1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp xây dựng nội dung chuyên đề ngoại khóa giáo dục văn hóa ẩm thực trà qua phần i bài 48 – chế biến sản phẩm cây công nghiệp và lâm sản – công nghệ 10

26 425 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 246,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Được phân công phụ trách giảng dạy môn Công nghệ 10, môn học gắn liền vớithực tế, với trăn trở lớn là làm sao trang bị nhiều hơn cho học sinh những kỹ năng cần có trong cuộc sống và dạy

Trang 1

-I ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN

Năm học 2014-2015 là năm học thực hiện Công văn số: 4099/BGDĐT-GDTrHngày 05/08/2014 của Bộ Giáo dục – Đào tạo V/v Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ Giáodục Trung học năm học 2014-2015; là năm học tiếp tục triển khai Chương trình hànhđộng thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 Hội nghị lần thứVIII Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục vàđào tạo Tiếp tục thực hiện có hiệu quả nội dung các cuộc vận động, các phong trào thiđua của ngành bằng những việc làm thiết thực, hiệu quả, phù hợp điều kiện từng địaphương, gắn với việc đổi mới hoạt động giáo dục của nhà trường Tạo điều kiện để các

cơ sở giáo dục trung học chủ động, linh hoạt trong việc thực hiện chương trình; xâydựng kế hoạch giáo dục theo định hướng phát triển năng lực học sinh; xây dựng các chủ

đề tích hợp nội dung dạy học, đảm bảo chuẩn kiến thức, kỹ năng và thái độ của từng cấphọc phù hợp với điều kiện thực tế của nhà trường, địa phương và khả năng của học sinh;chú trọng giáo dục đạo đức và giá trị sống, rèn luyện kỹ năng sống, hiểu biết xã hội, thựchành pháp luật Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học nhằm phát huy tínhtích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh; tăng cường kỹ năng thực hành, vận dụng kiếnthức, kỹ năng vào giải quyết các vấn đề thực tiễn Đa dạng hóa các hình thức học tập,chú trọng các hoạt động trải nghiệm sáng tạo, nghiên cứu khoa học của học sinh Đẩymạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học

Năm học 2014 – 2015 cũng là năm học “Tiếp tục đổi mới quản lý và nâng caochất lượng giáo dục” Cùng với việc thực hiện những nhiệm vụ thường xuyên của cácnăm học trước với yêu cầu cao hơn, Bộ GD & ĐT tập trung chỉ đạo, tổ chức giáo dục

kỹ năng sống cho học sinh phù hợp với từng cấp học và điều kiện của từng địaphương; tiếp tục thực hiện Phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, họcsinh tích cực" Nội dung của Phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, họcsinh tích cực" được Bộ Giáo dục - Đào tạo chỉ đạo qua Công văn số: 307/KH–BGDĐT ngày 22 tháng 7 năm 2008

Cùng với việc thực hiện công văn số 4099/BGDĐT-GDTrH ngày 05/08/2014

của Bộ Giáo dục – Đào tạo và ngay sau khi Bộ GD-ĐT phát động phong trào “Trườnghọc thân thiện – học sinh tích cực”, tôi đã coi đây là cơ hội để "hiến kế" với mongmỏi: học sinh ở Trường THPT Tống Văn Trân nói riêng và tất cả các trường THPH ởViệt Nam được trang bị kỹ năng sống ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường

Vào đầu năm học, dựa theo hướng dẫn kế hoạch bộ môn Công nghệ, dưới sự chỉđạo của Ban giám hiệu nhà trường, của tổ chuyên môn, chúng tôi được phân công xâydựng chủ đề theo định hướng phát triển năng lực học sinh trong công tác Bồi dưỡngthường xuyên do Bộ GD – ĐT quy định

Là một giáo viên luôn tâm huyết với sự nghiệp giáo dục, tích cực hưởng ứngcác phong trào thi của của các cấp, trong những năm học qua, tôi luôn tìm tòi nhữngbiện pháp giảng dạy tốt nhất giúp học sinh tham gia một cách tích cực chủ động vàohọc tập, phát huy tính năng động, sáng tạo của học sinh, từ đó học sinh thấy thích học

bộ môn Công nghệ do tôi phụ trách Với kinh nghiệm hơn 10 năm giảng dạy mônCông nghệ, tôi luôn chú trọng soạn giảng các bài học theo chủ đề tích hợp, lồng ghépgiáo dục kiến thức thực tế phù hợp với phong trào Trong bộ môn Công nghệ 10,

Trang 2

-chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu chủ đề “Giải pháp xây dựng nội dung chuyên đềngoại khóa Giáo dục văn hóa ẩm thực trà qua phần I bài 48 – Chế biến sản phẩm câycông nghiệp và lâm sản – Công nghệ 10”, vấn đề này gắn liền với nội dung chương III– Bảo quản, chế biến nông lâm thủy sản Trong đó, bài 48 – Chế biến sản phẩm câycông nghiệp và lâm sản có thể lồng ghép giảng dạy tích hợp văn hóa tiếp khách, tuyêntuyền văn hóa thưởng trà của người Việt Nam nói riêng và của các quốc gia sử dụngtrà nói chung

Thực tế, việc giáo dục kỹ năng sống không phải là vấn đề mới trong học đường.Trong các giờ học, thầy cô thường lồng ghép kỹ năng sống thông qua các bài học bằngcách: Nêu tình huống liên quan đến bài học để các em tự giải quyết rồi từ đó giúp các

em rút ra kết luận theo hướng tích cực Nhận thức được vai trò quan trọng trong việcgiáo dục, hình thành nhân cách của thế hệ trẻ, trong thời gian qua, bản thân tôi đã cónhiều cố gắng, đổi mới về nội dung, phương pháp giáo dục học sinh cả trong các tiếthọc chính khóa và các hoạt động ngoài giờ lên lớp

Việc trang bị kỹ năng ứng xử khi khách đến chơi nhà, hiểu rõ văn hóa thưởngtrà cho học sinh là rất cần thiết đối với học sinh bậc THPT - lứa tuổi có nhiều thay đổi

về mặt tâm sinh lý - để các em dễ dàng vượt qua những khó khăn, thử thách trước khibước vào cuộc sống

Được phân công phụ trách giảng dạy môn Công nghệ 10, môn học gắn liền vớithực tế, với trăn trở lớn là làm sao trang bị nhiều hơn cho học sinh những kỹ năng cần

có trong cuộc sống và dạy như thế nào để thu hút nhất, tác động sâu sắc và bền vữngnhất đến nhận thức, thái độ, hành vi của học sinh… Xuất phát từ phong trào “Xâydựng trường học thân thiện học sinh tích cực”, tôi xin mạnh dạn đưa ra đề tài: “Giảipháp xây dựng nội dung chuyên đề ngoại khóa Giáo dục văn hóa ẩm thực trà qua phần

