1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn đường rừng của lý văn sâm

56 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 854,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chọn đề tài Thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn đường rừng của Lý Văn Sâm chúng tôi mong muốn tìm hiểu sâu hơn nội dung tư tưởng cũng như nghệ thuật viết truyện của nhà văn, từ đó kh

Trang 1

KHOA NGỮ VĂN -

THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT

TRONG TRUYỆN NGẮN ĐƯỜNG RỪNG

CỦA LÝ VĂN SÂM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH CỬ NHÂN VĂN HỌC

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 1

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Giới thuyết thuật ngữ 4

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Bố cục khoá luận 4

NỘI DUNG 5

Chương 1 Cảm hứng nghệ thuật trong truyện ngắn đường rừng

của Lý Văn Sâm 5

1.1 Cảm hứng về thiên nhiên 5

1.1.1 Thiên nhiên hoang sơ tràn đầy sức sống 5

1.1.2 Thiên nhiên hoà cảm với con người 7

1.2 Cảm hứng về thế giới nhân vật 9

1.2.1 Nhân vật người lao động chất phác 9

1.2.2 Nhân vật người anh hùng 12

1.2.3 Nhân vật hành động khác thường, kì dị 14

Chương 2 Không - Thời gian nghệ thuật trong truyện ngắn đường rừng của Lý Văn Sâm 17

2.1 Không gian nghệ thuật 17

2.1.1 Không gian hiện thực đậm sắc màu Nam bộ 17

2.1.2 Không gian huyền hoặc đường rừng 22

2.2 Thời gian nghệ thuật 24

2.2.1 Thời gian tâm tưởng 25

2.2.2 Thời gian hư ảo 27

Trang 3

3.1 Ngôn ngữ 31

3.1.1 Giàu cảm xúc, tạo hình 31

3.1.2 Đậm chất khẩu ngữ 35

3.2 Giọng điệu 40

3.2.1 Giọng ngang tàng, hào sảng 40

3.2.2 Giọng mềm mại, tha thiết 43

3.2.3 Giọng triết lý, suy tưởng 46

KẾT LUẬN 50

TÀI LIỆU THAM KHẢO 52

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nói đến thể tài truyện đường rừng chúng ta không thể không nhắc đến

những cái tên quen thuộc như: Lan Khai, Đái Đức Tuấn, Thế Lữ, Nguyễn Tuân, Thanh Tịnh Và đặc biệt Lý Văn Sâm là cây bút duy nhất của miền Nam viết theo khuynh hướng sáng tác này

Trong những sáng tác đường rừng của mình, Lý Văn Sâm được biết

đến nhiều nhất với thể loại truyện ngắn Đây cũng là thể loại mà tác giả có số lượng tác phẩm nhiều hơn cả Đến với những trang viết của ông là cả một thế giới núi non hùng vĩ, hoang sơ của vùng Đông Nam Bộ Ở đó có những nhân vật anh hùng hi sinh vì đất nước, có những nhân vật kì dị với những hành động khác thường và cả cuộc sống của đồng bào dân tộc ít người Nhưng có lẽ, điều sâu thẳm mà người nghệ sĩ gửi gắm trong đó chính là niềm khát khao về một cuộc sống yên bình, tự do, hạnh phúc trên quê hương của mình

Chọn đề tài Thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn đường rừng của Lý

Văn Sâm chúng tôi mong muốn tìm hiểu sâu hơn nội dung tư tưởng cũng

như nghệ thuật viết truyện của nhà văn, từ đó khẳng định thêm những đóng góp của ông cho nền văn học dân tộc

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Truyện ngắn đường rừng của Lý Văn Sâm đã mang lại cho người đọc

những giây phút phiêu lưu kỳ bí trong khung cảnh thiên nhiên núi rừng của miền Đông Nam Bộ Tác phẩm của ông chứa đựng những giá trị to lớn về nội dung và thể hiện một tài năng độc đáo trong việc sử dụng những yếu tố nghệ thuật Vì vậy, đã có nhiều nhà nghiên cứu, phê bình đánh giá cao

Trang 5

những đóng góp của Lý Văn Sâm cho thể tài này Tiêu biểu có những bài viết, công trình nghiên cứu của các tác giả sau:

Tác giả Bùi Quang Huy với bài viết Truyện đường rừng - khoảng

trống về lí luận, cho rằng “Lý Văn Sâm, người được xem là cây bút duy nhất

của miền Nam viết truyện đường rừng” [ 7, Tr.148] Ở bài viết này, tác giả

nói đến vai trò quan trọng của Lý Văn Sâm với thể tài truyện đường rừng của miền Nam nước ta Đặc biệt trong bài viết Lý Văn Sâm – một chỗ đứng

riêng, nhà nghiên cứu Bùi Quang Huy đã khẳng định nét đặc sắc về thế giới

nhân vật trong truyện ngắn đường rừng của Lý Văn Sâm: “Nhân vật truyện

đường rừng cho đến trước Lý Văn Sâm thường gieo vào lòng người đọc cảm

xúc vừa thán phục, vừa kinh sợ Truyện đường rừng của Lý Văn Sâm, trái

lại, nhân vật chính luôn được nhà văn nâng niu, vun đắp Vẻ kỳ dị của họ, có

chăng, chỉ là sự vượt trội lên tất cả những người xung quanh” [7, Tr.170] Tiếp đó, tác giả Bùi Công Thuấn với bài viết Lý Văn Sâm và hành

trình tìm kiếm nhân vật lý tưởng, đã cho rằng: “Không gian nghệ thuật cuả

Lý Văn Sâm tuy trải rộng nhưng đọng lại đậm đặc thiên nhiên Đồng Nai, từ Biên Hoà, đến Túc Trưng, Đinh Quán, La Ngà, Xuân Lộc Không gian này bao gồm những vùng rừng núi ngày xưa, cả miền quê của tác giả, với những truyền thuyết, những sự tích dân gian và những kỷ niệm của tác giả” [17]

Từ hướng tiếp cận này, Bùi Công Thuấn đã chỉ ra bối cảnh không gian thiên

nhiên trong các truyện đường rừng luôn là gam màu chủ đạo, chi phối quá

trình sáng tạo của người nghệ sĩ

Tác giả Nguyễn Văn Sâm trong đề tài nghiên cứu Lý Văn Sâm và con

người cố thoát ra khỏi sự vây hãm của thành thị u buồn, đã đưa ra nhận xét

về cảm hứng sáng tác trong truyện ngắn đường rừng của Lý Văn Sâm: “Lý

Văn Sâm viết nhiều, nhưng đại khái có hai đề tài chánh, một loại cảm hứng

Trang 6

từ thiên nhiên ông sống trong thời đầu tiên khi biết suy tư và sắp bước vào

sự nghiệp văn chương, một loại mang tính cách thời đại, đấu tranh xã hội” [13]

Tác giả Nguyễn Thanh Trường trong bài viết Một vài đặc điểm của

truyện viết về miền núi giai đoạn 1930- 1945 đã kết luận: “Khác với các nhà

văn viết Truyện đường rừng cùng thời, Lý Văn Sâm thể hiện rất rõ chất

đường rừng của rừng núi phía nam Tổ quốc Đặc biệt với lối kể chuyện của ông, số phận các nhân vật như Kòntrô; RăngsaMát thường được đẩy tới tận cùng của những bi kịch thấm đẫm đau thương; hoặc được sống phóng

khoáng trong một không gian hùng tráng ” [16]

Như vậy, từ trước đến nay đã có một số bài viết và công trình nghiên

cứu bàn về Lý Văn Sâm trong mối tương quan với thể tài Truyện đường

rừng Tuy nhiên, những bài viết này mới chỉ dừng lại ở việc đánh giá, nhận

xét một cách sơ bộ và khái quát, chưa có công trình nào thực sự đi sâu vào

nghiên cứu về Thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn đường rừng của Lý

