1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

skkn một số kinh nghiệm dạy một tiết văn bản trong chương trình ngữ văn lớp 6 theo hoạt động học của học sinh

22 81 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 484,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, dạy học Ngữ văn không dễ như một số người lầm tưởng - đặcbiệt là khi dạy tác phẩm bút kí giàu chất trữ tình, để chuyển tải hết được cái hay và những dụng ý nghệ thuật của tác

Trang 1

PHẦN MỤC LỤC

1 MỞ ĐẦU

1.1 Lí do chọn đề 1

1.2 Mục đích đề tài 2

1.3 Đối tượng nghiên cứu 2

1.4 Phương pháp nghiên cứu 2

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1 Cơ sở lí luận: 2

2.2 Thực trạng vấn đề 3

2.3 Các giải pháp sử dụng và giải quyết vấn đề 5

2.4 Giáo án minh họa 2.5 Hiệu quả sáng kiến kin h nghiệm 18

3 KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ: 1 Kết luận 20

2 Kiến nghị 20

Tài liệu tham khảo 21

Trang 2

1 PHẦN MỞ ĐẦU 1.1.Lí do chọn đề tài

A.Komsxki từng nói: “Giáo dục có mục đích đánh thức năng lực nhân cách phán đoán đúng đắn, phát triển nhân cách Hãy tìm ra phương pháp cho phép giáo viên dạy ít hơn, học sinh học nhiều hơn” Quả đúng như vậy, tại Điều

5 Chương I “Luật Giáo dục” Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy

định: “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng lòng say mê học tập và ý thức vươn lên

[1]. Ngày nay trước sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ thì yêu cầu

đổi mới toàn diện trong giáo dục là một nhu cầu tất yếu, mang tính chiến lược

nhằm: “Giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ

và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách

và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

Đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của giáo dục, tại nghị quyết số 29-NQ/

TW ngày 4/11/ 2013 của hội nghi Trung ương 8 khóa XI đã nêu ra vấn đề đổimới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, coi giáo dục là quốc sách hàng đầu,

là nhiệm vụ của Đảng, nhà nước và của nhân dân Đầu tư cho giáo dục là đầu tưcho phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triểnkinh tế- xã hội Hội nghị đã xác định đổi mới căn bản toàn diện giáo dục là đổimới những vấn đề lớn, cốt lõi, trong đó có đổi mới phương pháp dạy- học môn

Ngữ văn [2].Bởi qua môn Ngữ văn học sinh được hòa nhập một cách tích

cực,chủ động với môi trường xã hội hiện tại và tương lai Học sinh được cungcấp những phương pháp và tiếp nhận văn học, thực hành bằng giao tiếp chuẩntiếng Việt, đồng thời có khả năng thâm nhập các lĩnh vực văn hóa, xã hội khác,

để tự tin trước cuộc sống, biết ứng xử tích cực trong mọi hoàn cảnh

Không những thế, Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng dạy học tích

cực lấy học sinh làm trung tâm rất được quan tâm trong những năm qua Phát

huy tính tích cực trong học tập của học sinh được xem như một nguyên tắc dạy

học đảm bảo chất lượng và hiệu quả, chuyển từ lấy giáo viên làm trung tâm sang lấy học sinh làm trung tâm là một xu hướng tất yếu có tính lịch sử Với các

môn học nói chung và môn Ngữ văn nói riêng đổi mới dạy học đã trở thành vấn

đề cấp thiết và điểm mấu chốt của môn Ngữ văn tập trung trong hai chữ “Tích hợp”: tích hợp và tích cực Có “tích cực” mới phát huy tốt tính chất tích hợp,

qua tích hợp học sinh càng tích cực hơn

Ngữ văn là môn học nghệ thuật, đặc biệt là văn học Văn học dùng chất liệu hiện thực kết hợp nghệ thuật ngôn từ để phản ánh hiện thực, thể hiện tư tưởng tình cảm của tác giả Vì vậy, dạy văn học là khai thác nghệ thuật ngôn từ

để làm rõ nội dung hiện thực và tư tưởng tình cảm của tác giả Từ đó, dạy văn học người giáo viên phải đảm bảo được đặc điểm trên của môn học: phải giúp

học sinh thấy được cái hay, cái đẹp về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm qua

Trang 3

đó cảm nhận được điều nhà văn muốn gửi đến người đọc Mặt khác, thông quaviệc học những tiết văn học, giáo viên cần rèn luyện cho học sinh kĩ năng tựkhám phá, cảm thụ một tác phẩm văn học, giúp các em có khả năng giao tiếp đạthiệu quả