I bài 48 – Chế biến sản phẩm cây công nghiệp và lâm sản – Công nghệ 10”

II MÔ TẢ GIẢI PHÁP

Theo kế hoạch năm học của nhà trường, kế hoạch của tổ chuyên môn Hóa –Sinh – Công nghệ và theo kế hoạch giảng dạy bộ môn Công nghệ, chúng tôi được giaonhiệm vụ tổ chức và báo cáo 1 chuyên đề trong tổng số 5 chuyên đề hội thảo của tổchuyên môn Buổi hội thảo ngoại khóa sẽ được diễn ra với sự góp mặt của của các emhọc sinh khối 10, khách mời là các thầy cô trong ban giám hiệu, các thầy cô đại diệncác tổ chức trong nhà trường, các thầy cô trong tổ chuyên môn và đặc biệt còn có sựtham dự của đại diện phòng văn hóa huyện

Qua nhiều năm công tác và giảng dạy môn Công nghệ 10, một môn học gắn liềnvới những kiến thức thực tế, đặc biệt khi dạy bài 48 – Chế biến sản phẩm cây côngnghiệp và lâm sản, tôi nhận thấy học sinh trường THPT Tống Văn Trân chỉ nắm được

sơ qua về văn hóa thưởng trà, những lợi ích từ trà và kỹ năng tiếp khách Trước nhữngthực trạng trên, tôi rất trăn trở làm thế nào để truyền tải một cách khoa học nhất kiếnthức thưởng trà và lồng ghép vào bài học như thế nào…

Đạo đức, nhân cách luôn gắn bó mật thiết với truyền thống của quê hương, đấtnước Muốn cho thế hệ sau phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc trong thời kỳmới, chúng ta cần coi trọng giáo dục truyền thống văn hóa của dân tộc Tuy nhiên

Trang 3

-trong những năm gần đây, không ít nhà trường chưa quan tâm đúng mức và thiếunhững hình thức giáo dục sinh động truyền thống cho nên có một bộ phận không nhỏhọc sinh nhận thức hết sức nông cạn và hời hợt về truyền thống văn hóa ứng xử củadân tộc

Để khắc phục tình trạng trên, trước hết, các nhà trường cần phải xác định mộtcách nghiêm túc vai trò của công tác giáo dục truyền thống đối với học sinh, từ đó cóchương trình tuyên truyền, bồi dưỡng thường xuyên, liên tục Để công tác giáo dụctruyền thống cho học sinh có hiệu quả cần đa dạng hoá các hình thức tuyên truyền: sânkhấu hoá, tổ chức các cuộc thi tìm hiểu nhân các ngày lễ lớn nhằm khơi dậy ý thức tựtôn, tự hào dân tộc ở học sinh Cần căn cứ vào cấp học, lứa tuổi học sinh mà đưa ranhững hình thức tuyên truyền, giáo dục phù hợp Bên cạnh đó, việc đổi mới phươngpháp giảng dạy, nâng cao chất lượng dạy sẽ góp phần không nhỏ trong việc nâng cấpchất lượng công tác giáo dục truyền thống, bồi đắp lòng yêu nước cho học sinh trongcông cuộc đổi mới và hội nhập

Để có những tiết học đạt hiệu quả cao nhất luôn là niềm trăn trở, suy nghĩ là mục đích hướng tới của từng người giáo viên, nhưng đây không phải là điều đạt được

dễ dàng Người giáo viên phải nhận thức rõ vai trò là người “thắp sáng ngọn lửa” chủ

động lĩnh hội tri thức trong từng học sinh Người thầy ngoài năng lực, khả năng sư phạm đã có cần phải luôn luôn tích lũy, rút ra những kinh nghiệm dù rất nhỏ, tìm tòi học hỏi những kinh nghiệm từ sách báo, tài liệu tham khảo và chính sau những tiết dạy Biết vận dụng các kinh nghiệm đã được tích lũy vào quá trình giảng dạy thì hiệu quả dạy học sẽ không ngừng được nâng lên

Trường THPT Tống Văn Trân đang trên đà xây dựng cơ sở giáo dục chất lượngcao của tỉnh Vì vậy, giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp trong xã hội cho họcsinh là yêu cầu vô cùng quan trọng, bên cạnh các chỉ tiêu nâng cao chất lượng toàndiện Đây là một nội dung không thể tách rời của quá trình giáo dục nhằm trang bị chohọc sinh những kỹ năng cơ bản, cần thiết nhất để các em có thể thích ứng với cuộcsống của xã hội thời hiện đại, luôn có những thay đổi trong điều kiện của một xã hộiđang trên đà phát triển và hội nhập

Thực hiện nhiệm vụ năm học, đồng thời chú trọng công tác giáo dục các kỹnăng cần thiết cho học sinh, Ban giám hiệu trường THPT Tống Văn Trân giao nhiệm

vụ cho giáo viên bộ môn đa dạng hóa các hình thức giáo dục, cùng với việc lồng ghépgiáo dục các kỹ năng sống cơ bản trong các tiết học Nhà trường cùng với Đoàn thanhniên, Hội chữ thập đỏ đã phối hợp tổ chức các hoạt động ngoại khóa, mở các diễn đàn

ở phạm vi lớp, khối Ngoài ra, nhà trường còn tổ chức có hiệu quả các buổi chào cờđầu tuần với mục tiêu không chỉ đánh giá, xếp loại nề nếp, học tập, các hoạt động giáodục trong tuần qua, triển khai kế hoạch tuần tới mà còn góp phần rèn luyện các kỹnăng cho học sinh Mỗi một học kỳ, nhà trường triển khai một chủ để rèn luyện kỹnăng, trong đó phát huy vai trò của tổ chức thanh niên theo các chủ điểm hàng tháng;đưa trò chơi dân gian, hát dân ca và các loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian vàotrường học; tổ chức nhiều sân chơi cho học sinh

Sau rất nhiều suy nghĩ, tôi đã nghiên cứu kiến thức chuyên môn, tham khảonhững tài liệu liên quan và áp dụng vào giảng dạy và xây dựng giáo án theo chủ đề

Trang 4

-Sau một thời gian nghiên cứu, tôi xin được trình bày trong bài viết này vài mong muốnđóng góp thêm một ít công sức của mình vào chương trình mới, phương pháp dạy họcmới Tôi xin trình bày nội dung của đề tài sau: : “Giải pháp xây dựng nội dung chuyên

đề ngoại khóa Giáo dục văn hóa ẩm thực trà qua phần I bài 48 – Chế biến sản phẩmcây công nghiệp và lâm sản – Công nghệ 10”

1 Giải pháp truyền tải nội dung bài 48 – Chế biến sản phẩm cây công nghiệp và lâm sản.

Để xây dựng chuyên đề ngoại khóa Giáo dục văn hóa ẩm thực trà qua phần I bài

48 – Chế biến sản phẩm cây công nghiệp và lâm sản – Công nghệ 10” một cách cụ thểnhất, trong các tiết dạy trên lớp tôi luôn hướng dẫn học sinh tìm hiểu nội dung đầy đủbài 48 với 2 nội dung chính:

I Chế biến sản phẩm cây công nghiệp:

b Quy tình chế biến chè xanh theo quy mô công nghiệp.