Văn Sâm Vì vậy, với việc chọn đề tài này chúng tôi hi vọng sẽ góp phần vào

việc tìm hiểu, nghiên cứu sâu hơn về thế giới nghệ thuật ấy Đồng thời cũng

là cơ hội để chúng tôi hiểu hơn về tác phẩm đường rừng của tác giả này

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Thế giới nghệ thuật trong truyện

ngắn đường rừng trên các phương diện: Cảm hứng nghệ thuật, không – thời

gian nghệ thuật, ngôn ngữ và giọng điệu

- Phạm vi nghiên cứu : Luận văn tập trung khảo sát một số truyện

ngắn đường rừng tiêu biểu trong cuốn Lý Văn Sâm toàn tập (Truyện ngắn)

của Bùi Quang Huy Nxb Tổng hợp Đồng Nai (2002)

Trang 7

4 Giới thuyết thuật ngữ

Thế giới nghệ thuật: “Khái niệm chỉ tính chỉnh thể của sáng tác nghệ thuật (một tác phẩm, một loại hình tác phẩm, sáng tác của tác giả, một trào lưu) Thế giới nghệ thuật nhấn mạnh rằng sáng tác nghệ thuật là một thế giới riêng được sáng tạo ra theo các nguyên tắc tư tưởng, khác với thế giới thực tại vật chất hay thế giới tâm lý của con người, mặc dù nó phản ánh các thế giới ấy Thế giới nghệ thuật có không gian riêng, thời gian riêng, có quy luật tâm lý riêng, có quan hệ xã hội riêng, quan niệm đạo đức, thang bậc giá trị riêng” [ 2 , Tr 302]

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp sau:

- Phương pháp thống kê: Để phân loại các chi tiết, đặc điểm nghệ thuật nổi trội, từ đó đi sâu tìm hiểu về thế giới nghệ thuật trong các tác phẩm

- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Nhằm tìm hiểu các đặc điểm về

nội dung và nghệ thuật trong truyện ngắn đường rừng của Lý Văn Sâm Từ

đó rút ra những nhận định khái quát về các tác phẩm đó

- Phương pháp so sánh: Để phát hiện những nét mới mẻ, khác biệt

trong truyện ngắn đường rừng của Lý Văn Sâm so với một số tác giả khác

6 Bố cục khoá luận

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, khoá luận của chúng tôi được chia làm 3 chương

Chương 1 Cảm hứng nghệ thuật trong truyện ngắn đường rừng

của Lý Văn Sâm

Chương 2 Không - Thời gian nghệ thuật trong truyện ngắn đường rừng

của Lý Văn Sâm

Chương 3 Ngôn ngữ và giọng điệu trong truyện ngắn đường rừng

của Lý Văn Sâm

Trang 8

NỘI DUNG

Chương 1

CẢM HỨNG NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN ĐƯỜNG

RỪNG CỦA LÝ VĂN SÂM

1.1 Cảm hứng về thiên nhiên

Cũng như các nhà văn viết truyện đường rừng đương thời, Lý Văn

Sâm đã từng trải qua cuộc sống ở miền rừng núi Những cánh rừng phương Nam không chỉ là nơi nhà văn ghé qua, hoặc tưởng tượng ra từ trong sách

vở, mà đó là nơi ông đã gắn bó trong hầu hết quãng thời gian thơ ấu của mình Lớn lên, Lý Văn Sâm lại về tỉnh lỵ, đi nơi này, nơi khác để học hành, rồi lại có những năm dài trở về vùng Mã Đà, Trị An, vùng thượng nguồn của tỉnh Đồng Nai để sinh sống Thiên nhiên và cuộc sống ở quê hương đã mang lại cảm hứng dạt dào cho nhà văn, như lời ông từng chia sẻ: “Tôi bắt đầu quen ăn cơm Mọi, uống nước mạch và cùng các ủ rũ hát đối đáp dưới trăng rằm Đêm đêm, tôi thức bên đèn giữa tiếng ngáy của Sơn Lâm say giấc và để cho lòng mình chảy thành mực trên giấy trắng” [ 4, tr.147]

Có lẽ những dấu ấn đọng lại qua mỗi bước chân của người lữ hành, chính là suối nguồn cảm xúc mê say trước thế giới thiên nhiên muôn sắc màu Đó là màu nắng “vàng tươi” chan hoà khắp cảnh lâm tuyền, và đan xen vào đó là những sợi tơ “vàng chói lọi”, “đỏ chót” [4, tr.214- 223] của ánh mặt trời đang lan toả trong cảnh bình minh lộng lẫy Một cảnh sắc tươi mới, tràn đầy sức sống, và hoà trong nền cảnh ấy là bầu trời cao “xanh vút”, tạo khoảng không xa tít, rộng lớn Để rồi, từ đó ta nhìn thấy từng đám mây lơ lửng với nhiều sắc màu huyền ảo, khi thì như khoác lên chiếc áo màu “khói trắng”, lúc lại như mơ màng trong làn “khói xám”, rồi bất chợt lại khoe sắc

Trang 9

với màu của “khói biếc” [4, tr.261- 346] Một không gian đậm sắc màu, tràn đầy sinh lực của cỏ cây, hoa lá, được tô điểm bởi nhiều gam màu khác nhau của những bông hoa rừng rực rỡ: “cánh hoa li ti điểm trắng” ngàn xanh, của những “rừng trang đỏ ối” [4, tr.223- 225], hoà cùng “một rừng hoa tím” [4, tr.565] đang cùng nhau đua sắc Tất cả như đang mơ màng trong ngàn vạn âm thanh của “tiếng chim ca”, “của làn gió thổi”, của “dòng suối chảy róc rách nước xanh và mát” [4, tr.344] Hoà lẫn trong khung cảnh nên thơ

ấy, còn là những ngân vang từ đại ngàn Đó là sự biến đổi của tầng bậc âm thanh, có khi “tiếng thác đổ thiên thu”, có lúc “tiếng thác lại ầm ĩ” [4, tr.263- 338] và xen vào đó là “tiếng nước xoáy vào hốc đá nghe như gió bão” tạo thành một bản hợp xướng đa thanh của núi rừng Trong bản hoà ca ấy còn có

âm thanh của “tiếng ve kêu”, “tiếng gà rừng”, “tiếng tắc kè”[4, tr.261- 338] nghe như giai điệu của một dàn nhạc cất lên rộn rã làm xốn xang lòng người Thiên nhiên hiện lên với đủ dáng hình, sắc vẻ, một vẻ đẹp lung linh và huyền diệu như suối nguồn vi diệu tạo nên nguồn cảm hứng bất tận cho người nghệ

Trong bức tranh đa màu sắc của không gian núi rừng Nam bộ, thế giới thiên nhiên còn hiện lên với dáng vẻ hoang sơ của miền sơn cước, in đậm dấu ấn trong cảm quan sáng tạo của nhà văn Nơi ấy, núi rừng như chưa xuất hiện vết chân của con người: “một khu rừng hoang vu, cỏ cây dày mịt, tự nghìn xưa”, “chưa có dấu vết của lưỡi búa tiều phu huỷ hoại Vẻ thiên nhiên còn nguyên vẹn màu trinh” [4, tr.231- 243] Ở đó, có những “Gộp đá khổng

lồ, nằm gối lên nhau, bắt ngang con sông như một dãy trường kiều Từng khối nước nặng nề trôi băng băng từ bực cao xuống bực thấp, tung khói sóng mịt mù” [4, tr.225] và những “thân cây to, vỏ sạm, nẻ như da thịt của một ông lão phong trần Loài thảo dã này vốn ra đời trước loài người và đứng

