1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

MAKETING TRONG GIÁO DỤC

47 176 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 430,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nếu tiếp cận mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN như một thể chế được kết hợp giữa cái chung và cái đặc thù, trong đó lấy cái đặc thù làm chủ đạo, theo chúng tôi có thể hiểu kinh

Trang 1

Marketing Trong Gi¸o Dôc

TS Phan V¨n Nh©n

PGS.TS.NguyÔn Léc

PHẦN I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA GIÁO DỤC TRONG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Chúng ta đều biết rằng quan hệ giữa GD, ĐT và kinh tế là quan hệ biện

chứng, có tác động qua lại chặt chẽ với nhau Do đó, khi xem xét những vấn đề

của GD, ÐT không thể tách riêng GD, ÐT, càng không thể chỉ có GD, ÐT, màphải trên nhiều góc độ, trong sự tác động của các nhân tố, đặc biệt là kinh tế Hơn nữa, nghiên cứu marketing trong giáo dục trong điều kiện nền kinh tế nước

ta đang chuyển sang kinh tế thị trường, nên điều trước hết là phải hiểu thị trường

là gì?, cơ chế thị trường là gì?, cơ chế thị trường khác với cơ chế kế hoạch hoátập trung ra sao? v.v Một số khái niệm và vấn đề kinh tế sau đây sẽ được xemxét:

b) Nó được làm ra để trao đổi (để bán)

1 Giáo trình Kinh tế chính trị Mác –Lê Nin NXB Chính trị Quốc gia HN, 2005 Tr 59

Trang 2

Để đáp ứng nhu cầu nhiều mặt của đời sống, con người cần phải sản xuất ranhững loại vật phẩm khác nhau để tự tiêu dùng và để trao đổi

Như vậy, sản xuất hàng hóa - Sản xuất để trao đổi hoặc nói một cách chính xác,

sản xuất hàng hóa nhằm mục đích trao đổi hàng hóa Trao đổi hàng hóa từngbước ra đời và phát triển cùng với sự phát triển của sức sản xuất Nền kinh tếhàng hoá đã có một lịch sử lâu đời, ngay từ thời kỳ nguyên thuỷ, mặc dù thời kỳ

đó chỉ là sơ khai Giữa các cộng đồng nguyên thủy trao đổi với nhau những vậtphẩm dư thừa Tỷ lệ trao đổi lúc đầu được xác định một cách ngẫu nhiên, dầndần tỷ lệ trao đổi hàng hóa được quyết định bởí sức lao động bỏ ra nhiều hay ít

để có được sản phẩm trao đổi Quy mô sản xuất hàng hóa phát triển cùng vớiquy mô trao đổi hàng hóa Trong xã hội nô lệ, phong kiến, sản xuất hàng hóaphát triển một cách chậm chạp Đến xã hội tư bản chủ nghĩa, sản xuất hàng hoámới trở thành hình thức sản xuất chiếm địa vị thống trị Trong giai đoạn đầu củachủ nghĩa xã hội, sản xuất hàng hóa không những tồn tại, mà còn cần phát triểnmạnh mẽ

Về hình thức trao đổi, thời kỳ đầu, sự trao đổi được thực hiện bằng hiện vật.Người ta mang sản phẩm dư thừa đổi lấy các vật phẩm khác mà mình không có.Đến khi tiền trở thành vật ngang giá, tiền là vật trung gian của quá trình trao đổigiữa người mua và người bán

Kinh tế hàng hoá phát triển cùng với sự phát triển của phân công lao động xãhội Trong xã hội hiện đại, người ta chia thành 3 nhóm ngành hoạt động kinh tếnhư sau:

“Thị trường là nơi trao đổi hàng hóa được sản xuất ra và hình thành trong qúa

trình sản xuất và trao đổi hàng hóa cùng với mọi quan hệ kinh tế giữa người và người liên kết với nhau thông qua trao đổi hàng hoá Vì vậy, thị trường theo nghĩa rộng là chỉ các hiện tượng kinh tế được phản ánh thông qua trao đổi và lưu thông hàng hoá, cùng quan hệ kinh tế và mối liên hệ kinh tế giữa người với người, do đó mà liên kết lại Nghĩa hẹp của thị trường là chỉ khu vực và không gian trao đổi hàng hóa”2

2 Đại từ điển kinh tế thị trường Viện NC và Phổ biến tri thức bách khoa Hà Nội, 1998 Tr

114 Sách dịch cña Trung Quốc.

Trang 3

Thị trường phát triển cùng với sản xuất hàng hoá và trao đổi hàng hoá Sản xuấthàng hoá và trao đổi hàng hoá phát triển đến trình độ nào thì thị trường cũngphát triển đến trình độ đó.

Thị trường bao gồm 3 yếu tố sau đây:

(1) Chủ thể thị trường: Là chủ thể pháp nhân kinh tế có lợi ích kinh tế

độc lập và có quyền tự chủ quyết định các hoạt động kinh tế của mìnhhoặc cơ sở kinh tế của mình Các chủ thể thị trường bao gồm các doanhnghiệp, cá nhân và các tổ chức xã hội khác

(2) Khách thể thị trường là sản phẩm hữu hình hoặc vô hình được trao

đổi trên thị trường, sản phẩm đã có trên thực tế hoặc sản phẩm sẽ cótrong tương lai

(3) Giới trung gian thị trường, là cầu nối hữu hình hoặc vô hình liên kết

giữa các chủ thể thị trường Giới trung gian thị trường bao gồm hệ thốngmôi giới liên hệ giữa những người sản xuất, giữa những người tiêu dùng,giữa người sản xuất và người tiêu dùng, giữa người sản xuất cùng loại vàngười sản xuất khác loại, giữa người tiêu dùng cùng loại và người tiêudùng khác loại Trong kinh tế thị trường, giá cả, cạnh tranh, thông tin,thông tin thị trường, người trung gian giao dịch, trọng tài giao dịch và cơquan trọng tài, đều là giới trung gian thị trường

1.2.2 Cơ chế thị trường

“ Cơ chế thị trường là hệ thống hữu cơ của sự thích ứng lẫn nhau, điều tiết lẫn nhau, tự điều hoà, tự tổ chức của các yếu tố như giá cả, cạnh tranh, cung cầu, v v , trực tiếp phát huy tác dụng trên thị trường, của nền kinh tế thị trường”3

Cơ chế thị trường là cơ chế bên trong của hệ thống kinh tế thị trường, là tất yếukhách quan của sự liên hệ hữu cơ giữa các chủ thể thị trường và các yếu tố thịtrường trong nền kinh tế thị trường Sự liên hệ lẫn nhau bên trong của các chủthể thị trường và các yếu tố thị trường, về mặt khách quan đã hình thành cơ chếđiều tiết của thị trường đối với hoạt động kinh tế Vì vậy, cơ chế thị trường cònđược gọi là cơ chế điều tiết của thị trường Hoạt động mà thị trường phát huy tácdụng điều tiết diễn ra như sau: Các chủ thể kinh tế tham gia thị trường hìnhthành hai bên cung và cầu, các hành vi kinh tế cùng với giá cả hình thành quan

hệ hai bên giữa cung và cầu trên thị trường Tình hình tổng cung và tình hìnhtổng cầu trên thị trường tạo nên sự cạnh tranh trong nội bộ từng bên các chủ thểcung và các chủ thể cầu trên thị trường Cùng với giá cả, các hành vi kinh tếhình thành sự thống nhất tren thị trường Do khác biệt về lợi ích của các chủ thểkinh tế khiến họ lại căn cứ vào tình hình cụ thể trên thị trường để điều tiết hoạt

3 Đại từ điển kinh tế thị trường Viện NC và Phổ biến tri thức bách khoa Hà Nội, 1998 Tr

118 Sách dịch cña Trung Quốc.

Trang 4

động kinh tế của bản thân, rồi trở lại đi vào thị trường Chu trình tuần hoàn nhưvậy sẽ hình thành chủ thể thị trường, hình thành tình hình thị trường Ngược lại,tình hình thị trường lại ảnh hưởng đến hành vi của chủ thể thị trường, rồi lạihình thành tình hình thị trường mới Chu trình trên hoạt động là phương thức tácđông của cơ chế thị trường

Cơ chế thị trường tập trung thể hiện ở hai yếu tố cạnh tranh và cơ chế giá cả trênthị trường để thực hiện chức năng phân phối

Như vậy, ở đây cần lưu ý rằng, khi nói đến thị trường hay kinh tế thị trường, thìđiều đó không chỉ là thị trường của xã hội tư bản Nói cách khác, lý luận về thịtrường là sản phẩm chung của nhân loại

1.2.4 Vai trò của nhà nước.

Với cơ chế hoạt động trên, tình hình cung cầu, giá cả, do thị trường tự điềutiết Tuy nhiên, vai trò của nhà nước là rất quan trọng trong việc định hướng,điều tiết thị trường ở tầm vĩ mô và đặc biệt là đối với những lĩnh vực mà “thịtrường thất bại”

1.3 Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta.