Tuy nhiên, dạy học Ngữ văn không dễ như một số người lầm tưởng - đặcbiệt là khi dạy tác phẩm bút kí giàu chất trữ tình, để chuyển tải hết được cái hay

và những dụng ý nghệ thuật của tác giả đến học sinh lứa tuổi THCS không hề dễ.Nguyên nhân thì nhiều song theo tôi trước hết là do một số giáo viên chưa thực

sự tâm huyết với bài giảng, chưa biết cách khơi gợi, tổ chức hướng dẫn cho họcsinh cách khai thác và cách cảm nhận cái hay, cái đẹp của tác phẩm Mặt khác,trong quá trình tổ chức hướng dẫn học sinh tiếp cận văn bản còn lúng túng chủyếu dạy theo kiểu truyền thụ một chiều: giáo viên hỏi - học sinh trả lời nên giờhọc diễn ra trong một không khí đơn điệu, nhàm chán Vì thế, có thể nói chấtlượng dạy - học ở một số văn bản đặc biệt là ở thể bút kí chưa đáp ứng đúngđược mục tiêu đổi mới phương pháp dạy theo hướng tích cực Đó là những khókhăn cơ bản trong thực tiễn cản trở việc dạy học khiến cá nhân tôi rất băn khoăn

trăn trở Xuất phát từ thực tế đó nên tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Một số kinh nghiệm dạy tiết văn bản " Cây tre Việt Nam" trong chương trình Ngữ văn lớp 6 theo hoạt động học của học của học sinh" để nghiên cứu.

mê, hứng thú học tập văn bản ở các em học sinh, góp phần nâng cao chất lượngdạy và học môn Ngữ văn nói chung và phần văn bản nói riêng

1.3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là sử dụng một số giải pháp cơ bản

để tổ chức hiệu quả các hoạt động dạy học Văn bản “ Cây Tre Việt Nam” (Thép Mới ) Chương trình Ngữ Văn lớp 6 - THCS

1.4 Phương pháp nghiên cứu:

- Xây dựng cơ sở lí thuyết

- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế

- Phương pháp thu thập thông tin

- Phương pháp thống kê, sử lí số liệu

2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm

Chương trình Giáo dục phổ thông ban hành kèm theo Quyết đinh số16/2006/QĐ-BGD-ĐT ngày 5/5/2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã

Trang 4

nêu ra phương pháp dạy học trong các nhà trường phổ thông là: “Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học; bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến ttình cảm, đem lại niềm vui, hứng

thú và trách nhiệm học tập cho học sinh”[3].

Đổi mới dạy học phải phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo trong học

tập của học sinh với các môn học nói chung và phương pháp dạy học văn nói

riêng là một khoa học vì nó không chỉ quan tâm nghiên cứu tác phẩm vănchương mà quan trọng hơn phải tìm hiểu dạy học văn chương để làm gì Khoahọc về phương pháp dạy học văn vừa phải tiếp tục đi sâu vào bản chất của vănhọc, vừa phải khám phá sức mạnh tác động xã hội thẩm mĩ đến nhân cách họcsinh

Có thể khẳng định rằng trong những năm gần đây, việc dạy học môn Ngữvăn ở trường THCS đã có những biến chuyển tích cực, người giáo viên đã thực

sự đổi mới phương pháp dạy học, chú ý đến sự tiếp nhận và vận dụng kiến thức,

kĩ năng thực hành của học sinh Giờ học Ngữ văn đã có " chất văn” hơn.

Tuy nhiên, trong thực tế việc dạy Ngữ văn - phần văn xuôi- kí ở các nhàtrường theo quan điểm tích cực và tích hợp còn nhiều điều đáng nói Một số giáoviên trong khi giảng dạy còn chưa thật sự chú ý đến đặc trưng bộ môn, dạy họcchưa bám theo thể loại mà người giáo viên chỉ chú trọng và nặng về cung cấpkiến thức đơn thuần nên họ dạy theo kiểu truyền thụ một chiều: giáo viên hỏi -học sinh trả lời Như thế giờ học trở nên nhàm chán, tẻ nhạt, khô khan cứngnhắc, thiếu cảm hứng, thiếu sự đồng cảm với nhà văn, nhà thơ Từ đó, học sinhnảy sinh tâm lí chán và ngại học môn Ngữ văn Trong khi đó tác phẩm vănchương như là một món ăn tinh thần mà giáo viên là người chế biến và phục vụcòn học sinh là thực khách Khách ăn có ngon hay không – tâm hồn ngườithưởng thức có lâng lâng, rung động, say sưa hay không – là do ở người chếbiến, phục vụ Cùng là một tác phẩm văn học nếu người giáo viên biết cách khaithác, hướng dẫn, diễn giảng đúng chỗ, đúng lúc thì học sinh sẽ rung động, khắcsâu, yêu thích và nhớ mãi