I.2 Chế biến cà phê nhân.

II Chế biến lâm sản

Trong 2 nội dung này, tôi chú trọng hướng dẫn học sinh tìm hiểu phần I.1 mộtcách sâu rộng để cung cấp cho các em khắc ghi kiến thức đầy đủ Với thời lượng 45phút một tiết học chính khóa, ngoài các nội dung khác của bài dạy, tôi khái quát vàcung cấp cho học sinh một số kiến thức cơ bản liên quan đến chuyên đề để học sinhlĩnh hội Qua phần I – bài 48, học sinh sẽ được giới thiệu các nội dung cơ bản sau:

Giới thiệu về cây chè:

Chè là giống cây nhiệt đới, nó có các giống như: Chè tuyết trên núi cao 600m ởBắc bộ và cao trên 1000m ở Tây Nguyên, chè Trung Du Chè sau khi chế biến còn gọi

là trà, trà có các loại sau: Chè tươi hãm với nước nóng, Chè xanh chế từ búp chè (5kgbúp được 1kg chè khô), Chè mạn từ búp và lá to ủ men nhẹ, chè nụ, chè đen làm từbúp chè non để héo vò cho lên men và sấy khô (5kg chè búp được 1kg chè đen khô)

+ Phương pháp chế biến chè xanh:

- Quy tình công nghiệp: Làm héo → Diệt men → Vò chè → Làm khô → Phân loại → → Bảo quản, sử dụng

Chè búp sau khi thu hái làm héo tự nhiên từ 4 – 6 giờ

Bước 1: Diệt men làm ngừng trệ các enzim bằng nước sôi 1 – 2 phút rồi ép nước, hoặc sao bằng thiết bị làm nóng khoảng 2200C từ 4 – 10 phút.Bước 2: Vò chè

Bước 3: Sấy khô với độ ẩm sản phẩm 4 -6%

Bước 4: Phân loại, đóng gói, bao quản

- Quy trình truyền thống:

Sao chè → Diệt men → Vò chè → Làm khô → Bao gói

Trang 5

-Nguyên liệu tốt nhất là chè non 1 tôm 2 lá chế biến ngay sau khi hái từ 5 – 6giờ Tại các giai đình, sao chè bằng chảo gang nóng 230 – 2800C, mỗi mẻ kéo dài từ 8– 13 phút và đôi khi phun thêm nước để diệt men triệt để, đồng thời tránh cháy chè(tung chè) sau đó vò chè Sấy khô chè bằng quầy sấy tre hoặc nứa, xung quanh quâycót giữ nhiệt khoảng 1 giờ Chè sau khi sấy khoảng 20 – 25 phút độ ẩm khoảng 40 –45%, tiếp đến dùng chảo sao khô khoảng 20 – 25 phút cho cánh chè xoăn lại

Sau khi dạy xong bài 43 + 46, trong phần dặn dò, tôi luôn hướng dẫn học sinhchuẩn bị nội dung bài 48 với phần chính là trà xanh, cách pha chế và thưởng thức Họcsinh trong lớp được chia thành nhóm viết báo cáo sơ lược về tình hình sử dụng tràcũng như một vài nét nhận xét về văn hóa trà ngày nay Toàn bộ các báo cáo của các

em học sinh, tôi đều ghi chép những ý chính và xây dựng nội dung truyền đạt trongbuổi hội thảo chuyên đề ngoại khóa

2 Giải pháp nghiên cứu Quy trình chế biến chè xanh theo quy mô công nghiệp.

Đây là nội dung chính và cũng là trọng tâm của bài 48 – Chế biến sản phẩm câycông nghiệp và lâm sản Mở đầu buổi hội thảo chuyên đề ngoại khóa, tôi hướng dẫncác em ôn lại kiến thức của phần này một cách cụ thể hơn Với thời lượng 45 phút họcchính khóa trên lớp, các em học sinh được tiếp cận một cách cơ bản về sơ đồ chế biến

và một số hình ảnh mà tôi giới thiệu, toàn bộ quy trình cụ thể tôi sẽ giới thiệu trongbuổi hội thảo chuyên đề ngoại khóa này Để truyền tải một cách cụ thể, chúng tôi sửdụng phương pháp thuyết trình kết hợp với sử dụng các slide hình ảnh Nội dung cụthể như sau:

Yêu cầu của dụng cụ chế biến và nơi chế biến:

Để bảo đảm chất lượng chè theo yêu cầu vệ sinh an toàn thực phẩm, dụng cụ vànơi chế biến chè an toàn phải đạt các tiêu chuẩn sau:

- Phải có nơi chế biến riêng, xa khu nuôi nhốt gia súc, gia cầm Gia súc, gia cầmkhông xâm nhập khu chế biến Nền phải được lát gạch đỏ hoặc láng bê tông

- Tôn quay, cối vò và các dụng cụ chế biến khác bằng kim loại không bị han gỉ,không để tình trạng mạt sắt bị han gỉ lẫn trong sản phẩm chè búp khô

- Dụng cụ bao gói phục vụ việc vận chuyển sản phẩm tươi, khô phải bảo đảmmới, không sử dụng những bao đựng hóa chất như phân bón, cám chăn nuôi để baochứa, vận chuyển và bảo quản sản phẩm

Chú ý: Tất cả các dụng cụ sử dụng trong quá trình vận chuyển, chế biến và bảoquản sản phẩm chè tươi, khô trước khi sử dụng phải được vệ sinh sạch sẽ

+ Dụng cụ chế biến chè theo phương pháp bán thủ công gồm:

- Dụng cụ đựng chè búp tươi (bao, sọt, dậu )