1.3.1 Quan niệm về kinh tế thị trường định hướng XHCN.

Như đã biết, sự ra đời và tồn tại kinh tế hàng hoá gắn liền với 2 điều kiện: i)Phân công lao động xã hội - cơ sở của trao đổi; ii) Tính độc lập tương đối vềmặt kinh tế giữa các chủ thể dựa trên sự xuất hiện trong lịch sử chế độ tư hữu về

tư liệu sản xuất Tuy nhiên, để lý giải sự tồn tại tính độc lập tương đối về kinh tếkhông chỉ dựa trên cơ sở chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, mà còn lý giải bởi sựtồn tại nhiều hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất Và ngay trong cùngmột hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất, giữa các doanh nghiệp vẫn còn có sựkhác nhau về lợi ích kinh tế, về trình độ phát triển lực lượng sản xuất, về quy môcác nguồn lực, về trình độ quản lý và theo đó là sự khác nhau về hiệu quả sảnxuất kinh doanh

Từ những khái niệm về thị trường và các loại thị trường đã nêu trên, ta thấy: Kinh tế thị trường tồn tại ở nước ta vì nó không phải là cái riêng có của chủnghĩa tư bản, mà là thành quả chung của văn minh nhân loại tồn tại qua nhiềuphương thức sản xuất xã hội khác nhau Điều đó, đúng như Đảng ta đã nhậnđịnh: "Sản xuất hàng hoá không đối lập với chủ nghĩa xã hội, mà là thành tựu

Trang 5

phát triển của nền văn minh nhân loại, tồn tại khách quan, cần thiết cho côngcuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và cả khi chủ nghĩa xã hội đã được xây dựng"4.Cần nhẫn mạnh rằng bên cạnh những phạm trù kinh tế và quy luật kinh tế chung,kinh tế thị trường còn chịu sự chi phối của tính chất và trình độ phát triển củalực lượng sản xuất; sự chi phối bởi bản chất chế độ xã hội trong đó nó tồn tại

qua mỗi giai đoạn lịch sử, nên nó có những tính chất và đặc trưng riêng Đúng

là kinh tế thị trường đã đạt tới đỉnh cao dưới chủ nghĩa tư bản, nhưng không vìthế mà đồng nhất kinh tế thị trường là kinh tế tư bản chủ nghĩa hay kinh tế thịtrường tư bản chủ nghĩa

Hơn nữa, kinh tế thị trường không phải hoàn toàn là tiêu cực,"xấu xa" như đãlầm tưởng trước đây, mà nó có những yếu tố tiến bộ và tích cực không thể phủnhận Kinh tế thị trường tạo ra động lực thúc đẩy sản xuất xã hội phát triển, đẩynhanh quá trình xã hội hoá sản xuất, làm thay đổi cung cầu theo hướng có lợicho sản xuất và cải thiện đời sống Cần nhấn mạnh rằng chỉ có kinh tế thị trường

tư bản chủ nghĩa và kinh tế thị trường định hướng XHCN mới có sự khác nhau

về mục đích, tính chất phân phối và vai trò của Nhà nước trong vận hành nềnkinh tế thị trường

Những kiến giải nói trên cho thấy kết luận sau đây là điều có thể hiểu được:

Nếu trong xã hội tư bản giai cấp tư sản có thể lợi dụng kinh tế thị trường đểphát triển chủ nghĩa tư bản, thì không có lý do gì dưới chủ nghĩa xã hội, giai cấpcông nhân mà đội tiền phong của nó là Đảng cộng sản không thể vận dụng kinh

tế thị trường để thực hiện định hướng XHCN đã chọn Hơn nữa, quá trình pháttriển kinh tế thị trường dù dưới chủ nghĩa tư bản hay dưới chủ nghĩa xã hội đềulấy trình độ phát triển của xã hội, của lực lượng sản xuất làm trục để xây dựngkinh tế thị trường Vì vậy, ý kiến coi kinh tế thị trường với định hướng XHCNnhư "nước với lửa", không thể kết hợp với nhau được, theo chúng tôi chỉ có giá

trị như lời nhắc nhở, phải quan tâm giữ vững định hướng XHCN khi xây dựng

và phát triển kinh tế thị trường ở nước ta; và càng không thể coi chúng là những

mặt hoàn toàn "đối lập"

Tổng kết việc thực hiện công cuộc đổi mới mô hình kinh tế, trong đó có tổng kết

tư duy lý luận về kinh tế hàng hoá từ đại hội lần thứ VI, VII và VIII, Đại hội

Đảng lần thứ IX đã chính thức sử dụng thuật ngữ kinh tế thị trường định hướng

Trang 6

Nhà nước theo định hướng XHCN", nhưng được diễn đạt gọn hơn, nói rõ được

mô hình kinh tế tổng quát của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta

Nếu tiếp cận mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN như một thể chế

được kết hợp giữa cái chung và cái đặc thù, trong đó lấy cái đặc thù làm chủ

đạo, theo chúng tôi có thể hiểu kinh tế thị trường định hướng XHCN là: Kiểu tổ

chức kinh tế phản ảnh sự kết hợp giữa cái chung là kinh tế thị trường với cái đặc thù là định hướng xã hội chủ nghĩa, lấy trình độ xã hội hoá lực lượng sản xuất làm trục và dựa trên nguyên tắc lấy cái đặc thù - định hướng XHCN, làm chủ đạo.

Từ khái niệm trên có thể thấy:

Kinh tế thị trường định hướng XHCN, với tính cách là cái chung - kinh tế thị

trường, tất yếu phải tuân theo: i) Các phạm trù kinh tế như hàng hóa, tiền tệ,

canh tranh, cung cầu, thị trường, giá cả thị trường và lợi nhuận; ii) Các quy luậtkinh tế như quy luật giá trị, quy luật lưu thông tiền tệ, quy luật cạnh tranh và quyluật cung-cầu; iii) Cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước

Kinh tế thị trường định hướng XHCN, với tính cách là cái đặc thù- định hướng

XHCN, nó phải chịu sự chi phối của: i) Mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội

công bằng, dân chủ văn minh; ii) Những nguyên tắc xây dựng chủ nghĩa xã hội;iii) Dưới sự chủ đạo của sở hữu xã hội về những tư liệu sản xuất chủ yếu và kinh

tế nhà nước; iiii) Tính chất của Nhà nước XHCN - Nhà nước của dân, do dân và

vì dân

Kinh tế thị trường định hướng XHCN có nhiều đặc trưng, song dưới góc độ nhờ

đó phân biệt được kinh tế thị trường định hướng XHCN với các mô hình kinh tế

thị trường khác, nhất là kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa bao gồm các đặc

trưng sau đây:

Đặc trưng về mục đích: Phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất

-kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động xã hội, phát trỉển kinh tế, thực hiện dângiàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Đặc trưng về cơ sở kinh tế : Lấy chế độ sở hữu xã hội về những tư liệu sản xuất

chủ yếu làm nền tảng kinh tế, dựa trên cơ sở tồn tại nhiều thành phần kinh tế,trong đó kinh tế nhà nước làm chủ đạo

Đặc trưng về phân phối: Dựa trên chế độ phân phối đa dạng vừa có nguyên tắc

phân phối theo kiểu kinh tế thị trường- phân phối theo vốn, theo giá trị sức laođộng có tính đến cung cầu sức lao động, vừa có nguyên tắc phân phối theo kiểuchủ nghĩa xã hội - phân phối theo lao động và hiệu quả kinh tế, phân phối thôngqua phúc lợi xã hội, trong đó lâý phân phối theo lao động và phúc lợi xã hội làmchủ đạo

Đặc trưng về cơ chế vận hành, đó là cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà

nước XHCN

Trang 7

1.3.2 Quan niệm về cơ chế vận hành trong kinh tế thị trường định hướng XHCN

ở nước ta.