2.2 Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

Nhà văn hoá lớn của nhân loại Lê-nin từng nói: "Văn học là nhân học" Vậy

mà một thực trạng đáng lo ngại là học sinh bây giờ không còn thích học văn.Thực trạng này lâu nay đã được báo động Ban đầu chỉ đơn thuần là những lờithan thở với nhau của những người trực tiếp giảng dạy môn Ngữ văn và nay đãtrở thành vấn đề của báo chí và dư luận Ai đã trực tiếp dạy và chấm bài làm văncủa học sinh trong những năm gần đây mới thấy cần thiết phải có những thayđổi về phương pháp dạy văn và học văn hiện nay Qua công tác giảng dạy cũngnhư chấm trả các bài kiểm tra Ngữ văn của các em, tôi nhận thấy có rất nhiềunhững biểu hiện thể hiện tâm lý chán, không thích học môn Ngữ văn của họcsinh Thực tế này có nhiều nguyên nhân song tập trung vào một số nguyên nhân

cơ bản như sau:

2.2.1 Về phía giáo viên

Trang 5

Đa số giáo viên đều có tình yêu nghề, mến trẻ, tận tụy với công tác giảng dạy,chăm lo quan tâm đến học sinh Tuy nhiên, vẫn còn những mặt hạn chế sau:

Thứ nhất là một số giáo viên chưa thực sự tâm huyết với nghề, chưa khơi

gợi được mạch nguồn cảm xúc ẩn sau mỗi trái tim người học; khi lên lớp, một

số giáo viên còn lúng túng bị động trong phương pháp tổ chức, hướng dẫn họcsinh học tập Hơn nữa, một bộ phận giáo viên cũng chưa thật chuyên sâu kiếnthức của một số môn học khác như: Lịch sử, GDCD để hỗ trợ thêm kiến thứckhi dạy môn Ngữ văn Mặt khác, khi giảng dạy một số giáo viên chưa thực sựquan tâm tới mọi đối tượng học sinh trong lớp, chưa có hệ thống câu hỏi phùhợp cho mọi đối tượng - đặc biệt là học sinh yếu kém nên dẫn đến chất lượngdạy học môn Ngữ văn chưa cao

Thứ hai là sách hướng dẫn, tài liệu tham khảo, đồ dùng dạy học phục vụ

công tác giảng dạy môn Ngữ văn lại không nhiều Việc sử dụng đồ dùng dạyhọc, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào tiết học còn hạn chế nên cũng ảnhhưởng không nhỏ đến chất lượng dạy và học bộ môn Ngữ văn trong những nămqua

2.2.2 Về phía học sinh

Trước hết là do học sinh thờ ơ với môn Ngữ văn Những năm gần đây,

nhiều người quan tâm đến công tác giáo dục không khỏi lo ngại trước một thựctrạng, đó là tâm lý thờ ơ với việc học môn Ngữ văn ở các trường THCS và cáctrường THPT Điều đáng buồn nhất cho các giáo viên dạy văn là nhiều học sinh

có năng khiếu văn cũng không muốn tham gia đội tuyển môn Ngữ văn chỉ vì các

em ngại viết, phải viết dài, phải nhớ nhiều, học môn văn thì sẽ thi được íttrường, cơ hội xin việc làm khó Có lẽ vì thế nên các em dành nhiều thời giancho các môn học khác - chủ yếu là các môn khoa học tự nhiên Thực tế, phầnlớn phụ huynh khi đã định hướng cho con mình sẽ thi khối A thì chỉ chủ yếu chú

trọng ba môn: Toán, Lý, Hóa còn các môn học khác thì xem nhẹ - trong đó có

môn Ngữ văn Điều đó cũng ảnh hưởng không nhỏ đến nhận thức của các em vềmôn Ngữ văn

Mặt khác do khả năng trình bày của một bộ phận học sinh còn yếu Một

số em học sinh cách nói năng, cách diễn đạt, cách dùng từ, đặt câu còn lúngtúng, vụng về, chưa rõ ràng, chưa chính xác Khi đọc, chấm một bài làm văn củacác em viết giáo viên chúng ta có thể dễ dàng nhận ra những lỗi sai cơ bản như:dùng từ đặt câu sai, viết chính tả sai, bố cục chưa rõ ràng và lời văn lủng củng,thiếu logic Đặc biệt, có những bài văn diễn đạt ngô nghê, tối nghĩa Vì thế nênkết quả điểm bài làm chưa cao khiến các em nảy sinh tâm lí chán nản, không cốgắng; một số em sau khi được giáo viên sửa lỗi và góp ý trong bài làm của mìnhmuốn cố gắng thay đổi vươn lên nhưng kiến thức hổng, mất gốc không biếtphải bắt đầu từ đâu nên các em lại buông xuôi, phó mặc Đây là một thực trạng

đã trở nên phổ biến và thậm chí là đáng báo động trong xã hội ta Điều này ảnhhưởng không nhỏ đến chất lượng dạy và học bộ môn Ngữ văn trong những nămqua