Trang 6

Nguyên liệu dùng để chế biến chè là búp chè một tôm hai, ba lá non Chènguyên liệu sau khi thu hái có độ ẩm 80% Ở độ ẩm này, nếu đem tiến hành vò ngaythì chè nguyên liệu sẽ bị nát, nước thoát ra mang theo một số chất hòa tan làm ảnhhưởng đến chất lượng chè thành phẩm Do đó, làm héo để cho lượng nước trongnguyên liệu chè bốc đi bớt, lá chè nguyên liệu trở nên mềm và dẻo dai hơn Ngoài ra,

do lượng nước giảm đi mà hàm lượng chất khô trong nguyên liệu chè trở nên đậm đặchơn, từ đó tăng làm héo nguyên liệu chè đến độ 65 %, nguyên liệu phải được làm héođều

Nhiệt độ và độ ẩm tương đối của không khí là hai yếu tố ảnh hưởng lớn đến tốc

độ làm héo Nếu nhiệt độ cao, tốc độ làm héo sẽ nhanh, nhưng nếu nhiệt độ quá cao sẽảnh hưởng đến hoạt tính của các enzym có trong nguyên liệu và ở nhiệt độ cao, các chất hương tạo thành sẽ không tích lũy được, các chất bay hơi có mùi thơm bị tổn thất làm giảm chất lượng chè thành phẩm Do đó, nhiệt độ làm héo thường là 450C Cần lưu thông không khí nhằm mục đích giảm ẩm của môi trường làm héo, độ ẩm trong nguyên liệu chè thoát ra môi trường làm héo nhanh chóng bão hòa nước để tăng tốc độlàm héo đồng thời cấp cho nguyên liệu chè một lượng oxy cần thiết cho quá trình sinh hóa xảy ra trong quá trình này Người ta khống chế tốc độ lưu chuyển không khí khoảng 2m/s Tốc độ thoát hơi nước ở những phần non, già của nguyên liệu chè có khác nhau, do đó trước khi làm héo cần phải phân loại vì nguyên liệu non thường héo trước

Bước 2: Các phương pháp làm héo:

- Làm héo tự nhiên: thường sử dụng ba cách sau:

+ Phơi trực tiếp dưới ánh nắng mặt trời: rải chè nguyên liệu trên sân phơi, chiều dày 20cm, sau 30 phút đảo chè một lần, khi đạt được độ héo yêu cầu thì làm nguội trong bóng râm 1 giờ Ưu điểm là nguyên liệu héo đều, ít tốn năng lượng nhưng nhượcđiểm của nó là phụ thuộc thời tiết, tốn diện tích xây dựng, tốn nhân công, năng suất thấp thời gian kéo dài

+ Làm héo trong bóng râm: rải nguyên liệu chè nơi có bóng râm, cách này làm cho nguyên liệu chè héo đều hơn

+ Làm héo trong phòng thoáng khí: nguyên liệu chè được đặt trên các tầng ở trong phòng thoáng khí để làm héo Việc lưu thông không khí trong phòng được thực hiện bằng cách đóng mở các cửa sổ hoặc sử dụng quạt thông gió

- Làm héo nhân tạo: Nếu làm héo trong phòng nóng thì nguyên liệu chè được rảivào các tầng của phòng làm héo Phòng làm héo có trang bị quạt hút không khí và quạtđẩy hơi nóng vào, khống chế nhiệt độ 450C trong 6 giờ Ưu điểm là năng suất lớn, đảmbảo được mức độ héo của nguyên liệu chè nhưng có nhược điểm là tốn năng lượng

Sau 1 giờ thay đổi không khí trong phòng một lần bằng cách sử dụng quạt hút

và đẩy 270 phút (tùy theo từng loại nguyên liệu) làm héo Máy làm héo có hình dáng như một hộp kim loại có 5 băng chuyền nằm ngang, nguyên liệu chè đi từ băng

chuyền trên cùng đến các băng chuyền phía dưới rồi ra khỏi máy Trong quá trình làm việc không khí nóng được thổi liên tục vào máy Nếu làm héo trong máy héo, thường

sử dụng máy 750 kg/giờ, thời gian làm héo kiểu băng tải

+/ Bước 3: Vò Chè héo và sang Chè vò

Trang 7

Vò chè để làm dập các tổ chức tế bào các mô làm các thành phần trong lá chè thoát ra bề mặt của lá chè để sau khi sấy các dịch bào sẽ bám lên bề mặt lá làm cho cánh chè óng ánh hơn và dễ dàng hòa tan vào nước pha tạo ra hương vị đặc biệt của chè đen Hơn nữa, do dịch bào thoát ra ngoài nên tanin và các hợp chất hữu cơ khác cóđiều kiện tiếp xúc với oxy không khí xảy ra quá trình oxy hóa tạo ra mùi vị, hương và màu sắc của sản phẩm

Việc sàng chè vò sau mỗi lần vò còn có những mục đích sau:

– Trong khi vò, do ma sát giữa các lá chè với nhau hoặc giữa chè với vỏ máy sẽ làm phát sinh ra nhiệt, vì thế việc sàng chè vò nhằm mục đích làm nguội khối chè sau khi vò

– Sàng chè vò để phân loại tạo điều kiện thuận lợi cho những lần vò tiếp theo vàcho quá trình lên men sau này

* Kỹ thuật vò chè: Có hai phương pháp vò chè:

• Vò chè thủ công: cho chè héo vào trong các túi vải thưa rồi dùng tay để vò, phương pháp này ít được dùng trong sản xuất chè đen

• Vò chè cơ giới: phương pháp này cho chất lượng sản phẩm cao, năng suất lớn.Quá trình vò được thực hiện trong những máy vò

Lượng chè héo đưa vào máy vò: Tùy thuộc vào thể tích của thùng vò, trong thực

tế, lượng chè héo đưa vào 85% thể tích của thùng vò Nếu lượng chè héo đưa vào máy

vò quá ít thì năng suất máy vò sẽ giảm và áp lực vò được tạo ra do trọng lượng bản thân khối chè sẽ giảm nên khó làm cánh chè xoăn kết đẹp

Tốc độ quay của mâm vò: tốc độ quay của mâm vò có ảnh hưởng đến chất lượng thành phẩm Tùy theo chất lượng chè héo đem vò và điều kiện của phòng vò màkhống chế tốc độ quay của mâm vò cho thích hợp Do đó, nếu máy vò và phòng vò có

hệ thống thông gió tốt, có thể dùng tốc độ vò nhỏ, ngược lại, phải tiến hành vò nhanh

Thời gian vò: nếu tốc độ vò lớn thì thời gian vò giảm Tuy nhiên cần phải làm thế nào để quá trình vò chè đạt được những yêu cầu đề ra về độ dập tế bào, tỉ lệ vụn nát…Lá chè già thì cần thời gian vò lớn hơn lá chè non

