Dân số Trong tuổi lao động Lực lượng lao động Có việc Thất nghiệp Ngoài lực lượng lao động Ngoài tuổi lao động Hình 6.1: Thế nào là thất nghiệp b Tỷ lệ thất nghiệp Tỷ lệ thất nghiệp là
Trang 1CHƯƠNG VI: THẤT NGHIỆP VÀ LẠM PHÁT
6.1 THẤT NGHIỆP
6.1.1 Tác hại của thất nghiệp
Nạn thất nghiệp là một thực tế nan giải của mọi quốc gia có nền kinh tế thị trường, cho
dù quốc gia đó ở trình độ kém phát triển hoặc phát triển cao Khi thất nghiệp ở mức cao, sản xuất sút kém, tài nguyên không được sử dụng hết, thu nhập dân cư giảm sút Đến lượt mình, khó khăn kinh tế sẽ tràn sang lĩnh vực xã hội Nhiều hiện tượng tiêu cực phát sinh và phát triển Tác hại của thất nghiệp là rất rõ ràng Những kết quả điều tra xã hội học cũng cho thấy rằng, thất nghiệp phát triển luôn gắn với sự tăng của các tệ nạn xã hội như cờ bạc, trộm cắp
6.1.2 Thế nào là thất nghiệp
a) Khái niệm:
Một người bị coi là thất nghiệp khi:
- ở trong độ tuổi lao động
- có khả năng lao động
- muốn lao động
- không tìm được việc làm Nếu thiếu 1 trong 4 điều kiện này thì không phải là người thất nghiệp
Để có cơ sở xác định thất nghiệp và tỷ lệ thất nghiệp, cần phân biệt một vài khái niệm sau:
Những người trong độ tuổi lao động là những người ở độ tuổi có nghĩa vụ và quyền lợi lao động theo quy định đã ghi trong Hiến pháp
Lực lượng lao động là số người trong độ tuổi lao động đang có việc hoặc thất nghiệp
Ngoài những người có việc và thất nghiệp, những người còn lại trong độ tuổi lao động được coi là những người không nằm trong lực lượng lao động, bao gồm sinh
Trang 2viên đi học, người nội trợ, người không có khả năng lao động do ốm đau … và một
bộ phận không muốn tìm việc làm với những lý do khác nhau
Dân số Trong tuổi lao
động
Lực lượng lao động Có việc
Thất nghiệp Ngoài lực lượng lao động
Ngoài tuổi lao động
Hình 6.1: Thế nào là thất nghiệp
b) Tỷ lệ thất nghiệp
Tỷ lệ thất nghiệp là % số người thất nghiệp so với tổng số người trong lực lượng lao động.
6.1.3 Phân loại thất nghiệp
a) Phân theo loại hình thất nghiệp
Khi phân chia theo loại hình thất nghiệp, ta có các loại sau:
- Thất nghiệp chia theo giới tính (nam, nữ)
- Thất nghiệp chia theo lứa tuổi
- Thất nghiệp chia theo vùng lãnh thổ (thành thị, nông thôn)
- Thất nghiệp chia theo ngành nghề (kinh tế, nông nghiệp…)
- Thất nghiệp chia theo dân tộc, chủng tộc …
b) Phân theo lý do thất nghiệp
- Bỏ việc: người lao động tự ý xin thôi việc vì nhiều lý do khác nhau…
- Mất việc: các hãng kinh doanh cho thôi việc do những khó khăn trong kinh doanh…
- Mới vào: là những người lần đầu bổ sung vào lực lượng lao động, nhưng chưa tìm được việc làm (sinh viên mới tốt nghiệp ….)