2.2.3 Tình hình địa phương

Trang 6

Tuy là địa bàn thị trấn, nhưng Thị trấn Quảng Xương kinh tế của một số

hộ gia đỡnh cũn khú khăn; một số em cú hoàn cảnh gia đỡnh đặc biệt như cha mẹ

li hụn hoặc đi làm ăn xa để cỏc em ở với ụng bà… nờn ớt cú thời gian quan tõm,kốm cặp, uốn nắn con em mỡnh một cỏch sỏt sao, kịp thời; một bộ phận khỏccũn phải phụ giỳp gia đỡnh làm kinh tế ngoài giờ lờn lớp vỡ vậy quỹ thời gian đểcỏc em dành cho học tập là rất hạn chế Hơn nữa do đời sống văn húa tinh thầnngày một nõng cao, nhu cầu giải trớ như xem ti vi, cỏc trũ chơi điện tử, cỏc tệnạn xó hội ngày càng nhiều đang lan tràn, xõm nhập vào mụi trường học đườngkhiến cho một số em chưa cú ý thức học tập dễ bị lụi cuốn, sao nhóng, bờ trễviệc học tập

Qua việc khảo sỏt thực trạng, chất lượng bài làm của học sinh như sau:

giỳp học sinh lĩnh hội kiến thức văn bản “ Cõy tre Việt Nam” núi riờng và cỏc

văn bản truyện kớ núi chung Kết quả ấy đòi hỏi phải có sự nỗ lực cố gắng rấtnhiều của giáo viên và học sinh trong năm học này Vỡ vậy tụi mạnh dạn đưa ramột số giải phỏp cụ thể như sau

2.3 Cỏc giải phỏp thực hiện đề tài

2.3.1 Cải tiến cỏc phương phỏp dạy học truyền thống: cỏc phương phỏp dạy

học truyền thống như thuyết trỡnh, đàm thoại, luyện tập luụn quan trọng Đổimới khụng cú nghĩa là loại bỏ phương phỏp này mà cần bắt đầu bằng việc cảitiến để nõng cao hiệu quả và hạn chế nhược điểm của chỳng Giỏo viờn dạy Ngữvăn trước hết cần nắm vững yờu cầu và sử dụng thành thạo cỏc kỹ thuật (Mảnhghộp, Khăn phủ bàn, Sơ đồ tư duy…) trong việc chuẩn bị cũng như tiến hành bàilờn lớp, làm sao phỏt huy tớnh tớch cực và sỏng tạo của học sinh trong giờ dạyvăn bản nhất là tiết Cõy tre Việt Nam

2.3.2 Kết hợp đa dạng phương phỏp dạy học: khụng cú một phương phỏp dạy

học toàn năng phự hợp với mọi mục tiờu và nội dung Mỗi phương phỏp và hỡnhthức dạy học cú những ưu, nhược điểm và giới hạn sử dụng riờng Vỡ vậy việcphối hợp đa dạng phương phỏp và hỡnh thức trong tiết dạy học văn bản làphương hướng quan trọng để phỏt huy tớnh tớch cực và nõng cao chất lượng dạyhọc văn bản Nhất là với học sinh lớp 6 khớ cỏc em quen với phương phỏp củacấp Tiểu học

2.3.3 Vận dụng dạy học giải quyết vấn đề: dạy học giải quyết vấn đề là quan

điểm dạy học nhằm phỏt triển năng lực tư duy, khả năng nhận biết và giải quyết

Trang 7

vấn đề Học sinh được đặt trong một tình huống có vấn đề của một tiết văn bản,chứa đựng mâu thuẫn nhận thức Thông qua việc giải quyết vấn đề, học sinh lĩnhhội tri thức, kỹ năng và phương pháp nhận thức Dạy học giải quyết vấn đề làcon đường cơ bản để phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh, có thể ápdụng trong nhiều hình thức dạy học với mức độ tự lực của học sinh lớp 6.

2.3.4 Dạy học định hướng hoạt động học trong tiết văn bản: là quan điểm

dạy học nhằm làm cho các hoạt động trí óc và chân tay kết hợp chặt chẽ Họcsinh thực hiện các nhiệm vụ học tập và hoàn thành sản phẩm hành động, có sựkết hợp linh hoạt giữa hoạt động trí tuệ và tay chân Đây là quan điểm dạy họctích cực hoá và tiếp cận toàn thể Vận dụng dạy học định hướng hành động có ýnghĩa quan trọng cho việc thực hiện nguyên lý giáo dục kết hợp lý thuyết vớithực tiễn, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội

2.3.5 Tăng cường sử dụng công nghệ thông tin hỗ trợ dạy học trong tiết Cây tre Việt Nam: phương tiện có vai trò quan trọng trong đổi mới phương

pháp dạy học, nhằm tăng cường tính trực quan Hiện nay, việc trang bị cácphương tiện dạy học mới cho các trường phổ thông từng bước được tăng cường.Tuy nhiên các phương tiện dạy học tự làm của giáo viên luôn có ý nghĩa quantrọng, cần được phát huy đặc biệt trong tiết văn bản

2.3.6 Sử dụng kỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực và sáng tạo: kỹ thuật

dạy học là cách thức hành động của giáo viên và học sinh trong các tình huốngnhỏ của từng văn bản, nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học Các kỹthuật là đơn vị nhỏ nhất của phương pháp dạy học Có kỹ thuật dạy học chung,

có kỹ thuật đặc thù của từng phương pháp

2.3.7 Chú trọng các phương pháp dạy học đặc thù bộ môn Ngữ văn (theo

từng phân môn): phương pháp có mối quan hệ biện chứng với nội dung dạy học.Bên cạnh phương pháp chung có thể sử dụng cho nhiều bộ môn thì việc dùngphương pháp dạy học đặc thù có vai trò quan trọng trong dạy bộ môn Nhất làphân môn đọc văn(văn bản)

2.3.8 Bồi dưỡng phương pháp học tập tích cực cho học sinh: phương pháp

học tập một cách tự lực đóng vai trò quan trọng trong việc tích cực hoá, pháthuy tính sáng tạo của học sinh trong quá trình cảm thụ một văn bản văn học Cónhững phương pháp nhận thức chung như thu thập, xử lý, đánh giá thông tin, tổchức làm việc, làm việc nhóm Bằng nhiều hình thức, cần luyện tập cho học sinhcác phương pháp học tập chung và phương pháp học tập bộ môn

2.3.9 Phương pháp hoạt động nhóm (áp dụng kỹ thuật khăn phủ bàn): Lớp

học được chia thành từng nhóm nhỏ từ 4 đến 6 người Tuỳ mục đích, yêu cầucủa tiết văn bản, các nhóm được phân chia ngẫu nhiên hay có chủ định, đượcduy trì ổn định hay thay đổi trong từng phần của tiết học, được giao cùng mộtnhiệm vụ hay những nhiệm vụ khác nhau.Nhóm tự bầu nhóm trưởng nếu thấycần Trong nhóm có thể phân công mỗi người một phần việc Trong nhóm nhỏ,mỗi thành viên đều phải làm việc tích cực, không thể ỷ lại vào một vài ngườihiểu biết và năng động hơn Các thành viên trong nhóm giúp đỡ nhau tìm hiêuvấn đề nêu ra trong không khí thi đua với các nhóm khác Kết quả làm việc củamỗi nhóm sẽ đóng góp vào kết quả học tập chung của cả lớp Để trình bày kết

Trang 8

quả làm việc của nhúm trước toàn lớp, nhúm cú thể cử ra một đại diện hoặcphõn cụng mỗi thành viờn trỡnh bày một phần nếu nhiệm vụ giao cho nhúm làkhỏ phức tạp.

2.3.10 Phương phỏp đúng vai: đúng vai là phương phỏp tổ chức cho học sinh

thực hành một số cỏch ứng xử nào đú trong một tỡnh huống giả định

- Học sinh được rốn luyện thực hành những kỹ năng ứng xử và bày tỏ thỏi độtrong mụi trường an toàn trước khi thực hành trong thực tiễn

- Gõy hứng thỳ và chỳ ý cho học sinh

- Tạo điều kiện làm nảy sinh úc sỏng tạo của học sinh

- Khớch lệ sự thay đổi thỏi độ, hành vi của học sinh theo chuẩn mực hành vi đạođức và chớnh trị – xó hội

Bờn cạnh đú để khắc phục những tồn trong phần thực trạng và cú đượcmột tiết giảng văn hay, hấp dẫn, thu hỳt được cỏc em học sinh - đặc biệt là khidạy tỏc phẩm kớ - trong quỏ trỡnh soạn bài, chuẩn bị hệ thống cõu hỏi phự hợp vớimọi đối tượng học sinh trong lớp, hệ thống cỏc dạng bài tập vận dụng thực hành,phiếu học tập, tổ chức cỏc khõu lờn lớp, Tất cả điều đú giỏo viờn cần lờn kếhoạch trước thật cụ thể cho từng phần, từng mục, từng hoạt động Làm sao chogiờ dạy - học mụn Ngữ văn đạt hiệu quả cao nhất Nghĩa là, làm thế nào đểngười giỏo viờn phải là người hướng dẫn, tổ chức, nờu vấn đề để học sinh chủđộng, tự tỡm kiếm tri thức và bày tỏ quan điểm riờng của mỡnh

