba mức độ nhận thức của học sinh:

- Nhận biết: Ở mức độ này yêu cầu học sinh nhớ được sự kiện lịch sử, kể tên

được nhân vật lịch sử cụ thể, nêu diễn biến của các cuộc kháng chiến, chiếndịch…

- Thông hiểu: Ở mức độ này đòi hỏi học sinh phải hiểu bản chất của sự kiện,

hiện tượng, trên cơ sở đó biết khái quát, xâu chuỗi các sự kiện lịch sử, lí giảiđược mối quan hệ giữa sự kiện này với sự kiện khác

- Vận dụng (cấp độ thấp và cấp độ cao): Ở mức độ này đòi hỏi học sinh trên

cơ sở hiểu bản chất sự kiện, hiện tượng lịch sử, phải biết đánh giá, nhận xét,bày tỏ quan điểm, thái độ về các vấn đề lịch sử, liên hệ với thực tiễn, biết vậndụng những kiến thức lịch sử giải quyết những vấn đề trong cuộc sống thựctiễn, biết rút ra những bài học kinh nghiệm

Để xây dựng được hệ thống câu hỏi phát triển năng lực nhận thức củahọc sinh, trước tiên giáo viên phải căn cứ vào mục tiêu (kiến thức, giáo dục,

kĩ năng) của mỗi bài, mỗi chương, mỗi giai đoạn lịch sử; đồng thời phải tùytừng mức độ nhận thức mà sử dụng các động từ (của câu hỏi) phù hợp:

- Câu hỏi ở mức độ Nhận biết sử dụng các động từ: Nêu, liệt kê, trình bày,

kể tên, nhận biết…

Trang 23

- Câu hỏi ở mức độ Thông hiểu sử dụng các động từ: Hiểu được, giải thích,

phân biệt, tại sao, vì sao, hãy lí giải, vì sao nói, khái quát…

- Câu hỏi ở mức độ Vận dụng sử dụng các động từ: Xác định, dự đoán, thiết

lập liên hệ, vẽ sơ đồ, lập niên biểu, chứng minh, phân tích, so sánh, bình luận,nhận xét, đánh giá, rút ra bài học lịch sử, liên hệ với thực tiễn…

(Xem thêm phụ lục trang 36-60)

3.2 Điểm mới và sáng tạo (ưu điểm của giải pháp)

- Giáo viên không chỉ giảng dạy, truyền đạt kiến thức mà còn biết khơi gợiđược hứng thú của học sinh đối với việc học tập; giúp học sinh xác định đượcmục tiêu học tập, có động cơ học tập, từ đó kích thích tính tích cực học tậpcủa học sinh

- Giáo viên trang bị và rèn luyện cho học sinh những kĩ năng học và làm bàithi môn Lịch sử giúp cho việc học tập bộ môn trở nên thuận lợi, dễ dàng hơn;

từ đó xóa đi mặc cảm về môn Lịch sử: một môn học khô khan, khó học, khónhớ …

- Giáo viên trang bị cho học sinh hệ thống câu hỏi khoa học, vừa cơ bản, vừanâng cao trong quá trình dạy và ôn tập, góp phần củng cố kiến thức cơ bản vàbồi dưỡng học sinh giỏi bộ môn

Như vậy, những cách thức, biện pháp sư phạm về dạy và bồi dưỡnghọc sinh giỏi môn Lịch sử ở trường THPT chuyên thực sự có tác dụng nângcao hiệu quả dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi bộ môn: đã rèn luyện cho họcsinh những kỹ năng học và làm bài thi; kĩ năng giải quyết các câu hỏi, bài tậplịch sử; đặc biệt là khơi gợi được niềm say mê của các em đối với môn Lịch

sử trong bối cảnh môn Lịch sử chưa được xã hội coi trọng như hiện nay Tuynhiên, để thực hiện tốt những biện pháp trên đòi hỏi người giáo viên phải có

sự chuẩn bị kỹ về nội dung và phương pháp cũng như phải có lòng nhiệt tình,yêu nghề, yêu mến học sinh

3.3 Kết quả thực hiện giải pháp

Trang 24

Từ tháng 6 năm 2010, tôi chuyển về công tác tại trường THPT ChuyênLương Văn Tụy, được phân công giảng dạy ở lớp chuyên Sử và tham gia bồidưỡng học sinh giỏi, khi áp dụng các biện pháp nói trên tôi đã đạt đượcnhững kết quả bước đầu đáng khích lệ: học sinh các lớp chuyên Sử do tôi làmchủ nhiệm luôn đạt thành tích cao khi tham dự kì thi học sinh giỏi môn Lịch