- Quay lại: Những người đã rời khỏi lực lượng lao động, nay muốn quay lại tìm việc, nhưng chưa tìm được việc làm
c) Phân theo nguồn gốc thất nghiệp
100 lao động
Lực lượng
thất nghiệp
Số người
=
Trang 3- Thất nghiệp tạm thời
Là loại thất nghiệp xảy ra khi có một số người lao động đang trong thời gian tìm kiếm một nơi làm phù hợp hơn hoặc những người mới bước vào thị trường lao động đang chờ
việc… Mọi xã hội trong bất kỳ thời điểm nào đều tồn tại loại thất nghiệp này
- Thất nghiệp cơ cấu
Xảy ra khi có sự thay đổi về cơ cấu phát triển của các ngành khác nhau trong nền kinh tế: ngành này mở rộng trong khi ngành kia thu hẹp trong thị trường, và công nhân ở các ngành thu hẹp sẽ có một số bị thất nghiệp Khi sự biến động này mạnh và kéo dài, nạn thất nghiệp trở nên trầm trọng hơn và chuyển sang thất nghiệp dài hạn
- Thất nghiệp do thiếu cầu / thất nghiệp chu kỳ
Xảy ra khi mức cầu chung về lao động giảm xuống trong các chu kỳ kinh tế Dấu hiệu của loại thất nghiệp này là tình trạng thất nghiệp xảy ra tràn lan ở khắp mọi nơi, mọi ngành nghề Toàn bộ nền kinh tế đi xuống, doanh nghiệp sa thải bớt công nhân…
- Thất nghiệp do yếu tố ngoài thị trường (thất nghiệp theo lý thuyết cổ điển)
Xảy ra khi tiền lương được ấn định không bởi các lực lượng thị trường và cao hơn mức lương cân bằng thực tế của thị trường lao động Vì tiền lương không chỉ quan hệ đến sự phân phối thu nhập gắn với kết quả lao động, mà còn quan hệ đến mức sống tối thiểu, nên nhiều quốc gia có quy định cứng nhắc về mức lương tối thiểu Sự cứng nhắc này dẫn đến một bộ phận lao động mất việc hoặc khó tìm việc làm hơn
Cách phân tích hiện đại về thất nghiệp thì chỉ đưa ra 2 khái niệm về thất nghiệp: thất nghiệp tự nguyện và thất nghiệp không tự nguyện Trong đó: thất nghiệp tự nguyện gồm
thất nghiệp tạm thời, thất nghiệp cơ cấu và thất nghiệp theo lý thuyết cổ điển Còn thất nghiệp không tự nguyện là thất nghiệp do thiếu cầu
6.1.4 Thất nghiệp tự nhiên
a Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên
Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên là tỷ lệ thất nghiệp khi thị trường lao động cân bằng Tại
mức đó, tiền lương và giá cả là hợp lý vì các thị trường đều đạt cân bằng dài hạn nên cũng
Trang 4không có áp lực tạo ra lạm phát Số ngừơi thất nghiệp tự nhiên sẽ bằng tổng số thất nghiệp tự nguyện
Hình 6.1: Thất nghiệp tự nhiên
b Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên
Có hai nhân tố chính ảnh hưởng đến tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên là khoảng thời gian thất nghiệp và tần số thất nghiệp
- Khoảng thời gian thất nghiệp
Giả sử rằng thường xuyên có một lượng người nhất định bổ sung vào đội ngũ tìm kiếm việc làm Nếu mỗi người mất quá nhiều thời gian mới tìm được việc, thì trong một thời kỳ nào
