1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

truyện đường rừng của lý văn sâm

118 729 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 5,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những lý do trên đã thôi thúc tôi tìm hiểu những sáng tác của Lý Văn Sâm, đặc biệt là mảng truyện đường rừng của ông, nhằm mục đích bước đầu nêu được các đóng góp cua Lý Văn Sâm trong mả

Trang 1

B Ộ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NGUY ỄN THỊ HUỆ

LU ẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Trang 3

KÒN TRÔ d ấn bước đường chinh chiến

N ửa gánh giang hồ, nửa ái ân NGÀN SAU SÔNG D ỊCH còn tê lạnh Tráng sĩ có về với BẾN XUÂN?

(Xuân Sách)

Trang 4

MỤC LỤC

M ỤC LỤC 4

DẪN NHẬP 6

1 Lý do ch ọn đề tài: 6

2 Gi ới hạn đề tài và phạm vi nghiên cứu 7

3 L ịch sử vấn đề: 8

4 Nh ững đóng góp của luận văn: 16

5 Phương pháp nghiên cứu: 16

6 K ết cấu của luận văn: 17

CHƯƠNG 1: VỊ TRÍ MẢNG TRUYỆN ĐƯỜNG RỪNG TRONG SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC C ỦA LÝ VĂN SÂM 19

1.1 Khái quát v ề cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Lý Văn Sâm 19

1.1.1 Cuộc đời Lý Văn Sâm: 19

1.1.2 Sự nghiệp sáng tác của Lý Văn Sâm 21

1.2 V ị trí của mảng truvện đường rừng trong sự nghiệp sáng tác của Lý Văn Sâm 25 1.2.1 Về khái niệm “truyện đường rừng” 25

1.2.2 Khái quát về mảng truyện đường rừng của Lý Văn Sâm 28

CHƯƠNG 2: CON NGƯỜI VÀ THIÊN NHIÊN TRONG TRUYỆN ĐƯỜNG R ỪNG CỦA LÝ VĂN SÂM 32

2.1 Đôi nét về hình tương con người và thiên nhiên trong các truyện đường rừng giai đoan 1930-1945 32

2.2 Hình tượng con người trong truyện đường rừng của Lý Văn Sâm 34

2.2.1 Hình tượng người anh hùng nghĩa hiệp 34

2.2.2 Hình tượng con người trong tình nghĩa 42

2.2.3 Hình tượng những con người, khi phạm lỗi lầm, ở họ có sư dằn vặt, thức tỉnh lương tâm 51

2.3 Hình tượng thiên nhiên trong truvện đường rừng của Lý Văn Sâm 57

2.3.1 Thiên nhiên trong truyện đường rừng của Lý Văn Sâm chân thực và đa dạng 59

2.3.2 Mối quan hê giữa thiên nhiên và tâm hồn con người trong truvện Lý Văn Sâm 64 CHƯƠNG 3: NHỮNG ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT TRUYỆN ĐƯỜNG RỪNG C ỦA LÝ VĂN SÂM 71

3.1 Ngh ệ thuật xây dựng cốt truyện, kết cấu và tình huống truyện 71

3.1.1 Cốt truvên 71

3.1.2 Kết cấu 74

3.1.3 Tình huống truyện 76

Trang 5

3.2 Ngh ệ thuật xây dựng nhân vật 77

3.2.1 Cách miêu tả vẻ ngoài của nhân vật 78

3.2.2 Cách xây dựng hành trang của nhân vật 79

3.2.3 Cách xây dựng tính cách nhân vật 80

3.2.4.Cách xây dưng kết cuộc số phận của nhân vật 82

3.3 Ngh ệ thuật sử dụng yếu tố truyền kỳ một cách sáng tạo 86

3.4 S ự tham gia của yếu tố tự truyện 93

3.5 Nghê thu ật sử dụng ngôn ngữ 95

K ẾT LUẬN 100

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH 104

PHẦN PHỤ LỤC 111

Trang 6

DẪN NHẬP

1 Lý do chọn đề tài:

Nói đến văn học yêu nước công khai ở Sài Gòn trong thời kỳ chín năm kháng Pháp không thể không nhắc đến nhà văn Lý Văn Sâm Cùng với Vũ Anh Khanh, ông được đánh giá “là một trong hai nhà văn xuất sắc nhất ở miền Nam” (40,278) giai đoạn này Tác giả

Kòn Trô, Sương gió biên thùy, Ngoài mưa lạnh đã gieo vào lòng độc giả đương thời

nhiều ấn tượng tốt đẹp, khơi dậy những khát vọng và hướng họ đến với con đường tranh đấu, con đường cách mạng

Sinh ra nơi vùng rừng núi Tân Uyên, lớn lên giữa thiên nhiên bạt ngàn, hoang dã và phóng khoáng, tâm hồn được nuôi dưỡng bởi "hào khí Đồng Nai", thế nên cuộc đời và tác

phẩm của Lý Văn Sâm thấm đẫm tinh thần "tráng sĩ miền Đông" Cuộc đời ông là bài ca

dấn thân cho cách mạng với tinh thần "ra đi khống hẹn ngày về" Tác phẩm của ông ngợi ca

những con người sẵn sàng xả thân vì nghĩa lớn Trong hoàn cảnh "tranh tối tranh sáng" lúc

bấy giờ, Lý Văn Sâm đã sớm có ý thức dân tộc, ngay từ những tác phẩm đầu tay của ông đã

tiềm ẩn một tinh thần tranh đấu Quá trình sáng tác văn học cũng là quá trình ông đến với cách mạng Sáng tác trong sự kiểm soát gắt gao của kẻ thù, ba lần bị giặc bắt vào tù, có lúc đối mặt với cái chết, tưởng như sẽ không còn bao giờ gặp lại người thân, bạn bè, người

"tráng sĩ miền Đông" ấy vẫn không hề chùn nhụt chí khí Sáng tác của ông hừng hực tinh

thần tranh đấu, giáng cho kẻ thù những đòn đau, khiến cho Sơn Nam, một trong những bạn văn chương cùng thời phải kính phục khen ngợi "Thằng cha Sâm gan thật" (43,351)

Là một nhà văn có nhiều đóng góp và có vị trí đặc biệt trong văn xuôi Nam Bộ hiện

đại, thế nhưng, lâu nay Lý Văn Sâm đã chịu nhiều “thiệt thòi” Trên báo Văn nghệ Đồng

thủ đô Hà Nội gần ba chục năm, kháng chiến có, hòa bình có, tôi nhận thấy phong trào văn nghệ miền Nam, văn nghệ sĩ miền Nam ít được hiểu cặn kẽ đến nơi đến chốn Anh Lý Văn Sâm là một trường hợp rất đáng tiếc trong hiện tượng thiệt thòi ấy Trong từ điển văn học, người ta đã cố tình quên anh Trong sách giáo khoa nhà trường nhiều lần bổ sung, người ta

đã cố tình quên anh Trong các tuyển tập ở Nhà xuất bản Văn học, ở Nhà xuất bản Tác

phẩm mới người ta cố tình quên anh, và chẳng biết bao giờ người ta mới chịu sửa chữa." (40,379) Năm 1999, Lý Văn Sâm đã có tên trong "Nhà văn Việt Nam thế kỷ XX", một

Trang 7

công trình do Ngô Văn Phú, Phong Vũ và Nguyễn Phan Hách biên soạn Năm 2004, Từ điển văn học (bộ mới ) đã có mục từ Lý Văn Sâm do nhà nghiên cứu Trần Hữu Tá viết, giới thiệu về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của nhà văn tương đối toàn diện Đặc biệt, trong đó

có lời đánh giá: "Là một nhà văn miền Nam tiêu biểu của nửa cuối thế kỷ XX, Lý Văn Sâm

đã có đóng góp xứng đáng cho nền vặn học dân tộc "(35,929) Đó là sự trở lại xứng đáng

của nhà văn Lý Văn Sâm trong đời sống văn học Việt Nam

Không chỉ có thế, lâu nay, vì nhiều lý do chủ quan và khách quan, những bài nghiên

cứu về sáng tác của ông còn rất ít Ngay cả mảng truyện đường rừng, một mảng sáng tác có nhiều thành tựu của ông cũng chưa được nghiên cứu sâu Vì lẽ đó, độc giả ngày nay rất ít

biết đến tên tuổi Lý Văn Sâm Người đọc ông đã ít, người hiểu và tri âm những tác phẩm

của ông càng ít hơn Đó là thiệt thòi lớn về cả hai phía: nhà văn và bạn đọc

Những lý do trên đã thôi thúc tôi tìm hiểu những sáng tác của Lý Văn Sâm, đặc biệt là

mảng truyện đường rừng của ông, nhằm mục đích bước đầu nêu được các đóng góp cua Lý Văn Sâm trong mảng truyện đường rừng nói riêng, trong văn học Việt Nam nói chung, góp

phần khẳng định vị trí của nhà văn trong tiến trình văn xuôi Việt Nam hiện đại

Là một người đã chọn mảnh đất Biên Hòa, Đồng Nai là quê hương thứ hai của mình, tôi yêu mến và tự hào về nhà văn Lý Văn Sâm Mong rằng luận văn này sẽ góp một tiếng nói nhỏ bé vào việc trả về cho nhà văn vị trí xứng đáng với ông, sẽ là một nhịp cầu nhỏ đưa nhà văn và bạn đọc đến với nhau

2 Giới hạn đề tài và phạm vi nghiên cứu

Sáng tác của Lý Văn Sâm rất phong phú, ông viết về nhiều đề tài ở nhiều thể loại như truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết, kịch, thơ Do thời gian có hạn, luận văn chỉ đi sâu vào tìm hiểu mảng truyện đường rừng, mảng đã làm nên tên tuổi nhà văn

Lý Văn Sâm sáng tác chủ yếu trong giai đoạn từ năm 1941 đến 1954 Tác phẩm của

ông được đăng rải rác trên các báo như Tiểu thuyết thứ Bảy (của Vũ Đình Long), Việt Bút

(của Trường Hận), Văn Hóa (của Dương Tử Giang), Lẽ sống (của Ngô Công Minh) hoặc

in thành sách như các tập truyện ngắn Kòn Trô (Nxb Tân Việt, 1949), Sương gió biên

Trang 8

thùy (Nxb Tân Vi ệt, 1949), Ngoài mưa lạnh (Nxb Sống chung, 1949) truyện dài Mười

lăm năm hận sử (Nxb Nam Việt, 1947), Sóng vỗ bờ xa (Nxb Nam Việt, 1949),

Nga và Thu ần (Nxb Nam Việt, 1950) Sau 1975, một số tập truyện này được tái

bản Một thuận lợi lớn cho chúng tôi là năm 2002, Nhà xuất bản Đồng Nai đã in Lý Văn

tìm được cho đến thời điểm đó) Do đó, về mặt tư liệu, chúng tôi chủ yếu dựa vào bộ sách này

3 Lịch sử vấn đề:

Nếu tính từ bài tựa tác phẩm Mười lăm năm hận sử ( Nxb Nam Việt, Sài Gòn, 1947 )

của Hoàng Tấn cho đến nay thì việc tìm hiểu cuộc đời và văn chương của Lý Văn Sâm đã

gần 60 năm Thế nhưng số bài viết về ông thật ít ỏi Ngoài các bài viết của Bùi Quang Huy, Nguyễn Văn Sâm và Thế Phong, đa số các tác giả khác chủ yếu kể về những kỷ niệm với nhà văn Lý Văn Sâm và những sáng tác của ông Riêng về truyện đường rừng, một thể tài lâu nay còn ít được các nhà nghiên cứu tìm hiểu (một mặt vì nó xuất hiện ở Việt Nam chưa lâu, mặt khác vì tư liệu còn tản mát, rời rạc), có thể coi Bùi Quang Huy là người đầu tiên tìm hiểu có hệ thống và khá công phu mảng truyện này của Lý Văn Sâm Các nhà phê bình khác chú trọng tới những tác phẩm viết về đô thị nhiều hơn là mảng truyện đường rừng Tuy nhiên, rải rác trong từng bài cũng có một số nhận định đáng lưu ý Cụ thể đó là:

Trong bài tựa tác phẩm Mười lăm năm hận sử (Nxb Nam Việt, Sài Gòn, 1947),

Hoàng Tấn đã chỉ ra một số nét riêng đặc sắc trong lối "tả cảnh núi rừng", "đề cập đến rừng"

của Lý Văn Sâm, để từ đó khẳng định: "Với lối văn riêng biệt, niềm kín bao la một ý niệm tranh đấu - tranh đấu ngay trong thời kỳ lệ thuộc - đài văn học Việt Nam hẳn đã giành cho ông một chỗ ngồi xứng đáng." (40,277)

Trong bài "Lý Văn Sâm” một trong những bài phê bình sớm nhất về tác phẩm Lý

Văn Sâm, đăng lần đầu trên Tạp chí Văn hóa Á châu (Sài Gòn), số 17/7 năm 1959; in lại

trong sách Lược sử văn nghệ Việt Nam (1900-1956), nhà phê bình Thế Phong đã bước đầu

có cái nhìn khá toàn diện về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Lý Văn Sâm Điều đáng ghi

nhận là ông đi thẳng vào phân tích một số văn phẩm chính ( một số truyện ngắn tiêu biểu ở hai tập truyện Kòn Trô và Ngoài mưa lạnh, truyện dài Sau dãy Trường Sơn) để tìm kiếm

những nét đặc sắc, độc đáo cũng như chỉ ra những hạn chế trong tác phẩm của nhà văn họ

Trang 9

Lý, nhờ vậy bài viết có những nhận xét có sức thuyết phục Chẳng hạn như Thế Phong cho

rằng sở dĩ truyện của Lý Văn Sâm đi vào lòng người đọc vì đó là "những truyện ngắn xã hội

và tâm tình vô vàn đặc sắc" với lối văn linh hoạt, khi thì "trau chuốt, hào hoa phong nhã"

khi thì "trang nhã bu ồn nhè nhẹ'" Nhà phê bình khẳng định: "Hầu hết các tác phẩm của ông (Lý Vãn Sâm) đều mang đề tài chống Pháp, Nhật bằng cách lôi cái xấu xa bỉ ổi của mặt trái đô thị (bas-fonds) và gián tiếp đề cao giải phóng quân." (40,279); đồng thời khách quan

chỉ ra sở trường sở đoản của nhà văn: " Ở Lý Văn Sâm truyện dài không phân tách tâm lí

v ững và truyền cảm như truyện ngắn, có lẽ rằng hơi truyện ngắn mới là sở trường của ông."