Cần cú dự thảo về cỏc phương phỏp, cỏc biện phỏp dạy học một cỏch linhhoạt và phự hợp Vận dụng linh hoạt cỏc phương phỏp dạy học đổi mới theohướng tớch cực thỡ người giỏo viờn luụn phải xỏc định được mục tiờu giỏo dục,dạy học phải bỏm sỏt chuẩn kiến thức và kĩ năng và ngay từ đầu năm học cầnphải tiến hành khảo sỏt để phõn loại đối tượng học sinh để cú phương phỏp dạyhọc phự hợp Luụn cú ý thức khơi gợi hứng thỳ học tập ở học sinh Phải nắm rừquan điểm dạy học tớch cực, xỏc định rừ vai trũ và vị trớ của người giỏo viờn vàngười học sinh trong từng bài học, tiết học Giỏo viờn đúng vài trũ chủ đạo trongviệc tổ chức, hướng dẫn học sinh tiếp thu kiến thức bằng cỏc phương phỏp dạyhọc cụ thể Học sinh đúng vai trũ tớch cực, chủ động lĩnh hội tri thức trờn cơ sởhướng dẫn của giỏo viờn Cụ thể:

Về phớa giỏo viờn: Giỏo viờn cần soạn bài trước ở nhà, luụn xỏc định

được mục tiờu của từng bài học, tiết học, dạy học phải bỏm sỏt chuẩn kiến thức

và kĩ năng; vận dụng linh hoạt cỏc phương phỏp dạy học đổi mới theo hướng tớchcực; chuẩn bị hệ thống cõu hỏi phự hợp với mọi đối tượng học sinh trong lớp

đồng thời chuẩn bị hệ thống cỏc dạng bài tập vận dụng thực hành, phiếu học tập;chuẩn bị trước cỏc khõu lờn lớp thật cụ thể cho từng phần, từng mục, từng hoạtđộng Luụn đặt học sinh vào những tỡnh huống cú vấn đề để học sinh cú thúiquen liện hệ với vấn đề đặt ra, biết trỡnh bày ý kiến riờng, quan điểm riờng vànhững đề xuất kiến nghị riờng của mỡnh

Hệ thống cõu hỏi trờn lớp cần chú ý khơi gợi cho học sinh niềm say mờyờu thớch mụn học Gợi mở, dẫn dắt cỏc em tỡm hiểu, khai thỏc cỏc hỡnh ảnh thơ,giỏ trị của hệ thống ngụn từ, những đặc sắc mà cỏc biện phỏp nghệ thuật manglại Tựy thuộc vào nội dung của từng văn bản mà giỏo viờn giải thớch, bổ sung

Trang 9

thờm cho học sinh kiến thức ở cỏc mụn học khỏc - phục vụ cho việc dạy văn bảnđạt được hiệu quả cao nhất

Cần tổ chức cho học sinh hoạt động học tập thảo luận dưới nhiều hỡnh thức

mới lạ hấp dẫn nh hoạt động cá nhân (khi vấn đề đơn giản, một cỏ thể cú thể tự

giải quyết Ở hỡnh thức hoạt động này, giáo viên cần chỳ ý hệ thống cõu hỏi chomọi đối tượng học sinh trong lớp như học sinh khỏ - giỏi, học sinh đại trà, vàhọc sinh yếu kộm Giáo viên cần quan tõm nhiều hơn đến những em học sinh yếukộm trong lớp để động viờn, khớch lệ cỏc em cú hứng thỳ học tập Ngoài ra, cũngcần cú những cõu hỏi thỳ vị, độc đỏo để kớch thớch tư duy sỏng tạo của những emhọc sinh khỏ giỏi trong lớp Cú như thế giờ học mới thực sự hấp dẫn và lụi cuốn

cỏc em); hoạt động nhúm- dựng kĩ thuật cỏc mảnh ghộp (khi vấn đề phức tạp

một cỏ thể khụng thể tự giải quyết) cần chỳ ý khi hoạt động nhúm giỏo viờn cầnnờu yờu cầu cụ thể là gỡ ? Làm như thế nào ? Khi học sinh hoạt động nhúm mỗi

HS cần phải đưa ra ý kiến riờng của mỡnh, ghi chộp lại những điều đang thảoluận, phỏt hiện, phõn tớch và kết luận vấn đề Nhúm trưởng cú trỏch nhiệm ghichộp và thõu túm ý kiến chung của cả nhúm Trong khi học sinh đang thảo luậnnhúm thỡ giỏo viờn cần đi đến từng nhúm để theo dừi, hướng dẫn, định hướng,nhắc nhở và giỳp đỡ khi cỏc em cần)

Giáo viên nờn sử dụng thờng xuyên và có hiệu quả cỏc phương tiện, thiết bịdạy học hiện đại như: mỏy chiếu, màn hỡnh, băng đĩa, mỏy ghi õm kết hợp vớiphiếu học tập, bảng phụ, hệ thống tranh ảnh, tư liệu mà giỏo viờn và học sinh

có hoặc sưu tầm được - nhưng phải sử dụng đỳng lỳc và khi thực sự cần thiết,không lạm dụng vì không khéo sẽ làm loãng kiến thức, loãng vấn đề, ảnh hởng

đến quá trình tiếp nhận và lĩnh hội tri thức ở học sinh

- Khi giảng dạy một tiết văn bản thì khâu giới thiệu bài mới rất quan trọng.