Áp lực vò: nếu áp lực vò quá lớn thì lá chè dễ bị tổn thương, chè vụn nhiều, ngược lại nếu áp lực vò quá nhỏ thì quá trình vò sẽ không triệt để, màu nước pha chè đen thành phẩm sẽ nhạt, bả chè có những đốm xanh Do đó, trong thực tế, ở lần vò I, người ta vò mở và trong lần vò II, III thì vò kín xen kẻ với vò mở để nhiệt sinh ra trong quá trình vò dễ dàng tản đi

Nhiệt độ của phòng vò chè có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng của sản phẩm chè nên phải khống chế 240C Ngoài ra, tác dụng nhiệt độ của phòng vò chè vào

khoảng 200C của men oxydaza trong nguyên liệu chè phụ thuộc rất nhiều vào sự có mặt của oxy trong phòng vò, do đó cần phải lưu thông không khí trong phòng vò; đồng thời để thuận lợi cho quá trình biến đổi hóa học 98% bằng của chè vò, cần khốngchế độ ẩm trong phòng vò khoảng 95% cách phun ẩm Chất lượng chè vò được kiểm tra bằng chỉ tiêu độ dập của tế bào, sao cho ở lần vò cuối độ dập tế bào và kiểm tra bằng phương pháp hóa học Phương pháp này dựa trên nguyên tắc là cho lá chè vò vàodung dịch kalibicromat 10 % trong thời gian 5 phút Dung dịch này sẽ làm xám ở

Trang 8

-những nơi nào lá chè bị dập, từ đó ta có thể xác định được tỉ lệ dập của tế bào trong quá trình vò

+/ Bước 4: Lên men Chè vò

Đây là giai đoạn rất quan trọng trong qui trình sản xuất chè Mục đích của giai đoạn này là tạo ra những biến đổi sinh hóa, chủ yếu là oxy hóa tanin dưới tác dụng củamen để tạo ra màu sắc, hương vị của nước pha chè đen

Yêu cầu kỹ thuật

Chè sau khi lên men phải đạt những yêu cầu sau:

• Lá chè mất đi màu xanh, có màu đỏ

• Mùi hăng xanh mất đi, có mùi thơm dịu

• Không còn vị chát, có vị đậm dịu

• Hàm lượng tanin giảm 50% so với lượng tanin có trong nguyên liệu chè

Những biến đổi của chè vò khi lên men:

Trong quá trình lên men, những biến đổi chủ yếu xảy ra là sự biến đổi về số lượng và chất lượng tanin trong chè vò Tanin bị oxy hóa để tạo ra những sản phẩm cóhương vị, màu sắc đặc trưng cho chè đen như theaflavin và thearubigin.Tuy nhiên, nếunguyên liệu chè có nhiều protit thì tanin sẽ kết hợp với protit tạo ra sản phẩm không tan không có lợi cho chất lượng chè đen Do đó, nếu nguyên liệu có nhiều protit thì không có lợi cho việc sản xuất chè đen Sự biến đổi tanin trong quá trình lên men chè

vò, chủ yếu là do hai loại men peroxydaza và polyphenoloxydaza Men peroxydaza tạo ra những sản phẩm không màu hoặc màu sữa khi oxy hóa tanin có trong chè vò, đây là sản phẩm quyết định vị của chè đen Còn men polyphenoloxydaza oxy hóa tanin để tạo ra những sản phẩm có màu đỏ, màu đặc trưng của chè đen Trong thời gian lên men, hàm lượng monosaccarit giảm từ 1,97 đến 1,64% và hàm lượng

disaccarit giảm từ 1,25 đến 0,5% Hợp chất nitơ trong chè vò sau khi lên men biến đổi không nhiều lắm.Trong quá trình lên men, hàm lượng pectin hòa tan, vitamin C và clorofin tiếp tục giảm Ngoài ra, còn có sự tích lũy rượu hexanol và benzaldehyt

Nhiệt độ khối chè lên men đạt cực đại khi tác dụng lên men dừng lại, sau đó giảm dần Do đó, ta có thể theo dõi nhiệt độ khối chè lên men để kết thúc quá trình lênmen

Điều kiện kỹ thuật lên men:

- Nhiệt độ: nhiệt độ ảnh hưởng khá lớn đến quá trình lên men do hoạt tính của các enzym phụ thuộc vào nhiệt độ Nhiệt độ tối thích của các enzym oxy hóa là 450C Nhưng trên thực tế 300C vì ở trong quá trình lên men chè vò người ta khống chế ở

200C, nhiệt độ này chất lượng của chè lên men là tốt nhất

- Độ ẩm: độ ẩm ở đây bao gồm độ ẩm của chè vò và độ ẩm của không khí trong phòng lên men Nếu độ ẩm của chè vò quá thấp thì thời gian lên men kéo dài, nếu cao qúa thì thời gian lên men sẽ ngắn nhưng chè sau lên men sẽ có màu ám đen, từ đó làm cho màu sắc nước pha không đẹp Thường thì độ ẩm của chè vò đem lên men vào khoảng 60% là thích hợp Độ ẩm của không khí trong phòng lên men nên 98%

- Sự lưu thông của không khí: Để tránh mùi vị lạ cho sản phẩm chè đen cần phảidùng không khí trong sạch Người ta tính rằng cứ 70kg chè cần lên men phải có một

Trang 9

– Độ dày của lớp chè rải trên khay đặt trong phòng lên men cũng phụ thuộc vào mức độ non già của chè lên men Trong cùng điều kiện về làm héo và vò thì chè già cần phải rải dày để tận dụng sự tăng nhiệt độ thúc đẩy quá trình lên men (do chè già khó lên men hơn), ngược lại, chè non cần phải rải mỏng, chiều dày 8 cm Thời tiết cũng ảnh hưởng của lớp chè dao động trong khoảng từ 4 hưởng đến độ dày của lớp chè, nếu thời tiết nóng thì rải mỏng, lạnh thì rải dày.