(40,298) Về mảng truyện đường rừng, Thế Phong cho rằng: "Sau Lan Khai, nhà văn thiên

v ề truyện đường rừng, Thế Lữ với Vàng và máu, bây giờ chúng ta thấy có Lý Văn Sâm đi

sâu vào vi ệc khai thác tâm lỵ hình tượng sống người miền rừng Nam bộ." (40,280) Có thể

xem đây là những nhận xét có tính chất gợi mở cho việc nghiên cứu tác giả Lý Văn Sâm về sau

Năm 1969, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Sâm viết bài "Lý Văn Sâm và con người cố thoát ra kh ỏi sự vây hãm của thành thị u buồn", in trong quyển Văn học miền Nam ( Kỷ

Nguyên xb, Sài Gòn, 1969), chủ yếu tìm hiểu mặt tư tưởng yêu nước, tranh đấu trong những sáng tác của Lý Văn Sâm Tác giả đánh giá cao Lý Văn Sâm, xem ông là "nhà văn tiền

phong c ủa phong trào văn nghệ tranh đấu " vì "với Lý Văn Sâm nền văn nghệ hỗ trợ cho kháng chi ến đã tiềm tàng trong tác phẩm của ông trước khi các vãn nghệ sĩ ở miền Nam hướng ngòi bút của mình về đường hướng này " (40,309) Một điểm đáng lưu ý là Nguyễn

Văn Sâm “là người ngoài cuộc”, "không ở trong phe kháng chiến" (76,383) Điều này giúp

chúng ta hiểu hơn nhận xét của Sơn Nam về Lý Văn Sâm: “Ngay cả những người khác lý

tưởng, cũng phải nhìn nhận anh là người có chí lớn, có tài” Tuy nhiên, Nguyễn Văn Sâm

đã thiếu thỏa đáng khi cho rằng loại truyện "dã sử phiêu lưu đường rừng" "không quan

tr ọng chỉ đánh dấu được ảnh hưởng quê hương lên tác phẩm của Lý Văn Sâm thôi"

(40,301) Mặt khác, tác giả còn chỉ ra giọng văn riêng của Lý Văn Sâm: "Giọng văn tác giả

luôn bi đát, eo sèo, âm điệu nhẹ nhàng thanh thoát, như muốn trút lên người đọc tâm tư u

u ất của mình ( )Tôỉ cho rằng Lý Văn Sâm thành công nhờ biết chọn hình thức diễn đạt và

nh ờ nội dung ray rứt, u buồn, nghẹn ngào, thê lương của những tác phẩm." (40, 333-334)

"Nhìn chung gi ọng văn họ Lý nhẹ nhàng, bay bướm, trôi chảy, gợi cảm và đi thẳng vào tâm

tư người đọc nên ông thành công trong sự diễn đạt và là tác giả được yêu chuộng lúc ấy (1949- 1950) sau Vũ Anh Khanh " (40,301)

Trang 10

Bẵng đi một thời gian khá dài, do hoàn cảnh đặc biệt của đất nước, việc tìm hiểu Lý Văn Sâm bị gián đoạn, hầu như không có những bài viết, bài phê bình về cuộc đời và sáng tác của ông Đến những năm 1985,1986, trong không khí đổi mới của đất nước, của văn

học, rải rác trên các sách báo xuất hiện một số bài của các nhà văn kể chuyện những năm

sống trong vòng kiềm tỏa của chính quyền tay sai và thực dân đế quốc, họ đã may mắn gặp được những cuốn sách của Lý Văn Sâm và những tác phẩm ấy đã tác động mạnh mẽ đến tâm hồn, tình cảm của họ, khuyến khích họ dấn thân vào sự nghiệp cứu nước Một số bài

viết tiêu biểu có thể kể là "Những cuốn sách tôi đã đọc hồi còn bé" (in trong tập Hồi nhỏ các nhà văn học văn, Sở Giáo Dục Nghĩa Bình xb, 1986) của Hoàng Phủ Ngọc Tường,

"Nhà v ăn Lý Văn Sâm" (báo Văn nghệ Đồng Nai, tháng 6-1986) của Hoài Anh, "Số phận

kì l ạ của Ngoài mưa lạnh, tác phẩm của nhà văn Lý Văn Sâm " (báo Văn nghệ Đổng Nai, s ố 67-Tháng 3-1986) của Minh Vũ Hoàng Phủ Ngọc Tường bộc bạch: “Những cuốn

sách đố phù hợp với trình độ tiếp thu của tôi ở từng lứa tuổi, đã nói với tôi một cách dịu dàng v ề lòng nhân hậu biết yêu thương con người, tình yêu lẽ phải, dần dần đi đến tình cảm yêu quí và kính tr ọng đối với Tổ quốc và nhân dân của mình”(40, 337) Minh Vũ kể: "Bạn

bè chúng tôi ngày ấy ra đi hòa vào đội ngũ kháng chiến để góp phần hoàn thành khát vọng Độc lập, Tự do của dân tộc ( ) có mang theo một phần ước mơ của các nhân vật trong truy ện của Lý Văn Sâm" (40,344-345) Có lẽ đây là phần thưởng giá trị nhất đối với nhà

văn họ Lý Có thể nói ông và những "đứa con tinh thần" của mình đã hoàn thành sứ mệnh

cao cả của văn chương, của cuộc đời Điều này lưu ý người nghiên cứu Lý Văn Sâm về việc đánh giá và xác định vị trí của nhà văn sao cho đúng đắn

Năm 1987, hướng tới kỉ niệm 300 năm Sài Gòn, Trần Bạch Đằng có bài "Để tiến tới

có được một nền văn học ngang tầm thành phố trung tâm" trên báo Văn nghệ thành phố

Trang, Trang Thế Hy, Viễn Phương, Sơn Nam là những cây bút đã làm nên“chiều dầy”

của nền văn học thành phố

Cũng trong năm này, nhân dịp nhà văn Lý Văn Sâm tròn 65 tuổi, báo Văn nghệ Đồng

Hoài Kha đã lược ghi nội dung buổi tọa đàm trong bài “Trao đổi với nhà văn Lý Văn

học hỏi nghề, kinh nghiệm viết văn, những người viết trẻ đã đặt ra những câu hỏi và trao đổi

với nhà văn Lý Văn Sâm xoay xung quanh những vấn đề sau: kỷ niệm lý thú nhất trong đời

Trang 11

viết văn; lý do viết văn; những nguồn ảnh hưởng đến việc hình thành cây bút Lý Văn Sâm;

cuộc đời và quá trình sáng tác; một số đặc điểm về nội dung và nghệ thuật trong các sáng tác của Lý Văn Sâm

Năm 1988, trong Lời giới thiệu tập Ngàn sau sông Dịch (Nxb Trẻ và Hội Văn học

nghệ thuật Đồng Nai xb.), Thạch Phương đã phân tích khá sắc sảo "chủ nghĩa yêu nước"

trong một số sáng tác của tác giả Ngàn sau sông Dịch, từ đó khẳng định: "Trong điều kiện

"v ừa viết lại vừa lách", Lý Văn Sâm đã khôn khéo biểu dương tính chất chính nghĩa của

cu ộc kháng chiến của dân tộc, vạch trần tội ác và sự phỉ nghĩa của kẻ địch Dù miêu tả trực

ti ếp, hay sử dụng biểu tượng hai mặt, hoặc mượn câu chuyện lịch sử hay điển tích xa xưa để nói chuy ện bây giờ, Lý Văn Sâm luôn luôn biết bám chắc mảnh đất của chủ nghĩa yêu nước

để lí giải, ngợi ca hoặc phê phán." (40, 350) Đáng kể nhất là Thạch Phương đã lưu ý người

đọc về hoàn cảnh khó khăn của người cầm bút ở vùng tạm chiếm, từ đó đề xuất cách tiếp

nhận tác phẩm của Lý Văn Sâm: "Có đặt những trang viết giàu nhiệt tình về làng xóm, quê

hương, về cuộc kháng chiến của dân tộc, cùng những trăn trở của Lý Văn Sâm vào hoàn

c ảnh Sài Gòn tạm bị chiếm - nơi mà những trò bán nước đang được sơn phết lòe loẹt bằng

nh ững từ ngữ "quốc gia", "tự trị", nơi mà bộ máy chém chiến tranh tâm lý cùng đám bồi bút đang vẩy bùn nhơ vào chính nghĩa của cuộc chiến đấu chống giặc ngoại xâm của nhân dân

ta, thì ta m ới thấy hết giá trị và ý nghĩa của nó." (40,355)

Cũng trong năm 1988, trong “Bài viết nhân đọc tập Ngàn sau sông Dịch của Lý Văn Sâm” Sơn Nam, nhà văn Nam bộ nổi tiếng, sống và sáng tác cùng thời với Lý Văn Sâm, đã

kể về cuộc sống nghẹt thở, cực khổ về vật chất, bị khủng bố về tinh thần của người dân nơi vùng tạm chiếm nói chung và những người viết văn nói riêng, để từ đó khẳng định tài năng

và sự dũng cảm của nhà văn Lý Văn Sâm Sơn Nam đã dành cho Lý Văn Sâm những lời

thật trân trọng và một vị trí thật cao trong nền văn học nước nhà: "Nếu không có Lý Văn

Sâm, văn học ta chịu một thiệt thòi lớn, không gì bù đắp nổi." (40, 363)

Năm 1989, giới thiệu tác phẩm Mười lăm năm hận sử (Nxb.Trẻ), Nguyễn Văn Y

đánh giá Lý Văn Sâm là "Nhà văn từng một thời được tuổi trẻ hết sức ngưỡng mộ " và "về

truy ện ngắn, về loại truyện viết cho tuổi trẻ, Lý Văn Sâm quả là cây bút cổ giá trị vào bậc

nh ất lúc bấy giờ." (40,367)

Cũng như các nhà phê bình khác, Nguyễn Văn Y tiếp tục khẳng định tác phẩm của Lý

Văn Sâm chứa chan "tình yêu quê hương đất nước, nỗi xót xa ngậm ngùi cho thân phận con

Trang 12

người trong nghịch cảnh" (40,368) Đáng lưu ý là tác giả đã chỉ ra: "Dù Lý Văn Sâm có

dù ng văn chương để kí thác "nỗi lòng" hay để "tranh đấu" cho một lí tưởng, không bao giờ ông vi ết theo lối tuyên truyền, hô hào mọi người phải thế này, thế kia, ông không dùng lối văn thuần lí trí để dạy đời, để phân trần những điều bất như ý trong cuộc sống Dù ở những điều mang nội dung "tranh đấu", văn của ông cũng ít nhiều nhuốm màu lãng mạn, khơi dậy tình c ảm con người " (40,368) Riêng về mảng truyện đường rừng, Nguyễn Văn Y viết:

"Nh ờ sinh trưởng và sống lâu năm ở miệt rừng, cổ dịp thường xuyên tiếp xúc với đồng bào thi ểu số ( ) Đọc những "truyện đường rừng", "truyện phiêu lưu" của Lý Văn Sâm ta thấy

c ảnh thiên nhiên hoang dã hiền hòa của núi rừng hiển hiện với những con người miền núi

th ật chất phác, cần cù mà không kém can trường, dũng cảm." (40,368)

a xuân năm 1991, trên báo Văn nghệ Vũng Tàu - Côn Đảo, số ngày 23 - 4-1991,

Xuân Sách, một người rất hiểu Lý Văn Sâm, viết bài “Nhà văn Lý Văn Sâm” Bài viết có

những nhận xét xác đáng về tác phẩm của Lý Văn Sâm Chẳng hạn như nhận xét về mảng truyện đường rừng sau đây: "Lý Văn Sâm viết những truyện đường rừng gửi gắm những gì

anh quan sát và ấp ủ, những nhân vật mang dáng dấp anh hàng thảo khấu nhưng hành động lại mang tính cách của người Nam bộ trọng nghĩa khí, phảng phất tính huyền thoại dân dã nhưng cũng đậm nét hiện thực đời sống." (40,381)

Năm 1992, Tuyển tập Lý Văn Sâm (Nxb Đồng Nai) ra mắt bạn đọc Trong lời giới

thiệu, Bùi Quang Huy đã có cái nhìn khái quát về cuộc đời, con người, sự gắn bó sâu sắc

của nhà văn với quê hương và "hành trình văn chương" của Lý Văn Sâm Tác giả cho rằng

“Quá trình sáng tác c ủa Lý Văn Sâm cũng là hành trình của một trí thức tìm đến và hoạt động cách mạng” (40,373), đánh giá cao mảng viết về người trí thức: "Lý Văn Sâm trở thành m ột trong những cây bút hiếm hoi khắc họa nhiều gương mặt trí thức một cách chân

th ực và sinh động Ông vạch rõ cuộc sống quẩn quanh, vô vọng, vô vị của họ trong lòng chế

độ cũ mà vẫn nhìn thấy đấy là những người đêm đêm "thèm một ngọn đèn" rồi kích thích họ

"thoát ly" để "trở về" với "quê nhau rún" Cũng do hoàn cảnh đặc biệt, nhiều trói buộc của

cu ộc đời người trí thức vàng tạm chiếm, trong vãn chương Lý Văn Sâm được khúc xạ thành chuy ện "vợ bìu con ríu" cầm chân khách nam nhi” (40,375)

Báo Lao động Đồng Nai, số 192 & 193, ra ngày 1-5 & 8-5-1998, đăng bài "Những suy nghĩ vụn về một nhà vấn tiền chiến " của Lữ Quốc Văn Điểm lại những tác phẩm của

Lý Văn Sâm in trên Tiểu thuyết thứ Bảy , tác giả khẳng định Lý Văn Sâm "nhà văn miền

Nam c ộng tác lâu dài với Tiểu thuyết thứ Bảy của Vũ Đình Long" (40,396), nói như nhà văn

Trang 13

Sơn Nam thì lúc bấy giờ "Đăng bài ở Hà Nội, tức là kiểu tấn phong một nhà văn có tầm cỡ"

(40,361) Khảo sát tập truyện Kòn Trô, Lữ Quốc Văn nhận xét: “Toàn tập gồm 9 truyện

ng ắn xoay quanh bối cảnh: Rừng núi miền Đông Nam bộ Ngoài đỉnh cao-mây mù-thác nước còn cá sấu hung dữ; voi rừng phá làng có cung-nỏ và cả súng đạn Những huyền tho ại của rừng thẳm trải dài trong thời gian” (40,398) Điều đáng ghi nhận là tác giả đã có

một số phát hiện khá thú vị, chẳng hạn như "những thiên lệch rạch ròi" của nhà văn họ Lý

khi xây dựng nhân vật theo kiểu "tuyến nhân vật chính, với hình tượng đẹp, chỉ được vun

quèn cho nam gi ới" (40,402), "những nhân vật nữ của Lý Văn Sâm phải chịu đựng những thi ệt thòi" (40,403) Tuy nhiên, đôi chỗ một số phân tích về các nhân vật nữ trong Kòn Trô

của Lữ Quốc Văn chưa xác đáng, thiếu sức thuyết phục

Năm 1998, Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh , một công trình lớn có giá tri do

Trần Văn Giàu và Trần Bạch Đằng chủ biên (Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh năm 1988), ra mắt bạn đọc Ở chương "Văn học yêu nước công khai ở Sài Gòn trong ba mươi

n ấm cách mạng và kháng chiến" do các tác giả Tầm Vu, Nguyên Thanh, Viễn Phương, Hồ

Sĩ Hiệp, Trần Hữu Tá biên soạn, tên tuổi Lý Văn Sâm được nhắc đến nhiều lần ở các trang

388, 432, 463; nhiều tác phẩm của ông được kể tên Điều đó cho thấy các tác giả trân trọng

những đóng góp của cây bút yêu nước Lý Văn Sâm thời kỳ này, đặc biệt là giai đoạn chín năm kháng chiến chống Pháp 1945-1954