Trang 10

yên giữa cõi trời” [4, tr.335] Rặng ngàn nguyên sinh như được điểm tô thêm

vẻ thơ mộng khi thấy “Xa xa vài trái núi đứng cheo leo trong một vùng khói xám Gió đưa mây toả Vài sợi khói trắng còn quyến luyến đỉnh non cao trước khi tan vào khoảng hư vô thăm thẳm” [4, tr.261] Khung cảnh thiên nhiên với vẻ hoang sơ của tạo hoá, nơi còn vẹn nguyên cảnh sắc của tự nhiên mang đến một sức hút kì lạ, dường như đó là tiếng lòng của Lý Văn Sâm trong những phút giây tìm về với thực tại, để rồi mong muốn, khát khao được hoà cùng cỏ cây, hương sắc trong ngàn vạn khúc nhạc ngợi ca quê hương, Tổ quốc

Trong không gian đẹp đẽ ấy, tâm hồn người nghệ sĩ như khát khao được hoà mình vào thế giới của thiên nhiên, để chiếm lĩnh trọn vẹn vẻ đẹp của núi rừng Vẻ đẹp ấy, được Lý Văn Sâm cảm nhận bằng đôi mắt tinh tế của người nghệ sĩ, cùng với tình yêu quê hương đã tạo nên suối nguồn cảm hứng bất tận cho nhà văn

Nếu thiên nhiên trong trang văn của Thế Lữ là “nơi chứa những tai hoạ ghê gớm ( ), là cái nguồn những sự khủng khiếp và kinh hoàng”, thiên nhiên trong tác phẩm của TchyA là nơi “đất thì vắng lạnh đìu hiu, phong cảnh thực là thê lương, ảm đạm ( ), sự ẩm thấp không làm sao tả xiết”, thì thiên nhiên trong trang viết của Lý Văn Sâm lại là một không gian căng tràn sức sống, trong mối giao hoà với con người

Thiên nhiên miền sơn dã có thể xoa dịu những nỗi đau trong tâm hồn của mỗi con người Là nơi để con người tìm về để trú ngụ, sau những biến

cố đau thương trong cuộc đời Rừng núi như mở lòng đón con người hoà mình vào cảnh sắc của cỏ cây, hoa lá Và lúc đó, họ cảm thấy lòng như “vợi bớt những điều nhỏ nhen phàm tục” [4, tr.208] Vì thế “năm hai mươi bốn

Trang 11

tuổi là năm mà lòng tôi thật đã não nề thế sự Tôi tìm về với thiên nhiên để chữa những vết thương quá khứ ” [4, tr.303] Thiên nhiên không chỉ trở thành nơi che chở, thanh lọc tâm hồn, mà nó còn mang đến cảm giác bình yên và dễ chịu cho mỗi con người

Thiên nhiên nơi miền sơn cước như chứa chan nhiều cảm xúc, nó đồng điệu với tâm hồn con người, chia sẻ với con người về những tổn thương, mất mát Hay nói cách khác, thiên nhiên biết đau xót, ngậm ngùi với nỗi đau của con người Đó là sự tiếc thương khi Kòn trô bị giết “một miếng mây trắng quấn qua đỉnh non xa như một bức khăn tang”, và trải qua bao năm tháng

“tiếng thác vẫn rền rĩ mãi không thôi như lời than khóc một nỗi hận dài ” [4, tr.228] Núi rừng xót xa, đau đớn trước cái chết của một con người, nó như thấu hiểu được sự mất mát trong lòng những người ở lại Từ đó, nó cất lên tiếng “rền rĩ” mãi theo năm tháng, như chính nỗi đau của con người Thế giới thiên nhiên ấy, như được khoác thêm sắc thái tâm hồn của con người, để rồi khi mỗi mùa thu qua chỉ nghe “tiếng khóc của lá thu vàng” [4, tr.430], lời khóc buồn thương cho số phận của một người chí sĩ đã để rụng tuổi xanh trên nửa đường sương gió Có khi đó là tiếng khóc cho thân phận của những hồn đơn bóng lẻ “tiếng gió thốc vi vu như tiếng khóc than” [4, tr.486]

Thiên nhiên nơi miền sơn cước không chỉ là nơi xoa dịu nỗi đau, mà còn là yếu tố “tác nhân” gợi nhắc và mang hơi ấm kỉ niệm để con người quay về với quá khứ, sau những năm tháng ngược xuôi Đó là sự xuất hiện của hình ảnh những bông “Trang rừng, những đoá hoa có sắc nhưng không hương” [4, tr.225], từ đó, người thiếu nữ thấy “lờ mờ trong dĩ vãng xa xăm, nàng mang máng sống lại cảnh “một đêm sương” của mùa hạ cũ”, nhớ về kỉ niệm với chàng trai trẻ khi sống trong khu rừng này Dù tất cả chỉ còn lại trong dòng hồi tưởng, nhưng khi có sự tác động của thiên nhiên thì con

Trang 12

người như được sống lại giây phút của quá khứ, điều đó cũng đủ làm ấm tâm hồn mỗi con người Vì thế, mỗi khi mùa thu khởi sự, người ta thường thấy

“một gã đàn ông chống nạng tìm vào sóc Mọi Khà Ná, đứng hàng giờ giữa rừng già để hồi tưởng một chuyện quá khứ xa xôi” [4, tr.581] Như vậy, ta thấy thiên nhiên có sự đồng điệu sâu sắc với tâm hồn con người, nó góp phần làm tăng thêm niềm xúc động dâng trào trong lòng người chứng kiến Hoà cảm, sẻ chia và xoa dịu nỗi buồn đau với con người, thiên nhiên còn như người bạn tri kỉ, thâm giao đối với người dân nơi đây Dù cho thời gian cứ trôi, cuộc sống có nhiều thay đổi, nhưng “thiên nhiên vẫn nguyên vẹn như lòng kẻ chung tình” và “rừng, núi có phụ bạc tôi bao giờ” [4, tr.208] Có lẽ, đó là tình cảm thiêng liêng, tiếng nói ân tình mà núi rừng đã dành cho con người Tình cảm ấy vẫn nguyên vẹn trong vòng quay của thời gian: “trải bao nhiêu năm cách biệt, vẫn còn nguyên vẹn như tấm lòng không thay đổi của một người tri kỉ” [4, tr.228]

Là nhà văn sống và gắn bó với núi rừng, Lý Văn Sâm đã cảm nhận sâu sắc cả dáng hình và khí chất của thiên nhiên miền sơn cước Đó là bức tranh

đa màu tuyệt đẹp, hơn thế, thiên nhiên nơi đây, còn có sự hoà cảm và đồng điệu với tâm hồn con người Chính nét đẹp ấý, đã níu giữ bước chân của nhà văn, làm lay động tâm hồn của người nghệ sĩ, để rồi từ đó khơi lên nguồn

cảm hứng vô bờ, tạo nên những tác phẩm đường rừng thi vị

1.2 Cảm hứng về thế giới nhân vật

Lý Văn Sâm đã từng có thời gian gắn bó với những người dân lao động nơi rừng xanh núi đỏ Ông không những cảm nhận mà rất hiểu về những nếp cảm, nếp nghĩ của con người nơi đây Đó cũng chính là nguồn cảm hứng để người nghệ sĩ, viết nên những trang văn chứa chan tình cảm

Trang 13

dành cho cuộc sống của con người nơi miền sơn cước Ở đó, hình ảnh người lao động được đưa vào tác phẩm một cách tự nhiên, họ xuất hiện nhiều nhưng không đậm đặc Dù chỉ được khắc hoạ bằng đôi ba nét vẽ, nhưng cũng đủ để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc

Đó là hình ảnh những người nông dân hiện lên với bản tính siêng năng, mạnh mẽ và yêu thích cuộc sống phóng khoáng Họ lao động chăm chỉ