Phòng lên men

Phòng lên men phải có ánh sáng nhưng không để ánh nắng chiếu vào vì tia tử ngoại sẽ ức chế hoạt động của các enzym, các khay đựng chè lên men và phòng lên men phải thường xuyên được làm vệ sinh sạch sẽ để tránh vi khuẩn xâm nhập làm ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm Để đảm bảo độ ẩm của không khí trong phòng lên men, người ta trang bị những thiết bị phun ẩm

Kiểm tra giai đoạn lên men

Có hai cách kiểm tra: kiểm tra bằng phương pháp cảm quan và bằng phương pháp hóa học

– Theo dõi nhiệt độ lên men: khi nhiệt độ khối chè từ cao nhất bắt đầu giảm xuống thì chè đã được lên men đầy đủ và có thể kết thúc quá trình lên men

– Theo dõi màu sắc chè lên men: nếu chè có màu đồng đỏ thì lên men đầy đủ, màu nâu thì lên men quá mức và màu lốm đốm xanh chứng tỏ lên men chưa đầy đủ, trường hợp này cần tìm rõ nguyên nhân để khắc phục, có thể do ở những công đọan trước đó như làm héo, vò

– Theo dõi mùi vị chè sau lên men: nếu mùi thơm dịu là lên men đúng mức, nếu

có mùi chua là lên men quá mức, còn nếu vẫn có mùi hăng xanh thì lên men chưa đạt

+/ Bước 5: Sấy Chè lên men

Khi chè đã được lên men đúng mức, phải cần đình chỉ hoạt động của các enzym

để chất lượng sản phẩm ở mức tốt nhất, thường thì người ta dùng nhiệt độ cao để thực hiện điều này Làm giảm độ ẩm của chè lên men để thuận lợi cho việc bảo quản chè sản phẩm Từ đó làm cho cánh chè xoăn kết và đen bóng Làm bay đi mùi hăng xanh

và lộ rõ mùi của các cấu tử tinh dầu có nhiệt độ sôi cao Chè phải được sấy đều, khô không có mùi khét, độ ẩm còn lại cũng phải tương đối

Những biến đổi của chè lên men khi sấy:

– Nước bay hơi, màu của cánh chè chuyển từ màu đồng đỏ sang màu đen bóng, mùi táo chín của chè lên men mất đi, thay vào đó là mùi thơm dịu hơn, đặc trưng của sản phẩm chè đen, cánh chè xoăn hơn, thẳng và khô

– Tinh dầu bị tổn thất nhiều, khoảng 60%, nhưng trong quá trình sấy, dưới tác dụng của nhiệt độ cao đã tạo ra những hương vị mới cho sản phẩm

– Hàm lượng vitamin C tiếp tục giảm

Điều kiện kỹ thuật:

Trang 10

-– Nhiệt độ: thường sấy chè ở 800C, nếu sấy ở nhiệt độ cao hơn 800C thì chè mất

đi nhiều hương thơm và màu sáng, nếu sấy thấp hơn 800C thì quá trình sấy kéo dài, các enzym trong chè không được đình chỉ kịp thời, chè dễ bị len men quá mức

– Tốc độ không khí trong máy sấy chè: tốc độ không khí nóng trong máy sấy chè thường khống chế ở 0,5m/s, nếu khống chế nhỏ hơn tốc độ này thì thời gian sấy kéo dài và nếu khống chế ở khoảng 0,6 m/s thì chè vụn sẽ bị cuốn theo

– Độ dày của lớp chè rải trên băng chuyền máy sấy: thực nghiệm cho thấy nếu tốc độ không khí nóng trong máy sấy chè < 0,5 m/s thì độ dày của lớp chè rải trên băng chuyền không ảnh hưởng đến chất lượng chè sấy được Do đó, nếu ta khống chế tốc độ không khí bằng 0,5 m/s và sấy hai lần thì độ dày của các lớp chè rải trên băng chuyền là: 2,5 cm; Sấy lần 1 là 2 - 5 cm; Sấy lần 2 là 3cm Ngoài các phần chè non giàkhác nhau thì độ dày của lớp chè rải trên băng chuyền cũng khác nhau, thường thì độ dày chè non sẽ nhỏ chè già

Kiểm tra công đoạn sấy chè:

– Kiểm tra độ ẩm của chè bằng phương pháp sấy đến trọng lượng không đổi.– Kiểm tra cảm quan bằng cách dùng ngón tay nghiền chè sấy thành bột vụn màkhông thấy dính tay là đã sấy đúng mức Phân loại, đấu trộn, đóng hộp và bảo quản thành phẩm Sau khi sấy xong chè được phân loại để thành những sản phẩm có phẩm chất tốt xấu khác nhau, chủ yếu là về kích thước, hình dáng; ngoài ra phân loại còn nhằm mục đích để loại trừ các tạp chất lẫn vào trong quá trình chế biến Sau khi phân loại, người ta tiến hành đấu trộn những phần đã phân loại ra theo một tỉ lệ nhất định theo yêu cầu hoặc theo tiêu chuẩn của nhà máy Thường thì chỉ đấu trộn chè cánh hoặcchè mảnh, còn chè vụn thì đem sản xuất chè hòa tan Việc trộn chè được thực hiện trênnhững máy trộn kiểu thùng quay

Để bảo quản thành phẩm, chè được đóng vào hộp, thường bằng cacton hoặc bằng kim loại, trọng lượng của mỗi hộp tùy theo yêu cầu hoặc theo tiêu chuẩn của nhàmáy, bên trong hộp có 3 lớp giấy, 2 lớp giấy thường và 1 lớp giấy bạc ở giữa Để đónghộp, đầu tiên cho 2/3 lượng chè cần đóng vào hộp, dùng máy lắc lắc chè thật chặt rồi cho tiếp 1/3 lượng còn lại vào hộp để đảm bảo khối lượng mong muốn và giảm được thể tích

+/ Bước 6: Cách bảo quản trà

- Cất trà ở những nơi cao ráo, thoáng mát, sạch sẽ, cách mặt đất tối thiểu 50cm

- Không để chung trà cùng các hàng hóa có mùi như: mỹ phẩm, thuốc lá, xà phòng nước mắm, cá khô, long não

- Không mở túi/hộp trà nhiều lần, nhất là trong những ngày thời tiết nồm ẩm Không dùng tay lấy trà trực tiếp trong túi/hộp đựng bởi hơi ẩm, mồ hôi từ tay sẽ làm biến chất lượng trà còn lại

2 Giải pháp tìm hiểu văn hóa uống Trà trong đời sống và giao tiếp ứng xử:

Giải pháp này, tôi có thể cung cấp cho học sinh với nội dung cụ thể như sau:Văn hóa Trà ngày nay đã không còn như xưa, mọi người đã dần quên đi nhữngthói quen khi thưởng Trà, quên đi cả nghệ thuật pha Trà và dần quên đi cả thói quenuống Trà nữa Ngày xưa khi pha trà mọi người chú ý tới cả những chi tiết nhỏ nhất,như phải tráng ấm trước khi pha, trà nên pha trong ấm như nào là ngon, chén trà cũng