Năm 1999, nhà văn Lý Lan viết bài "Nhà văn Lý Văn Sâm úm được đứa con lưu lạc

năm mươi năm" đăng trên báo Sài Gòn giải phóng thứ bảy Trong bài viết, Lý Lan kể

những cảm xúc, suy nghĩ của mình về nhà văn Lý Văn Sâm và tác phẩm Sương gió biên thùy của ông Với cách nhìn hiện đại của một người viết văn trẻ, Lý Lan đã tìm thấy trong

Sương gió biên thùy "đầy dẫy những chì tiết độc đáo thú vị" và những "câu chuyên được

k ết cấu hiện đại" (40,421), từ đó rút ra kết luận: "Đối với bạn đọc trẻ bây giờ, có lẽ những truy ện ngắn của nhà văn Lý Văn Sâm vừa cổ điển vừa tân kỳ: Mới, vì những điều lạ lùng, thú v ị mà tác giả kể một cách hồn nhiên và cổ vì phảng phất không khí của thời hồng hoang

dã s ử Những câu chuyện ấy làm người ta quên ngay cụ già 80, mà chỉ thấy một thanh niên đầy hào khí Đồng Nai với những trang viết "tình rất chân, thần rất phóng khoáng".(40,422)

Cũng trong năm 1999, Nguyễn Đức Thọ có bài “Chuyện người thổi sáo ở Bến Xuân” đăng trên Báo Văn nghệ số 14, sau này được các tác giả biên soạn công trình Nhà văn Việt Nam th ế kỷ XX chọn in lại trong phần nói về tác giả Lý Văn Sâm Bài viết đánh giá cao

ệ thuật viết truyện của Lý Văn Sâm, cụ thể là cách phản ánh hiện thực: "Hiện thực trong

Trang 14

tác ph ẩm được phản ánh bằng chiều sâu tâm tưởng Lý tưởng cách mạng, lý tưởng đấu tranh vì độc lập tự do của dân tộc được ông kín đáo trình bày một cách thi vị để người đọc

t ự ngẫm, tự giác ngộ và tự nguyện đi theo tiếng gọi của đại nghĩa dân tộc." (84,546); "giọng văn riêng với cách biểu đạt tinh tế bằng thứ ngôn ngữ trau chuốt" (84, 548); cách đặt vấn đề

trong tác phẩm "khéo léo, kín đáo mà ý vị" Điểm đáng ghi nhận ở bài viết này, cũng như

bài viết của Lý Lan là không chỉ nói đến mặt nội dung tư tưởng mà còn chú ý đến mặt nghệ thuật trong những sáng tác của Lý Văn Sâm

Năm 2002, nhiều tin vui đến với bạn đọc yêu thích Lý Văn Sâm Sau một quá trình

sưu tập công phu, nhà nghiên cứu Bùi Quang Huy đã hoàn thành công trình Lý Văn Sâm toàn t ập, gồm 3 tập, tổng cộng 1613 trang in Ngoài ra, Bùi Quang Huy còn tập hợp những

bài viết tiêu biểu về Lý Văn Sâm in thành tập Trang sách hồng mở giữa đời hoa Điều

đáng trân trọng là anh đã dành nhiều tâm huyết tìm hiểu về cuộc đời và văn chương Lý Văn Sâm Từ nhiều nguồn tư liệu đáng tin cậy về Lý Văn Sâm, Bùi Quang Huy đã dựng lên một cách chân thực và sống động "chân dung một nhà văn" với mong muốn là "qua những

trang vi ết này, bạn đọc có dịp hình dung về một con người tài hoa đã sống hết mình trong

cu ộc đời đầy "sương gió"(40,9) Đặc biệt, trong phần "thếgiới nghệ thuật", trên cơ sở tìm

hiểu, phân tích một số tác phẩm tiêu biểu của Lý Văn Sâm (từ mảng truyện đường rừng đến truyện xã hội tranh đấu ở đủ các thể loại truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết, kịch ) ở cả hai mặt nội dung và nghệ thuật, Bùi Quang Huy đã đưa ra một số ý kiến thuyết phục Chẳng

hạn như nhận xét về giọng văn của Lý Văn Sâm sau đây: "Giọng văn của Lý Văn Sâm bao

gi ờ cũng là lời tâm tình, thiết tha, nồng nàn về quê hương, đất nước, về lẽ sống còn của dân

t ộc." (40,374), có thấy được sự gắn bó thiết tha của nhà văn với "quê nhau rún" mới cảm

nhận được điều này Riêng về mảng truyện đường rừng, trong bài viết "Thâm u và cao cả”,

Bùi Quang Huy đã đối chiếu truyện đường rừng của Lý Văn Sâm với các sáng tác đường

rừng của Lan Khai, Thế Lữ, Tchya để khám phá ra những nét riêng độc đáo đã tạo nên

"m ột chỗ đứng riêng" của ông trong thể tài này Có thể ghi nhận một số ý kiến rất đáng lưu

ý như:

- Lý Văn Sâm viết truyện đường rừng chính là "Ông sáng tác về cuộc sống của chính

b ản thân và những người chung quanh mình." (40,206)

- Mục đích sáng tác truyện đường rừng: "Ông tìm cách gởi gắm khát vọng, những đòi

h ỏi tự chính bản thân mình vào văn chương Khát vọng ấy là tự do, công lý , cuộc sống đầy tình nhân ái - nh ững điều mà xã hội thời bấy giờ không thể có được." (40,208)

Trang 15

- "Thiên nhiên là môi trường sống thật sự, đặc biệt luôn chan hòa ánh sáng và đầy

ch ất hùng tráng, nghĩa hiệp." (40,213)

- "Nhà văn tìm thây ở những "mã thượng giang hồ" hình bóng của những con người nghĩa khí, khát khao tự do, không cam chịu bất công Bởi vậy, về tính cách, những "mã thượng giang hồ" mà Lý Văn Sâm dày công xây dựng mang khí khái "Giữa đường dẫu thấy

b ất bằng mà tha" của những Lục Vân Tiên, Vương Tử Trực trong truyện thơ Nguyễn Đình Chi ểu" (40,219)

Có thể nói đây là một bước tiến trong việc tìm hiểu truyện đường rừng của Lý Văn Sâm

Bên cạnh các bài viết đã kể trên, trong chuyên luận này còn có một số bài của các nhà văn đã từng sống và làm việc với Lý Văn Sâm dưới dạng hồi ức, cảm nhận Tiêu biểu là các bài của Hoàng Văn Bổn, Khôi Vũ, Nguyễn Văn Bổng, Anh Đức, Phạm Thúy Nhân

Những bài viết này giúp ta hiểu thêm mối quan hệ giữa con người Lý Văn Sâm với tác

phẩm của ông

Năm 2004, Từ điển văn học-bộ mới ra đời, trong đó có mục từ "Lý Văn Sâm" (do nhà

nghiên cứu Trần Hữu Tá viết) Nội dung mục từ này đã khái quát khá đầy đủ về cuộc đời và

sự nghiệp sáng tác của nhà văn Lý Văn Sâm, trong đó có những nghiên cứu, đánh giá rất trân trọng về mảng truyện đường rừng

"Đề tài hấp dẫn người đọc nhất là các truyện đường rừng Khác với các nhà văn viết

lo ại truyện này trước năm 1945, Lý Văn Sâm dựng lại những cảnh mà ông rất quen thuộc,

nh ững con người mà ông từng gắn bó Ông có giọng kể bình dị, duyên dáng, xúc động Cốt truy ện thường giàu tính xung đột Ông chú ý lọc lựa chỉ tiết, rất đời thường nhưng ly kỳ, lôi

cu ốn

Nhân v ật trong Kòn Trô, Mười lăm năm hận sử, Xác Mu Mi trên núi đá , Răng Sa

Mát có khi mang dáng d ấp anh hùng thảo khấu nhưng hành động lại mang tính cách Hớn Minh, T ử Trực: ngay thẳng, ngang tàng, trọng nghĩa, có khi đậm chất hoang đường hư huy ễn nhưng vẫn gợi cho người đọc nghĩ về thực tại." (35,929)

Đồng thời, trong bài viết này, lần đầu tiên, vị trí của nhà văn Lý Văn Sâm trong văn

học Việt Nam được ghi nhận trong một công trình cấp quốc gia Từ điển văn học - bộ mới

Trang 16

đã đánh giá "Là một nhà văn miền Nam tiêu biểu của nửa cuối thế kỷ XX, Lý Văn Sâm đã

có đóng góp xứng đáng cho nền văn học dân tộc " (35,929)

Nhìn chung, các bài viết, các chuyên luận nêu trên dù đa số mới dừng lại ở các ý kiến,

nhận xét, nhận định tương đối khái quát, chưa phải là những công trình nghiên cứu kỹ lưỡng, đầy đủ, toàn diện về Lý Văn Sâm và sáng tác của ông (mảng truyện đường rừng lại càng ít được khảo sát hơn) nhưng ít nhiều đã chạm đến vấn đề mà luận văn đã đặt ra Với

tấm lòng biết ơn và trân trọng kế thừa thành tựu nghiên cứu của những người đi trước, chúng tôi xem đây là những gợi ý quí báu trong quá trình tìm hiểu tác phẩm của Lý Văn Sâm nói chung, mảng truyện đường rừng của ông nói riêng

4 Những đóng góp của luận văn:

Luận văn tập trung nghiên cứu truyện đường rừng của Lý Văn Sâm nhằm:

- Xác định các đặc điểm trên hai phương diện nội dung và nghệ thuật của truyện đường rừng Lý Văn Sâm

- Trên cơ sở đối sánh truyện đường rừng Lý Văn Sâm với các nhà văn đường rừng tiêu

biểu khác như Lan Khai, Thế Lữ, Tchya phát hiện những nét riêng độc đáo của Lý Văn Sâm ở thể tài này

- Hy vọng góp thêm tiếng nói khẳng định giá trị của ngòi bút Lý Văn Sâm, sự đóng góp của ông đối với văn học đô thị miền Nam giai đoạn 1945-1975 và đối với nền văn học nước nhà

5 Phương pháp nghiên cứu:

Xuất phát từ đặc điểm của đối tượng nghiên cứu và nhiệm vụ của luận văn, chúng tôi

vận dụng các phương pháp sau:

5.1 Phương pháp lịch sử: phương pháp này được vận dụng để tìm hiểu mối quan hệ

giữa nhà văn với thời đại, làm cơ sở để đánh giá vấn đề

5.2 Phương pháp thống kê: thống kê cụ thể số lần xuất hiện của các yếu tố nghệ thuật (chi tiết, hình ảnh, ngôn từ ) trong các tác phẩm đường rừng của Lý Văn Sâm, tìm hiểu ý nghĩa của những sự lặp lại đó, từ đó xác định các đặc điểm trên cả hai mặt nội dung và nghệ thuật của mảng truyện này

Trang 17

5.3 Phương pháp so sánh: Đặt nhà văn trong mối quan hệ đồng đại và lịch đại để vấn

đề được đánh giá khách quan hơn Đặc biệt là so sánh truyện đường rừng Lý Văn Sâm với

các nhà văn viết truyện đường rừng tiêu biểu khác để tìm ra những nét riêng của Lý Văn Sâm ở thể tài này

5.4 Phương pháp liên ngành: Vận dụng kiến thức của các ngành khoa học khác có liên quan (chẳng hạn như Dân tộc học, Xã hội học.) để nghiên cứu truyện đường lừng của Lý Văn Sâm

Ngoài ra, trong quá trình khảo sát chúng tôi còn sử dụng phương pháp phân tích - tổng

hợp để làm sáng tỏ vấn đề

6 Kết cấu của luận văn:

Ngoài phần dẫn nhập, kết luận và một số phụ lục, luận văn gồm ba chương chính

Chương 1: Vị trí mảng truyện đường rừng trong sự nghiệp sáng tác của Lý Văn Sâm

Chương này gồm hai phần:

1.1 Khái quát về sự nghiệp sáng tác cua Lý Văn Sâm

1.2 Vị trí của mảng truyện đường rừng trong sự nghiệp sáng tác cua Lý Văn Sâm

Chương 2: Con người và thiên nhiên trong truyện đường rừng của Lý Văn Sâm

Đây là một trong hai chương trọng tâm của luận văn, chúng tôi tập trung làm nổi bật

những vấn đề chính sau đây:

2.1 Đôi nét về hình tượng con người và thiên nhiên trong các truyện đường rừng giai đoạn 1930-1945

2.2 Hình tượng con người trong truyện đường rừng của Lý Văn Sâm

2.3 Hình tượng thiên nhiên trong truyện đường rừng của Lý Văn Sâm

Trang 18

Chương 3: Những đặc điểm nghệ thuật trong truyện đường rừng của Lý Văn Sâm

Chương này chúng tôi làm rõ những đặc sắc của truyện đường rừng Lý Văn Sâm qua nghệ thuật xây dựng cốt truyện, kết cấu, cách chọn tình huống nhân vật; nghệ thuật xây

dựng nhân vật, cách sử dụng yếu tố truyền kỳ và nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ mang đậm phong cách Nam bộ

Trang 19

CHƯƠNG 1: VỊ TRÍ MẢNG TRUYỆN ĐƯỜNG RỪNG TRONG SỰ

NGHIỆP SÁNG TÁC CỦA LÝ VĂN SÂM 1.1 Khái quát về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Lý Văn Sâm

1.1.1 Cuộc đời Lý Văn Sâm:

Nhà văn Lý Văn Sâm sinh ngày 17-2-1921 và mất vào ngày 14-9-2000 Ông sinh ra trong một làng nhỏ ở quê ngoại thuộc vùng rừng ở ấp Ông Lình, làng Tân Nhuận, quận Tân Uyên, tỉnh Biên Hòa (cũ) (Quận này nay là huyện Tân Uyên thuộc tỉnh Bình Dương) Đây

cũng là nơi "quê hương rừng thẳm sông dài" như nhà thơ - chiến sĩ Huỳnh Văn Nghệ từng

gọi Do người Việt lập làng khai phá muộn nên đến thời của nhà văn, nơi đây vẫn còn nhiều cánh rừng hoang vu, kỳ vĩ Quê nội của ông, làng Bình Long, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Biên Hòa (nay thuộc tỉnh Đồng Nai) cũng là một làng nằm giữa vùng rừng núi mà sau này sẽ là

một phần của Chiến khu Đ huyền thoại Một nhà văn đồng hương của Lý Văn Sâm là

Hoàng Văn Bổn miêu tả: "Từ trên cao nhìn xuống, làng Bình Long chúng tôi như một cái

bàu nh ỏ lọt thỏm giữa rừng đại ngàn miền Đông Nam Bộ, có con sông Đồng Nai như sợi

ch ỉ nhỏ vắt qua, bò, trườn từ Đồng Nai thượng, Lang Biang qua Cát Tiên, thác Trị An, ngã

ba Sông Bé xu ống ngã ba Bình Ninh -cù lao Mỹ Quới, xuống cù lao Thạnh Hội ,Bửu Long,

cà lao Ph ố và tuột ra biển cả" (6,59-60) Vùng đất miền rừng "địa linh sinh nhân kiệt" này

đã sản sinh cho văn học miền Nam thời hiện đại những nhà văn, nhà thơ có tên tuổi như các nhà văn Lý Văn Sâm, Bình Nguyên Lộc, Hoàng Văn Bổn, nhà thơ chiến sĩ Huỳnh Văn Nghệ

Cha của Lý Văn Sâm làm nghề kiểm lâm nên thuở nhỏ ông sống với cha mẹ trong

miệt rừng Những cảnh thiên nhiên của quê hương như thế đã in đậm dấu vết trong tâm hồn ông ngay từ thời thơ bé Trong các hồi ức của mình như Thâm u và cao cả, Mã Đà sơn cước,

Lý Văn Sâm đã từng nhắc đến nhiều kỷ niệm xúc động về quê hương thuở ấu thơ " Tôi lớn

lên ở trong rừng và mãi tới năm bảy tuổi mới được ra học ở trường tỉnh Trọn bảy năm, tâm

h ồn thơ dại của tôi đã thấm sâu bóng núi, hình cây, tiếng chim, lời suối." (41,206)

Ông học sơ học ở thị trấn Tân Uyên Khung cảnh thơ mộng với những cánh cò chớp

trắng của vùng quê nơi đây ương những buổi đi học như vẫn in đậm trong ký ức của ông

"tôi v ẫn thường ra đi một lượt với lũ cò Tôi cắp những cặp sách mỏng kèm theo một mo cơm nhão và đếm từng bước nhỏ trên những con đường rải đá son, theo vòng bán nguyệt

Trang 20

c ủa giồng nước lụt, giống như một nét viết chì đỏ và một nét viết chì xanh vẽ song song trên

nh ững trang giấy trắng thành hình một cái móng đóng trên trời Trưa tôi ở lại và ăn cơm dưới gốc nhãn trong sân trường Chiều, tôi về một lượt với đàn cò Không biết buổi sáng cò bay đi đâu mà chiều cò lại về đúng giờ đúng khắc quá." (41,12)

Nhiều năm trong tuổi thanh niên của Lý Văn Sâm cũng gắn bó với núi rừng như thời

kỳ thay cha làm chủ lò than ở giữa vùng rừng Mã Đà-Trị An, nơi mà từ lâu dân gian đã có câu truyền “Mã Đà sơn cước anh hùng tận” Trong tạp văn Mã Đà sơn cước, ông viết :

"Mã Đà vốn là quê hương lâu đời của những loài cây cổ thụ có tên và không tên, của những

v ạt rừng già mênh mông không vết chân người " (43,391) Tình yêu đặc biệt đối với quê

hương, cái duyên gắn bó với núi rừng như thế đã giúp nhà văn Lý Văn Sâm sau này viết nên

những trang văn đặc sắc miêu tả cảnh rừng núi hoang sơ, kỳ vĩ và cuộc sống của con người

miền rừng trong các tác phẩm của mình

Sau khi tốt nghiệp tiểu học ở quê, Lý Văn Sâm lần lượt học ở trường Trung học Pétrus

Ký (Sài Gòn), Hồ Đắc Hàm, Phú Xuân (Huế) Ở Huế, ông nhiều lần được gặp gỡ nhà chí sĩ cách mạng Phan Bội Châu, được học các thầy học nổi tiếng Hoài Thanh, Thanh Tịnh

Khoảng năm 1940-1942, Lý Văn Sâm yêu và cưới một người vợ tên là Tchô Phay, con

một vị Hương cả người dân tộc Châu Ro ở xã Túc Trưng, huyện Định Quán Sau vì hoàn

cảnh chiến tranh binh lửa, ông và Tchô Phay thất lạc tin nhau Mối tình này có ảnh hưởng

rất lớn đến cái nhìn của Lý Văn Sâm đối với người dân tộc thiểu số trong các truyện đường

rừng của ông

Lý Văn Sâm sớm đến với cách mạng qua sự tuyên truyền cua những người cộng sản đầu tiên của Đồng Nai như Phạm Văn Ký, Hồ Văn Đại, Hoàng Minh Châu, Nguyễn Văn Tàng, Nguyễn Văn Lành, những người mà Lý Văn Sâm gọi là các "anh lớn" Từ năm 1943, ông đã tham gia các hoạt động rải truyền đơn, tuyên truyền cách mạng ương thanh niên học sinh ở Biên Hòa Tháng 8/1945, ông đã tham gia cách mạng với tư cách là cán bộ Ban tuyên truyền Quận Châu Thành (đơn vị hành chính mới cua thị xã Biên Hoà) Năm 1946, khi Pháp

trở lại xâm lược Nam Bộ, ông bị Pháp bắt, quản thúc ở thị xã Bình Trước (nay là thành phố Biên Hòa) Sau khi ra tù, bị mất liên lạc với tổ chức, ông mới lên Sài Gòn tiếp tục làm báo,

viết văn với các bạn văn là những nhà văn, nhà báo yêu nước như Dương Tử Giang, Hoàng

Tấn và tham gia các hoạt động điệp báo của Công An Sài gòn- Chợ lớn trong lòng địch Ông lại bị chính quyền thực dân bắt, giam tại khám lớn Sài Gòn một thời gian ngắn Ba năm

Trang 21

này (1947-50) là giai đoạn sáng tác sung sức nhất của Lý Văn Sâm Năm 1950, trước nguy

cơ bị lộ, ông lại được rút ra chiến khu Năm 1954, sau hiệp định Giơnevơ, ông lại tiếp tục

nhận nhiệm vụ ở lại, hoạt động báo chí và văn nghệ trong phong trào đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ, tổng tuyển cử thống nhất đất nước Tháng mười một năm 1955, Lý Văn Sâm viết

một truyện ngắn có tên là Chuông rung trên tháp đổ (đăng trên tập san Xuân dân tộc, với

bút danh Bách Thảo Sương) Tác phẩm phê phán bóng gió nhưng quyết liệt chế độ Ngô Đình Diệm (1901-1963) Do đó, ông bị mật vụ chính quyền Sài Gòn bắt, tra tấn dã man và giam tại Trung tâm huấn chính Biên Hòa, tức nhà lao Tân Hiệp Đầu tháng mười hai năm

1956, ông tham gia lãnh đạo tù chính trị nổi dậy, cướp súng phá trại giam, thực hiện vụ phá

ngục Tân Hiệp nổi tiếng Thoát tù, Lý Văn Sâm chính thức ra hán Chiên khu, tiếp tục hoạt động cách mạng, tham gia lực lượng văn nghệ Giải phóng

Năm 1957, ông tham gia bộ đội giải phóng Những năm từ 1959 đến 1961, ông công tác ở Ban Tuyên huấn Trung ương Cục miền Nam, lần lượt đảm nhận các nhiệm vụ: chính

trị viên đoàn Văn công Giải phóng, Thư ký tòa soạn báo Văn nghệ Giải phóng, Vụ trưởng

Vụ Nghệ thuật (Bộ Văn hóa Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam) Năm

1962, Hội Văn nghệ giải phóng thành lập, Lý Văn Sâm được cử làm Tổng thư ký

Sau 1975, Lý Văn Sâm là Phó tổng thư ký Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam, ủy viên ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đại biểu Quốc hội (khóa 6)

và nhiều năm là Chủ tịch Hội Văn nghệ Đồng Nai Ông mất tại thành phố Biên Hòa

1.1.2 Sự nghiệp sáng tác của Lý Văn Sâm

Ngoài tên thật và cũng là bút danh là Lý Văn Sâm, nhà văn còn có các bút danh khác:

Văn Sâm, Huyền Sâm, Ánh Minh, Mộc Tử Lang, Bách Thảo Sương, Đào Lê Nhân

Nhà văn bắt đầu sự nghiệp sáng tác với truyện ngắn đầu tay Cây nhị trên sông Phố được đăng trên tờ Tiểu thuyết thứ Bảy (Hà Nội) năm 1941 Sau đó, ông còn viết một số

truyện ngắn khác đăng trên các báo trong Nam, ngoài Bắc từ năm 1941 đến năm 1945

Bốn năm hoạt động tại Sài Gòn (1947-50), Lý Văn Sâm viết và cho xuất bản khá nhiều Hai thể loại sở trường của ông là truyện ngắn và tiểu thuyết Các tập truyện ngắn nổi

tiếng: Ròn Trô (1949), Sương gió biên thày (1949), Ngoài mưa lạnh (1949) Những

truyện vừa và tiểu thuyết chính: Thù nhà nợ nước (1947), Mây trôi về Bắc (1947), Mười lăm năm hận sử (1947), Chiếc vòng ngọc thạch (1948), Sau đây Trường Sơn (1949),

N ắng bên kia làng (1949), cỏ mọn hoa hèn (1949), Sóng vỗ bờ xa (1949), Trong cơn ly

Trang 22

lo ạn (1949) v.v Nhiều tác phẩm trước khi in thành sách đã lần lượt đăng trên các báo Việt

bút, Văn hóa, Tiếng chuông, Lẽ sống v.v Những tác phẩm Lý Văn Sâm viết trong thời kỳ

chống Mỹ và sau ngày đất nước thống nhất được tuyển chọn in trong các tập: Bến xuân (tập

truyện và ký, 1982), Những bức chân dung (tập truyện và ký , 1983), Ngàn sau sông Dịch

(tập truyện và ký, 1988) Năm 2002, Nxb Tổng hợp Đồng Nai in Lý Văn Sâm toàn tập (3

tập, 1612 trang), gồm 40 truyện ngắn, li truyện vừa và tiểu thuyết, 15 tập ký, 20 tập văn và 3 bài thơ do nhà nghiên cứu Bùi Quang Huy sưu tầm, chú thích và giới thiệu

Nhìn chung lại sự nghiệp sáng tác của nhà văn, có thể thấy, Lý Văn Sâm là một nhà văn có sự nghiệp sáng tác văn chương khá phong phú trải trên một chiều dài lịch sử qua nhiều thời kỳ (thời kỳ thuộc Pháp, thời kỳ kháng chiến, thời kỳ sau giải phóng năm 1975) Tuy nhiên, ông sáng tác nhiều và khỏe nhất là trong khoảng những năm từ đầu thập niên 40 đến cuối thập niên 50 Hầu hết những tác phẩm quan trọng làm nên tên tuổi Lý Văn Sâm đều ra đời vào thời kỳ này

Trong sự nghiệp sáng tác của mình, Lý Văn Sâm viết về nhiều đề tài khác nhau, nhưng căn cứ vào nội dung tác phẩm, có thể tạm thời chia thành ba mảng đề tài là: mảng truyện đường rừng, mảng viết về cuộc sống đô thị, mảng viết về cuộc sống kháng chiến Hầu như ở

mảng nào ông cũng đều có những sáng tạo, những thành công đáng kể gây tiếng vang trong văn học đương thời Nhà văn Sơn Nam, người bạn văn đương thời của Lý Văn Sâm nhận

xét "N ếu không có Lý Văn Sâm, văn học ta chịu một thiệt thòi lớn, không gì bù đắp nổi."

(40, 363)

Trước khi nói về mảng truyện đường rừng của nhà văn, cần điểm qua mảng viết về

cuộc sống đô thị và mảng truyện kháng chiến Đây là những mảng sáng tác tuy đề tài có khác với mảng truyện đường rừng nhưng về tư tưởng và nghệ thuật có mối liên quan mật thiết, giúp chúng ta hiểu cái nhìn chung cua Lý Văn Sâm về cuộc sống và con người

Trong mảng viết về cuộc sống đô thị, Lý Văn Sâm thường viết về những chuyện thường nhật của những nhân vật tiểu tư sản thành thị, về cảnh cơ cực những người dân nghèo thuộc tầng lớp dưới đáy xã hội trong những truyện ngắn như Lạc loài, Mưa Sài Gòn,

Đây là môi trường quen thuộc gồm gia đình, bạn bè và bà con các khu lao động nơi tôi

Trang 23

thường đi lại hoặc ở trọ lâu ngày Và cả chính tôi nữa! Kinh nghiêm rút ra của tôi là: “viết

v ề môi trường và những người mình thân thuộc là dễ hay, dễ thành công hơn cả” (40,490)

Đặc biệt, trong mảng truyện này, chúng ta thấy hiện lên nổi bật nhất là cuộc sống chật vật,

khốn đốn từ vật chất đến tinh thần của những người trí thức thành thị nghèo Họ khổ không

phải chỉ vì kiếm sống vất vả, mà còn vì những cuộc bắt bớ, bố ráp, giam cầm xảy ra liên miên Nhân vật Huyền trong Thèm một ngọn đèn chỉ vì “bị tình nghi bạo động” mà anh

phải trải qua hai năm dài lao lý, khi được ra tù thì vợ con đói rách đã phiêu bạt về quê ngoại

Bản thân anh phải sống nhờ vào bè bạn, cũng là những người khổ cực không kém gì anh Ước mơ của anh là khi ra tù sẽ có một chiếc bàn và ngọn đèn để viết, thế mà mãi không

thực hiện được Nhiều chuyện khác viết về cuộc sống thực của người viết văn, làm báo thời

đó thực cảm động Họ viết trong cảnh túng quẫn bần hàn, trong cảnh vợ đói con khóc, trong

tiếng eo sèo của các chủ nợ Họ chết vì không có tiền mua thuốc lúc ốm đau Nhưng trong hoàn cảnh đó, họ vẫn phải đấu tranh với những cám dỗ vật chất để giữ “sắc đỏ trong lòng

người cầm bút” (Mẩu tâm tình của một cây bút) Trong mảng này cũng có những truyện

hay như Nắng bên kia làng, Tàn một đời thơ viết về những trí thức vì một lý do khách

quan nào đó đã phải “hồi cư” về thành, thậm chí có những trường hợp sa ngã, đánh mất bản

ngã, mất khát vọng nghệ thuật để chạy theo tiền tài vật chất Nhiều truyện diễn tả rất thật

những băn khoăn, trăn trở, xót xa của những con người phải sống cảnh “hàng thần lơ láo”

Những truyện ngắn như vậy, đã tạo một âm hưởng tố cáo, phê phán hiện thực xã hội đương

thời, vạch trần tội ác cua cuộc chiến do quân xâm lược gây ra

Có thể thấy, là người trong cuộc, nếm trải sâu sắc tất cả những cái gì mà nhân vật của ông trải qua, Lý Văn Sâm có một lợi thế rất lớn trong việc miêu tả các nhân vật tiểu tư sản trí thức vùng tạm chiếm Trong Từ điển văn học (bộ mới), nhà nghiên cứu Trần Hữu Tá

nhận xét: “Hiểu biết sâu sắc tâm trạng người trí thức trong vùng Sài Gòn tạm chiếm, ông

(Lý Văn Sâm) thể hiện một cách sinh động cuộc sống tù túng, bế tắc của họ” (35,929)

Bên cạnh đó, Lý Văn Sâm còn có những câu chuyện viết theo lối “biểu tượng hai

m ặt” phê phán mạnh mẽ tính chất bù nhìn của chế độ Ngô Đình Diệm Trong đó, truyện

đã khiến ông bị mật vụ chế độ Ngô Đình Diệm bắt vào tù

Trang 24

ngày khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng tháng Tám ở miền Nam, những ngày Nam Bộ kháng chiến đầy khói lửa, hy sinh mà cũng thật hào hùng Cái đặc biệt là đề tài

những truyện này hầu như đều hướng về những chuyện rất thời sự của cuộc sống kháng chiến lúc bấy giờ, nhưng vẫn được viết rất nghệ thuật Những tác phẩm như Nga và Thuần,

nói lách (để tránh sự kiểm duyệt cua địch ) đã phần nào xây dựng được hình ảnh những làng quê kháng chiến, con người kháng chiến, biểu dương, ngợi ca những anh bộ đội, chị du kích, người nữ cứu thương dũng cảm, tận tụy, những bà mẹ làng quê chăm sóc thương binh,

tử sĩ, những cuộc tiễn đưa người lên đường đi kháng chiến v.v Đặc biệt, trong mảng truyện này, đã có những truyện mà trong đó Lý Văn Sâm đã nêu cao lòng yêu nước, lên án

những kẻ theo giặc, phản bội giống nòi Như truyện Qua bến lạnh kể lại những hành động

dũng cảm của cô lái đò xinh đẹp tên Tiệp Đã hơn năm năm, cô yêu thương và chờ đợi một

người con trai đã đi khỏi làng để “gây lấy công danh” Nhưng khi người ấy trở về thì cô

mới biết thứ công danh mà người yêu mình theo đuổi là theo giặc, “đi ngược dòng lý

tưởng” Cô đã tìm cách “lật úp chiếc đò xuống nước”, “lấy sông làm mồ”, giết cả tiểu đội

lính giặc, trong đó có người mà cô đã từng một thời yêu thương và bị phản bội “Dòng sông

quê hương vẫn hai buổi lớn, ròng Nhưng không ai còn nghe tiếng hát thanh tao của cô lái

đồ tên là Tiệp Cô đã kết thúc đời mình dưới đáy sông cùng với gã tình nhân đã đi ngược dòng lý tưởng”(41, 463)

Qua mảng truyện này, hình ảnh của một cuộc chiến tranh nhân dân thời kỳ đầu cuộc kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ đã được phản ánh trong tác phẩm Lý Văn Sâm, giúp cho người dân thành thị hiểu đúng về chính nghĩa của cuộc kháng chiến, về con người kháng chiến Đó là đóng góp rất đáng quý của Lý Văn Sâm Có thể nói Lý Văn Sâm cùng lúc viết song song cả ba mảng truyện: truyện về đề tài cuộc sống thành thị, truyện kháng chiến và

Trang 25

truyện đường rừng Những mảng truyện này có liên quan mật thiết với nhau vì cùng thể hiện

thế giới quan và nhân sinh quan của nhà văn Trong điều kiện sáng tác văn học trong vùng

tạm chiếm, để tránh lưỡi kéo kiểm duyệt, Lý Văn Sâm đã vận dụng linh hoạt ưu thế của

từng mảng Chẳng hạn, có những hiện thực không viết được bằng hình thức trực diện, nhà văn sử dụng thể tài truyện đường rừng, nói bằng biểu tượng, để diễn tả được ý mình mà tránh được kiểm duyệt Đặc điểm này dẫn đến sự giao thoa giữa mảng truyện đường rừng và

mảng truyện kháng chiến ở nhiều truyện như Sương gió biên thùy, Vực thẳm, (trường

hợp nhân vật tham gia cuộc kháng chiến diễn ra trong bối cảnh rừng núi), Mũi Tổ, Ngày ra

đi (trường hợp nhà văn viết truyện kháng chiến nhưng dùng hình thức truyện đường rừng

có yếu tố truyền kỳ) Điều đó chứng tỏ mối quan hệ giữa các mảng truyện này là khá hữu

cơ, mật thiết

1.2 Vị trí của mảng truvện đường rừng trong sự nghiệp sáng tác của Lý Văn Sâm

Trước tiên, cần phải nói rõ rằng về khái niệm “truyện đường rừng”, trong văn học

Việt Nam nói chung và sáng tác cua Lý Văn Sâm nói riêng, còn nhiều vấn đề về mặt lý luận văn học cần phải mất nhiều công phu khảo cứu Nói như nhà nghiên cứu Bùi Quang Huy,

thì “truy ện đường rừng” là “khoảng trống về lý luận” Chính bản thân anh trong công trình

Trang sách h ổng mở giữa đời hoa đã có nhiều công phu điểm qua lịch sử cách gọi truyện

đường rừng và tìm cách hệ thống hoa khái niệm Theo đó, khái niệm “truyện đường rừng”

xuất hiện trong văn học Việt Nam khoảng từ những năm 30 của thế kỷ XX, với những tên

tuổi nổi tiếng như Thế Lữ, Lan Khai, Tchya, Phạm Cao Củng, Bùi Huy Phồn và “truyện

đường rừng” là một khái niệm mở Nó được dùng không thống nhất, có thể bị thay thế bởi

những cách gọi khác nhau, đôi khi ngay ở một người viết Trên cơ sở cố gắng tìm một cách

hiểu thống nhất, Bùi Quang Huy cho rằng “Tuy chưa ai định danh rõ ràng cho truyện

đường rừng nhưng tất cả các tác giả dường như cố qui ước ngầm khi nói đến những sáng tác thu ộc nhóm này Đó là những sáng tác văn xuôi lấy rừng núi, thiên nhiên hùng vĩ làm

b ối cảnh Ở đó, con người sống lẫn với ma quái và cổ những hành động hết sức dị thường Song qui ước ngầm này là hết sức lỏng lẻo Vì thế, trong thực tế luôn có sự lẫn lộn, thậm chí tùy ti ện trong việc định danh thể tài cho các tác phẩm như đã dẫn” (40,194) Đúng như tác

giả Bùi Quang Huy đã nói, đây chỉ là một quy ước ngầm trong cách hiểu về truyện đường

Trang 26

rừng, chưa thật chặt chẽ về mặt khái niệm Nếu áp dụng vào thực tế sáng tác của các nhà văn như Lan Khai, Lý Văn Sâm sẽ có một số điểm không phù hợp Vì có những truyện như

Ti ếng gọi của rừng thẳm, Suối Đàn, Hồng Thầu của Lan Khai hoặc Kòn Trô, Sương gió biên thù y, Voi đội đèn, Rồng bay trên núi Gia Nhang của Lý Văn Sâm hoàn toàn không

có yếu tố “con người sống lẫn với ma quái và có những hành động hết sức dị thường” Nó

cũng không đúng với bộ phận truyện đường rừng lấy lịch sử làm bối cảnh như Đỉnh non

th ần, Về nơi phố Cát của Lan Khai Định nghĩa này chỉ đúng với bộ phận truyện đường

rừng mang yếu tố truyền kỳ như Người lạ, Ma thuồng luồng, Đôi vịt con, Người hoa hổ

của Lan Khai, Thần Hổ Ai hát giữa rừng khuya cua Tchya, Thần Ngư Động, Xác Mu Mi trên núi đá, Răng Sa Mát của Lý Văn Sâm Đó là những câu chuyện thoát thai từ kho

tàng truyền kỳ của các dân tộc kết hợp với trí tưởng tượng của nhà văn Riêng về tiếp nhận

loại truyện này, đúng như Vũ Ngọc Phan đã nói về truyện đường rừng của Lan Khai “ta

không nên ngh ị luận về hư thực, không nên đứng về mặt khoa học để bài bác, ta nên đọc với

óc thơ mộng, pha chút huyền ảo của cổ nhân như khi đọc Liêu Trai của Bồ Tùng Linh vậy”

(83,903) Nếu xếp chung các loại truyện đường rừng vào một dạng, sẽ dẫn đến những cảm

nhận sai lệch về mục đích nghệ thuật của nhà văn

Trên cơ sở tiếp thu ý kiến của nhà nghiên cứu Bùi Quang Huy, và từ thực tế khảo sát

những sáng tác được coi là “truyện đường rừng” của Lan Khai, Thế Lữ, Tchya, Nhất Linh,

Thanh Tịnh, Lý Văn Sâm , chúng tôi mạo muội cho rằng, để xác định một câu chuyện có

phải là "truyện đường rừng" hay không, cần phải dựa vào các tiêu chí sau:

người sông ở vùng núi rừng

Dựa theo ba tiêu chí này, chúng ta sẽ nhận chân được các tác phẩm truyện đường rừng

của Lý Văn Sâm

Các sáng tác truyện đường rừng của Lý Văn Sâm về quy mô và dung lượng phản ánh

có nhiều loại: truyện ngắn, truyện vừa và cả tiểu thuyết Tuy nhiên, Lý Văn Sâm thành công

hơn cả là ở các truyện ngắn Bản thân ông cũng có lần tự nhận xét “Thể loại nào cũng có

Trang 27

giá tr ị như nhau Có điều viết không hay mà cố ý kéo dài thì dễ bị lộ khuyết điểm Có lẽ tôi

s ở trường truyện ngắn hơn” (40, 492)

Về mặt nội dung, các truyện đường rừng của Lý Văn Sâm cũng không đồng nhất Đây

là điều thường gặp ở các nhà văn viết truyện đường rừng, vì yêu cầu “lạ hóa” mà họ thường

mở rộng nội dung về nhiều hướng khác nhau để hấp dẫn độc giả Trong công trình nghiên

cứu Truyện đường rừng của Lan Khai, ông Trần Mạnh Tiến cho rằng truyện đường rừng

của Lan Khai có ba dạng “có loại nghiêng về phong tục, có loại thiên về lịch sử và có loại

truy ền kỳ (mang nhiều yếu tố kinh dị)” (113,528) Còn trong mảng truyện đường rừng của

Lý Văn Sâm, theo chúng tôi, cần có sự phân biệt giữa hai dạng Dạng thứ nhất là các truyện

đường rừng có yếu tố hiện thực như Kòn Trô, Sương gió biên thùy Dạng thứ hai là các

truyện đường rừng có yếu tố truyền kỳ bắt nguồn từ các câu chuyện truyền kỳ vùng Nam Bộ

hoặc truyện truyền kỳ cua các dân tộc Châu Ro, Châu Mạ, S'tiêng những dân tộc bản địa

sống trên địa bàn Đồng Nai như Răng Sa Mát, Thần Ngư Động, Ngấn rạch bắt sấu Còn

dạng các truyện đường rừng thiên về lịch sử thì Lý Văn Sâm hầu như không có Tuy ông có

viết một số truyện có bối cảnh lịch sử như Nửa mảnh ngân tiền, Trời như muốn sáng,

nhưng trong các sáng tác này, chỉ có yếu tố dã sử nổi rõ còn yếu tố đường rừng thì khá mờ

nhạt do các câu chuyện không hề chọn bối cảnh rừng núi như trong truyện của Lan Khai Trong quá trình khảo sát, cũng có thể thấy ranh giới giữa các dạng truyện trong sáng tác của

Lý Văn Sâm cũng khá uyển chuyển vì có những truyện gần như hoàn toàn mang yếu tố hiện

thực lại pha lẫn chút hương vị truyền kỳ để "lạ hóa" câu chuyện (như truyện ngắn Mũi Tổ

chẳng hạn, chỉ có chi tiết về lời thề của Cả Tiễn về Mũi Tổ là yếu tố truyền kỳ duy nhất); có

những câu chuyện mang dáng dấp truyền kỳ nhưng hạt nhân hiện thực lại rõ nét hơn (như câu chuyện Ngăn rạch bắt sấu, theo như hồi ký nhà văn cho biết, có cốt truyện gần như

hoàn toàn dựa vào một câu chuyện có thật là chuyện bà Chanh, vợ chủ đồn điền người Pháp tên là Oderra sống ở Biên Hoà hồi những năm 20-30 đầu thế kỷ, bơi thuyền đi chơi trên sông Đồng Nai bị Sấu đỏ mũi quật đổ xuồng ăn thịt) Có sự pha trộn giữa các yếu tố này cũng là một đặc điểm của truyện đường rừng, vì người ta thường có tâm lý tìm đến chuyện

đường rừng vì yếu tố “lạ” Đúng như Bùi Quang Huy nhận xét: “mất những chuyện kì lạ,

m ất không gian huyền hoặc và thời gian giàu chất hư ảo truyện đường rừng không còn là đường rừng nữa”.(40,199)

Trang 28

1.2.2 Khái quát về mảng truyện đường rừng của Lý Văn Sâm

Đây là mảng mà Lý Văn Sâm có nhiều truyện hay và thành công hơn cả Ông bước vào sáng tác truyện đường rừng từ những ám ảnh của bối cảnh rừng núi thâm li và cao cả

của quê hương mình, cũng như từ sự gợi ý của nhà văn Vũ Bằng khi đó đang là thư ký tòa

soạn của Tiểu thuyết thứ bảy Những tác phẩm cụ thể của ông trong tập Kòn Trô như Thần Ngư Động, Xác Mu Mi trên núi đá, Răng Sa Mát, Voi đội đèn, Ngăn rạch bắt sấu, Mũi

T ổ , các tập truyện ngắn, truyện vừa khác như Sương gió biên thùy, Sau dãy Trường Sơn, Chi ếc vòng ngọc thạch đều là những truyện đường rừng Nếu tính từ tác phẩm truyện đường rừng đầu tiên là Kòn Trô đăng trên Tiểu thuyết thứ bảy (Tháng 6/1942) đến truyện

vừa Một chuyện oan cừu viết vào năm 1954, Lý Văn Sâm có khoảng thời gian hơn 12 năm

viết truyện đường rừng Điểm đặc biệt là ông viết truyện đường rừng vào giai đoạn cuối của

thể tài này, khi trên toàn quốc gần như không còn ai viết truyện đường rừng nữa, nhưng vẫn được độc giả hoan nghênh Điều đó có lẽ xuất phát từ nội dung những câu chuyện đường

rừng của ông không đơn giản chỉ đem lại cho người đọc những hương vị của cảnh núi rừng hay những phong tục lạ, những chuyện lạ miền ngược như các tác giả khác đã làm mà lúc nào trong truyện của ông cũng có hơi thở của thời cuộc, của những ý hướng tranh đấu

Trong những truyện đường rừng có yếu tố truyền kỳ như Răng Sa Mát, Voi đội đèn, Ngăn rạch bắt sấu, Xác Mu Mi trên núi đá Lý Văn Sâm đã kể lại những câu chuyện

truyền kỳ độc đáo của các dân tộc thiểu số ở Đồng Nai cũng như của các lưu dân Việt đèn Đồng Nai khẩn hoang lập áp Qua những câu chuyện này, người ta thấy hiện lên quang cảnh

một vùng đất hoang sơ, dữ dội, nơi cả thiên nhiên và con người đều như còn mang nét hoang dã Song đồng thời, ông cũng chỉ ra rằng, trong những con người của núi rừng ấy,

vẫn tồn tại bao phẩm chất tốt đẹp như lòng dũng cảm, tình yêu thương sâu sắc đối với

những người thân yêu trong gia đình Giữa hoàn cảnh khốc liệt của rừng núi, con người trong tác phẩm truyện đường rừng vẫn đối xử với nhau thật nhân hậu, bao dung và cao thượng: con hy sinh vì cha, chồng thương vợ nên ngăn rạch bắt sấu Nhờ những truyện

ngắn đường rừng có tính truyền kỳ này của Lý Văn Sâm, người đọc đương thời đã có thể có cái nhìn chính xác hơn về thế giới tâm hồn con người miền rừng núi Nam Bộ, trong đó có đồng bào các dân tộc thiểu số

Mặt khác, trong những truyện đường rừng được viết trước 1945, ông thường xây dựng các kiểu nhân vật như Kòn Trô (Kòn Trô), Châu Phiên (Rồng bay trên núi Gia Nhang)

Mỗi người một hoàn cảnh, một số phận khác nhau nhưng đều là những người hùng cô đơn,

Trang 29

dũng cảm có thừa nhưng cũng đầy thất vọng về cuộc đời, trốn chốn phồn hoa đô thị mà tìm đến nơi rừng xanh núi đỏ, hy vọng có thể lập một cõi riêng có tự do như họ quan niệm

Những nhân vật này đáp ứng khát vọng về tự do, nhân nghĩa, về sự công bằng trong xã hội

của người dân trước Cách mạng tháng Tám Khi người dân Nam Bộ cùng nhân dân cả nước vùng lên giành độc lập tháng 8-1945, rồi ngay sau đó lại bước vào những ngày chiến đấu

chống Pháp ác liệt, chúng ta sẽ gặp lại những mẫu nhân vật ấy của Lý Văn Sâm nhưng trong

một tư thế khác Họ đang ở chiến khu ,trên đường hành quân, hay đang chiến đấu, truy đuổi quân thù Có khi, họ bị đặt vào những hoàn cảnh ngặt nghèo của cuộc chiến nhưng vẫn

sẵn sàng hy sinh không tiếc nuối vì chính nghĩa cách mạng, vì đất nước Những câu chuyện,

những nhân vật đó như là lời thúc giục đấu tranh giữ lấy độc lập, tự do cho Tổ quốc, bởi không có tự do của cả một dân tộc thì cũng sẽ chẳng có tự do nào cho mỗi con người Do

đó, mảng truyện đường rừng của Lý Văn Sâm không chỉ nhiều về số lượng mà còn có ý nghĩa xã hội, có chất văn học đậm đà, đã góp phần khẳng định chỗ đứng của ông trong lòng

bạn đọc toàn quốc lúc đó

Sự nghiệp sáng tác của Lý Văn Sâm đem đến cho nhà văn hai vinh dự Nói đến ông,

người ta nhớ ngay đến tên tuổi của một “nhà văn đường rừng” đất phương Nam, tên tuổi

một nhà văn tiêu biểu trong “nhóm nhà văn tranh đấu” trong văn học đô thị miền Nam giai

đoạn 1945 - 1955 Trong tương quan giữa ba mảng sáng tác: mảng truyện đường rừng,

mảng truyện đô thị và mảng truyện kháng chiến, mảng truyện đường rừng không phải là

mảng chiếm ưu thế về số lượng Thế nhưng nó lại có vị trí rất quan trọng Có thể nói đây là

mảng làm nên tên tuổi nhà văn, khẳng định vị trí của ông trong nền văn học nước nhà Nhà

văn Sơn Nam kể: “Lý Văn Sâm ra mắt rất sớm, cũng như trường hợp nhiều nhà văn, nhà

thơ thuộc thế hệ trước Năm 19 tuổi, truyện ngắn của anh được đăng trên Tiểu thuyết thứ

B ảy, Hà nội, năm 1941 Trong không khí văn chương bấy giờ, ở Nam kì thiếu tạp san chuyên v ề văn học, chỉ ở nơi “ngàn năm văn vật” mới có văn chương đứng đắn Đăng bài ở

Hà N ội Tức là kiểu tấn phong một nhà văn có tầm cỡ” (40,361) Một trong những truyện

ngắn mà Sơn Nam nhắc đến ở đây có sáng tác truyện đường rừng đầu tay của Lý Văn Sâm:

Kòn Trô Tuy nhiên, đâu chỉ bạn đọc lúc bấy giờ say mê và đánh giá cao Kòn Trô Năm

1999, trong bài “ Nhà văn Lý Văn Sâm tìm được đứa con lưu lạc năm mươi năm” đăng trên báo Sài Gòn gi ải phóng thứ bảy, nhà văn Lý Lan một lần nữa khẳng định: “một truyện

Kòn Trô cũng đủ để ông thành danh suốt đời ” (40, 420)

Trang 30

Điều này chứng tỏ Kòn Trô nói riêng, truyện đường rừng của Lý Văn Sâm nói chung

đã khẳng định được giá tri của mình qua sự thẩm định của thời gian

Nhìn lại toàn bộ những sáng tác của Lý Văn Sâm, có thể thấy dù viết ở đề tài nào, Lý Văn Sâm cũng kín đáo bộc lộ tư tưởng tranh đấu Bởi vì, Lý Văn Sâm trước hết là một nhà văn cách mạng Mảng truyện đường rừng cũng vậy, mặc dù đúng như nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Sâm nói “ đem ý hướng tranh đấu vào tác phẩm phiêu lưu, đường rừng là

vi ệc khó khăn”(40,308) Ngay từ tác phẩm đầu tay là Ròn Trô, qua hình ảnh nhân vật tướng

cướp Kòn Trô phản kháng với xã hội thực tại, vào rừng sâu lập một thê giới riêng, nhà văn

đã bộc lộ cái nhìn phản kháng xã hội Chính Lý Văn Sâm cho chúng ta biết “Còn về mặt

nh ận thức, đúng là trong quá trình viết, tôi có một số bạn bè khuyến khích Họ đề nghị tôi đưa một số ý mà họ cho là tiến bộ vào trong truyện Sau này, một số anh em đó là cán bộ lãnh đạo cướp chính quyền năm 1945 Ví dụ trong truyện ngắn Kòn Trô có hai nhân vật được đặt tên là Lành và Đại là do các anh Nguyễn Văn Lành tức Lưu Nam và Hồ Văn Đại

đã giúp cho tôi một số ý kiến đúng đắn để viết truyện này” (40,489) Và những truyện

đường rừng sau năm 1945 như Mũi Tổ, Sương gió biên thày, Tiếng rền trong rừng lạnh, Ngày ra đi , ngày càng bộc lộ rõ lí tưởng chiến đấu vì độc lập tự do của dân tộc Rõ ràng,

mảng truyện đường rừng đã góp phần tạo nên nhà văn tranh đấu Lý Văn Sâm Tìm hiểu

cuộc đời nhà văn, chúng ta có thể thấy một điểm khá thú vị Đó là những sáng tác truyện đường rừng đã phản ánh khá rõ nét quá trình trưởng thành về mặt tư tưởng cách mạng của

ông Nói như nhà nghiên cứu Bùi Quang Huy là “truyện đường rừng của Lý Văn Sâm là sự

b ắc cầu từ tinh thần lãng mạn đầy ý nghĩa nhân sinh đến với lí tưởng đấu tranh vì độc lập,

t ự do, dân tộc theo ánh sáng cách mạng của nhà vãn sau này” (40,373)

Kể từ sau truyện vừa Một chuyện oan cừu viết vào năm 1954, Lý Văn Sâm hầu như

không viết thêm tác phẩm truyện đường rừng nào khác Một phần có thể vì lúc này, hoàn

cảnh đất nước đang đặt ra nhiều vấn đề mới, cần một hình thức văn học phản ánh khác hơn

là truyện đường rừng (Cho nên, từ 1954 trở đi trên toàn quốc hầu như không còn ai viết truyện đường rừng, thị hiếu văn chương của người đọc có phần thay đổi) Nhưng có lẽ, lý

do chính là sau khi Lý Văn Sâm tham gia lực lượng văn nghệ Giải phóng ở Chiến khu Đ, ông phải sống trong một hoàn cảnh chiến đấu rất gian khổ với những nhiệm vụ cách mạng

mới Ông đảm trách nhiều công việc tuyên truyền phục vụ cuộc kháng chiến của Đoàn văn công Giải phóng, làm báo Văn nghệ Giải phóng, nên không còn thời gian dành cho công

việc sáng tác nữa, mặc dù, nhà văn từng tâm sự “trong lúc đang đánh Mỹ, ngay những lúc

Trang 31

ho ạt động căng thẳng, gay go nhất y có đêm tôi vẫn trằn trọc nghĩ tới công việc sáng tác,

nh ững trang viết bỏ dở ”(40,492) Ông đã đặt nhiệm vụ cách mạng lên trên hết Tuy

nhiên, những tác phẩm của ông, đặc biệt là truyện đường rừng cũng đủ để tên tuổi của ông

sống mãi trong nền văn học Việt Nam hiện đại

Trang 32

CHƯƠNG 2: CON NGƯỜI VÀ THIÊN NHIÊN TRONG TRUYỆN

ĐƯỜNG RỪNG CỦA LÝ VĂN SÂM 2.1 Đôi nét về hình tương con người và thiên nhiên trong các truyện đường rừng giai đoan 1930-1945

Hình tượng con người và thiên nhiên trong các truyện đường rừng giai đoạn

1930-1945 chỉ mới được xây dựng trước Lý Văn Sâm chưa lâu, nhưng so ra giữa các nhà văn đã

có sự cách biệt Một phần vì trước những năm 30, đề tài miền núi nói chung và hình ảnh con người miền núi nói riêng hầu như chưa được khai thác trong văn học Việt Nam Do cách

biệt về địa lý, phong tục, tín ngưỡng, nói đến miền rừng núi, thơ văn các thế kỷ trước thường khai thác khía cạnh lam sơn chướng khí, rừng thiêng nước độc:

Tắc đồ từng mãng tàng xà hổ

Bố dã yên lam tụ quỷ thần (Bụi rậm lấp nghẽn đường rắn cọp nấp Khói lam dăng đầy nội, quỷ thần nhóm họp )

(Qu ỷ môn quan - Nguyễn Du)

hoặc :

Quần phong dũng lãng thạch minh đào Giao hữu ư cung quyên hữu sào (Sóng vọt ra từ dãy núi reo vang trên đá , Giao long có hang, đỗ quyên có tổ )

(L ạng thành đạo trung-Nguyễn Du)

Cách nhìn đó vẫn ảnh hưởng cho đến tận những thập niên đầu thế kỷ XX Bấy giờ, các nhà văn như Thế Lữ, Tchya, Đái Đức Tuấn, Lan Khai bắt đầu đưa cảnh miền rừng, con

người miền rừng vào trong tác phẩm cua mình Với Thế Lữ, trong các tác phẩm Vàng và Máu (1934), Ba h ồi kinh dị (viết trước 1930, sau sửa chữa lại, in vào năm 1945), cảnh

đường rừng của các truyện của ông đầy bí hiểm: “Trong cái phong thổ hầm thiêng nước

độc, còn chứa chất không biết bao nhiêu sự dị thường lẩn quất ở trong bóng tối vòm cây, ở

Trang 33

d ải nước sâu váng xanh , ở những trận gió ồn ào như có rất nhiều thanh âm gở lạ” (Một

truy ện ghê gớm) (10,13) Còn các nhân vật miền rừng của ông dù là chủ khách trú, cô gái

Thổ đều gắn liền với những chuyện thật dị thường, ghê rợn Trong Ba hổi kinh dị, truyện

M ột truyện ghê gớm kể về nhân vật tên khách trú Lý Thạch, vì báo oán cho cha mẹ mà giết

người như ngóe, hành hạ phụ nữ như súc vật, khi bị bắt thì tự móc ruột tự vẫn, nghĩa là coi khinh từ sinh mạng của người đến sinh mạng của chính mình Trong truyện Tiếng hú ban đêm bà mẹ người Mán của nàng Mi Nàng vì con mà còn dữ hơn hổ Bà sẵn sàng giết cả Nong Khôn, tên người tình dám phụ bạc con bà Khi Mi Nàng bị hổ ăn thịt, bà vì báo thù cho con mà xông vào cuộc đối đầu với hổ cho đến khi cả hai cùng chết Trong Vàng và Máu có truy ện Một đêm trăng, nhà văn xây dựng hình ảnh cô gái Thổ giết ông Ba báo thù

cho chồng rồi lao mình xuống vực tự vẫn với những chi tiết miêu tả thật kinh dị “Nói xong ,

nó giang hai chân ra, cái mép váy đằng trước thẳng căng bởi hai ống chân hen thô và

tr ắng Một tay nó xách ông Ba đứng dậy, một tay nữa nâng ở ngang lưng Tôi toan dò bước đến gần thì đã thấy người con gái dướn mình văng cái thây xuống Rồi, không biết vì quá đà hay c ố ý, cả người con gái củng văng theo”(Một đêm trăng) (10,133) Bối cảnh rừng núi

của Thế Lữ là bối cảnh bí hiểm, rùng rơn Thế giới nhân vật của Thế Lữ là thế giới của

những xung đột về quyền lợi hay ái tình, âm mưu báo ân báo oán, tranh giành, chém giết Nhưng ít ra, các nhân vật của Thế Lữ còn ít nhiều thấp thoáng có bóng dáng con người thực

tại Đến các nhân vật của Tchya Đái Đức Tuấn trong Thần Hổ, Ai hát giữa rừng khuya thì từ phong cảnh đến các nhân vật miền núi đã bị đẩy lên đến mức huyền hoặc với những Thần

Hổ biến thành ông già tóc bạc ngồi giữa bầy ma nữ theo hầu, những ma trành dụ người cho

hổ ăn thịt, còn con người thì bị đè nặng dưới thuyết định mệnh như có số bị hổ vồ, số bị ma

giết Nói cho chính xác, thì “tác giả tiếp thu những cốt truyện truyền kỳ trong sách cũ , phối

h ợp với nhiều mẩu chuyện ly kỳ được lưu truyền trong nhân dân các huyện miền núi Thanh Hoa kho ảng ba bốn thập kỷ đầu thế kỷ XX, tạo nên một câu chuyện rùng rợn với không ít tình ti ết thần bí hoang đường Có thể coi đây là kiểu truyện phỏng truyền kỳ hiện đại ”

(10,147) Có thể nói, truyện đường rừng Thế Lữ, Tchya Đái Đức Tuấn chỉ mượn miền núi là

đề tài, còn về nội dung thì hầu như chỉ xuất phát từ chuyện truyền kỳ và tưởng tượng cua các nhà văn, một sự tưởng tượng khá xa rời thực tế và còn mang nặng định kiến về đồng bào các dân tộc thiểu số Trong các tác giả truyện đường rừng bấy giờ, chỉ có truyện của Lan Khai là phong phú nhất và ít nhiều có những bức tranh chân thực về con người và cuộc

sống miền núi Ngoài bộ phận truyện đường rừng có yếu tố truyền kỳ như Người lạ, Ma

Trang 34

thu ồng luồng, Người hóa hổ với những chi tiết kinh dị như con thuồng luồng từ hang sâu

chui lên cưỡng hiếp vợ một anh phù thủy người Dao, anh Mèo đen (H'Mông) có mẹ già tự nhiên hóa hổ “mất hết quần áo, toàn thân lông lá mọc đầy”, Lan Khai còn có những truyện

ngắn, tiểu thuyết nghiêng về miêu tả phong tục miền núi có nhiều chi tiết có tính hiện thực

như Hồng Thầu, Tiếng gọi của rừng thẳm , Suôi Đàn, Tiền mất lực, Rừng khuya

Trong các truyện này, có những nhân vật dù là người Kinh hay người các dân tộc khác đều giàu tình cảm yêu thương sâu sắc, sẵn sàng hy sinh vì tình yêu Như trong truyện Rừng khuya, đôi trai gái Thổ Mai Kham và Dua Phăn yêu nhau tha thiết, nhưng lại bị tên quan lang phá hoại, cuối cùng, để bảo toàn tình yêu, người con gái đã chủ động tìm đến người yêu của mình để dâng hiến phần đời trinh trắng nhất Đúng lúc đó kẻ thù xuất hiện, hai người lần lượt kết thúc đời mình bằng lưỡi dao oan nghiệt Tuy nhiên, cũng có đôi lúc Lan Khai quá đà, sa vào lối viết tự nhiên chủ nghĩa, miêu tả cuộc sống người dân tộc thiểu số

còn quá tăm tối, thậm chí man dã (như trong truyện Mọi rợ, nhân vật người anh Tùm Điang

loạn luân với cô em gái Tsina theo bản năng mà không có chút lý trí nào) Song rõ ràng, nhìn chung, ở mảng tiểu thuyết phong tục, truyện đường rừng của Lan Khai là loại truyện có nhiều yếu tố chân thực nhất và sinh động nhất về cuộc sống và con người dân tộc thiểu số phía Bắc

Sinh thời, có lần Lý Văn Sâm đã đánh giá Lan Khai là “nhà văn viết truyện đường

r ừng tiêu biểu nhất” (40,523) Không biết ông chịu ảnh hưởng những tác phẩm cụ thể nào

của Lan Khai, nhưng cách nhìn cuộc sống rừng núi, cách xây dựng nhân vật của ông ít nhiều gần gũi với những tác phẩm kể trên cua Lan Khai Điểm khác là ở chỗ, thế giới rừng núi mà ông miêu tả, các nhân vật mà ông xây dựng trong những truyện đường rừng của mình lại là những cảnh, những người của miền rừng núi Đông Nam Bộ cho nên mang

những nét riêng Nhà phê bình Thế Phong đánh giá : “Sau Lan Khai, nhà văn thiên về

truy ện đường rừng, Thế Lữ với Vàng và máu, bây giờ chúng ta thấy có Lý Văn Sâm đi sâu

vào vi ệc khai thác tâm lý hình tượng sống người miền rừng Nam bộ.” (40,280)

2.2 Hình tượng con người trong truyện đường rừng của Lý Văn Sâm

2.2.1 Hình tượng người anh hùng nghĩa hiệp

a xuân năm 1991, trên báo Văn nghệ Vũng Tàu - Côn Đảo, số 23-4-1991, Xuân

Sách viết: “Lý Văn Sâm viết những truyện đường rừng gửi gắm những gì anh quan sát và

ấp ủ, những nhân vật mang dáng dấp anh hùng thảo khấu nhưng hành động lại mang tính

Trang 35

cách c ủa người Nam bộ trọng nghĩa khí, phảng phất tính huyền thoại dân dã nhưng cũng đậm nét hiện thực đời sống” Rõ ràng, ấn tượng đầu tiên rõ nét nhất về những nhân vật

trong truyện đường rừng của Lý Văn Sâm là nét tính cách anh hùng nghía hiệp

2.2.1.1 Tính cách nghĩa hiệp ở những con người này trước hết thể hiên ở khát vong muôn giúp đời xây dựng một xã hôi tự do công bằng, ở đó con người sống một cuộc đời thanh sạch, giàu nghĩa tình

Ngay từ tác phẩm đầu tay là Kòn Trô, Lý Văn Sâm đã dựng nên hình ảnh nhân vật

Kòn Trô, tuy mang danh là tướng cướp nhưng thực sự là một con người giàu tính nghĩa

hiệp, khao khát tự do và công bằng Anh ta muốn xây dựng một xã hội thanh bình “Bọn

chúng tôi tr ồng khoai, cấy lúa , gieo bắp , gây riêng một thế giới phóng khoáng, xa hẳn gió

b ụi chốn thị thành” (41,216) Trong quan niệm của Kòn Trô có những điểm rất lạ so với các

nhân vật truyện đường rừng của các tác giả khác Các nhân vật của Thế Lữ tìm đến thế giới

rừng núi để phiêu lưu, để tìm những kho báu bí mật hay làm những chuyện kinh thiên động địa thể hiện tài năng thể lực hoặc trí tuệ của mình Và họ đối xử với nhau tàn nhẫn, theo

kiểu mạnh được yếu thua Các nhân vật của Lan Khai thì hoặc chém giết ăn thua đủ trong

những chuyện trả thù báo oán (các tiểu thuyết lịch sử đường rừng), hoặc đến với rừng núi để

theo đuổi tình yêu với một bóng hồng, một bông hoa rừng nào đó (Tiếng gọi nơi rừng

th ẳm, Suối Đàn ) Đối với họ, rừng núi chỉ là nơi để săn bắn giải trí (nhân vật Hoài Anh trong Ti ếng gọi nơi rừng thẳm) Khi bị bắt buộc phải ở lại một thời gian lâu trong một

khung cảnh đời sống khá yên ổn của những bộ tộc miền núi, họ thấy rất đau khổ vì mất tự

do và bị bó buộc, tìm cách trốn thoát (truyện Hồng Thầu ) Còn nhân vật của Lý Văn Sâm

thì ngược lại, tìm đến với rừng núi để tìm tự do, mà trước hết để làm được điều đó, họ phải góp phần xây dựng một xã hội thanh bình giữa rừng núi bằng chính sức lao động của mình

và mọi người Nhân vật Kòn Trô “gây riêng một xã hội phóng khoáng, xa hẳn gió bụi chôn

th ị thành” Và cái cách thức để chàng tạo một cõi riêng ấy cũng chỉ là: “trồng khoai, cây lúa, gieo b ắp”, là “sống một cuộc đời lương thiện như những kẻ nông dân” chứ không phải

cướp bóc, chém giết, dù dưới tay chàng là hơn một trăm người “toàn là những người Châu

M ạ (Tcau ma) gan dạ và đanh thép” Kòn Trô không phải là trường hợp cá biệt Trong

R ồng bay trên núi Gia Nhang, có hình ảnh Châu Phiên, người thủ lĩnh trẻ tuổi của các bộ

tộc vùng núi với những hành động nghĩa hiệp, nhưng trước hết là những hành động góp

phần xây dựng một xã hội thanh bình, công bằng trong vùng dân tộc mà nhà văn hết lời ca

Trang 36

ngợi “Châu Phiên không phải là một tên lục lâm cường đạo Châu Phiên không phải là một

người tầm thường mà bất cứ một kẻ thường nhân nào cũng có thể gần được Châu Phiên là

m ột ngôi sao sáng giữa một vùng sơn lâm, quanh năm khói ám Châu Phiên là một vị thần

c ứu tinh của một bọn đồng chủng bịnh hoạn Châu Phiên là ông hoàng trẻ tuổi đã cầm ngọn đèn dẫn đạo cho đám đồng chủng nhiều mê tín Châu Phiên đã đánh tan sự khinh bỉ của

b ọn người ở thành đối với thổ dân miền trên mà họ quen gọi là người Mọi: những người

r ừng hôi hám, đầu bù như ổquạ, mắt toét và mình mẩy ghẻ chốc quanh năm” (41,316)

Châu Phiên có những khát vọng về cuộc sống phóng khoáng, tự do “Gã con trai ấy sanh đẻ

gi ữa một vùng thiên nhiên phóng khoáng nên rất yêu những khung cảnh rừng núi tự do

Kh ỉ trở về nơi chôn nhau rún, Châu Phiên liền mộ dân lập ấp , cày ruộng, trồng ngô sống

m ỗi cuộc đời riêng biệt” (41,322) Châu Phiên còn có những hành động cụ thể để xây dựng

một cuộc sống ổn định cho người dân sóc Mỹ Trà “Châu Phiên mở trường dạy học, dạy

dân mua, bán và b ỏ lần hết những cổ tục phiền phức Trong quãng thời gian ấy, Châu Phiên đã làm một quyển sách dạy người Kinh nói thổ âm và dạy thể dân chữ Việt Nam và

ti ếng Pháp”.(41,322) (Ở một khía cạnh nào đó, đây chính là những ước mơ cua Lý

VănSâm Đặc biệt, trong cuộc đời thực của Lý Văn Sâm còn có một chi tiết rất giống với

những gì ông mô tả trong cuốn truyện này Cụ Năm Nổi, Già làng người Châu Ro ấp Lý

Lịch, xã Phú Lý, huyện Vĩnh cửu kể: Vào năm 1956, sau khi vượt thoát khỏi ngục Tân

Hiệp, trong thời gian ẩn nấp tại ấp Lý Lịch của đồng bào Châu Ro, giữa hoàn cảnh trốn tránh sự truy lùng gay gắt của Mỹ ngụy, Lý Văn Sâm đã dạy chữ quốc ngữ cho vợ chồng ông )

Trong truyện ngắn Sương gió biên thùy, Lý Văn Sâm viết vào năm 1948, ta lại một

lần nữa bắt gặp hình ảnh những ước mơ này trong khung cảnh làng Thanh Sơn, “mọí làng

Mọi nằm giữa những khu rừng rậm nhất của hai quận Đồng Nai và Sông Bé” (Trong thực

tế, hiện nay vẫn có một vùng đồng bào dân tộc Châu Ro tại xã Thanh Sơn, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai) Trong truyện, nhân vật Phong nói với Rosée, cô gái Pháp được anh ta

cứu khỏi tay quân Nhật: “ Khi người ta không bằng lòng sống cuộc đời nô lệ, tức khắc

người ta phải tìm phương giải thoát Gần bốn năm nay, tôi sống xa hẳn người đời Tôi lập

m ột cõi giang sơn riêng và mặc sức vẫy vùng như chim trời cá nước Tôi không nhìn nhận

m ột pháp luật nào cả khi mà nước nhà tôi còn trong tay kẻ khác” (41,341) Trong cái xã hội

tự do đó, tất cả đều bình đẳng “Ở đây không có sự hơn kém địa vị, không có giai cấp làm

cho người này cách biệt hẳn người kìa Chỉ có những người sống ngang nhau, sẵn sàng

Trang 37

chia s ẻ cơm áo cho nhau và sẵn sàng chết vì nhau nếu cần” (41,341) Tất nhiên ở đây có

những tư tưởng của người cách mạng Lý Văn Sâm lúc này đã tham gia hoạt động kháng chiến bí mật trong nội thành, có một thực tế cuộc sống như thế đã hình thành trong các vùng kháng chiến chiến khu Đ ở Lý Lịch, Bù Chấp, sóc Bom Bo Nhưng rõ ràng, đây là sự tiếp

nối hữu cơ những mơ ước về một xã hội thanh bình, tự do và công bằng mà Lý Văn Sâm đã xây dựng trong tâm tưởng từ trước Cách mạng Tháng Tám Đây là những chi tiết không thể

gặp trong bất cứ truyện đường rừng nào của các tác giả khác Như vậy, với Lan Khai, Thế

Lữ, Đái Đức Tuấn, cuộc sống rừng núi hoặc là chốn bí hiểm, man rợ, hoặc là nơi không thể

cải hoa được Còn với Lý Văn Sâm, đó là nơi mà các nhân vật cua ông có thể xây dựng nên

một thế giới thanh bình, tự do và công bằng, dù chỉ là trong một phạm vi nhỏ, một sóc, một làng nào đó Đó là điểm rất khác của truyện đường rừng Ly Văn Sâm

nghĩa gắn liền với tình yêu Tố Quốc

Các nhân vật trong truyện đường rừng cua Lý Văn Sâm đều tràn đầy tinh thần nghĩa

hiệp trọng nghĩa khinh tài, sẵn sàng xả thân vì việc nghĩa không đợi đền đáp Trong giai đoạn trước 1945, đó là hình ảnh Kòn Trô cứu Thể Phụng, chàng thủ lĩnh Châu Phiên không

ngại khó, khổ để giúp những người dân miền núi, từ việc cứu họ thoát khỏi bệnh ngứa đến

việc đốt lửa ở hang Dơi để tạo ra cảnh Rồng bay về núi Gia Nhang, giải tỏa tâm lý sợ sệt

thần linh giáng họa của những người dân miền núi còn mê tín Chàng thợ săn trong truyện

Voi đội đèn sẵn sàng đối mặt với bầy voi dữ để bảo vệ mùa màng cho dân lành Họ làm

việc nghĩa như một nhu cầu tự thân, có khi như để thể hiện khí phách kẻ làm trai Đến giai đoạn sáng tác sau năm 1945 của Lý Văn Sâm, tinh thần nghĩa hiệp của các nhân vật trong truyện đường rừng của ông có sự phát triển Trong nhiều truyện lấy bối cảnh sau ngày 23 tháng 9 năm 1945, ngày Nam Bộ kháng chiến, tác giả diễn tả tinh thần nghĩa hiệp của nhiều nhân vật, trong nhiều trường hợp, gặp gỡ với tình yêu Tổ Quốc Đó là nét riêng của truyện đường rừng Lý Văn Sâm Các tiểu thuyết đường rừng của các tác giả khác đều nói nhiều đến các trận đánh đẫm máu, đến cái chết Song, mục đích của những trận đổ máu đó thường

là để giành giật một kho báu, phục vụ cho những âm mưu cát cứ mộng bá đồ vương hoặc trả thù cho dòng họ của một ai đó Còn với các nhân vật cua Lý Văn Sâm, do bối cảnh của đất nước đã thay đổi, cuộc kháng chiến chống Pháp đang diễn ra ngay trong những ngày nhà văn viết tác phẩm, bản thân ông cũng tham gia vào một phần của các biến cố đó cho nên

Trang 38

nhân vật trong truyện đường rừng của ông lại được diễn tả trên cái nền của cuộc kháng chiến Đó là một hoàn cảnh đầy thử thách, buộc con người phải bộc lộ đầy đủ những phẩm

chất và lý tưởng của mình qua hành động Do hoàn cảnh viết trong lòng địch, nhà văn không có điều kiện để diễn tả nhiều về lý tưởng của nhân vật Nhưng, những hành động của

họ lại nói lên được rất nhiều Đó là những hành động nghĩa hiệp và cái đích của nó là hướng

về cống hiến cho non sông, đất nước Phong trong Sương gió biên thùy, Cả Tiễn trong Mũi

T ổ, anh Tư lục lộ trong truyện Tiếng rên trong rừng lạnh , Trực trong truyện Ngày ra đi,

mỗi người đều có một cuộc sống riêng, một cách hành động riêng trong những thời điểm khác nhau cua cuộc kháng chiến nhưng mẫu số chung của những hành động đó là tính nghĩa

hiệp và tinh thần hy sinh cho Tổ Quốc Nhân vật Phong (Sương gió biên thùy) thời thuộc

Pháp cứu nàng Rosée, cướp xe lương của quân Nhật chia cho người dân, sau Cách mạng tháng Tám lại trở thành một viên chỉ huy quân cách mạng kháng chiến chống quân xâm

lược Pháp, lúc nào cũng sẩn sàng vào sinh ra tử vì chính nghĩa Còn Cả Tiễn trong Mũi Tổ,

trong hoàn cảnh cần phải giúp những người kháng chiến tiêu diệt một tên lính Ấn bằng cung tên để bảo đảm bí mật, dù biết rằng nếu bắn hắn sẽ phạm vào Mũi Tổ (điều cấm kỵ không được bắn vào mắt kẻ thù), nhưng vẫn sẵn sàng chấp nhận và bị địch bắt, đánh mù mắt

Những lời nói cuối cùng trước khi Cả Tiễn bắn Mũi Tổ cho thấy tinh thần nghĩa hiệp của

anh “ Đây có lẽ là mũi tên cuối cùng, chấm dứt cái tài thiện xạ cua tôi Nhưng tôi không

ng ần ngại gì mà không hy sinh cho đại cuộc Vâng! Tôi đã dành một mũi tên cho Tổ Quốc Nay là lúc tôi dùng nó v ậy” (41,306) Trong cái thời “nóp với giáo mang ngang vai, nhưng thân trai nào kém oai hùng” (l ời bài hát Nam Bộ kháng chiến), tinh thần nghĩa hiệp của

Phong, của Cả Tiễn tiếp nối tinh thần nghĩa hiệp của những Lục Vân Tiên, Vương Tử

Trực, Hớn Minh trong văn học quá khứ, và cũng sẽ gặp gỡ với hình ảnh những Võ Tòng

phương Nam trong Đất rừng phương Nam của Đoàn Giỏi sau này

Điểm đặc biệt là tinh thần nghĩa hiệp ấy không phải chỉ nằm trong những người anh hùng, giang hồ mã thượng có hành tung kỳ bí, tài năng hơn đời như Cả Tiễn, như Phong

mà ngay cả những người bình thường, trong một hoàn cảnh thử thách nào đó, cũng bộc lộ

phẩm cách anh hùng nghĩa hiệp Như anh Tư lục lộ, người dân quân trong Tiếng rên trong

r ừng lạnh, được tác giả đặt vào một hoàn cảnh hiểm nghèo của những ngày đầu Nam Bộ

kháng chiến “Năm kia, khi khói lửa mới nổi lên trên đất nước này, có những dân quân rất

can đảm lăn vào cái chết mà họ bảo là những cái chết vinh diệu” (41,421) Đoàn dân quân

kháng chiến phá cầu và rút lui, phía sau là tiếng xe thiết giáp, tiếng súng truy đuổi của quân

Trang 39

Anh -Ấn Thế nhưng, khi nghe tiếng khóc của mẹ con một người dân bị sót lại bên kia cầu

thì “m ột người đàn ông đứng lại Đó là anh Tư lục lộ Anh nói với các bạn : “Các anh cứ

ch ạy đi! Tôi phải cứu mẹ con nhà này mới được! Tôi, rủi có bề nào, xin anh em đùm bọc vợ con tôi.” (41,421) Và cuối cùng, tuy cứu được mẹ con người đàn bà chạy nạn qua chiếc cầu gãy, nhưng anh đã bị kẹt chân chết giữa cầu Một năm sau, khi trở lại cánh rừng già ấy, người ta chỉ còn thấy nắm xương khô treo lỏng lẻo giữa hai khúc ván cầu chưa kịp rời nhau Tính nghĩa hiệp ở đây đã nâng đến mức cao nhất: biết là nguy hiểm nhưng anh Tư lục lộ đã

chấp nhận cái chết để cứu những người không quen biết Đó cũng là tinh thần của hàng vạn thanh niên miền Nam đã đứng lên “tham gia phong trào chống xâm lăng”(Mũi Tổ), “cầm

súng chi ến đấu vì sự sống còn cua Đất Nước”(Ngày ra đi ) Khi bị sa vào tay giặc, họ hiên

ngang chấp nhận chết vinh hơn sống nhục, không chịu đầu hàng giặc (Việt trong Đường vào x ứ Thục) Nhiều chiến sĩ đã ngã xuống trong cuộc chiến đấu không cân sức, anh dũng

chấp nhận cái chết vì Tổ Quốc như Trực (Ngày ra đi), Thọ (Đờn Chìn Kha la) Viết về cái

chết của những con người như thế, nhà văn dành những lời thật trang trọng: “Sống, em là

m ột vị anh hùng của Đất Nước Chết, em là một vị thần lỉnh của Sông, Núi Ngàn năm sau

s ử vàng của dân tộc còn mãi tên em” (Ngày ra đi)

mang những nét tính cách anh hùng nghĩa hiệp như vây?

Tinh thần trọng nghĩa khí của các nhân vật trước hết xuất phát từ đặc điểm của vùng

hiện thực mà nhà văn phản ánh So với người miền rừng phía bắc, người miền rừng Nam Bộ

có những đặc điểm riêng Đất Gia Định - Đồng Nai được Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu cảnh đặt cương giới trên bản đồ Đại Việt vào năm 1698 Cư dân ở đây một bộ phận là con cháu

của những lưu dân đất Việt vào khoảng thế kỷ XVI, XVII vào Nam khẩn hoang để khai phá vùng đất mới Ca dao Nam Bộ có câu:

Chèo ghe s ợ sấu cắn chưn

Xu ống bưng sợ đỉa, lên rừng sợ ma

Cuối thế kỷ XVIII, cảnh ở đây còn là rừng núi thâm u Lê Quý Đôn viết trong Phủ biên t ạp lục: “Ở phủ Gia Định, đất Đồng Nai, từ các cửa biển Cần Giờ, Lôi Lạp, cửa Đại,

c ửa Tiểu đi vào, toàn là rừng núi hàng ngàn dặm” Còn Trịnh Hoài Đức viết trong Gia

Định thành thông chí: “Xứ này nhiều cá sấu và cọp dữ” Ở nơi “dưới sông sấu lội, trên

Trang 40

r ừng cọp um”, phải sống và tranh đấu với thiên nhiên hoang dã “sáng phá sơn lâm , chiều đâm Hà Bá”, người miền rừng Nam Bộ đã sớm hình thành tính cách ngang tàng, khí khái,

hiệp nghĩa, mang tinh thần “tráng sĩ miền Đông”, mã thượng giang hồ Họ trọng nghĩa khí,

thích làm chuyện nghĩa, nói chuyện nghĩa “nhớ câu kiến ngãi bất vi, làm người thế ấy cũng

phi anh hùng” (L ục Vân Tiên) Chính vì vậy, trong văn học miền Nam trước đó, ta đã thấy

xuất hiện nhiều mẫu nhân vật nghĩa hiệp theo kiểu “giữa đường dẫu thấy bất bằng mà tha”

như những Lục Vân Tiên, Hớn Minh, Vương Tử Trực trong truyện thơ của Nguyễn Đình Chiểu, cậu Hai Miêng trong truyện thơ Cậu Hai Miếng, một số nhân vật trong các tiểu

thuyết Hồ Biểu Chánh như Chúa tàu Kim Quy , Ngọn cỏ gió đùa Một bộ phận cư dân khác

ở Đông Nam Bộ là đồng bào các dân tộc thiểu số bản địa như Châu Mạ, Chơ Ro , S'tiêng sinh sống rải rác ở trong các buôn sóc trong rừng núi hẻo lánh, có kho tàng văn hóa riêng,

có truyền thống bất khuất Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, đồng bào các dân tộc này

đã sát cánh cùng người Việt chiến đấu chống Pháp Đặc biệt là những cuộc nổi dậy của đồng bào S'tiêng, Chơ Ro, Châu Mạ ở vùng Biên Hòa vào những năm đầu cuộc kháng chiến

của nhân dân ta chống thực dân Pháp 1862, 1863 chống cuộc càn quét của đạo quân do tên quan năm Coquet và Loubère chỉ huy Gần thời Lý Văn Sâm nhất, tháng lo năm 1931, một tên quan cai trị thực dân Pháp là Morère và một số lính đã bị đồng bào S'tiêng phục kích

giết chết (Theo Phan Lạc Tuyên, Nghiên cứu và điền dã, Nxb Trẻ, Tp HCM, năm 2000)

Nhà vẫn sống ngay giữa những cảnh và người ấy, ghi nhận và phản ánh tinh thần nghía hiệp

có thực ấy, chứ không phải từ ngoài nhìn vào hay nhìn qua lăng kính tưởng tượng

Mặt khác, ông sống ở một thời kỳ đau thương mà hào hùng của khởi nghĩa Nam Kỳ,

của Cách mạng tháng Tám, của Nam Bộ kháng chiến, ở mảnh đất miền Đông gian lao mà anh dũng đã sản sinh ra những con người nghĩa hiệp mang hào khí Đồng Nai đi vào kháng chiến Bạn bè của ông lại là những con người vừa là chiến sĩ, vừa giàu chất nghệ sĩ như nhà thơ chiến sĩ HuỳnhVăn Nghệ, nhà báo liệt sĩ Dương Tử Giang Những con người của cuộc

sống thực này đã ngồn ngộn chất liệu cho văn học Chính vì vậy, khác với trường hợp Thế

Lữ, Tchya, các nhân vật của Lý Văn Sâm không hoàn toàn hư cấu Các nhân vật trong Kòn Trô , Sương gió biên thùy, Rồng bay trên đỉnh Gia Nhang và nhiều chuyện khác ít nhiều

mang hình bóng những con người có thực ngoài cuộc sống Nhà biên kịch Phạm Thúy

Nhân, người đã chuyển thể Kòn Trô và Sương gió biên thùy thành kịch bản bộ phim truyền

hình Sương gió biên thùy, trong một lần tiếp chuyện với Lý Văn Sâm đã được chính nhà

văn cho biết, ông lấy chính mình làm hình mẫu cho Kòn Trô (tất nhiên là ở phần tính cách

Ngày đăng: 02/12/2015, 17:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1- A. HITCHOCK (tuy ển chọn và giới thiệu) (2001), Truy ện kinh dị, Nxb. Văn học, Hà N ội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện kinh dị
Tác giả: A. HITCHOCK (tuy ển chọn và giới thiệu)
Nhà XB: Nxb. Văn học
Năm: 2001
3- HOÀI ANH, THANH NGUYÊN, H Ồ SĨ HIỆP (1988), V ăn học Nam Bộ từ đầu đến gi ữa thế kỉ XX (1900-1954), Nxb. Văn nghệ Tp. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Nam Bộ từ đầu đến giữa thế kỉ XX (1900-1954)
Tác giả: HOÀI ANH, THANH NGUYÊN, H Ồ SĨ HIỆP
Nhà XB: Nxb. Văn nghệ Tp. HCM
Năm: 1988
4- VŨ TUẤN ANH, BÍCH THU (chủ biên) (2001), T ừ điển tác phẩm văn xuôi Việt Nam , Nxb. Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tác phẩm văn xuôi Việt Nam
Tác giả: VŨ TUẤN ANH, BÍCH THU (chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Văn học
Năm: 2001
5- L ẠI NGUYÊN ÂN (1999), 150 thu ật ngữ văn học, Nxb. Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: L ẠI NGUYÊN ÂN
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc gia
Năm: 1999
6- HOÀ NG VĂN BỔN (2000), Lượm cái hoa rơi (tập ký), Nxb. Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lượm cái hoa rơi (tập ký)
Tác giả: HOÀ NG VĂN BỔN
Nhà XB: Nxb. Đồng Nai
Năm: 2000
7- HOÀNG VĂN BỔN (1997), Tuy ển tập văn học thiếu nhi, Nxb. Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập văn học thiếu nhi
Tác giả: HOÀNG VĂN BỔN
Nhà XB: Nxb. Đồng Nai
Năm: 1997
8- NGUY ỄN HUỆ CHI (chủ biên) (1999), Truy ện truyền kì Việt Nam , quy ển1, Nxb. Giáo d ục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện truyền kì Việt Nam
Tác giả: NGUY ỄN HUỆ CHI (chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1999
9- NGUY ỄN HUỆ CHI (chủ biên) (1999), Truy ện truyền kì Việt Nam , quy ển2, Nxb. Giáo d ục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện truyền kì Việt Nam
Tác giả: NGUY ỄN HUỆ CHI (chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1999
10- NGUY ỄN HUỆ CHI (chủ biên) (1999), Truy ện truyền kì Việt Nam , quy ển 3, Nxb. Giáo d ục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện truyền kì Việt Nam
Tác giả: NGUY ỄN HUỆ CHI (chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1999
11- PH ẠM CAO CỦNG (1945), M ột cái Tết rùng rợn của Kỳ Phát, Khuê Văn xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một cái Tết rùng rợn của Kỳ Phát
Tác giả: PH ẠM CAO CỦNG
Năm: 1945
12- PH ẠM CAO CỦNG (1942), Đôi hoa tai của bà chúa , Ngày Mai xu ất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đôi hoa tai của bà chúa
Tác giả: PH ẠM CAO CỦNG
Năm: 1942
13- NGUY ỄN VĂN DÂN (1999), Nghiên c ứu văn học - lý luận và ứng dụng , Nxb. Giáo d ục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu văn học - lý luận và ứng dụng
Tác giả: NGUY ỄN VĂN DÂN
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1999
14- TR ẦN TRỌNG ĐĂNG ĐÀN (2000), Văn hóa, văn nghệ.., Nam Việt Nam 1954-1975 , Nxb. Văn hoá-Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa, văn nghệ.., Nam Việt Nam 1954-1975
Tác giả: TR ẦN TRỌNG ĐĂNG ĐÀN
Nhà XB: Nxb. Văn hoá-Thông tin
Năm: 2000
15- ĐẶNG ANH ĐÀO (1995), Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện đại , Nxb. Giáo d ục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện đại
Tác giả: ĐẶNG ANH ĐÀO
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1995
16- TR ẦN BẠCH ĐẰNG (1987), "Để tiến tới có được một nền văn học ngang tầm Thành ph ố trung tâm", Văn nghệ Tp. HCM (507) 20/11 , Tp. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Để tiến tới có được một nền văn học ngang tầm Thành phố trung tâm
Tác giả: TR ẦN BẠCH ĐẰNG
Năm: 1987
17- PHAN C Ự ĐỆ (1978), Ti ểu thuyết Việt Nam hiện đại , t ập 1, Nxb. Đại học & Trung h ọc chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Tác giả: PHAN C Ự ĐỆ
Nhà XB: Nxb. Đại học & Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1978
18- PHAN C Ự ĐỆ (1978), Ti ểu thuyết Việt Nam hiện đại , t ập 2, Nxb. Đại học & Trung h ọc chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Tác giả: PHAN C Ự ĐỆ
Nhà XB: Nxb. Đại học & Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1978
19- TR ẦN THANH ĐỊCH (1998), Tìm hi ểu truyện ngắn , Nxb. Tác ph ẩm mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu truyện ngắn
Tác giả: TR ẦN THANH ĐỊCH
Nhà XB: Nxb. Tác phẩm mới
Năm: 1998
20- TR ỊNH HOÀI ĐỨC (1998), Gia Định thành thông chí Nxb. Giáo d ục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Gia Định thành thông chí
Tác giả: TR ỊNH HOÀI ĐỨC
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1998
21- HÀ MINH ĐỨC (chủ biên) (2002), Lý lu ận văn học , Nxb. Giáo d ục,. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: HÀ MINH ĐỨC (chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 2002

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w