Với mục đớch thu hỳt sự chỳ ý của học sinh ngay từ đầu Tuy nhiên một số giỏoviờn chưa thực sự chỳ ý hoặc chưa coi trọng và cha thấy được tầm quan trọngcủa khõu giới thiệu bài mới Giáo viên cú thể giới thiệu bài mới một cỏch trựctiếp hoặc giỏn tiếp điều đú tựy thuộc vào năng khiếu và sở thớch của từng ngời

Hơn nữa, việc giới thiệu bài mới giống như một lời chào, một lời mời gọi khỏch

đến thăm nhà mỡnh Nếu người chủ nhà biết cỏch mời chào khộo lộo thỡ sẽ thuhỳt được sự chỳ ý của cỏc vị khỏch hoặc ngược lại Vậy nờn, theo tụi đõy là khõu

rất quan trọng khi mở đầu bài học Vớ dụ giới thiệu bài mới khi dạy tiết Tiết

109, 110, văn bản “Cõy Tre Việt Nam” (Thộp Mới) - Ngữ văn 6 Tập 2 - giáo

viên dựng mỏy chiếu cho học sinh xem một đoạn băng về hỡnh ảnh cõy tre Việtnam gắn bú với con người từ thời dựng nước đến nay Đặc biệt là cú lời bỡnhtrong bộ phim tư liệu, hỡnh ảnh cõy tre Việt Nam được Thộp Mới viết để làm lờithuyết minh cho bộ phim cựng tờn của cỏc nhà điện ảnh Ba Lan Thụng qua hỡnhảnh cõy tre, bộ phim đó thể hiện đất nước và con người Việt Nam, ca ngợi cuộckhỏng chiến chống Thực dõn Phỏp của dõn tộc ta, lời thuyết minh được coi như

là một tựy bỳt đặc sắc , một bài thơ, văn xuụi đẹp của nhà bỏo, nhà văn ThộpMới

- Xõy dựng nội dung bài học ngắn gọn theo trỡnh tự hợp lớ Giáo viên chỉ

trỡnh bày những kiến thức trọng tõm, cơ bản, dạy - học bỏm sỏt theo chuẩn kiến

Trang 10

thức và kĩ năng Truyền tải nội dung bài học đến cỏc em một cỏch ngắn gọn, đơngiản, rừ ràng, dể hiểu nhất Khụng nờn tham lam kiến thức, trỡnh bày quỏ dàidũng như thế học sinh sẽ chỏn ngỏn, ngại học, học khú thuộc, khú nhớ và dẫnđến giờ học khụng thành cụng

- Trong tiết học cần tạo sự thớch thỳ cho học sinh bằng cách sử dụng ờng xuyên và có hiệu quả cỏc phương tiện, thiết bị dạy học hiện đại như mỏy

th-chiếu, màn hỡnh, băng đĩa, mỏy ghi õm kết hợp với phiếu học tập, bảng phụ, hệthống tranh ảnh, tư liệu

- Cần tổ chức cho HS hoạt động học tập thảo luận dưới nhiều hỡnh thức mới

lạ hấp dẫn nh hoạt động cá nhân; hoạt động nhúm- thụng qua cỏc kĩ thuật dạy

học tớch cực như: Kĩ thuật mảnh ghộp,, kĩ thuật sơ đồ tư duy

- Cần biết khen ngợi, khớch lệ, động viờn học sinh về những gỡ học sinh đó phỏt hiện, trỡnh bày; đừng bao giờ chờ học sinh dự khi cỏc em khụng biết tớ gỡ, luụn giữ thể diện cho học sinh Luôn tạo khụng khớ thõn thiện với học sinh,

khoảng cỏch giữa giỏo viờn và học sinh gần gũi và tõm thế thoải mỏi, trỏnh cảmgiỏc căng thẳng cho cỏc em

- Liờn hệ bài giảng vào thực tế cuộc sống của học sinh nh hình thành cho các

em tỡnh cảm yờu mến, niềm tự hào về truyền thống lịch sử của dõn tộc gắn liền

với hỡnh ảnh cõy tre Hướng cỏc em phấn đấu trở thành một cụng dõn tốt, cú ớchcho đất nước