để tạo ra nguồn lương thực đảm bảo cho cuộc sống của mình Hàng ngày từ sáng sớm tinh sương đã thấy từng nhóm người ẩn hiện “dưới những nương khoai xanh ( ) trồng khoai, cấy lúa, gieo bắp”, cho đến khi ánh nắng đã chuyển màu, báo hiệu một ngày sắp tàn thì những nhóm người ấy vẫn đang

“mình trần, đóng cần vọt vừa vỡ rẫy, vừa cười, vừa nói rất hồn nhiên” [4, tr.342] Họ lao động một cách chăm chỉ, biết luân chuyển công việc giữa các mùa nhằm tăng thêm nguồn thu nhập cho cộng đồng “mùa nắng thì họ đốn củi, lượm chai, ăn ong hoặc gài bẫy gà rừng; mùa đông thì họ thành ra những bác ngư ông”, họ biết “chẻ tre đan đó, hoặc làm đăng bắt cá” [4, tr.298] Nhờ bản tính chăm chỉ, cần mẫn nên “năm nào họ cũng trúng”, “Lúa đầy bồ Rơm đầy sân Người và vật đều no đủ” [4, tr.342], cuộc sống ngày càng sung túc hơn Khi đó, người lao động cảm thấy cuộc sống ở đây ngày càng thú vị,

họ thích sống “một thế giới phóng khoáng, xa hẳn gió bụi chốn thị thành” [4, tr.216] Họ muốn sống trong một xã hội “không có sự phản bội, không có sự man trá, không có sự ghen tị”, chỉ có những con người “cực lòng lo nghĩ về nhau”, cùng ăn ở với nhau như “một niềm chung thuỷ”, để tâm hồn “hoà chung cùng cỏ cây hoang dại”[4, tr.215], thả sức “vẫy vùng với chim trời, cá nước” [4, tr.341]

Như một quy luật của tạo hoá, khi đã đủ đầy về vật chất, người lao động lại đi tìm niềm vui cho tâm hồn bằng cách làm phong phú đời sống tinh

Trang 14

thần với những sinh hoạt cộng đồng Họ múa hát vào những ngày hội, những khi có tin vui: “Mọi người ôm nhau nhảy múa như những ngày đại hội Họ hát những bài hát cổ truyền ” [4, tr.327] Và bao giờ cũng thế, mỗi khi mùa

vụ xong, bà con trong buôn Sóc đều tổ chức ăn mừng: “Sóc Thanh Sơn đang vào hội Ấy là lễ ăn Nhang Năm nào cũng vậy, sau khi gặt hái xong, người Mọi mở một cuộc ăn chơi lớn” [4, tr.343] Cũng có khi người dân thôn bản

tổ chức “các cuộc múa hát để ăn mừng sự tái sinh của người anh hùng” [4, tr.273] sau những lần săn bắn Chính đời sống tinh thần phong phú đã góp phần làm tăng sự gắn bó giữa những người lao động, giúp họ hiểu nhau hơn,

để từ đó làm cho cuộc sống của họ thêm thi vị, tươi vui hơn

Những người lao động đã trải qua năm tháng sống ở rừng xanh núi đỏ, nơi đây đã tôi luyện cho họ tính gan dạ, cứng rắn: “Họ là người Châu Mạ gan dạ và đanh thép” [4, tr.215], để có thể đương đầu với mọi khó khăn, biến

cố trong cuộc sống, nhằm thích nghi với môi trường Hình ảnh những người lao động xuất hiện trong tác phẩm của Lý Văn Sâm thật gần gũi, với bản tính chăm chỉ, yêu sự bình đẳng và thích sự thanh thản trong suy nghĩ Tâm hồn

họ luôn trải ra để hoà nhập vào cộng đồng chung, với rừng xanh của đại ngàn Chứng kiến và hoà mình vào cuộc sống của những người lao động nơi miền núi cao, Lý Văn Sâm đã nhìn thấy được phẩm chất đáng quý của những người lao động Để từ đó, viết nên những trang văn ngợi ca bằng tình yêu thương tha thiết

Sống gắn bó với cộng đồng và luôn dành trọn niềm tin cho người thủ lĩnh của mình, cũng là phẩm chất đáng quý của người miền núi: “Họ rất trung thành với tôi”, trung thành đến nỗi “tôi bảo chết, họ chết Tôi bảo sống,

họ sống” [4, tr.215] Họ trung thành và sẵn sàng hi sinh bản thân để tuân theo mệnh lệnh, bởi họ “thương tôi và kính trọng như cha” Từ đó, sáng nào,

Trang 15

họ cũng kéo nhau ra bãi cỏ ở cạnh thôn và hướng mắt về phía núi Gia Huynh chờ đợi người thủ lĩnh – Châu Phiên Họ tin thủ lĩnh của mình sẽ trở về để

“che chở và phù trợ cho họ được sống yên ổn” [4, tr.329] Có được niềm tin

đó, bởi trong họ, người thủ lĩnh là người có sức mạnh “có thể làm tan nát được quả đất” [4, tr.328]

Hình ảnh những người dân lao động xuất hiện không đậm nét trong các sáng tác đường rừng của Lý Văn Sâm, nhưng chỉ bấy nhiêu thôi cũng đủ để khắc sâu trong tâm trí người nghệ sĩ để rồi vút lên những khát khao, ước mơ của tác giả về một cuộc sống yên ổn, bình an, công bằng trong xã hội Hoà trong dòng chảy mãnh liệt đó là người lao động, những con người bình dị, thân quen với những phẩm chất tốt đẹp, cùng với cuộc sống của họ nơi miền sơn dã đã góp phần tạo nên mạch cảm hứng sáng tạo cho nhà văn “trong hành trình tìm kiếm nhân vật lí tưởng” cho mình

Lấy cảm hứng ngợi ca từ những người chiến sĩ dũng cảm trong các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc, Lý Văn Sâm đã xây dựng nên hình tượng những người anh hùng luôn đấu tranh cho tự do, chiến đấu để giữ lấy độc lập của dân tộc Trong sáng tác của ông, hình ảnh người anh hùng xuất thân từ nhiều thành phần xã hội khác nhau nhưng cùng một lòng chiến đấu vì Tổ quốc, vì đồng loại

Hình ảnh những người con quả cảm hiện lên trong trang viết của Lý Văn Sâm, là những người sẵn sàng xả thân vì Tổ quốc Họ “đội chung một

lý tưởng, thờ chung một màu cờ” [4, tr.489], lý tưởng ấy chính là “một ngọn

cờ khởi nghĩa” [4, tr.345], để mang lại độc lập, tự do cho Tổ quốc Bởi vậy, không chút do dự, họ sẵn sàng cưỡng lại cả lời nguyền: “Tôi sẽ phạm vào

Mũi tổ vì tên lính da đen kia chỉ cho ta thấy đôi mắt trắng dã của gã mà thôi!