đó, số người thất nghiệp trung bình tăng lên, tỷ lệ thất nghiệp tăng Thời gian chờ đợi nói trên được gọi là “khoảng thời gian thất nghiệp” và nó phụ thuộc vào:
Cách thức tổ chức thị trường lao động
Cấu tạo nhân khẩu của những người thất nghiệp (tuổi, nghề …)
Cơ cấu việc làm và khả năng có sẵn việc
Mọi chính sách cải thiện các yếu tố trên sẽ rút ngắn khoảng thời gian thất nghiệp
- Tần số thất nghiệp
Là số lần trung bình 1 người lao động bị thất nghiệp trong một thời kỳ nhất định Tần
số thất nghiệp phụ thuộc vào:
Sự thay đổi nhu cầu của các doanh nghiệp
Sự gia tăng tỷ lệ tham gia vào lực lượng lao động
WE
Lượng lao động
LE 0
Cầu về Lao động
Tiền lương
Cung về lao động
Trang 5Tần số thất nghiệp lớn nghĩa là thường xuyên có số thất nghiệp nhiều, tỷ lệ thất nghiệp
sẽ cao Vì vậy, hạ thấp tỷ lệ tăng dân số và ổn định kinh tế là hướng đi quan trọng để giữ cho tần số thất nghiệp ở mức thấp
c Hạ thấp tỷ lệ thất nghiệp
- Đối với thất nghiệp tự nhiên
Tạo thêm nhiều việc làm, đa dạng hơn và có mức tiền công tốt hơn, hoàn thiện thị trường lao động để đáp ứng kịp thời các yêu cầu của doanh nghiệp và người lao động
Nhà nước hỗ trợ bằng các “dự án việc làm”
Tăng cường và hoàn thiện các chương trình dạy nghề, đào tạo lại và tổ chức tốt thị trường lao động, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tìm kiếm việc làm, rút ngắn thời gian tìm việc
- Đối với thất nghiệp chu kỳ
Thất nghiệp chu kỳ là một thảm hoạ do nó xảy ra trên quy mô lớn, tổng cầu và sản lượng suy giảm, đời sống ngừơi thất nghiệp gặp nhiều khó khăn Chính phủ cần mở rộng các chính sách tài khoá và tiền tệ nhằm tăng tổng cầu, phục hồi kinh tế
6.2 LẠM PHÁT
6.2.1 Lạm phát là gì?
a Khái niệm:
- Lạm phát là sự tăng lên liên tục của mức giá trung bình theo thời gian (Bộ giáo dục)
- Lạm phát là sự gia tăng trong mức giá chung (Mankiw)
Bên cạnh lạm phát, chúng ta còn thấy một số khái niệm khác:
- Giảm phát: đó là sự giảm xuống trong mức giá chung (đã từng xảy ra ở Mỹ vào thế kỷ 19)
- Giảm lạm phát: là hiện tượng xảy ra khi tỷ lệ lạm phát của năm được xét thấp hơn tỷ lệ lạm phát của năm trước
- Thiểu phát: là hiện tượng xảy ra khi tỷ lệ lạm phát thực tế nhỏ hơn tỷ lệ lạm phát dự kiến
Trang 6Lạm phát được đặc trưng bởi chỉ số chung của giá cả Loại chỉ số biểu hiện lạm phát được gọi là chỉ số lạm phát Có thể sử dụng nhiều loại chỉ số giá chung của nền kinh tế để làm chỉ số lạm phát, như:
- Chỉ số khử lạm phát : GDPd
- Chỉ số giá tiêu dùng : CPI : chi phí mua một giỏ hàng hóa và dịch vụ của người tiêu dùng điển hình
- Chỉ số giá sản xuất :PPI (Producer Price Index): chi phí mua một giỏ hàng hóa và dịch
vụ của doanh nghiệp
Trong đó, chỉ số giá tiêu dùng CPI là được sử dụng rộng rãi nhất
b Tỷ lệ lạm phát
Tỷ lệ lạm phát là % thay đổi của chỉ số giá so với thời kỳ trước