Trong lịch sử, kinh tế hàng hóa hình thành và phát triển từ thấp đến cao trải qua

3 nấc thang gắn với 3 mô hình kinh tế, và theo đó có các cơ chế vận hành tươngứng Từ kinh tế tự nhiên, nhân loại đã bước lên nền văn minh mới- văn minhkinh tế hàng hóa Sự xuất hiện nền văn minh này mà nấc thang đầu tiên của nógắn với mô hình kinh tế hàng hóa giản đơn và cơ chế vận hành tương ứng với

mô hình này là cơ chế thị trường ở trình độ sơ khai Nấc thang thứ hai gắn với

mô hình kinh tế thị trường tự do, một mô hình mà ở đó hàng hóa mang tính phổbiến, và cơ chế thị trường lúc này đã đạt trình độ cao, tự nó điều chỉnh lấy nó màkhông cần có sự quản lý của nhà nước Và nấc thang thứ ba gắn với mô hìnhkinh tế thị truờng hiện đại, hay nền kinh tế thị trường hỗn hợp, một mô hìnhkinh tế mà ở đó cơ chế vận hành không chỉ dựa vào cơ chế thị trường tự điềuchỉnh, mà đã có sự quản lý vĩ mô của nhà nước Nói cách khác, cơ chế vận hành

của nền kinh tế thị trường hiện đại là cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà

nước

Ở nước ta, cơ chế vận hành nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là cơ chếthị trường có sự quản lý của nhà nước, nhưng nhà nước ở đây là nhà nướcXHCN, một nhà nước mà tính chất của nó là nhà nước của dân, do dân và vìdân Có thể hiểu nội dung cơ chế vận hành của nền kinh tế thị trường địnhhướng XHCN như sau:

- Trước hết, đó là cơ chế thị trường, là tổng thể các yếu tố tác

ðộng vào thị trường, chịu sự chi phối bởi các quy luật kinh tế vốn có củakinh tế thị trường, ðảm bảo cho nền kinh tế thị trường có thể vận ðộng và

tái vận ðộng ðược

Trong quá trình vận động, cơ chế thị trường có vai trò kích thích khoa học kỹthuật và công nghệ, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, năng suất và hiệu quảtăng lên, thúc đẩy tăng trưởng, phát triển kinh tế và góp phần làm thoả mãn nhucầu của người tiêu dùng

Tuy vậy, bên cạnh vai trò tích cực, cơ chế thị trường vẫn có những tiêu cục nhấtđịnh như do chạy theo lợi nhuận một cách tự phát, mù quáng đã làm cho môitrường sinh thái mất cân bằng, phân hóa giàu nghèo cùng các tiêu cực xã hộikhác nảy sinh cần được tính đến khi vận dụng

- Có vai trò quản lý của nhà nước XHCN

Để phát huy vai trò tích cực và giảm thiểu những tiêu cực của cơ chế thị trường,đòi hỏi Nhà nước phải thực thi vai trò quản lý kinh tế của mình thông qua việcthực hiện các chức năng như :

Trang 8

(1) Định hướng sự phát triển kinh tế-xã hội, trong đó có định hướng phát triển

GD, ÐT bằng hệ thống chỉ tiêu vĩ mô gắn với công cụ kế hoạch hoá

(2) Vạch hành lang pháp lý - "sân chơi” bình đẳng để các chủ thể dựa vào đó hoạt động và quản lý vĩ mô các hoạt động của các ngành trong nền kinh tế quốc

dân Chức năng này thực hiện thông qua công cụ luật pháp và các cơ quan thanhtra và xử lý việc thực thi pháp luật;

(3) Tạo môi trường kinh tế, chính trị và xã hội thuận lợi Chức năng này gắn

liền với việc ban hành các chủ trương, cơ chế và chính sách kinh tế, khoa học vàcông nghệ, GD, ÐT và các chính sách xã hội khác;

(4) Đảm bảo công bằng xã hội Đây là một chức năng quan trọng của nhà nước

dùng để khắc phục mặt trái của kinh tế thị trường và giữ vững định hướngXHCN

Như vậy, ở nước ta hiện nay, nói vận dụng kinh tế thị trường hay vận dụng cơ

chế thị truờng trong điều kiện hiện đại, là nói vận dụng cơ chế vận hành hỗn

hợp - cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước XHCN

1.4 Dịch vụ GD,ĐT là hàng hoá

Hiện nay ở nước ta, việc coi GD, ÐT có phải là hàng hoá hay không, và do đó

nó có thể được “thương mại hoá” như mọi thứ hàng hoá khác hay không, là vấn

đề đang được tranh cãi sôi nổi

Có thể chia ra thành 3 loại quan điểm:

Loại ý kiến thứ nhất: Cho rằng Giáo dục không thể là hàng hoá và không thể có

thị trường trong GD ĐT Ví dụ: Trong một bài trả lời phỏng vấn, GS Viện sỹ

Phạm Minh Hạc cho rằng “ Ở nước ta , làm kinh tế thị trường nhưng không thểbiến nhà trường thành thị trường được Trường là trường chứ không thể là chợ”;Khi trả lời câu hỏi của phóng viên “ Nếu nhà trường không thể là thị trường thì

GD cũng không thể là hàng hoá Trong khi đó, nhiều ý kiến phát biểu trên cácphương tiện thông tin lại cho rằng nên coi GD là hàng hoá?”, Ông khẳng định: “Khoa học, công nghệ có thể là hàng hoá, nhưng GD thì không bao giờ có thể làhàng hoá” Ngay cả với thuật ngữ “Dịch vụ công”, theo Ông “Dịch vụ công làmột khái niệm phức tạp ta không nên dùng máy móc vào GD”5

Loại ý kiến thứ hai: Theo GS Hoàng Xuân Sính, “GD phải là một phúc lợi xã

hội ”, và “ Đã là phúc lợi xã hội thì không thể coi đó là thương mại hay không thương mại được” 6

Những ý kiến nêu ra trên đây đều có mặt đúng, nếu chỉ đứng trên góc độ giáo

dục Tuy nhiên, để có thể nghiên cứu vận dụng cơ chế thị trường vào GD, ĐT,

cùng với cách xem xét dưới góc độ giáo dục, cần phải xem xét vấn đề cả ở dưới

5 Xem Tài liệu số 21- TLTK.

6 Xem Tài liệu số 5- TLTK.

Trang 9

góc độ kinh tế Đây cũng là cách làm của nhiều nhà nghiên cứu trong nước và

quốc tế

1.4.1 Dưới góc độ kinh tế: Sản phẩm GD là hàng hoá.

Như đã biết, giáo dục, với nghĩa rộng đó là “Những hoạt động nhằm thực hiệnchương trình kế thừa xã hội, do thế hệ trước truyền lại cho thế hệ sau những kiếnthức, kinh nghiệm lao động và những thái độ ứng xử trong cuộc sống của từngthành viên cũng như của cả cộng đồng” Theo nghĩa hẹp, “Giáo dục là một quátrình toàn vẹn hình thành nhân cách, được tổ chức một cách có mục đích và có

kế hoạch, thông qua các hoạt động và các quan hệ giữa người giáo dục và ngườiđược giáo dục, nhằm truyền đạt và chiếm lĩnh những kinh nghiệm xã hội củaloài người”7

Như vậy, giáo dục nhằm phát triển con người, hoàn thiện nhân cách của các cánhân tiếp nhận giáo dục, đáp ứng những nhu cầu phát triển của bản thân, giúpcho con người có khả năng đóng góp vào sự phát triển kinh tế-xã hội bằng nănglực lao động được đào tạo, thông qua hoạt động lao động của mình trong xã hội

Từ định nghĩa của giáo dục, ta thấy: Việc xác định tính chất hàng hóa của họatđộng GD, ÐT là một việc rất khó khăn Bởi: Là một dạng của hoạt động xã hội,các hoạt động GD vừa mang tinh “tự nhiên”, vừa mang tính kinh tế; nó diễn ra ởkhắp mọi nơi (gia đình, nhà trường, xã hội); nó có thể được nhận biết rõ ràng ởcác trường/ lớp học, nhưng đồng thời nó ẩn chứa ở tất cả các hoạt động khác củacon người

Vì việc nhận diện một loại hoạt động GD, ÐT nào đó có là hàng hoá hay không

là rất quan trọng, bởi lẽ, nếu là hàng hoá thì thị trường/cơ chế thị trường mớihoạt động, nên ở đây, xin nêu ra một cách nhận diện GD, ÐT dưới góc độ kinh

tế, thông qua định nghĩa hàng hoá

Trước hết, chúng ta nhớ lại định nghĩa hàng hoá

Như đã nêu định nghĩa hàng hoá ở mục 1.1, một sản phẩm chỉ trở thành hànghoá khi có đủ 2 điều kiện: a) Nó là sản phẩm của lao động; và b) Nó được làm

ra để trao đổi (để bán)

Với hoạt động GD, ĐT (theo nghĩa hẹp), sản phẩm của nó là sản phẩm của laođộng sư pham Điều này là rõ ràng Nhưng còn việc nó được làm ra có để traođổi hay không thì còn tuỳ từng trường hợp

GD, ÐT đã có một lịch sử hình thành từ khi có xã hội loài người, nhưng chỉ khi

có sự phân công lao động với sự chuyên môn hoá đối với nghề dạy học, và sau

đó nhà trường tổ chức dạy cho học trò, cho người học, và khi việc tiến hành GD,

ÐT là nhằm mục đích trao đổi (có thu tiền), thì sản phẩm GD, ĐT mới trở thànhhàng hoá Ví dụ: Thời xưa, các thầy đồ trong làng dạy chữ cho trẻ, nếu thầy chỉ

7 Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt: Giáo dục học; Nhà xuất bản giáo dục; 1987.