Trang 11

-phải như thế nào mới đúng kiểu hay khi uống trà cũng -phải uống như nào mới thấyngon….Ngày nay mọi người pha trà dường như chỉ là cho có lệ, không nhất thiết phảingon hay đúng cách , bao nhiêu cái hay, cái đẹp của văn hóa Trà xưa nay dần mất đi

và không còn nữa, nếu còn cũng chỉ là đâu đó ở những nơi đã gắn liền với lịch sử Trà

từ ngàn xưa

Có lẽ do sự tất bật của công việc và sự hối hả với nhịp sống hiện đại ngày nay,

mà mọi người dần quên đi những nét đẹp trong văn hóa Trà Mọi người cho rằng để cóđược một ấm Trà phải rất công phu và mất nhiều thời gian, cho nên người ta đã dùngnhững thứ nước khác thay Trà như: nước lọc, hay nước ngọt mua sẵn, muốn uống chỉcần lấy trong tủ lạnh là có ngay Phải chăng tất cả những điều đó đã làm cho họ dầnquên đi thú uống nước Trà và thói quen thưởng Trà như ngày xưa

“Tặng người ngàn dặm cách xa, Cười dâng chỉ một âu trà thế thôi…”

Cả một nền văn hoá ẩm thuỷ độc đáo đang bị người đời lãng quên dần dưới lớpbụi thời gian ngày càng dầy mãi Có tìm hiểu về trà mới hay những người Việt Nam,nhất là người trồng chè tâm huyết với cây trà còn nhiều lắm, nhưng con số ít ỏi quántrà vẫn còn đang bé nhỏ đến mức tủi phận Ðến bao giờ thì số đông lớp trẻ của chúng

ta thảng thốt nhận ra rằng: Nhanh lên để một nền văn hoá trà đậm đà hương sắc tựngàn năm không kịp vụt cánh bay đi!

Ngày nay, chúng ta đang tiến nhanh trên con đường hiện đại hóa đất nước, sự tấtbật khiến cho con người ta luôn thèm một cảm giác thanh thản và nhẹ nhàng để quên

đi những giờ phút lao động mệt nhọc và căng thẳng Bên cạnh đó là, sự chia sẻ và lắngnghe giữa mọi người trong cuộc sống Và vì thế, chè ngày càng có vị trí quan trọngtrong văn hóa ẩm thực Việt Nam Và khi du khách đến thăm xứ trà, hãy thưởngthức chè dù chỉ một lần, cái cảm giác ngây ngất, được đắm mình trong cái ngào ngạt,thơm ngát, nhẹ nhàng nhưng lan tỏa Nghệ thuật uống chè trở thành một “đạo” và làmột thú vui hết sức tao nhã và đôi khi hết sức cầu kì

Có thể nói rằng văn hóa trà ở mỗi nơi là mỗi khác, mỗi vùng miền lại có nhữngvăn hóa thưởng trà rất riêng, nhưng chúng ta không thể quên đi, bỏ qua văn hóathưởng trà của người Việt Nam, bởi đây là cái nôi đã hình thành nên lịch sử của nhữngcây chè, khi du nhập từ nước ngoài về, cũng từ đó văn hóa uống trà của người ViệtNam hình thành và tạo nên một nét văn hóa mới trong nghệ thuật uống trà nói chung.Với người dân xứ trà, uống chè là một nghệ thuật và là một nét văn hóa cần phải đượcquan tâm, họ ý tứ trong từng cử chỉ và dáng điệu, từ cách tráng ấm, cho trà vào ấm, róttrà mời khách, rồi đến cách cầm chén trà, cách uống trà, điệu bộ khi uống cũng phảitươi tắn, thoái mái để có thể cảm nhận được hết cái hương vị ngọt ngào của chén trà.Tất cả những cái đó đã tạo nên một nét văn hóa đặc trưng riêng và làm nên bảnsắc văn hóa Trà

Ngày xưa mọi người quan niệm, miếng trầu là đầu câu chuyện, nhưng ngày nay

có lẽ phải nói rằng chén trà là đầu câu chuyện Bởi trong cuộc sống của chúng ta Trà

là một thứ không thể thiếu, khi khách tới nhà chơi ta phải có chén trà để mời, đó cũng

là sự tôn kính và là phép lịch sự tối thiểu trong văn hóa giao tiếp của người Việt Vàkhông biết từ khi nào Trà đã trở thành nhu cầu tất yếu trong cuộc sống của chúng ta,

Trang 12

-trong mỗi gia đình người Việt, đều không thể thiếu được những ấm nước Trà Vớinhững cái hay, cái đẹp trong mỗi chén chè, người dân xứ trà đã tạo nên những bản sắcvăn hóa rất riêng và đặc sắc trong văn hóa Trà mà không nơi nào có được Trong cuộcsống thường nhật Trà trở nên rất cần thiết và quan trọng, bởi nhiều người thường cóthói quen uống vài chén chè sau bữa ăn, hoặc thường uống vào mỗi buổi sáng NênTrà mang một giá trị to lớn và thấm nhuần với đời sống của những người dân Việt nóichung

Uống chè là một thú chơi thanh đạm Pha cho mình cũng như pha trà mờikhách, người ta phải để vào đấy nhiều công phu, những công phu đó đã trở nên lễnghi Trong ấm chè pha ngon, người ta nhận thấy có một mùi thơm và một vị triết lý.Theo các bậc lão nông đã hàng chục năm sao chế trà: Trà ngon cũng như bạn hiền, chỉ

có thể may mắn gặp được chứ không thể cầu mà có được Bởi các yếu tố như thời khínặng nhẹ, mưa nắng mạnh yếu, độ ẩm, bàn tay người chăm sóc, thậm chí hướng giócũng ảnh hưởng đến chất lượng trà thành phẩm Trà ngon, nước phải trong xanh, ngửinhư có hương cốm non, dư vị đọng mãi trong cổ Thứ được nước, tức là pha nhiều lầnnước vẫn còn màu thì kém hơn Có những người đã trộn hạt cau khô, búp ổi… vào trà

để bán Còn thứ nước trà uống theo kiểu phương Tây, cho đường, sữa… vào uống thìchỉ đáp ứng được những ý thích nhất thời

Từ ngày xưa Sử sách đã ghi lại, hình thức uống trà khởi nguồn từ các chùachiền, tức gắn liền đạo Phật của người Việt, nó được gọi là Thiền trà Các nhà sưthường uống trà và tụng kinh thay cơm sáng hay những lúc chiều tà, đó là những thờikhắc đời sống trần tục đang bủa vây tứ phía, trà giúp người ta tỉnh được mộng trần,rửa được lòng tục và để xua đi cảm giác cô độc Bên cạnh đó trong các tục lệ cúng ôngcha tổ tiên ngày xưa cũng thường xuyên cúng nước Trà, bởi mọi người quan niệm Trà

là thứ nước thanh tao, thể hiện được sự tôn kính và ngày nay ở một số vùng vẫn cóquan niệm cúng nước Trà trong mỗi dịp giỗ tết hay lễ hội