gp =
1
1
−
−
−
p
p p
I
I I
Trong đó: gp – tỷ lệ lạm phát (%)
Ip - chỉ số giá của thời kỳ nghiên cứu
Ip-1 – chỉ số giá của thời kỳ trước đó
c Chỉ số giá tiêu dùng CPI (Consumer Price Index)
Khái niệm: chỉ số giá tiêu dùng (CPI) là chỉ tiêu đo lường chi phí chung cho hàng hóa
và dịch vụ mà một người tiêu dùng điển hình mua
Để tính được CPI, người ta thường thực hiện các bước sau:
- Bước 1: cố định giỏ hàng: xác định giá của hàng hóa nào là quan trọng nhất đối với người tiêu dùng điển hình Hàng hóa, dịch vụ nào được mua nhiều hơn thì giá của nó sẽ quan trọng hơn, do đó sẽ có quyền số lớn hơn Số lượng hàng hóa và quyền số của hàng hóa trong giỏ hàng sẽ được cố định qua các năm để loại trừ sự ảnh hưởng của sản
lượng
- Bước 2: Xác định giá cả: Tìm giá của mỗi hàng hóa và dịch vụ trong giỏ hàng tại mỗi thời điểm
- Bước 3: tính chi phí của giỏ hàng: sử dụng số liệu về giá cả để tính chi phí của giỏ hàng tại các thời điểm khác nhau
Trang 7- Bước 4: chọn năm gốc và tính chỉ số Năm gốc là năm được sử dụng làm mốc để so sánh với các năm khác Chi phí của giỏ hàng năm t sẽ được chia cho chi phí của giỏ hàng trong năm gốc Kết quả thu được chính là chỉ số giá tiêu dùng
CPI =
0
t
t
P
P
x100 Sau đó, tính tỷ lệ lạm phát:
Tỷ lệ lạm phát trong năm t =
1
1
−
−
−
t
t t
CPI
CPI CPI
x100
VD :
- B1 : Giả sử giỏ hàng của người VN gồm gạo và thịt Với người VN, giá gạo quan trọng hơn giá thịt, nên gạo sẽ có quyền số cao hơn Vd : 4 gạo, 2 thịt
- B2 :
Năm Giá gạo
($) Giá thịt ($)
2004 2005 2006
1 2 3
2 3 4
- B3 : P2004 = $1 x 4 gạo + $2 x 2thịt = $8
P2005 = $2 x 4 gạo + $3 x 2thịt = $14
P2006 = $3 x 4 gạo + $4 x 2thịt = $20
- B4 : CPI2004 = (8/8) x 100 = 100
CPI2005 = 175 CPI2006 = 250
- B5 : gp2005 = (175-100)/100 x100 = 75%
gp2006 = (250 – 175)/175x100 = 43%
Thông thường, giỏ hàng hoá để tính CPI ở các nước thường bao gồm : nhà ở, thực phẩm, đồ uống, đi lại, chăm sóc y tế, trang phục, giải trí, giáo dục và liên lạc, hàng hoá khác…
Nhược điểm của CPI :
Trang 8- Độ lệch thay thế : Rổ hàng hóa không thay đổi để phản ánh những phản ứng của người tiêu dùng trước những thay đổi trong giá tương đối Cụ thể là người tiêu dùng có
khuynh hướng thay thế bằng các hàng hoá ít đắt đỏ hơn
- Sự xuất hiện của những hàng hoá mới : Sự xuất hiện các hàng hóa mới cho người tiêu dùng có sự lựa chọn đa dạng hơn, làm cho mỗi đồng đô la trở nên có giá trị hơn Người tiêu dùng cần ít tiền hơn để duy trì mức sống như cũ
- Sự thay đổi không lượng hoá được của chất lượng : Nếu chất lượng của một hàng hóa tăng từ năm này sang năm tiếp theo, giá trị của một đồng đô la tăng, ngay cả khi giá của hàng hóa đó không đổi và ngược lại
d So sánh các chỉ số lạm phát: GDP d và CPI