Trang 10

dạy từ thiện, không lấy công, thì hoạt động GD, ÐT không là hàng hoá; Ngượclại, người học phải đóng học phí (khoản tiền/hiện vật mà người học phải đóngmới được phép học tập), lúc đó, GD, ÐT là hàng hoá Ngày nay, ở các cơ sở

GD, ÐT được tổ chức chỉ vì mục đích nhân đạo, từ thiện, người học không phảiđóng học phí, khi đó GD, ÐT không phải là hàng hoá Ngược lại, ở các cơ sở

GD, ÐT có thu học phí của người học, dù mức phí là rất thấp so với chi phí choviệc giáo dục, nhưng đó là khoản người học bắt buộc phải trả, thì về nguyên tắc,hoạt động GD, ÐT đó là hàng hoá

Cần lưu ý rằng, cùng với GD, ÐT ở nhà trường, các hoạt động GD, ÐT thườngxuyên diễn ra ở mọi lúc, mọi nơi, ở trong gia đình, ở ngoài xã hội (cha dạy con,một người trao đổi với bạn mình về một kinh nghiêm nào đó, ), không phải là

hàng hoá, vì nó không nhằm mục đích trao đổi Vì vậy, dưới góc độ kinh tế,

khi nói hàng hoá GD, ÐT là nói đến các hoạt động GD, ÐT được tiến hành tại những cơ sở GD, ÐT nhằm mục đích trao đổi Trong lý thuyết kinh tế, các

hoạt động GD, ĐT do các cơ sở thực hiện với mục đích trao đổi trên được biểu

đạt bởi thuật ngữ dịch vụ GD,ĐT Khái niệm này sẽ được nói rõ hơn ở mục sau.

(Trong bài “Luận về hàng hoá giáo dục, GS Phạm Phụ có nhấn mạnh rằng Dịch

vụ giáo dục mới là hàng hoá, còn bản thân giáo dục không phải là hàng hoá.Theo chúng tôi, Tác giả cũng muốn nhấn mạnh là phải xem mục đích của hoạtđộng giáo dục là để trao đổi hay không.)8

Có một số nhà nghiên cứu cho rằng, GD, ÐT có 2 thuộc tính: Thuộc tính ý thức

xã hội và thuộc tính hàng hoá “Thuộc tính hình thái ý thức xã hội thể hiện khicoi GD, ÐT như là một mục tiêu nâng cao chất lượng cuộc sống của con người,

nó mang tính nhân văn mà xã hội nào cũng muốn vươn tới Với thuộc tính này,

GD, ÐT không coi là hàng hoá, và vì thế quan hệ thị trường trong trường hợpnày cũng không tồn tại, Thuộc tính thứ hai thể hiện khi coi GD, ÐT như làmột phương tiện để có kiến thức và kỹ năng, mà những kiến thức và kỹ năngnày là một thứ tư bản đem lại cho con người vị trí cao hơn và thu nhập nhiềuhơn Nói cách khác, sản phẩm GD, ÐT là hàng hoá khi và chỉ khi mục đích tìmkiếm sản phẩm đó là để sử dụng vào thị trường lao động một cách trực tiếp haygián tiếp”9 Cách quan niệm dịch vụ GD, ÐT vừa nêu trên là đúng, nhưng chưa

đủ Bởi nếu chỉ trong trường hợp “ Sản phẩm GD&ÐT là hàng hoá khi và chỉ

khi mục đích tìm kiếm sản phẩm đó là để sử dụng vào thị trường lao động một cách trực tiếp hay gián tiếp”, thì một số trường hợp, với quan niệm này, không

giải thích được sản phẩm đó có là dịch vụ (hàng hoá) GD, ÐT hay không Ví dụ:Với các lớp mẫu giáo tư nhân, hoặc tiểu học nội trú có thu tiền ở một số hoạt

8 Xem tài liệu số 19- TLTK

9 Nguyễn Công Giáp Kỷ yếu Hội thảo “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về GD&ÐT trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN” Ngày 25/11/2004 Tr 22

Trang 11

động dạy ngoại ngữ, tin học, ở đây khó có thể nói rằng việc học của các trẻ em

này (học nói, học tập viết/ học ngoại ngữ, tin học ) là gắn với mục đích “ Để sử

dụng vào thị trường lao động một cách trực tiếp hay gián tiếp” Và do đó, các

hoạt động GD này có thể không là hàng hoá (dịch vụ) Tuy nhiên, trong thực tế,các hoạt động này là dịch vụ Bởi vì chúng được “ sản xuất “ ra để trao đổi;Người tiêu dùng phải trả tiền Và hiện ở một số nơi, nhất là ở các đô thị lớn củanước ta, thị trường này hoạt động khá sôi động

Từ sư phân tích trên có thể thấy (cũng như các hàng hoá vật chất khác), sảnphẩm GD, ÐT có là hàng hoá hay không là tuỳ ở mục đích người sản xuất - cơ

sở GD, ÐT, là sản xuất ra để bán/trao đổi hay để tự tiêu dùng/cho không Dĩnhiên, xin nhắc lại rằng, chúng ta đang xem xét sản phẩm GD, ÐT dưới góc độkinh tế

1.4.2 Dịch vụ GD, ĐT

Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, nhu cầu về giáo dục của xã hội ngày càngnâng cao không ngừng Xã hội càng phát triển thì GD, ÐT cũng được phát triểntheo Và ngày nay, GD, ÐT đã được chuyên môn hoá cao, dần dần được hiện đạihoá và đã trở thành một ngành kinh tế quan trọng- một ngành nằm trong nhómngành dịch vụ

Từ những phân tích trên ta có thể đưa định nghĩa về dịch vụ GD, ÐT như sau:

Dịch vụ GD, ÐT là các hoạt động GD, ÐT do một cơ sở/ một cá nhân thực hiện đáp ứng nhu cầu học tập của mọi người với mục tiêu trao đổi.

Để rõ hơn khái niệm dịch vụ, xin dẫn ra định nghĩa của T.P Hill (1977) nhưsau: "dịch vụ là sự tác động của một chủ thể (A) tới một chủ thể (B) hoặc đồ vậtcủa một chủ thể (B), với sự chấp thuận của chủ thể đó, tạo nên sự thay đổi vềđiều kiện hay trạng thái của chủ thể (B) hay đồ vật thuộc sở hữu của chủ thể(B)"

Với cách hiểu này, hoạt động giáo dục là một hoạt động mang tính dịch vụ Vàtrên thực tế, trong bảng phân loại hoạt động kinh tế-xã hội của nước ta, GD, ÐTcũng được xếp vào khối các ngành dịch vụ

Trong danh mục 12 loại dịch vụ của GATS (General Agreement on Trade inService)- Hiệp định chung về thương mại dịch vụ, một tổ chức của WTO, cũngbao gồm cả dịch vụ GD, ÐT10 Trong Hiệp định này, dịch vụ GD, ÐT bao gồm:

10 Danh mục 12 ngành dịch vụ trong GATS: Dịch vụ kinh doanh, bao gồm dịch vụ nghề nghiệp, dịch vụ máy tính và các lĩnh vực liên quan, dịch vụ nghiên cứu và triển khai, dịch vụ cho thuê bất đọng sản, dịch vụ kinh doanh khác Dịch vụ thông tin, bao gồm: dịch vụ bưu điện, dịch vụ chuển phát nhanh, dịch vụ viễn thông, dịch vụ nghe nhìn, dịch vụ khác dịch vụ xây dựng và kỹ thuật, bao gồm: dịch vụ xây dựng nhà cửa, dịch vụ xây dựng dân dụng, dịch

vụ lắp đặt máy móc, dịch vụ hoàn thiẹn các cong trình, dịch vụ khác dịch vụ kinh tiêu, bao gồm: dịch vụ đại lý hoa hồng, dịch vụ bán buôn, dịch vụ bán lẻ, dịch vụ đại lý độc quyền,

dịch vụ khác dịch vụ GD&ÐT, bao gồm: dịch vụ đào tạo tiểu học, dịch vụ đào tạo trung

học, dịch vụ đào tạo đại học dịch vụ đào tạo trung học cho người lớn, dịch vụ đào tạo

Trang 12

dịch vụ giáo dục tiểu học, dịch vụ GD, ĐT trung học, dịch vụ đào tạo ĐH, dịch

vụ đào tạo trung học cho người lớn, dịch vụ đào tạo các loại trung học khác Cũng như các loại dịch vụ khác (như hớt tóc, vận tải, ngân hàng, ), dịch vụ GD,

ĐT cũng là hoạt động phục vụ không phải bằng hình thức hiện vật mà bằng

hình thức lao động sống để thỏa mãn yêu cầu nào đó của người khác Dịch vụ

GD, ĐT là kết quả lao động xã hội đã được phân công Nó cũng sáng tạo ra giátrị và giá trị sử dụng, nhưng không sáng tạo được sản phẩm vật chất mà thôngqua lao động sư phạm để phục vụ mọi người có nhu cầu

Ở đây, “sản xuất” và “tiêu dùng” đồng thời tiến hành11

Giá trị của dịch vụ GD, ĐT là sự tiêu hao lao động của người dạy trong quátrình giảng dạy Giá trị của dịch vụ GD, ĐT cũng chỉ được thực hiện thông quatrao đổi và được biểu hiện bởi giá cả (tiền công) Sản phẩm của GD, ĐT lànhững kiến thức, kỹ năng, thái độ mà người học lĩnh hội được sau một quá trìnhhọc tập