Trang 16

Đây có lẽ là mũi tên cuối cùng, chấm dứt cái tài thiên xạ của tôi Nhưng, tôi không ngần ngại gì mà không hi sinh cho đại cuộc Vâng! Tôi đã dành một mũi tên cho Tổ quốc Nay là lúc tôi dùng nó vậy! ” [4, tr.306] Trong từng lời nói, họ thể hiện rõ sự quyết tâm chấp nhận rủi ro, bất chấp tất cả Chừng

đó cũng đủ để thấy được lòng quả cảm, tình yêu quê hương, yêu dân tộc của người anh hùng Là khi trong thâm tâm, người hùng nghĩ rằng, nhiệm vụ đánh giặc, cứu nước là một “sứ mạng tối thiêng liêng”, và rằng “đã leo lên

xe với một sứ mạng thiêng liêng ( ), ra đi trong sự chờ mong của các bạn

Lẽ nào tôi dám phụ lòng họ?” [4, tr.371- 373] Họ là những người “không tiếc sanh mạng mình mà chỉ tiếc vì không được cùng các bạn đồng chí chiến đấu tới ngày khải hoàn ” [4, tr.579], sẵn sàng dâng hiến cuộc đời mình cho quê hương, cho Tổ quốc Họ mãi mãi là những tượng đài vĩ đại trong lòng dân tộc

Bên cạnh tinh thần sẵn sàng xả thân vì Tổ quốc của những người anh hùng, còn là sự toả sáng của tấm lòng yêu thương, có trách nhiệm với đồng loại Đó là phẩm chất tốt đẹp của người chí sĩ cách mạng, là khi trước những tình thế hiểm nguy đối mặt với kẻ thù độc ác, nhưng họ không hề nao núng

Và để cứu được đồng loại, họ chấp nhận hi sinh cả tính mạng của mình: “các anh cứ chạy đi! Tôi phải cứu mẹ con nhà nầy mới được! Tôi, rủi có bề nào, xin anh em đùm bọc vợ con tôi” [4, tr.421] Trong những giây phút nguy hiểm rình rập kề bên, nhưng người anh hùng vẫn luôn can đảm, sẵn sàng hi sinh bản thân không một chút do dự Bởi họ tâm niệm rằng “thân người tức

là thân mình”, nên phải “thương người như thể thương thân” [4, tr.375] Những đứa con gan dạ của đại ngàn là những con người luôn ý thức được trách nhiệm đối với cuộc sống của đồng loại, họ yêu thương mọi người như yêu thương chính bản thân mình Chính vì thế mà sau làn áo mỏng của người

Trang 17

trẻ tuổi ấy ẩn chứa “một trái tim thanh niên đầy nhiệt huyết đang nhảy vì hơi thở của dân tộc” [4, tr.300]

Vẻ đẹp của người anh hùng còn được nhà văn khắc hoạ ở tấm lòng nhiệt huyết và một tâm hồn lạc quan Ấy là khi đang sống trong những gian khó, hiểm nguy, nhưng họ vẫn cất lên “tiếng cười” đầy tự tin, đó là những tiếng “cười hồn nhiên của những kẻ yêu đời” [4, tr.377]; Hay khi đứng giữa ranh giới mong manh của sự sống và cái chết thì cặp mắt của những con người quả cảm vẫn ánh lên một niềm vui , chứa đựng niềm tin trước cuộc sống: “Tôi chưa chết đâu! Các anh đừng buồn” [4, tr 428- 429] Bom đạn của quân thù không làm nhụt đi ý chí, tinh thần lạc quan, yêu đời, bởi họ tin tưởng vào tương lai của ngày mai tươi sáng Từ đó, ta cảm nhận được sức sống mãnh liệt của những con người giàu nhiệt huyết, luôn hết mình vì cộng đồng, vì Tổ quốc quyết sinh

Như vậy, những nhân vật của Lý Văn Sâm, dù xuất thân từ thành phần nào trong xã hội, dù là ai đi nữa thì cũng đều ý thức được ý nghĩa của sự tự

do, hiểu được trách nhiệm, bổn phận của mình đối với Tổ quốc Và khi đã nhận thức được điều đó thì những con người này hành động quyết liệt, không đắn đo, không đòi hỏi sự đền đáp, mà chỉ khát khao được góp sức vào công cuộc tìm lại độc lập, tự do cho dân tộc Chính phẩm chất tốt đẹp của họ

đã dấy lên trong lòng người đọc sự tôn trọng, khâm phục Viết lên những trang viết thấm đẫm cảm xúc ngợi ca, đó cũng là lời tri ơn từ tận đáy lòng của người nghệ sĩ dành tặng cho những người anh hùng của dân tộc

Nếu nhân vật khác thường trong sáng tác của TchyA mang dáng dấp

mờ ảo giữa người với ma, nhân vật kì dị của Thế Lữ là những xác người chết phơi thây, đầy ám ảnh, thì nhân vật ấy trong sáng tác của Lý Văn Sâm lại là

Trang 18

những con người bằng da, bằng thịt, đang sống với nhiệt huyết cháy bỏng của tuổi trẻ Sự khác thường, kì dị ở họ có chăng chỉ là việc họ dám làm những việc làm ít ai nghĩ tới, ít ai dám làm

Nhân vật của ông là những con người hiện hữu trong cuộc sống đời thường, mang đủ trạng thái cảm xúc như những người bình thường khác Đó

là Kòn Trô, Châu Phiên, Phong, Cả Tiễn hay Răng Sa Mát, những nhân vật này chọn cho mình lối sống, hướng đi khác với số đông trong xã hội, vì thế

họ được xem là những người lạ thường, khác biệt Kòn Trô với lựa chọn xa lánh người đời, lập ra một cõi riêng biệt mà ở đó “không có sự phản bội, không có sự man trá, không có ghen tị, nó làm cho người ta phải cực lòng lo nghĩ về nhau” [4, tr.215] Khao khát cuộc sống yên bình, công bằng và hết lòng thương yêu nhau, Kòn Trô đã tự lập ra một cõi riêng cùng những người thuộc hạ Nơi đó, họ cùng nhau chia sẻ những cay đắng, ngọt bùi và luôn ý thức đề cao tình yêu đồng loại lên trên tất cả Cũng như Kòn Trô, Châu Phiên rời xa chốn thị thành để “mộ dân lập ấp, cày ruộng, trồng ngô sống một cuộc đời riêng biệt” [4, tr.322] Họ tìm đến với thiên nhiên, với những con người miền sơn ngàn để hoà mình vào đó, nhằm tìm sự thanh thản trong tâm hồn Nơi rừng sâu, thác đổ cũng là lựa chọn cho cuộc sống của Phong,

đó là nơi mà “không có sự hơn kém địa vị, không có giai cấp làm cho người này cách biệt người kia Chỉ có những người sống ngang nhau, sẵn sàng chia

sẻ cơm áo cho nhau và sẵn sàng chết vì nhau” [4, tr.342] Nơi đây là cả một không gian chan chứa tình người, con người sống với nhau có trách nhiệm hơn, dạt dào tình cảm hơn Và hẳn nhiên, không phải ai trong xã hội cũng có thể tự lập ra một cõi riêng như vậy, không phải ai cũng xây dựng được mối quan hệ khăng khít như ruột thịt giữa những người không quen biết Điều đó cho thấy sự khác lạ giữa cuộc sống của những nhân vật này với cuộc sống xô

Trang 19

bồ nơi phố thị Bên cạnh Kòn Trô, Phong, Châu Phiên, còn có Cả Tiễn – người đã lựa chọn rừng xanh là nơi trú ngụ, là nơi để “trốn tránh loài người” với mong muốn được sống tự do, bởi “rất sợ ánh đèn cám dỗ” và “lòng man trá” trong xã hội Ta thấy ở những nhân vật này có điểm chung nổi bật là khát khao một cuộc sống bình đẳng, quý trọng tình nghĩa, và đều tìm thấy niềm vui, sự thanh thản nơi miền sơn cước

Hình ảnh những nhân vật lạ thường được Lý Văn Sâm tái hiện trên trang viết gắn với những hành động khác lạ, đã thể hiện được tư tưởng, ước mong của nhà văn về một cuộc sống công bằng, thái bình và chan chứa tình người Bên cạnh việc khắc hoạ hành động khác thường của nhân vật, người nghệ sĩ còn chú trọng khắc hoạ phẩm chất rất người của những hình tượng này Đó là một “tướng cướp rừng xanh” như Kòn Trô cũng có lúc biết yêu say đắm, có khi lãng mạn như một nhà thơ: “cảm giác như mình ngồi trên ngựa không vững nữa Trời sáng mau quá Kòn Trô không giữ được cảm động, ngùi ngùi ngâm lên như một người say rượu” [4, tr.221] Không chỉ biết yêu tha thiết mà nhân vật này còn hết lòng vì tình yêu, chấp nhận dấn thân vào chỗ chết chỉ để được gặp mặt người yêu như lời đã hứa Hay như Châu Phiên, người được xem là một vị thần, sống một cõi riêng và cứu độ dân trong mọi hoàn cảnh, được dân tôn thờ như thần thánh “là một ngôi sao sáng giữa một vùng sơn lâm” [4, tr.316] Cũng như Châu Phiên, Cả Tiễn và Phong đều là những người hết lòng vì đồng loại, gan dạ và dũng cảm