- Dạy học theo định hướng tớch hợp: Mụn Lịch sử, mụn Mĩ thuật, Mụn Âmnhạc

+ Tớch hợp với phõn mụn Tập làm văn : Học sinh viết được đoạn văn miờu tả

- Cuối mỗi tiết học giáo viên cần nhận xét, đánh giá chung về tiết học, nhắc

nhở và nờu những cụng việc cụ thể để học sinh thực hiện ở nhà nhằm giỳp cỏc

em học tập tốt hơn ở trờn lớp

Về phớa học sinh: để giờ học văn thực sự hấp dẫn, lôi cuốn học sinh và đạt kết

quả cao thì học sinh cần phải:

Chủ động chuẩn bị bài, soạn bài trước ở nhà; đọc kĩ văn bản, chỳ thớch nhất là cỏc chỳ thớch cú liờn quan đến vấn đề được đặt ra trong văn bản; nắmđược hoàn cảnh ra đời của tỏc phẩm; nắm được những nột cơ bản, nột nổi trội vềthõn thế, cuộc đời, sự nghiệp, phong cỏch sỏng tỏc của tỏc giả; nắm được sơ bộnhững nột đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của văn bản

Chủ động trong mọi tỡnh huống cú vấn đề mà giỏo viờn đưa ra, tỡm mọi cỏch

để giải thớch, xử lớ tỡnh huống cú vấn đề đú

- Học sinh phải mạnh dạn đưa ra những ý kiến, quan điểm riờng của mỡnhtrước nhúm và trước tập thể lớp, biết bảo vệ ý kiến của mỡnh khi cần thiết, khigặp khó khăn hay băn khoăn cha rõ về một vấn đề nào đó cần chủ động nhờ giáoviên giúp đỡ Khi thảo luận nhóm cần nghiêm túc thực hiện, tránh làm việc riênghoặc thờ ơ dửng dng phó mặc cho nhóm

- Kết hợp xem tranh, nghe nhỡn cỏc chương trỡnh thời sự trờn cỏc phương tiệnthụng tin đại chỳng Sưu tầm tư liệu, tranh ảnh phục vụ bài giảng khi giỏo viờnyờu cầu Biết liên hệ với các môn học khác khi cần thiết

2.4 Giỏo ỏn minh họa

Tiết 109, 110 Văn bản CÂY TRE VIỆT NAM

Trang 11

(Thộp Mới )

I Mục tiờu bài học:

1 Kiến thức:

- Hỡnh ảnh cõy tre trong đời sống và tinh thần của người Việt Nam

- Những đặc điểm nổi bật về giọng điệu, ngụn ngữ của bài kớ

2 Kĩ năng:

- Đọc diễn cảm và sỏng tạo bài văn xuụi giàu chất thơ bằng sự chuyển dịch giọng đọc phự hợp chuẩn tiếng Việt phổ thụng

- Đọc - hiểu văn bản kớ cú yếu tố miờu tả, biểu cảm

- Nhận ra phương thức biểu đạt chớnh: Miờu tả kết hợp biểu cảm, thuyết minh, nghị luận

- Nhận biết và phõn tớch được tỏc dụng của phộp so sỏnh, nhõn hoỏ, ẩn dụ

3 Thỏi độ

Giỏo dục học sinh tỡnh yờu thiờn nhiờn, thấy được tỏc dụng của cõy tre đối với đời sống của người Việt Nam

4 Định hướng hỡnh thành năng lực

- Năng lực chung: Năng lực giải quyết vấn đề, hợp tác…

- Năng lực chuyờn biệt: Đọc- hiểu văn bản, Tóm tắt văn bản, cảm thụ phõn tớchvăn bản…

II Phương phỏp kĩ thuật dạy học:

- PP Vấn đỏp, nờu và giải quyết vấn đề, giảng bỡnh…

- Một số kĩ thuật dạy học tớch cực:

- Cỏc mảnh ghộp

- Sơ đồ tư duy

III Chuẩn bị phương tiện và đồ dựng:

- Tỡm hiểu về làng nghề mõy,tre đan tại địa phương

IV Tiến trỡnh tổ chức dạy - học:

1 Ổn định lớp:

2 Kiểm tra bài cũ:

- GV Em hóy cho biết Thể loại và phương thức biểu đạt mà Nguyễn Tuõn sử

dụng trong bài Cụ Tụ? ( GV lồng vào phần dạy bài mới để kiểm tra)

- HS: Thể loại: Kớ, phương thức biểu đạt : Miờu tả kết hợp biểu cảm

3 Tổ chức dạy bài mới:

Giới thiệu bài:

Nước Việt Nam ta xanh muụn ngàn cõy lỏ khỏc nhau Cõy nào cũng đẹp, cõy nào cũng quớ, nhưng gần gũi và thõn thuộc nhất là hỡnh ảnh cõy tre Nguyễn Duy đó viết:

Tre xanh xanh tự bao giờ.

Ngày đăng: 19/09/2018, 20:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w