1.4.3 Cơ cấu khách hàng của dịch vụ GD ĐT

Là một loại dịch vụ xã hội, dịch vụ GD, ĐT có khách hàng trực tiếp là ngườihọc Tuy nhiên, dưới góc độ thị trường, trong nhiều trường hợp, người đặt ra yêucầu học cái gì và học thể nào, từ đó quyết định việc thanh toán chi phí lại lànhững người khác Ví dụ: Với học sinh nhỏ tuổi, việc đi học của các em là docác bậc phụ huynh quyết định và chi trả; Một lớp đào tạo nghề do một doanhnghiệp tổ chức và chi trả, người học không phải trả tiền,

Có thể mô tả cơ cấu khách hàng của GD, ĐT băng bảng sau

Bảng 1 : Cơ cấu khách hàng của GD, ĐT

Bên cung - cơ sở GD, ĐT

Bên cầu – Khách hàng

Người học- Khách hàng tầng thứnhất

Cha mẹ HS, người sử dụng laođộng- Khách hàng tầng thứ 2

trung học khác dịch vụ môi trường, bao gồm: dịch vụ thoát nước, dịch vụ xử lý chất thải,

dịch vụ vệ sinh và các hoạt động tương tự, dịch vụ khác dịch vụ tài chính, bao gồm: dịch vụ bảo hiểm và các lĩnh vực liên quan tới bảo hiểm, dịch vụ ngân hàng và các dịch vụ tài chính khác (trừ bải hiểm), dịch vụ khác dịch vụ liên quan đến sức khỏe và xã hội, bao gồm: dịch

vụ chữa bệnh, dịch vụ bệnh viện, dịch vụ xã hội, dịch vụ sức khỏe và xã hội khác dịch vụ

du lịch và liên quan bao gồm: dịch vụ khách sạn và nhà hàng, dịch vụ đại lý và điều hành du lịch, dịch vụ hướng dẫn du lịch, dịch vụ khác dịch vụ giải trí, văn hóa, thể thao, bao gồm dịch vụ giải trí (nhà hát, ca nhạc, xiếc, ), báo chí, tin tức, thư viện, kiến trúc, bảo tàng, thể thao và các dịch vụ khác dịch vụ vận tải, bao gồm: vận tải biển, vận tải hàng không, vận tải đường sắt, vận tải đường ống, các dịch vụ khác

11 Xem thêm Đại từ điển Kinh tế thị trường SĐD Trang 1015.

Trang 13

Chính quyền/ tổ chức XH- Kháchhàng tầng thứ 3

Bảng trên cho thấy khách hàng của GD, ĐT là rất đa dạng và có nhiều cấp độkhác nhau Chính quyền (Nhà nước) hay một tổ chức xã hội nào đó cũng có thể

là khách hàng của GD, ĐT khi có yêu cầu và chi trả cho các cơ sở GD, ĐTthông qua một “hợp đồng”

Thông thường, các loại “khách hàng” khác nhau có những mối quan tâm và yêucầu khác nhau

• Người sử dụng lao động lại có những yêu cầu về kỹ năng, kiến thức, đạođức, của những người mà họ sẽ tuyển dụng trong tương lai.v.v

• Với tư cách là là đại diện cho xã hội, chính quyền/ các tổ chức xã hội cónhững yêu cầu về phẩm chất đạo đức, ý thức chính trị và pháp luật củangười học, những công dân tương lai của xã hội, những đóng góp của họcho sự phát triển kinh tế - xã hội sau khi họ tốt nghiệp v.v

Các cơ sở GD, ÐT dù hoạt động với mục tiêu nào thì cũng luôn phải đảm bảochất lượng cho "sản phẩm" của mình, nghĩa là phải cố găng để có thể thỏa mãntối đa các yêu cầu của 'khách hàng' Điều này là cần thiết để duy trì và phát triển

"thị phần" của cơ sở mình

1.5 Dịch vụ GD, ĐT là hàng hoá công không thuần tuý

Như trên đã thấy, GD, ÐT là một hoạt động mang tính dịch vụ và hơn nữa, dịch

vụ GD, ĐT là hàng hoá công không thuần tuý

Trước hết chúng ta làm quen với các khái niệm “ Hàng hoá công cộng thuầntuý” và “Hàng hoá cá nhân thuần tuý”

Cùng với khái niệm “Hàng hoá” đã trình bày, trong lý thuyết môn “Kinh tế họccông cộng”12, đã đưa ra những định nghĩa về hàng hoá công cộng (HHCC) thuầntuý, và hàng hoá cá nhân (HHCN) thuần tuý Tuy nhiên, để tránh những phức

12 Xem Kinh tế học công cộng của Joseph E Stiglitz NXB Khoa học kỹ thuật, Trường ĐH Kinh tế Quốc dân Hà Nội, 1995- Sách dịch Tr 166-180

Trang 14

tạp không cần thiết, ở đây chúng tôi xin được trình bầy theo cách trình bày của

GS Phạm Phụ, mà với cách trình bày này, có lẽ là dễ hiểu hơn

+ Hàng hoá cá nhân (HHCN) thuần túy là loại hàng hoá khi sự tiêu dùng củangười này sẽ loại trừ sự tiêu dùng của những người khác Ví dụ: như chiếc áo sơ

mi, ổ bánh mì, , nếu tôi đã tiêu dùng sẽ loại trừ sự tiêu dùng của bạn

+Hàng hoá công cộng (HHCC) thuần tuý là loại hàng hoá khi có sự tiêu dùngcủa người này không loại trừ sự tiêu dùng của những người khác Ví dụ như:Cây đèn biển, tên lửa bảo vệ an ninh tổ quốc, là loại hàng hoá mà ánh sángcủa cây đèn hoặc sự bình yên không loại trừ sự hưởng thụ của một ai

+ HHCN và HHCC gắn liền với 2 đặc trưng: Đặc trưng về “Mức độ công cộng”

HHtư nhân HH công cộng

Hình 1: Đặc trưng về mức độ công cộng và mức độ thị trường của

hàng hoá

Trục hoành biểu diễn đặc trưng về mức độ công cộng của hàng hoá Ở cực bêntrái (A) là HHCN thuần tuý Ở cực bên phải (B) là HHCC thuần tuý Nhiều hànghoá có mức độ công cộng giữa 2 cực đó

Trục tung biểu diễn đặc trưng về mức độ thị trường của hàng hoá Đặc trưng nàyliên quan đến ai là người quyết định sản xuất và cung cấp cho thị trường Ở cựcdưới cùng (A) là “ Thị trường thuần tuý”, do thị trường tự do quyết định sảnxuất và cung cấp Ở cực trên cùng (D) là “ Nhà nước/ tập thể thuần tuý”, nghĩa

là hàng hoá do nhà nước/ tập thể quyết định sản xuất và cung cấp Nhiều hànghoá có “Mức độ thị trường “ nằm trung gian giữa 2 cực đó

Thông thường, hàng hoá có “Mức độ công cộng “ càng cao thì trọng số Nhà

nước(xã hội) phải sản xuất và cung cấp càng lớn (Cũng cần lưu ý rằng, đối với

hàng hoá công cộng, Nhà nước có thể tự đứng ra sản xuất nhưng cũng có thể

Trang 15

thuê khoán tư nhân sản xuất rồi mua lại) Sở dĩ như vậy là vì hàng hoá có “Mức

độ công cộng” càng cao thì “chi phí bỏ ra để bổ sung cho một người khác đểđược hưởng lợi ích của hàng hoá này càng gần bằng không, và đồng thời chi phí

để ngăn không cho người đó hưởng lợi từ hàng hoá đó lại rất lớn”, nghĩa là sựtiêu dùng càng gần tới mức không cạnh tranh - sự tiêu thụ là “không loại trừ”

Ví dụ như với cây đèn biển, một hàng hoá công cộng thuần tuý, người dùngkhông bỏ thêm một chi phí nào, hoàn toàn không có cạnh tranh và cũng không/hoặc rất tốn kém trong việc ngăn cản người khác sử dụng nó

Từ những khái niệm và lý luận trên, các nhà kinh tế cho rằng “ Giáo dục là hànghoá công không thuần tuy”13 Bởi vì “Chi phí cận biên của việc giáo dục thêmmột đứa trẻ (chi phí để thêm 1 đứa trẻ được giáo dục) chưa thể bằng 0 và không

có khó khăn lớn trong việc bắt cá nhân phải trả tiền cho việc sử dụng giáo dụcđó” Trong hình vẽ trên, dịch vụ GD nằm ở khu vực nào đó gần điểm (A)

Do đó, với dịch vụ giáo dục, vì nó là hàng hoá công không tuần tuý nên Nhànước cần “sản xuất” và cung cấp một phần, người dân “sản xuất” và cung cấpmột phần