- Chỉ số điều chỉnh GDP phản ánh giá của tất cả các hàng hóa và dịch vụ được sản xuất trong nước, trong khi đó …chỉ số giá tiêu dùng phản ánh giá của tất cả hàng hóa và
dịch vụ mà người tiêu dùng mua Vd : xăng dầu, máy bay…
- Chỉ số giá tiêu dùng so sánh giá của một rổ hàng hóa và dịch vụ cố định trong năm hiện tại so với giá của rổ hàng hóa đó trong năm gốc (rất hiếm khi BLS thay đổi rổ
hàng hóa) …trong khi đó Chỉ số điều chỉnh GDP so sánh giá của những hàng hoá và
dịch vụ được sản xuất ra trong năm hiện tại với giá của những hàng hóa và dịch vụ đó
trong năm gốc Do đó, nhóm hàng hoá và dịch vụ tính cho GDPd thay đổi qua các năm Tuy nhiên, sự khác nhau này không mang tính quy luật Nhìn chung, khi tính gp bằng hai chỉ tiêu này cũng không khác nhau nhiều lắm
6.2.2 Quy mô của lạm phát
Người ta thường chia lạm phát thành ba loại tuỳ theo mức độ của tỷ lệ lạm phát
a Lạm phát vừa phải: còn gọi là lạm phát một con số, có tỷ lệ lạm phát dưới 10%/năm
Lạm phát ở mức độ này không gây ra những tác động đáng kể đối với nền kinh tế
b Lạm phát phi mã: xảy ra khi giá cả tăng tương đối nhanh với tỷ lệ 2-3 con số / năm
Loại lạm phát này khi đã trở nên vững chắc sẽ gây ra những biến dạng kinh tế nghiêm trọng
Trang 9c Siêu lạm phát: dùng để chỉ tỷ lệ lạm phát cực kỳ cao như đã từng xảy ra ở Đức vào
những năm 1922-1923 Giá cả tăng từ 1 đến 10 triệu lần gây ra những thiệt hại nghiêm trọng và sâu sắc
Nhiều nhà kinh tế còn kết hợp 3 loại lạm phát trên với độ dài thời gian diễn ra lạm phát để chia lạm phát thành 3 mức:
- Lạm phát kinh niên: thường kéo dài trên 3 năm với tỷ lệ lạm phát đến 50%/năm
- Lạm phát nghiêm trọng: thường kéo dài trên 3 năm với tỷ lệ lạm phát trên 50%/năm
- Siêu lạm phát: kéo dài trên 1 năm với tỷ lệ lạm phát trên 200%/năm.
6.2.3 Tác hại của lạm phát
- Chi phí mòn giày: là những nguồn lực bị lãng phí khi lạm phát khiến cho con người tìm cách giảm lượng tiền mà mình nắm giữ : thời gian, sự tiện lợi, những công việc hữu
ích khác mà con người phải hy sinh để nắm giữ tiền ít hơn
- Chi phí thực đơn: là những chi phí cho việc điều chỉnh giá: Trong thời gian lạm phát,
việc cập nhật bảng giá và các loại giá được niêm yết là cần thiết.Đây là một hoạt động làm tiêu hao nguồn lực của những công việc hữu ích khác
- Sự biến động giá cả tương đối: Các quyết định của người tiêu dùng bị biến dạng, và thị
trường có ít khả năng phân bổ nguồn lực để đáp ứng nhu cầu tốt nhất
- Những biến dạng của thuế: Lạm phát thổi phồng mức lãi về vốn và làm tăng gánh
nặng thuế đánh vào loại thu nhập này
- Nhầm lẫn và bất tiện: Lạm phát làm cho đồng đô la ở mỗi thời điểm khác nhau có giá
trị thực tế khác nhau.Vì vậy, khi giá cả tăng, việc so sánh doanh thu thực tế, chi phí thực tế và lợi nhuận thực tế qua thời gian trở nên khó khăn