Ngày nay, mời khách chén chè là biểu của lòng hiếu khách, tôn trọng kháchtrong mọi gia đình người Việt Kỵ nhất là tiếp khách bằng những chiếc tách hay chéncòn ngấn nước trà cũ thành vòng nâu vì người trước uống xong úp xuống luôn Cũngngại khi chủ nhân ghé miệng vào vòi ấm thổi phù phù vì vòi tắc hoặc ấm trà đãi khách

đã nhạt Chén trà tiếp khách là thể hiện những tình cảm tối thiểu nhất nên không thểtuỳ tiện, coi thường dù không nhất nhất phải là loại trà thượng hảo hạng Những nămgần đây, Việt Nam có rất nhiều những quán trà trên các vỉa hè, chưa kể những ngườibán dạo chỉ với cái ấm và cái làn xách tay Dân xứ trà cũng đang có nhiều cáchuống chè Mỗi vùng miền lại có những văn hóa uống Trà khác nhau và đặc trưngriêng, tuy nhiên những văn hóa ấy đều có điểm chung là nét đẹp trong văn hóa TràViệt…

Cách đây vài năm, ở khắp các tỉnh thành trong cả nước khởi đầu với hàng loạtbiển vàng của trà Lipton, kế tiếp là biển xanh của Dimah, và gần đây là những đènlồng đỏ của trà Ðài Loan và Trung Quốc… Sự thành công của những nhãn mác tràngoại đó cho thấy, từ lâu lắm rồi, người ta vẫn mong chờ một điều gì đó có thể làmcân bằng cuộc sống hiện đại cuồn cuộn chảy; hoặc giả người ta vẫn thấy rất thú vị khiđược lặp lại một thú ăn chơi mang tính chất quý tộc hoài cổ chốn kinh kỳ xa xưa Nam

Trang 13

-thanh nữ tú có yêu trà Việt Nam đến mấy cũng không thể ngồi lê ở các quán cóc màuống trà, họ cần có những không gian lịch sự để trò chuyện và cảm thấy được tôntrọng… Nhưng trong những nơi đó chỉ có thứ trà vừa chua vừa ngọt, ít hương kém vị,vừa uống vào đã tuột hết mùi vị làm sao so được với trà mạn, trà sen, trà hoa nhài, hoa

sói…

Uống trà là cả một nghệ thuật, đây cũng là một nét văn hóa rất riêng trong cáchthưởng thức trà của người Việt Nam Dùng thìa gỗ hoặc tre múc trà cho vào ấm đượcgọi là Ngọc diệp hồi cung Ðể có được chén trà ngon thì bình trà và tách uống trà phảiđược làm ấm lên bằng nước sôi Ðiều này có dụng ý là giữ cho nước trong bình phaluôn luôn có độ nóng cao nhất Trà khô bỏ vào bình loại đất nung nhỏ cao cỡ 1/3 bình.Trà cụ dùng để xúc trà, lấy bã trà đều bằng tre khô hoặc gỗ thơm Khi châm nước lầnmột, dùng vòi nước sôi mắt cua giội từ trên cao xuống nhằm tạo ra một lực làm tan bụibẩn trong trà Người ta châm một ít nước sôi vào bình trà rồi chắt ngay ra, đổ đi nướcđầu này để loại hết bụi bẩn trong trà và trà khô trong bình kịp thấm không nổi lềnhbềnh nữa Trà nước hai là lần đổ nước thứ hai vào ấm, đổ nước cao tràn miệng bình đểkhi đậy nắp lại, bọt bẩn trào ra hết, rồi dội nước sôi lên nắp, cũng nhằm giữ nhiệt độcao nhất cho ấm trà Nước hai chính là nước trà chuẩn nhất được tạo ra trong vòng 60-

90 giây này thực sự tạo ra mùi vị thơm tho tuyệt diệu từ các cánh trà Khi dùng trà,phải rót sao cho các chén trà đều có nồng độ như nhau bằng cách kê khít các miệngchén lại và đưa vòi ấm quay vòng đều các chén Cách phổ biến trong truyền thống làrót ra chén Tướng (chén tống) rồi chia đều ra các chén quân Cách này ngày nay ítdùng vì phần làm nguội trà, phần hơi mất thời gian Dâng chén trà theo đúng cách làngón giữa phải đỡ lấy đáy chén, ngón trỏ và ngón cái đỡ miệng chén, người dâng trà

và người nhận trà đều phải cung kính cúi đầu Trước khi uống đưa chén sang tay trái,mắt nhìn theo, sau đó đưa sang phải Cầm chén uống trà phải quay lòng bàn tay vàotrong, dâng chén lên để thưởng thức hương trà trước, sau đó tay che miệng hớp mộthớp nhỏ Đó là những nét độc đáo trong nghệ thuật uống Trà của người Việt Nam, nétvăn hóa đặc trưng ấy đã làm nên một bản sắc bản sắc văn hóa rất riêng và khác biệtcho những con người nơi đây Đồng thời nó cũng là thước đo cho sự phát triển củamột nền văn hóa của một dân tộc, một quốc gia hay một khu vực

Việt Nam được coi là cái nôi của cây chè Phong tục uống trà và sự phát triểncủa cây chè Việt Nam gắn liền với lịch sử phát triển dân tộc Người Việt xưa dù sốngtrên núi cao, dưới đồng bằng châu thổ hay bên bờ biển, dù là người sang, kẻ hèn tấtthảy đều giữ tập tục uống trà Văn hoá trà Việt Nam, một thành tố của Văn hóa ẩmthực, là một hệ thống hữu cơ những giá trị vật chất (vật thể) và tinh thần (phi vật thể)của cây chè do con người Việt Nam sáng tạo và tích luỹ, trong quá trình sản xuất tácđộng đến môi trường tự nhiên và quá trình tiêu dùng giao tiếp trong môi trường xã hội.Ngày nay, mời uống trà là biểu hiện đầu tiên đã trở thành quy luật của lòng hiếukhách, tôn trọng khách trong mọi gia đình người Việt Đằng sau tách trà nóng là biếtbao câu chuyện được thổ lộ, từ những việc hệ trọng đến bình dân nhất

Theo dòng lịch sử phát triên của đất nước, Văn hóa trà Việt Nam có những loại hình phổ biến sau đây

+/ Chè tươi (fresh tea)

Ngày đăng: 27/04/2016, 21:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w