Có thể nói hình tượng nhân vật kì dị trong tác phẩm của Lý Văn Sâm, luôn là những con người có trái tim cháy bỏng, nhiệt huyết, sống bằng dòng máu đỏ như bao người khác Và đặc biệt, họ có một tình yêu bao la với đồng loại Trong họ hội tụ đủ những phẩm chất tốt đẹp của một con người yêu giống nòi, yêu tự do và tha thiết với cuộc sống nơi nguồn xanh hoa dại

Trang 20

Chương 2 KHÔNG - THỜI GIAN NGHỆ THUẬT

TRONG TRUYỆN NGẮN ĐƯỜNG RỪNG CỦA LÝ VĂN SÂM

2.1 Không gian nghệ thuật

Không gian nghệ thuật là “hình thức bên trong của hình tượng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó Sự miêu tả, trần thuật trong nghệ thuật bao giờ cũng xuất phát từ một điểm nhìn diễn ra trong trường nhìn nhất định, qua đó thế giới nghệ thuật cụ thể, cảm tính bộc lộ toàn bộ quảng tính của nó: cái này bên cạnh cái kia, liên tục, cách quãng, tiếp nối, cao, thấp, xa, gần, rộng, dài, tạo thành viễn cảnh nghệ thuật Không gian nghệ thuật gắn với cảm thụ về không gian nên mang tính chủ quan” [2, tr.116] Không gian nghệ thuật cung cấp cơ sở khách quan để khám phá tính độc đáo cũng như nghiên cứu loại hình của các hình tượng nghệ thuật Không gian nghệ thuật

trong truyện ngắn đường rừng của Lý Văn Sâm cũng không nằm ngoài quy

luật đó

2.1.1 Không gian hiện thực đậm sắc màu Nam bộ

Lấy bối cảnh không gian đặc trưng của Nam bộ làm nền cho tác phẩm

là cách thổi hơi hướng hiện thực vào trang viết, làm cho câu chuyện trở nên gần với đời, với người hơn Đó cũng là cách để Lý Văn Sâm giới thiệu cảnh sắc quê hương cùng lối sống, phong tục của người dân nơi đây với các bạn đọc vùng miền khác

Không gian thiên nhiên trong trong sáng tác của Lý Văn Sâm, tuy trải rộng nhưng đọng lại đậm đặc ở rừng núi và địa danh Nam bộ Đó là nơi tác giả đã sinh sống, nơi nuôi dưỡng tâm hồn và cũng là nơi tạo nên nguồn cảm hứng bất tận cho sự ra đời của những tác phẩm văn chương Thiên nhiên Nam Bộ được tác giả miêu tả một cách chi tiết, là nơi diễn ra mọi

Trang 21

hoạt động của nhân vật, mọi diễn biến của sự kiện Thế giới ấy, được nhà văn gọi tên một cách cụ thể, phản ánh đúng hiện thực của vùng đất nơi đây:

“Lúc ấy đúng mùa hoa chai nở Những cánh hoa li ti điểm trắng rừng xanh,

lờ lờ như một lớp tuyết phủ Mặt trời đỏ chói, chồi lên sau ngọn Bạch Hổ Sơn” [4, tr.223] Hòa trong màu trắng của hoa chai và màu xanh của núi rừng bạt ngàn, là sắc đỏ của những bông trang đỏ “rực rỡ nhuộm đỏ loáng rừng chạy dài theo hai bên bờ thác” Mu Mi [4, tr.224] Không gian thiên nhiên trong được tác giả miêu tả với những nét riêng của vùng miền, nhưng không đơn thuần chỉ là những sắc màu của cảnh vật đặc trưng mà trong bức tranh ấy còn hiện lên cả những địa danh cụ thể: “Dòng Sông Bé đi đến Trị

An thì gặp ngọn nước Mã Đà Hai con sông liền họp nhau thành một dãy trường giang, cuồn cuộn chạy xuôi về những thị trấn xa xôi” [4, tr.231], hay: “Giữa sóc Mọi Cao Cang có hai trái núi nhỏ, hình thể tương tự như nhau, đứng cách xa nhau chừng vài cây số đường rừng” [4, tr.252] Những vùng đất của quê hương được tác giả đưa vào tác phẩm một cách chân xác,

từ cái tên cho đến vị trí và dáng vẻ của chúng Điều này càng chứng tỏ sức quyến rũ của cảnh sắc nơi đây đối với tâm hồn người nghệ sĩ, qua đó cũng thể hiện niềm tự hào của nhà văn đối với vùng đất này Không gian trong tác phẩm còn là nơi tồn tại của nhân vật, vì vậy hành động của nhân vật luôn gắn với một không gian cụ thể Khi thì con người “len lỏi đi qua những thác ghềnh, khe, rãnh, tiến ngược dòng sông Đồng Nai, đi mãi ” [4, tr.255] Cũng có những khi con người choáng ngợp trước khoảng không của “một cái hang đá tối om ở dưới chân núi Beo Người Mọi gọi nó là

Trồmkuangbra” [4, tr.269] Rồi khung cảnh không gian như vỡ oà ra trong

cái mênh mông của “nước sông La Ngà theo mùa mưa gió, dâng cao ( ) Nước sông đỏ ngầu như máu, trôi băng ra sông Cái” [4, tr.257]

Trang 22

Khắc hoạ không gian thấm đẫm sắc màu Nam bộ, trong nhiều trang viết nhà văn còn đặc biệt chú ý tới việc miêu tả những hiện tượng thời tiết của miền Nam vào những mùa tiêu biểu, đồng thời đặt nó trong sự so sánh với miền Bắc của Tổ quốc: “Vào khoảng tháng tư và tháng năm, thời tiết oi bức khó chịu Thỉnh thoảng có những trận mưa thất thường báo trước mùa mưa gió lu bù ( ) Ở Nam bộ, khoảng thời gian ấy không thuộc về mùa hạ như những xứ miền Bắc đã có Nhưng ta cứ gọi là mùa hạ cũng được - mùa

hạ của miền Nam nước Việt” [4, tr.287] Không chỉ có sự khác biệt trong tiết trời vào mùa hạ, mà mùa xuân của hai miền cũng khác hẳn nhau “mùa xuân

ở miền Nam nước Việt là một quãng thời tiết đầy những nắng Chẳng bù với mùa xuân ở đất Bắc, mưa bụi nghiêng nghiêng và mờ mờ suốt tháng, tắm ướt phố phường, chan hoà chốn sơn dã cây non, cỏ dại ” [4, tr.335] Bằng việc đối sánh các sắc màu không gian khác nhau, Lý Văn Sâm gợi tả không gian Nam bộ trong mối tương quan với miền Bắc, nhằm làm nổi bật nét khác biệt của hai miền Bên cạnh đó, tác giả còn đưa bạn đọc sống trong sự cảm nhận về những khác biệt rõ rệt làm nên hương sắc của mỗi mùa: Mùa xuân ở miền Nam là khoảng thời gian đầy nắng, còn miền Bắc lại mưa lạnh Với cách mô tả mang tính đề dẫn này, dường như tác giả hướng tới lí giải những quy luật diễn ra trong tự nhiên, ngay cả khi mùa xuân tràn trề những nắng thì