- Tái phân phối của cải tùy tiện: Những sự tái phân phối này diễn ra vì đa số các khoản vay trong nền kinh tế đều được tính toán bằng đơn vị thanh toán – tiền tệ Đặc biệt là
đối với những ai giữ nhiều tài sản có giá trị danh nghĩa và những người làm công ăn lương
6.2.4 Các lý thuyết về lạm phát
a Lạm phát do cầu kéo
Trang 10Lạm phát do cầu kéo xảy ra khi tổng cầu tăng lên mạnh mẽ tại mức sản lượng đã đạt hoặc vượt quá tiềm năng Điều này được minh hoạ trong hình 6.2 sau:
Hình 6.2: Chi tiêu quá khả năng cung ứng
Bản chất của lạm phát do cầu kéo là chi tiêu quá nhiều tiền để mua một lượng cung hạn chế về hàng hóa có thể sản xuất được, trong điều kiện thị trường lao động đã đạt cân bằng Hình 6.2 cho thấy, khi sản lượng vượt tiềm năng, đường AS có độ dốc lớn nên khi cầu tăng mạnh, giá cả tăng nhanh từ Po lên P1
b Lạm phát do chi phí đẩy
Ngay cả khi sản lượng chưa đạt đến sản lượng tiềm năng, vẫn có thể xảy ra lạm phát Khi chi phí tăng lên đẩy giá cả tăng lên, ta sẽ thấy loại lạm phát do chi phí đẩy
Hình 6.3: Chi phí tăng đẩy giá lên cao
Lạm phát do chi phí đẩy vừa làm cho giá tăng cao, vừa làm suy giảm sản lượng, tăng thêm thất nghiệp nên sẽ gây ra suy thoái kinh tế
Trang 11Các cơn sốc giá cả của thị trường đầu vào – đặc biệt là các đầu vào cơ bản như xăng, điện,… thường là nguyên nhân chủ yếu đẩy chi phí lên cao Trong khi giá cả của các đầu vào biến động thường do các nguyên nhân như thiên tai, chiến tranh, biến động chính trị, kinh tế… Đặc biệt, sự biến động của giá dầu còn do sự chi phối của khối OPEC
c Lạm phát dự kiến (lạm phát do sức ỳ)
Nếu giá cả cứ tăng đều với một tỷ lệ nhất định trong thời gian dài, nền kinh tế không có những thay đổi lớn nào về cung cầu hàng hóa, người ta đi đến chỗ trông chờ tỷ lệ đó, và nó sẽ được hạch toán vào tất cả các hợp đồng của nền kinh tế, tạo ra lạm phát ỳ
Đặc điểm của loại lạm phát này là đường AS và AD đều dịch chuyển lên trên với cùng tốc độ Vì lạm phát đã được dự kiến nên chi phí sản xuất (kể cả tiền lương) và nhu cầu chi tiêu đều được điều chỉnh sao cho phù hợp với tốc độ lạm phát Kết quả là, sản lượng vẫn giữ
nguyên nhưng giá cả lại tăng theo dự kiến
Hình 6.4: Lạm phát dự kiến
d Lạm phát và tiền tệ
Trong chương 5, chúng ta đã biết khi thị trường tiền tệ cân bằng thì:
P
M
= Lp (r, Y) Xét trong dài hạn, lãi suất và sản lượng thực tế đạt mức cân bằng, nghĩa là r và Y ổn định thì M/P cũng sẽ không thay đổi Như vậy, nếu cung tiền danh nghĩa M tăng lên thì giá cả P cũng cần phải tăng với tỷ lệ tương ứng Nói cách khác, tỷ lệ lạm phát sẽ bằng với tỷ lệ tăng tiền Trong thực tế, chúng ta vẫn thường thấy hiện tượng này Khi ngân sách chính phủ thâm hụt lớn, các chính phủ có thể in thêm tiền để trang trải, lượng tiền danh nghĩa tăng lên là một nguyên nhân gây ra lạm phát (như lạm phát cầu kéo) Một khi giá cả lại tăng lên thì sự thâm hụt mới lại nảy