Từ đặc tính không phải là hàng hoá công thuần tuý của dịch vụ giáo dục đã phântích trên, ta thấy trong lĩnh vực GD, ĐT, sản phẩm GD có thể là công cộng hoàntoàn (phúc lợi cho không - dịch vụ xã hội trả phí hoàn toàn) ở một số bộ phậnhoặc toàn bộ hoạt động GD này, nhưng cũng có thể thu phí ở một số bộ phậnhoặc toàn bộ hoạt động GD khác Nói cách khác, thị trường vẫn có thể hoạtđộng trong một bộ phận của GD, ĐT

Đặc tính dịch vụ GD, ĐT là hàng hoá công không thuần tuý giải thích cho hiệntượng phổ biến trong các nền GD hiện nay là hình thành hai nhóm lớn trongdịch vụ GD:

+ Thứ nhất, các dịch vụ GD nghĩa vụ (phổ cập): Đó là các hoạt động GD nhằmcung cấp những kiến thức tối thiểu cần thiết, giúp cho con người phát triển, hoànhập xã hội trong những điều kiện xã hội nhất định Trong nhom này, Nhà nướcđầu tư gần như toàn bộ

+ Thứ hai, các loại dịch vụ GD khác Với nhóm này, thị trường có thể hoạt độngmạnh hơn Vai trò của Nhà nước chủ yếu tập trung ở vị trí quản lý Tuy nhiên,Nhà nước cũng phải cung cấp trực tiếp dịch vụ GD ở những lĩnh vực mà “Thịtrường bị thất bại”

1.6 Một số đặc điểm (thuộc tính) của dịch vụ GD, ĐT.

Để vận dụng có hiệu quả thị trường vào GD, ĐT, cần lưu ý một số đặc điểmquan trọng sau của dịch vụ GD, ĐT:

13 Xem Kinh tế công cộng- SĐD Tr 440- 441

Trang 16

1.6.1 Thuộc tính hình thái ý thức xã hội (tính ý thức xã hội)

Cùng với việc đáp ứng nhu cầu học, một nhu cầu cơ bản của con người ở góc độtừng cá nhân, thì giáo dục còn phải đáp ứng nhu cầu hình thành và nâng cao ýthức hệ của cộng đồng, của xã hội Từ nhu cầu này, chức năng hình thành nhâncách cho mỗi thành viên của xã hội như là một trong những chức năng cơ bảnnhất của GD

Thật vậy, giáo dục, ngoài việc cung cấp cho cá nhân khả năng suy luận và kỹnăng cơ bản để đáp ứng với đòi hỏi của thị trường lao động có tính cá nhân, nóphải cung cấp cho từng cá nhẩn trong xã hội những giá trị chung về đạo đức cánhân, gia đình và xã hội, về nghĩa vụ và quyền công dân, về mức học vấn tốithiểu, nhằm đảm bảo một xã hội ổn định, nhân bản và dân chủ Ngày nay, trongbất kỳ xã hội nào, chức năng cơ bản này của GD cũng được coi trọng, đượcnhấn mạnh, vì để tiến bộ, phát triển, mỗi người dân đều phải được giáo dục14

1.6.2 Tính tác động chậm (lâu dài).

Cũng như các dịch vụ khác, như hớt tóc, vận tải, , dịch vụ GD tác động trựctiếp tới người được phục vụ, nhưng kết quả của sự tác động này lại khác Trongkhi các dịch vụ khác có thể thấy ngay được kết quả (tóc được hớt đẹp, người đi

xe đến được nơi cần đến, ), thì nói chung, kết quả của giáo dục phải sau mộtthời gian, có khi rất dài mới thấy rõ kết quả Để đào tạo một công nhân có nghềbậc 2, cần 11 năm (9 năm học PTCS + 2 năm học nghề); Nếu để đào tạo một kỹ

sư giỏi, một bác sĩ có tay nghề cao, chắc chắn thời gian học tập it nhất cũng là17-20 năm mới có thể hành nghề Và lúc đó, người học mới thu hồi lại được chiphí đã bỏ ra cho quá trình học tập trước đây của mình

Ngay đối với giáo dục cơ bản, để học xong tiểu học, trẻ em cũng phải học 5năm, nhưng giá trị của việc học, phải sau một thời gian, khi lớn lên, các thanhniên này mới thấy hết được15

1.7 Vùng thị trường bị thất bại

Cũng như các thị trường hàng hoá công cộng khác, thị trường GD, ĐT cũng cóvùng mà ở đó các nhà kinh tế gọi là “Vùng không hoàn hảo”, hay “Vùng có sựthất bại của thị trường” Chẳng hạn trong GD ĐH, trong khi các ngành đào tạonhư kinh doanh, điện tử, tin học, được rất đông người học lựa chọn, thì một số

14 Một số nhà nghiên cứu gọi đặc điểm này là “Thuộc tính ảnh hưởng ngoại biên thuận”, nghĩa là khi tiêu dùng sản phẩm GD, lợi ích của xã hội thu được lớn hơn lợi ích cá nhân người tiêu dùng Xem Vũ Quang Việt Tài liệu 25- TLTK

15 Theo Vũ Quang Việt, sản phẩm GD ĐT còn có tính chất không bị tác dụng bởi năng suất

lao động Tính chất này thể hiện ở không thể tăng năng suất của người thầy như tăng năng suất một cái máy (trên cùng một đơn vị thời gian sản xuất được nhiều sản phẩm hơn), và càng không thể mở rộng thị trường theo nghĩa tăng số học sinh trên một thầy giáo, nếu không muốn giảm chất lượng Thậm chí phải là ngược lại, muốn tăng chất lượng giảng dạy, nhất là trong điều kiện hiện nay, phải giảm số học sinh trên một thầy giáo

Trang 17

ngành học như Mỏ địa chất, Dự báo thuỷ văn, có rất ít người lựa chọn Bởi vì,đối với những ngành mỏ địa chất, dự báo thuỷ văn, sau khi học xong sẽ khókiếm việc làm Vì vậy, đối với những ngành học này, các nhà đầu tư tư nhânkhông muốn đầu tư vào Do đó, đối với những ngành học này, Nhà nước làngười đứng ra đầu tư và cung cấp dịch vụ GD, ĐT Đặc biệt đối với nhữngngành học mà người học ít lựa chọn, nhưng rất cần cho sự phát triển lâu dài củađất nước như các ngành khoa học cơ bản, các ngành liên quan đến an ninh xãhội, bảo vệ tổ quốc, thì vai trò của Nhà nước lại đặc biệt quan trọng Ở đây, nóichung, Nhà nước đầu tư hoàn toàn.

1.8 Cạnh tranh/ cạnh tranh không hoàn hảo

Cạnh tranh trong nền kinh tế hàng hoá là sự ganh đua giữa những người sảnxuất, giữa các nhà kinh doanh nhằm giành những điều kiện sản xuất, tiêu thụ vàthị trường có lợi nhất để đạt mục đích lợi nhuận tối đa

Cạnh tranh buộc những người sản xuất, buôn bán phải cải tiến công nghệ, tổchức quản lý, để tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng hàng hoá, thayđổi mẫu mã phù hợp với nhu cầu, thị hiếu của khách hàng; giữ tín nhiệm; giảmgiá thành, giữ ổn định hay giảm giá bán

Trong nền kinh tế hàng hoá, cạnh tranh vừa là môi trường, vừa là động lực của

sự phát triển Nhưng đồng thời, trong quá trình cạnh tranh, do động lực lợinhuận tối đa thúc đẩy, có thể nảy sinh các hành vi tiêu cực như lừa đảo, làmhàng giả, trốn thuế, khai thác cạn kiệt tài nguyên, làm ô nhiễm môi trường, Trong GD, ĐT, khi cơ chế thị trường được áp dụng rộng rãi, quy luật cạnh tranhcũng sẽ phát huy tác dụng Sẽ diễn ra sự cạnh tranh giữa các nhóm đối tượng:+ Giữa các cơ sở GD, ĐT, nhằm tăng khả năng thu hút người học, và từ đó códoanh thu nhiều, lợi nhuận cao

+ Giữa những người dạy để có nơi làm việc có thu nhập cao

+ Giữa những người học/ gia đình học sinh để có nơi học có chất lượng cao hơn,thuận tiện hơn

Các phương tiện cạnh tranh cũng rất đa dạng Qua thực tế nước ta, ở ĐH và GDchuyên nghiệp đã có các phương tiện cạnh tranh giữa các cơ sở đào tạo như:Mức học phí thấp; đội ngũ giáo viên giỏi, có uy tín; chương trình đào tạo hấpdẫn; nền nếp quản lý chặt chẽ; có sự liên kết giữa đào tạo và nơi làm việc

1.9 Hoạt động dịch vụ GD, ĐT trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung và cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước.

Để làm rõ hơn dịch vụ GD, ĐT được tổ chức và quản lý trong điều kiện của cơchế thị trường, chúng ta so sánh nó với cơ chế kế hoach hoá tập trung

Trang 18

1.9.1 Đặc trưng chính của cơ chế quản lý GD trong cơ chế kế hoạch hoá tập

trung.