“suốt một quãng đường dài, màu đất đỏ như son, dâng bụi theo lên với gió rừng, bám đầy quần áo và mặt mũi” [4, tr.335] Với điểm nhìn sâu, rộng, kết hợp việc sử dụng dày đặc các từ láy chỉ trạng thái, các danh từ chỉ địa danh,

Lý Văn Sâm đã mang đến một không gian với những nét đặc trưng riêng, gắn với địa danh của các vùng, miền Nam bộ

Bên cạnh không gian thiên nhiên tràn đầy hương sắc làm say đắm lòng người, nhà văn còn đi vào khám phá thế giới hiện thực của đời sống con

Trang 23

người miền núi, với vẻ đẹp nguyên sơ, thuần phác như chính núi rừng của

họ Nơi đây, họ lập thành những “ấp”, những “sóc” với hàng trăm người sinh sống, dưới sự dẫn dắt của những người thủ lĩnh Họ sống trong những ngôi

“nhà sàn” bằng “vách cây, lợp lá” [4, tr.318- 338] Quanh năm họ sống bằng việc “trồng khoai, cấy lúa, gieo bắp” và cả “đốn củi, lượm chai ( ), chẻ tre đan đó, hoặc làm đăng bắt cá” [4, tr 342- 298] Nơi này, họ không biết đến

“cao lương, mĩ vị” mà chỉ có những “rau, cỏ, khoai ” [4, tr.341] Dù vậy, bấy nhiêu đó cũng đã đảm bảo mang lại “đủ đầy vật chất” cho cuộc sống nơi đại ngàn mây núi Ẩn đằng sau không gian hiện thực của cuộc sống nguyên

sơ ấy, là sự hoà hợp của những tâm hồn coi trọng tình nghĩa, họ sống đoàn kết và chở che cho nhau trong mối quan hệ không đua tranh, đố kỵ, thậm chí

họ còn “sẵn sàng chết vì nhau” [4, tr.342] Có thể nói, bằng sự trải nghiệm

và tấm lòng biết lắng nghe những mạch sống âm thầm ngày đêm đang tuôn trào nhựa sống khắp các buôn Sóc, bản làng, đã giúp Lý Văn Sâm nắm được bản chất của cuộc sống của con người nơi miền sơn dã

Để mang lại cái nhìn cụ thể hơn, chính xác hơn về cuộc sống của những người dân miền núi, đồng thời hiểu thêm về phong tục, tập quán của họ Lý Văn Sâm đã tập trung khai thác không gian đời sống văn hoá tinh thần của những con người chốn đại ngàn mây núi Cuộc sống gắn bó chặt chẽ với thiên nhiên, đã chi phối đến đời sống văn hoá tâm linh của người dân nơi đây Trong tâm thức của họ, từ một hòn đá nhỏ đến những trái núi lớn đều trực tiếp ảnh hưởng đến cuộc sống và sự sinh tồn của cả cộng đồng Chính vì thế mà họ có tục “thờ từ một hòn đá nhỏ” mà họ gọi là “ông Tà”, đến “trái núi lớn” mà họ gọi là “thần Núi” [4, tr.319], với họ cái gì trong thiên nhiên của tạo hoá cũng là thần thánh Bên cạnh việc thờ phụng những vật thể trong đời sống, thì người dân nơi này, còn xem người thủ lĩnh của mình là những

Trang 24

“vị thần”, là “con trời” nên họ luôn thể hiện lòng kính trọng và sự tôn thờ Như vậy, với người lao động miền núi Nam bộ, vấn đề tín ngưỡng, tâm linh được thể hiện trên hai phương diện: Đó là thờ những vật thể trong thiên nhiên và tôn thờ người đứng đầu cộng đồng Với tín ngưỡng thờ thần của con người miền núi, đã góp phần mang lại một không gian văn hoá bí ẩn, ly

kỳ và khác biệt Ngoài đời sống văn hoá tâm linh, người miền núi còn có những tập tục về ca hát, nhảy múa: khi vụ mùa kết thúc Lễ ăn Nhang; khi ca tụng người thủ lĩnh, hay khi chơi những trò tiêu khiển vào các buổi tối bên ánh lửa giữa đại ngàn Bằng việc đi sâu khám phá các tầng vỉa không gian văn hoá cũng là cách giúp nhà văn khơi sâu vào tâm hồn của con người miền núi Từ đó, tác giả đưa vào trang viết hình ảnh những sắc màu không gian thật sinh động, riêng biệt, thấm đẫm hơi thở của rừng xanh

Bầu trời, cảnh vật và cuộc sống của con người nơi đây đã hằn sâu trong trái tim người nghệ sĩ, khiến nhà văn luôn đau đáu với xứ sở, từ đó tạo nên mạch nguồn thôi thúc người cầm bút viết nên những trang văn đậm đặc sắc màu đặc trưng của quê hương - không gian Nam bộ Không gian ấy được miêu tả sinh động, chân thực, từ sự biến đổi trạng thái giữa các mùa dẫn đến

sự thay đổi cảnh sắc của không gian Đặc biệt thiên nhiên luôn gắn với địa danh cụ thể của không gian đời thực nơi quê hương tác giả Mỗi câu chuyện được nhà văn đặt trong một địa danh có tên gọi cụ thể, trong những khoảng thời gian nhất định, biến chúng thành những câu chuyện tưởng như có thật

mà tác giả đã từng chứng kiến Đưa dạng thức không gian này vào trong tác phẩm, có lẽ nhà văn muốn đưa độc giả đến gần với thế giới thiên nhiên, hiểu hơn về cuộc sống của con người miền núi Để từ đó, con người giữa các vùng, miền sẽ cảm thấy gần nhau hơn, gắn bó hơn, cùng hướng tới xây dựng một cuộc sống tốt đẹp hơn

Trang 25

2.1.2 Không gian huyền hoặc đường rừng

Quan niệm nghệ thuật về con người của các tác giả truyện đường

rừng thường gặp nhau ở chỗ cho con người là những cá thể trong một thế

giới huyền bí Chính vì vậy, không gian huyền hoặc đường rừng là yếu tố không thể thiếu trong các tác phẩm đường rừng Nhà phê bình Vũ Ngọc

Phan từng nói: “Phàm trong những truyện kỳ quái thú vị nhất, phải có đủ

bóng tối cho ma hiện hình” [7, tr.150] Không gian huyền hoặc đường rừng

được hiểu là không gian mang sắc màu huyền bí mà tác giả tạo phông nền để cho những điều kỳ lạ đường rừng xuất hiện

Trong nhiều tác phẩm của Lý Văn Sâm, khung cảnh huyền ảo luôn là nơi khởi phát cho mọi sự kỳ bí, lạ thường Đó là khi “nhìn lơ mơ ra sông thì

tự nhiên trước tầm mắt tôi hiện ra hai ngọn đèn, lóng lánh như hai vì sao Tôi định thần nhìn kỹ thì thấy như có một con thuỷ quái đang vùng vẫy trên những ngọn sóng Hai ngọn đèn kia là cặp mắt của nó Tôi vừa gọi anh và khi anh vừa quay lại thì nó biến mất” [4, tr.232] Tính lưỡng sự của những