04 Ba, 04 KK), tỉ lệ 100%

Trong những thành tích nêu trên, tôi rất vinh dự và tự hào đã là người

trực tiếp dạy và bồi dưỡng (từ năm lớp 10) của hai học sinh đạt giải Nhất Quốc gia môn Lịch sử, đó là hai em: Nguyễn Xuân Hải và Hoàng Nhật Minh Đặc biệt, đây là hai giải Nhất quốc gia duy nhất của môn Lịch sử tính

từ năm 1997 đến nay (2015)

IV HIỆU QUẢ KINH TẾ VÀ XÃ HỘI DỰ KIẾN ĐẠT ĐƯỢC

1 Hiệu quả kinh tế:

Công tác giảng dạy lớp chuyên và bồi dưỡng học sinh giỏi nhất là họcsinh giỏi cấp Quốc gia là nhiệm vụ trọng tâm, là nhiệm vụ chính trị hàng đầucủa trường THPT chuyên, nên rất khó để có thể đánh giá một cách địnhlượng về hiệu quả kinh tế

Tuy nhiên, nếu tính dựa trên mức tiền thưởng của Tỉnh cho học sinh đạtgiải Học sinh giỏi Quốc gia (và cho cả giáo viên tham gia bồi dưỡng) trong

những năm gần đây: giải Nhất là 10.000.000đ, giải Nhì là 7.000.000đ, giải

Ba là 5.000.000đ, giải KK là 3.000.000đ; thì việc tôi áp dụng những giải pháp mới của đề tài và đã có 11 học sinh đạt giải Quốc gia, tương ứng với số

tiền được thưởng là:

Trang 25

(20.000.000đ + 7.000.000đ + 20.000.000đ + 12.000.000đ) x 2 =

118.000.000đ (Một trăm mười tám triệu đồng).

Bên cạnh đó, nếu học sinh không được hướng dẫn các kĩ năng để học vàlàm bài có hiệu quả cao, thì một học sinh chuyên Sử mỗi năm thường phảimua khoảng 10 cuốn tài liệu tham khảo, giá trị thấp nhất mỗi cuốn khoảng

25.000đ, tiêu tốn 250.000đ/ em; mỗi lớp chuyên Sử khoảng 30 học sinh, mỗi năm sẽ tốn: 250.000đ x 30 = 7.500.000đ/lớp (Bảy triệu năm trăm nghìn đồng)…

Ngoài ra, việc áp dụng những giải pháp mới của đề tài còn mang lại một

số hiệu quả khác:

- Tiết kiệm được nhiều công sức và thời gian của giáo viên trong giảng dạy

và bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử

- Đạt hiệu quả cao trong việc giảng dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch

sử các cấp

2 Hiệu quả xã hội:

- Những biện pháp dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi nói trên có tác dụng khơigợi hứng thú, hình thành những kĩ năng học và làm bài môn lịch sử có hiệuquả, qua đó bồi đắp tình yêu môn Lịch sử cho học sinh, nhất là trong bối cảnhhiện nay khi nhiều học sinh chán học, học kém môn Lịch sử

- Các biện pháp dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi nói trên góp phần hình thành

tư duy lôgic, khả năng phân tích, đánh giá, tổng hợp về những sự kiện, hiệntượng lịch sử trong quá khứ, từ đó góp phần định hướng giá trị, hình thành kỹnăng sống, kỹ năng ứng xử, phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phứchợp đặt ra trong cuộc sống thường nhật của con người

V KINH PHÍ THỰC HIỆN SÁNG KIẾN

Kinh phí cần thiết để thực hiện sáng kiến: không đáng kể

VI ĐIỀU KIỆN VÀ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG

Trang 26

- Các biện pháp dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi nói trên là điều cần thiết, phùhợp với xu thế, yêu cầu của việc đổi mới phương pháp dạy và học môn Lịch

sử trong thời điểm hiện nay

- Đây là những biện pháp đổi mới tư duy, thay đổi cách thức dạy, học và bồidưỡng học sinh giỏi một cách có hiệu quả, có tính ứng dụng cao, có thể vậndụng phù hợp với tình hình thực tiễn và đạt hiệu quả tốt trong giảng dạy, họctập, bồi dưỡng học sinh giỏi của tất cả giáo viên môn Lịch sử và học sinh cấphọc THCS và THPT, đặc biệt là với đối tượng học sinh chuyên Sử

- Có thể áp dụng và tiếp tục mở rộng, nâng cao trong thời gian tới

TÁC GIẢ SÁNG KIẾN

Nguyễn Thùy Hương

Trang 27

PHỤ LỤC

Trang 28

1 Dẫn chứng về việc xác định mục tiêu, động cơ, hứng thú học tập môn Lịch sử cho học sinh

Khi được phân công làm chủ nhiệm lớp chuyên Sử, giờ đầu tiên khi tôilên lớp, không phải là truyền thụ kiến thức ngay mà là dành thời gian cô – tròtiếp xúc, trò chuyện, trao đổi thông tin với nhau Trong quá trình tiếp xúc, tròtruyện với học sinh, tôi khéo léo giới thiệu về lịch sử trường THPT ChuyênLương Văn Tụy, về lịch sử Đội tuyển học sinh giỏi Quốc gia môn Lịch sửcủa trường, về quyền lợi mà các em được hưởng nếu đạt thành tích cao Cụthể:

- Từ khi thành lập trường Chuyên (năm 1992) đến nay, nhiều thế hệ học sinhcủa trường đã được bồi dưỡng và đạt nhiều thành tích cao trong các kì thi họcsinh giỏi cấp Tỉnh, Quốc gia, Quốc tế…

- Từ khi Bộ Giáo dục – đào tạo bắt đầu tổ chức thi Quốc gia môn Lịch sử(năm 1997) đến nay, đã có nhiều thế hệ học sinh đã tham gia Đội tuyển, đạtgiải cao; trong đó có những người sau này đã quay trở lại trường công tácnhư các cô Nguyễn Hoàng Vân đạt giải Quốc gia năm 1997, cô Nguyễn ThùyHương đạt giải Quốc gia năm 1998, cô Vũ Thu Hương đạt giải Quốc gia năm2004…; nhiều học sinh đạt giải Quốc gia đã được tuyển thẳng vào các trường

ĐH như ĐH Cảnh sát, ĐH An ninh, ĐH Sư phạm Hà Nội, ĐH Khoa học xãhội và nhân văn – ĐHQGHN…; Có những năm 100% thí sinh trong độituyển Quốc gia môn Sử đạt giải (các năm 2011, 2012, 2013); tỉ lệ học sinhđạt giải Quốc gia của đội Sử trong những năm gần đây thường cao hơn cácđội tuyển khác…

- Học sinh đạt giải Quốc gia môn Lịch sử không chỉ được các cấp khenthưởng giống như học sinh đạt giải các môn khác (cấp Bộ, cấp Tỉnh, Quỹkhuyến học – khuyến tài Đinh Bộ Lĩnh, Quỹ khuyến học của trường) mà cònđược Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức vinh danh, khen thưởng tạiVăn miếu – Quốc tử giám vào tháng 4 hàng năm

Trang 29

Khi nắm được những thông tin trên, đa phần các em học sinh chuyên

Sử đều rất hăng hái, háo hức, mong muốn mình sẽ đạt được những thành tíchcao trong học tập như các thế hệ đi trước, để đem vinh quang về cho bảnthân, làm rạng rỡ gia đình, dòng họ và tiếp tục xây đắp thêm truyền thống vẻvang của trường

Trang 30

2 Dẫn chứng về ghi nhớ không gian xảy ra sự kiện, hiện tượng lịch sử:

Để nhớ địa điểm xảy ra cuộc phản công đêm 4 rạng ngày 5/7/1885 dovua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết khởi xướng: giáo viên sử dụng lược đồkinh thành Huế để xác định vị trí địa thế của kinh thành, và dựa vào tài liệutham khảo để tìm ra đặc trưng nổi bật của kinh thành:

“Kinh thành Huế nằm ngay sát bên bờ sông Hương, trên tuyến đường

ra Quảng Trị, vào Đà Nẵng Theo sử cũ ghi lại thì kinh thành Huế được xâydựng những năm 1805-1820, mỗi bề 2,5km, một mặt giáp sông Hương, bamặt có hào sâu, tường thành xây bằng gạch, đá, cao 10m, trên mặt thành có

đủ trăm đại bác Ngay sát kinh thành Huế (phía đông) là đồn Mang Cá, nơiđóng của quân Pháp Phía bờ nam sông Hương là tòa Khâm sứ, nơi các sĩquan Pháp ở đại diện cho Chính phủ Pháp Với vị trí như vậy, kinh thành Huếchịu sự uy hiếp và khống chế của kẻ thù”

Lược đồ kinh thành Huế năm 1885

Ngày đăng: 11/12/2015, 21:18

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng so sánh là loại đồ dùng trực quan qui ước dùng để đối chiếu, so  sánh nhằm làm rõ bản chất, đặc trưng của các sự kiện, hiện tượng lịch sử - skkn một số KINH NGHIỆM dạy và bồi DƯỠNG học SINH GIỎI môn LỊCH sử ở TRƯỜNG THPT CHUYÊN
Bảng so sánh là loại đồ dùng trực quan qui ước dùng để đối chiếu, so sánh nhằm làm rõ bản chất, đặc trưng của các sự kiện, hiện tượng lịch sử (Trang 15)
Hình thức  mặt trận - skkn một số KINH NGHIỆM dạy và bồi DƯỠNG học SINH GIỎI môn LỊCH sử ở TRƯỜNG THPT CHUYÊN
Hình th ức mặt trận (Trang 16)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w