So sánh với cơ chế quản lý GD, ĐT theo kiểu thị trường, cơ chế kế hoạch hoátâp trung trong GD, ĐT ở nước ta hiện nay có những đặc trưng khác biệt nổi bậtsau:

Tính chỉ huy tập trung cao thể hiện ở các măt:

+ Kế hoạch GD, ĐT được xây dựng và quản lý chặt chẽ và nói chung do cấptrung ương quyết định Các cơ sở đào tạo tổ chức thực hiện theo kế hoạch trêngiao Mặc dù một số trường phổ thông có hệ B (mở rộng), nhưng cho đến nay,

hệ này cũng phải được trên chấp nhận Tương tự, ở các trường ĐH, CĐ, THCN,

hệ tại chức, các lớp đào tạo với các hình thức khác nhau, đều phải được trungương / tỉnh cho phép Đặc biệt là chỉ tiêu tuyển sinh được quản lý chặt chẽ, bởicác trường, nhất là đối với số được thu học phí, đều muốn chỉ tiêu cao hơn sovới quy định của trên Việc tăng chỉ tiêu học sinh/ sinh viên khi chưa được phép

là một lỗi lớn của cơ sở

+ Về chương trình đào tạo: Ở phổ thông, sách giáo khoa do Bộ GD&ĐT banhành; chương trình ở phổ thông được quy định chặt chẽ tới từng môn, từng bài,từng tiết học Ở CĐ, ĐH, Bộ có chương trình khung Nhà trường được tự chọnmột số môn

+ Cơ chế quản lý giáo viên/ giảng viên chặt chẽ Hiện nay đang thí điểm khoánquỹ lương ở trường phổ thông và một số trường ĐH, nhưng nói chung, việctuyển mới giáo viên/ giảng viên là do cấp trên quyết định Do đó, cơ chế sànglọc, cơ chế khuyến khích người giỏi rất ít tác dụng

+ Vai trò của hiệu trưởng và của giáo viên là chấp hành, là làm đúng như trênyêu cầu, với những gì đã được vạch sẵn theo kế hoạch Đối với giáo viên phổthông, việc chuẩn bị bài, việc giảng ở lớp ( kể cả mở bài, thân bài, kết luận )như thế nào cần theo đúng sách hướng dẫn Nếu khác đi được coi là sự viphạm

Tính bao cấp nặng nề.

Tính bao cấp nặng nề thể hiện ở:

+ Về nguồn thu: Kinh phí do nhà nước trả toàn bộ hoặc phần lớn

+ Không có hạch toán chi phí GD, ĐT

Ưu điểm, nhược điểm và hệ quả

a) Với cơ chế chỉ huy tập trung nêu trên có những ưu điểm nhất định Đó là: + Tạo sự thống nhất trong các hoạt động giáo dục Một số hoạt động thống nhấtnày đã có tác dụng cổ vũ rất lớn Ví dụ: Ngày 5/ 9 hàng năm là ngày tất cả cáctrường phổ thông trong toàn quốc khai giảng Điều này tạo sự quan tâm chungcủa xã hội đối với giáo dục

Trang 19

+ Đáp ứng yêu cầu công bằng về nội dung kiến thức truyền tải đến tất cả họcsinh các vùng miền, các đối tượng khác nhau;

+ Việc điều chuyển cán bộ quản lý và giáo viên từ nơi này đến nơi khác nhanhchóng, dễ dàng, thông qua các biện pháp hành chính Đặc biệt với cán bộ lãnhđạo các trường, việc làm hiệu trưởng/ hiệu phó không đòi hỏi nhiều tài năng,không cần trải qua thử thách nhiều Vấn đề là trên có đặt vào chỗ đó khôngthôi

+ Cũng do ngân sách hạn hẹp nên hầu hết các trường không phải là trọng điểmđầu tư, có cơ sở vật chất thiếu thốn, phương tiện nghèo nàn Mặc dù tỷ lệ ngânsách dành cho GD đều tăng hàng năm, nhưng tình hình trên vẫn diễn ra nhiềunăm, không khắc phục được

+ Bộ máy quản lý ngày trở nên cồng kềnh, phình nhiều biên chế, bởi nhu cầucần người chỉ đạo, kiểm tra, giám sát, viết tài liệu hướng dẫn, nắm thông tin, + Tình hình trên đã góp phần làm nảy sinh nhiều tiêu cực như đã biết

c) Các hệ quả là

- Không đáp ứng được nhu cầu học tập ngày càng nhiều và càng cao của xã hội

- Chất lượng GD, ĐT thấp

- Nội dung chương trình chậm đổi mới, phương pháp giáo dục lạc hậu

- Hiệu quả giáo dục, đào tạo kém

Tóm lại, cơ chế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp là một cơ chế quản lý có tính lýtưởng Nhưng trong nó lại tiềm tàng căn bệnh quan liêu đối với cấp trên và ỷ lạiđối với cấp dưới Trong điều kiện kinh tế xã hội ta hiện nay, những căn bệnh này

là nguyên nhân làm cho GD, ĐT trì trệ, kém hiệu quả

1.9.2 Cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước XHCN

Đặc trưng chinh của cơ chế này là:

- Các chủ thể GD, ĐT tự quyết định và chịu trách nhiệm về quá trình GD, ĐTcủa mình, trên cơ sở hướng tới thị trường sức lao động, thị trường khoa học vàcông nghệ, nhu cầu học tập của xã hội, trên cơ sở pháp luật

-Người học có nhiều cơ hội lựa chọn nơi học, chương trình học, phương thứchọc,

- Các quy luật của kinh tế thị trường phát huy tác dụng

Trang 20

- Nhà nước là người điều khiển ở tầm vĩ mô, vạch hướng đi và hành lang pháp

lý để “con tầu GD” tự vận hành với các quy luật vốn có, khách quan của kinh tếthị trường

- Nhà nước vẫn giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp chi phí GD, ĐTnhưng có trọng điểm, không cào bằng, nhất là đối với những nơi “thị trường bịthất bại” và đảm bảo tính công bằng trong GD, ĐT

Điều được nhấn mạnh là: Nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng trong việcquản lý thị trường này tập trung vào chất lượng và chủ yếu bằng các công cụquản lý Nếu nhà nước quản lý tốt sẽ tạo động lực để GD, ĐT phát triển Ngượclại, nếu không thừa nhận nó hoặc quản lý không tốt sẽ dẫn tới những nguy cơxấu trong quan hệ giữa các chủ thể, giữa thày và trò, người “có tiền là mua đượctất cả” …

2 NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG TRONG GD, ÐT ỞNƯỚC TA

Trong GD, ĐT ở nước ta hiện nay đã có thị trường hay không? Nếu có, biểuhiện của thị trường này như thế nào? Đây là những vấn đề cần phải giải đáp để

từ đó có thái độ và nhận thức đúng về thực tế GD, ĐT nước ta

Để trả lời các câu hỏi nêu trên, những nội dung trong mục này là những tìm hiểubước đầu, chủ yếu nhằm mô tả các biểu hiện của cơ chế thị trường diễn ra tronglĩnh vực GD, ĐT nước ta hiện nay

Nội dung mục 2 này gồm các vấn đề:

(1) Khung phân tích

(2) Các hoạt động GD, ĐT không thu phí

(3) Các hoạt động GD,ĐT có thu phí không vụ lợi

(4) Các hoạt động GD, ĐT có thu phí vụ lợi

(5) Tác động của thị trường GD, ĐT

2.1 Khung phân tích

Trong mục1 ta đã xét định nghĩa hàng hoá/ thị trường/ cơ chế thị trường/ dịch vụgiáo dục và qua đó ta thấy để hình thành thị trường/ cơ chế thị trường cần có cácyếu tố:

1) Các chủ thể thị trường và tính độc lập về lợi ích, và theo đó là tính độc lậptrong các quyết định về tổ chức sản xuất, kinh doanh giữa các chủ thể2) Quá trình trao đổi giữa cung và cầu diễn ra thông qua giá cả, cạnh tranh

và lợi nhuận

2.1.1 Các loại dịch vụ GD, ĐT

Như chúng ta đều biết, tuỳ theo thể chế xã hội, người ta chia dịch vụ GD, ĐTthành các loại:

Trang 21

1 Dịch vụ GD công ích không thu phí (phúc lợi xã hội cho không) Nói

như vậy không có nghĩa là dịch vụ công không cần nguồn tài chính đểduy trì và phát triển, mà lúc này có thể hiểu rằng khách hàng của dịch

vụ là nhà nước, nguồn tài chính chi trả để chủ thể cung cấp dịch vụduy trì và phát triển được lấy từ quĩ công - từ ngân sách nhà nước

2 Dịch vụ GD thu phí không vụ lợi - không lấy mục tiêu lợi nhuận làm

mục đích của hoạt động Phí do người sử dụng dịch vụ phải trả chỉnhằm để chi cho việc duy trì và phát triển dịch vụ đó

3 Dịch vụ GD thu phí vụ lợi - dịch vụ có mục tiêu lợi nhuận - dịch vụ

mang tính thương mại, nghĩa là, trong hoạt động cung cấp dịch vụ

GD, chủ thể cung cấp, bên cạnh việc thu các khoản phí nhằm duy trì

và phát triển hoạt động dịch vụ còn đưa thêm cả phần lợi nhuận (lãi)vào trong giá phí phải trả của các khách hàng tiếp nhận dịch vụ

Hiện nay, trong GD, ĐT ở nước ta cũng có tồn tại tất cả các loại dịch vụ trên

2.1.2 Các chức năng của các cơ sở GD, ÐT

Khi xem xét các hoạt động dịch vụ GD, ĐT, một điều quan trọng là phải hiểu rõchủ thể cung cấp dịch vụ và các chức năng của chủ thể đó

Trong GD, ĐT, chủ thể cung cấp dịch vụ là các cơ sở GD, ÐT Các cơ sở GD,

ÐT khác nhau có các chức năng, nhiệm vụ khác nhau Cụ thể là:

1 Các cơ sở nhà trẻ, GD tiền học đường: Bên cạnh chức năng GD các

cơ sở này còn có chức năng nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ

2 Các cơ sở GD phổ thông: Ngoài nhiệm vụ dạy dỗ, giáo dục học sinh

theo nhiệm vụ được giao, còn có những nhiệm vụ bồi dưỡng học sinhgiỏi, bổ túc giúp đỡ học sinh kém; hỗ trợ giáo viên cho các cơ sở khácthiếu giáo viên,

3 Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp: Ngoài nhiệm vụ đào tạo nghề nghiệp

cho học sinh còn có các chức năng lao động sản xuất trong trường,cung cấp các dịch vụ khi có yêu cầu,

4 Các cơ sở đào tạo CĐ và ĐH: Ngoài nhiệm vụ đào tạo nhân lực có

trình độ CĐ, ĐH, các cơ sở này còn có các chức năng nghiên cứukhoa học, dịch vụ khoa học và các dịch vụ khác

Trong các chức năng và nhiệm vụ của mỗi cơ sở GD, ÐT nêu trên, tùy theo mụctiêu mà mỗi cơ sở lại có những mục tiêu hoạt động khác nhau cho mỗi chứcnăng của mình Có chức năng hoạt động theo kiểu thị trường nhưng với mụctiêu không vụ lợi, lại có những chức năng hoạt động theo kiểu thị trường vớimục tiêu vụ lợi Thậm chí, ngay trong cùng một bộ phận của cơ sở cũng có

Trang 22

những hoạt động nhằm vụ lợi, bên cạnh những hoạt động khác lại không vì mụcđích vụ lợi Vì vậy, trong lĩnh vực GD, ĐT, việc phân định các loại hoạt độngdịch vụ có vụ lợi hay không là vấn đề rất phức tạp nhưng cũng rất cần thiết, để

từ đó có cách thức quản lý phù hợp

2.1.3 Khung nghiên cứu

Việc nghiên cứu tìm hiểu về biểu hiện của cơ chế thị trường trong GD, ÐT sẽđược tiến hành theo từng loại sau: :

1 Dịch vụ công ích không thu phí

2 Dịch vụ có thu phí không vụ lợi

3 Dịch vụ có thu phí có tính đến lợi nhuận

Ở mỗi loại trên, các khía cạnh sau sẽ được xem xét:

(1) Khung pháp lý: là những văn bản pháp quy của các cấp liên quanđến việc quản lý GD, ÐT Những văn bản này mang tính chất tạo tiền đềcho cơ chế thị trường hoạt động

(2) Các yếu tố mang tính đặc trưng của hoạt động thị trường biểu hiệnthông qua học phí (giá cả), cạnh tranh, cung cầu, lợi nhuận

(3) Biểu hiện của cơ chế thị trường trong hoạt động thực hiện các chứcnăng của cơ sở GD, ĐT

Bảng 2 Khung nghiên cứu

Khungpháp lý

Các yếu tố đặctrưng của hoạtđộng thị trườngbiểu hiện tronghoạt động giáodục

Biểu hiện của cơ chếthị trường trong hoạtđộng của các chứcnăng khác của nhàtrường

2.2 Bối cảnh hình thành thị trường trong GD, ĐT nước ta

2.2.1 Những tiền đề đổi mới- cơ sở hình thành thị trường GD, ĐT.

Giai đoạn cuối những năm 70, đầu những năm 80, kinh tế Việt Nam ở vàomột hoàn cảnh rất khó khăn Sản xuất phát triển chậm, thu nhập bình quân trênđầu người chỉ khoảng 20-25 USD Ngân sách nhà nước thâm hụt, dân số giatăng mạnh sau chiến tranh (2.5%), lạm phát tăng cao mà đỉnh điểm của nó vào

Trang 23

năm 1986 tỷ lệ lạm phát lên đến 774,7% làm cho đời sống người dân vô cùngkhó khăn Điều này đã ảnh hưởng không ít tới giáo GD, ĐT, gây ra sự suy giảmnghiêm trọng về số lượng, suy thoái về chất lượng.

Trước tình hình đó, ngay trong thời kỳ đầu của quá trình đổi mới, trong “Hộinghị hiệu trưởng các trường đại học toàn quốc năm 1987” lãnh đạo ngành giáo

dục-đào tạo đã đưa ra 4 tiền đề đổi mới cho giáo dục ĐH, và sau này trở thành

những tiền đề đổi mới chung cho cả lĩnh vực GD, ĐT Đó là:

(1) Đào tạo đại học (GD, ĐT) không chỉ đào tạo cán bộ cho biên chế Nhànước, kinh tế quốc doanh, mà còn phải đào tạo cho tất cả các thành phần kinh

tế khác, đồng thời đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của tất cả mọi ngườimuốn có học vấn đại học ở những mức độ khác nhau

(2) Đào tạo đại học (GD, ĐT) không chỉ dựa vào ngân sách Nhà nước màcòn phải dựa vào tất cả các nguồn lực khác nhau có thể huy động được nhưhọc phí, hợp đồng đào tạo, đóng góp của các tổ chức kinh tế-xã hội, thôngqua các hợp đồng nghiên cứu, triển khai, phục vụ ký với các trường đại học,những dự án quốc gia và quốc tế, sự hỗ trợ của các Hội, các cá nhân có hảotâm cho học bổng, giúp đỡ sinh viên nghèo, giúp đỡ nhà trường

(3) Đào tạo ĐH (GD, ĐT) không chỉ thực hiện kế hoạch nhà nước về đào tạo

và bồi dưỡng mà còn phải tự thăm dò nhu cầu xã hội

(4) Sinh viên tốt nghiệp ĐH, ngoài một bộ phận được nhà nước phân côngcông tác, còn phần lớn tự tìm việc làm, thích ứng với thị trường lao động

Rõ ràng, các tiền đề trên đã đặt những cơ sở đầu tiên cho việc đưa cơ chế thị

trường vào trong GD, ĐT.

Từ chủ trương đổi mới trên đây, các cơ sở pháp lý cho việc áp dụng cơ chế thịtrường vào trong GD, ĐT ở nước ta cũng dần được hình thành, và liên tục đượcđiều chỉnh để đảm bảo tính định hướng XHCN của nó

• Đầu tiên là những qui định trong Hiến pháp 1992, Điều 36 của Hiếnpháp có nêu: “Nhà nước ưu tiên đầu tư cho giáo dục" đồng thờikhuyến khích các nguồn đầu tư khác” Điều này cho phép giáo dục-đào tạo có thể huy động mọi nguồn vốn trong xã hội để phát triển.Cũng trong điều 36 của hiến pháp 1992, cho phép “phát triển các hìnhthức trường quốc lập, dân lập và các hình thức giáo dục-đào tạokhác” Nghĩa là trong giáo dục-đào tạo bên cạnh các trường côngthuộc quyến sở hữu nhà nước cũng cho phép tồn tại các loại sở hữu

khác, tính độc quyền của nhà nước trong giáo dục-đào tạo đã được

nới lỏng

• Trong hiến pháp 1992 cũng đã chỉ rõ ‘bậc tiểu học là bắt buộc vàkhông phải trả học phí …Nhà nước có chính sách học phí, học bổng”

Ngày đăng: 03/12/2015, 22:22

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2  Khung nghiên cứu - MAKETING TRONG GIÁO DỤC
Bảng 2 Khung nghiên cứu (Trang 22)
Bảng 3: Các chủ thể GD, ĐT theo hình thức sở hữu (năm học 2004-2005) - MAKETING TRONG GIÁO DỤC
Bảng 3 Các chủ thể GD, ĐT theo hình thức sở hữu (năm học 2004-2005) (Trang 27)
Bảng 3. Mẫu thăm dò phản ứng của phụ huynh về chất lợng dạy và học - MAKETING TRONG GIÁO DỤC
Bảng 3. Mẫu thăm dò phản ứng của phụ huynh về chất lợng dạy và học (Trang 42)
Bảng 4: Kết hợp quảng cáo - MAKETING TRONG GIÁO DỤC
Bảng 4 Kết hợp quảng cáo (Trang 45)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w