ảo giác vô hình làm cho câu chuyện trở nên ly kỳ, huyền bí hơn Cũng có khi cái tĩnh lặng của màn đêm cùng những âm thanh khác lạ lại vô tình gieo vào lòng người cảm giác hãi hùng: “Từng cơn gió lạnh như hơi thở của mụ chằn tinh lùa vào tàn cây rậm Ngàn lá héo chưa kịp rụng lúc ban chiều run lên

bây bẩy Trong những hốc tối, những tấm lá buông và lá kè đập vào nhau

bạch bạch như hai tiếng cánh của một loài chim linh điểu vô hình chỉ xuất hiện vào buổi tối” [4, tr.298] Hơi thở vang ngân của đại ngàn dường như đã đánh thức cảnh vật, những chiếc lá khô treo mình trên không đâu còn là những chiếc lá vô tri vô giác mà trở thành những linh hồn Một không gian tràn trề sức sống hiện hữu nhuốm sắc màu kỳ bí Ngay cả âm thanh tiếng chim kêu, giờ đây cũng gợi cảm giác ghê rợn: “Từ xa đến gần rồi từ cao

Trang 26

xuống thấp, những tiếng chim lạ cứ rên lên từng hồi ảo não khiến những kẻ gan dạ nhất cũng thấy lòng mình xao xuyến Lắng nghe như có tiếng người nói chuyện và bẻ cành cây khô Trên con đường ra giếng, thấp thoáng như có một bóng người lù khù hết tới lại lui” [4, tr.298], là khi nhìn từ xa trông thấy

“bóng núi rung rung trên mặt hồ, có một hình thù quái dị đang giơ cánh tay đầy lông lá lên khỏi đầu” [4, tr.270] Không gian tràn ngập những hình sắc

biến ảo, tất cả tạo nên một không gian hãi hùng, thấm đẫm chất đường rừng

của thể tài này

Nếu không gian huyền hoặc trong sáng tác của các tác giả đương thời như Thế Lữ, TchyA khiến người ta ám ảnh, sợ hãi thì sắc màu không gian trong trang viết của Lý Văn Sâm luôn là trục kết nối làm tăng thêm tính ly

kỳ cho sự kiện, nó không hề mang lại cảm giác ghê rợn cho người đọc:

“Chúng tôi trông thấy ông rồng lượn đi từ chót núi Gia Nhang sang chót núi Gia Huynh trong quãng thời gian mười phút Thoạt tiên chúng tôi thấy một vệt dài như hình một con rít to lớn (…) vùn vụt bay lên như một làn khói màu xám” [4, tr.319], rồi từ giữa không trung “Rồng uốn khúc Lần này Rồng định chui vào núi Gia Huynh nhưng ngọn núi bỗng nhiên phát hỏa (…) Rồng đã đáp vào chóp núi và từ từ biến mất” [4, tr.328] Không gian này không quá lạ lẫm với con người, bởi thường thì sự di chuyển của những đám mây vẫn tạo ra những hình thù kỳ lạ Ảo thuật dung hòa những điều kỳ

lạ trong không gian đường rừng của Lý Văn Sâm đã đem đến cho bạn đọc cảm giác sắc hoang đường luôn gắn với đời thực Vì vậy, những câu chuyện được tác giả tái hiện trong tác phẩm dễ đi vào lòng người, và bạn đọc cũng cảm thấy tin vào những điều tác giả đã tái hiện

Không gian huyền hoặc còn hiện lên đằng sau những âm thanh trong trí tưởng tượng của con người, đó là “tiếng hú não nuột” [4, tr.262] cất lên từ

Trang 27

ngàn sâu, là “tiếng gió thổi ù ù trong các hốc đá nghe như tiếng hú” [4, tr.237], có khi đó là “tiếng hú của kẻ lạc loài” trong một chiều ướt sương, làm vang dội một cõi núi rừng Hòa lẫn trong âm thanh của cảnh vật, là âm thanh của con người, “nàng vui vẻ hú lên một hồi dài, lần lên bờ chạy đi (…) báo trước cái đêm ghê rợn” [4, tr.247], để rồi từ đó ta nghe “tiếng người than thở càng lúc càng trở nên thảm thiết” [4, tr.320] Trong bầu không khí huyền

bí, chợt nghe văng vẳng những âm thanh lạ thường, vang vọng từ thiên nhiên, từ con người ở chốn rừng sâu đại ngàn Trong những khoảng lặng đó không gian càng trở nên kỳ bí, như ẩn chứa nhiều bí mật, chờ đợi sự khám phá của con người

Với việc khắc hoạ không gian huyền hoặc đan xen với không gian đời thực đường rừng đã tạo nên những biến ảo muôn màu cho tác phẩm Không gian trong sáng tác của Lý Văn Sâm mang màu sắc huyền hoặc, nhưng nó không mang lại cảm giác rợn ngợp, ám ảnh người đọc như ở trang viết của

các nhà văn khác Bởi lẽ, không gian trong truyện đường rừng của nhà văn

họ Lý chỉ là như một gia vị không thể thiếu trong một món ăn Nó không chỉ

là phông nền mà còn là nguồn dưỡng khí cho sự xuất hiện của nhân vật, sự kiện, đồng thời tạo ra những mạch dẫn trong truyện trở nên ly kỳ hơn, cuốn hút hơn Từ đó, nó mang lại hiệu quả cho việc thể hiện tư tưởng của nhà văn, cũng như mang lại giá trị thẩm mĩ cho tác phẩm

2.2 Thời gian nghệ thuật

Thời gian nghệ thuật là “hình thức nội tại của hình tượng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó Cũng như không gian nghệ thuật, sự miêu tả, trần thuật trong văn học nghệ thuật bao giờ cũng xuất phát từ một điểm nhìn nhất định trong thời gian Và cái được trần thuật bao giờ cũng diễn ra trong thời gian, được biết qua thời gian trần thuật Sự phối hợp của hai yếu tố thời

Trang 28

gian này tạo thành thời gian nghệ thuật, một hiện tượng ước lệ chỉ có trong thế giới nghệ thuật” [2, tr.332] Thời gian là phương thức tồn tại của thế giới vật chất và đi vào nghệ thuật cùng với những vấn đề cuộc sống như là một tất yếu phản ánh Thời gian nghệ thuật cùng với phương pháp sáng tác, phong cách sáng tác làm nên một hiện tượng nghệ thuật trong thế giới nghệ thuật

2.2.1 Thời gian tâm tưởng

Thời gian là một trục tồn tại của nhân vật, góp phần tạo nên “xương sống” cho tác phẩm, tạo nên một đặc trưng nghệ thuật trong tư duy người

nghệ sĩ Viết truyện đường rừng, Lý Văn Sâm phần lớn dựa vào ký ức, quay

lui thời gian về quá khứ, để tâm trí mình tìm về với những hồi tưởng, hoài niệm Từ đó, nhà văn viết về cuộc sống của con người miền núi, mô tả về vẻ đẹp của thiên nhiên chủ yếu bằng mạch thời gian tâm tưởng – dòng thời gian

để cho nhân vật bộc lộ suy tư thầm kín về những điều đã qua Chính vì vậy,

thời gian tâm tưởng là thời gian chiếm vị trí chủ đạo trong truyện ngắn

đường rừng của Lý Văn Sâm Thời gian trong cõi tâm thức trở thành phương

tiện phản ánh sự trôi dạt miên man trong dòng ký ức của con người Dòng chảy tuyến tính của thời gian bị phá vỡ vì sự xuất hiện của các mảng quá khứ, ký ức

Thời gian tâm tưởng xuất hiện trong mạch truyện được khởi phát từ nhiều hướng khác nhau, khi thì mở đầu của một câu chuyện: “Cách đây ba mươi sáu năm, có một đứa hài nhi đã cất tiếng chào đời dưới một nếp nhà tranh cũ kỹ Hôm ấy là hôm mười bảy tháng hai dương lịch, năm 1922 Người mẹ bắt đầu thấy đau bụng từ lúc nửa đêm Người cha chặt tre đóng vội một cái giường và toan vượt qua chồi găng để rước bà mụ già là người

đã sống trong xóm rừng này rất lâu và đã đứng đẻ từ năm hai mươi tuổi tới

Ngày đăng: 22/05/2021, 10:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm