Giai đoạn 1930 - 1945 là thời kì phát triển rực rỡ của nền Văn học Việt như: Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng, Nam bút chủ lực của Nhà xuất bản Tân Dân đồng thời
Trang 1
B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NGUY ỄN THỊ BÌNH CH ẤT THƠ TRONG TRUY ỆN ĐƯỜNG RỪNG CỦA LAN KHAI LU ẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Thành ph ố Hồ Chí Minh 2012
Trang 2
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 3
L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết
công trình nào khác
Tác giả luận văn
N guyễn Thị Bình
Trang 4
L ỜI CẢM ƠN
đã tận tình hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện luận văn
cấp nhiều tư liệu quí giá, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực
hiện đề tài này
Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu
trong suốt quá trình học tập và hoàn thành đề tài nghiên cứu này
Tác giả
Nguy ễn Thị Bình
Trang 5
M ỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN 1
LỜI CẢM ƠN 2
MỤC LỤC 3
QUY ƯỚC TRÌNH BÀY 5
M Ở ĐẦU 5
1 Lý do ch ọn đề tài 6
2 L ịch sử vấn đề 7
3 Đối tượng và phạm vi, nhiệm vụ nghiên cứu 16
4 Phương pháp nghiên cứu 18
5 Đóng góp của luận văn 18
6 C ấu trúc của luận văn 19
CHƯƠNG MỘT: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 21
1.1 Lan Khai – nhà văn đường rừng xuất sắc 21
1.1.1 M ột sự nghiệp văn chương phong phú, đa dạng 21
1.1.2 Truy ện đường rừng trong sự nghiệp sáng tác của Lan Khai 26
1.1.3 Nh ững nhân tố tác động tạo nên Chất thơ trong Truyện đường rừng của Lan Khai 29
1.2 Chất thơ và chất thơ trong văn xuôi 31
CHƯƠNG HAI: CH ẤT THƠ TRONG BỨC TRANH THIÊN NHIÊN MIỀN NÚI S ỐNG ĐỘNG, NHIỀU MÀU SẮC 35
2.1 Thiên nhiên thơ mộng, tươi đẹp 35
2.2 Thiên nhiên mơ màng, huyền bí 55
2.3 Thiên nhiên th ấm đẫm tâm trạng con người 68
CHƯƠNG BA: CH ẤT THƠ TỎA RA TỪ CUỘC SỐNG, CON NGƯỜI MIỀN NÚI 80
3.1 Cuộc sống tinh thần mang đầy tính nhân văn 80
3.1.1 Nh ững lễ hội mùa xuân 80
3.1.2 Nh ững phong tục, tập quán 84
3.2 Con người miền núi với những phẩm chất tốt đẹp 91
3.2.1 Nh ững chàng trai tài giỏi, gan dạ, chất phác 92
Trang 6
3.2.2 Nh ững cô sơn nữ xinh đẹp, trong sáng, thơ ngây 99
3.2.3 Nh ững mối tình thơ mộng, đắm say 114
K ẾT LUẬN 123
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 127
PH Ụ LỤC 131
Trang 7
QUY ƯỚC TRÌNH BÀY
Cách ghi chú thích: Cụm chú thích ghi trong ngoặc vuông [ ] để ghi các
khảo và trang trích (khi cần thiết) ghi sau dấu phẩy Ví dụ: [15, 35-36]
tức: Tài liệu số 15, trang 35-36
Các ý kiến trích dẫn, được đặt trong dấu ngoặc kép “ ” và in nghiêng
Trang 8
Giai đoạn 1930 - 1945 là thời kì phát triển rực rỡ của nền Văn học Việt
như: Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng, Nam
bút chủ lực của Nhà xuất bản Tân Dân đồng thời cũng là tác giả của nhiều tác
phẩm thuộc nhiều thể loại văn học khác nhau từ tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện vừa đến kí, thơ ca, dịch thuật, lý luận phê bình… đã gây được sự chú ý
của Lan Khai đều ảnh hưởng mạnh mẽ đến các nhà văn và độc giả đương
thiên nhiên và phong tục tập quán của con người miền núi, đã đem lại cho bạn đọc nhiều nhận thức mới về cuộc sống đa dạng của cộng đồng các dân tộc trên đất nước Việt Nam, đặc biệt là của đồng bào miền núi
bảy năm sáng tác, ông đã để lại một khối lượng lớn tác phẩm với những đề tài
chưa được nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống tương xứng với tầm
Chất thơ trong Truyện đường rừng của Lan Khai là một trong những nét
đặc sắc góp phần khẳng định tên tuổi, vị trí của ông trong nền văn học Việt
Trang 9
thơ, chất trữ tình cũng được thể hiện đậm nét trong mỗi trang văn viết về cuộc
đường rừng của Lan Khai, lại mang màu sắc riêng, nó thấm đẫm trong mỗi
chúng tôi muốn đi sâu tìm hiểu những đặc sắc và thành tựu riêng của nhà văn, đồng thời thấy được một phong cách tiểu thuyết, truyện ngắn cũng như những
đóng góp của ông đối với nền văn học Việt Nam hiện đại
2 L ịch sử vấn đề
nhiều thể loại như: tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyết tâm lý xã hội, truyện đường
Truy ện đường rừng của ông thu hút nhiều sự chú ý của bạn đọc và các nhà
riêng của nhà văn trong nền văn học Việt Nam hiện đại
• Trước Cách mạng tháng Tám:
Trước Cách mạng tháng Tám, có một số bài viết và một số tác giả đã quan tâm đến sáng tác của Lan Khai như: Trần Huy Liệu, Trương Tửu, Hải
được tập hợp lại trong “Lan Khai nhà văn hiện thực xuất sắc”, Nhà xuất bản
H ội nhà văn, 2006) Đa số các tác giả của những bài viết, bài nghiên cứu này
Người đầu tiên quan tâm đến Truyện đường rừng của Lan Khai là nhà nghiên
Trang 10
rừng rú” vì chính Lan Khai bằng “năng lực nghệ sĩ thiên bẩm thúc giục, ông
c ầm bút chép những chuyện lạ đường rừng, dắt ta vào một địa hạt xa xăm, tối
hi ểm Từ từ, hồi hộp, ông ẩn khẽ cánh cửa của rừng thẳm, mở lối cho nghệ thu ật bước vào một thế giới lạ lùng, đầy những hình trạng nhiệm mầu, đột thú
Trong phạm vi ấy ông vẫn chiếm địa vị đàn anh, trơ trọi như cây đa cổ
th ụ giữa cánh đồng bát ngát”[43, 225] bởi lẽ “ông sống trong rừng rậm, núi cao, c ảm thấy cái đẹp của sơn lâm và cái hay của các dân Mèo, dân Thổ Luôn luôn ông chìm đắm trong những phút say khoái trá của giác quan Chung quanh mình, ông được ngắm tê mê ngàn vạn những hình ảnh thiên nhiên mà m ột ngòi bút thiêng liêng điểm rồi lại xóa” và “Quả thực không có
ai yêu tha thi ết rừng núi như Lan Khai Ông cho nó một linh hồn Ông thu nó qua nét v ẽ” [43, 225] và “Ông Lan Khai quả có con mắt tinh vi của nhà tiểu thuy ết tả thực Hình như ghi đầy đủ được các vật xung quanh mình đối với ông, là một cái thú riêng của nhà nghề, cũng như gửi tình cảm cho thiên nhiên, ở một thi nhân, là cách đặt ống giác vào trái tim đau đớn”[44, 228]
đánh giá cao về ngòi bút tả cảnh của ông: “Trong các nhà văn tả cảnh hiện
đại, ông Lan Khai đáng liệt vào địa vị danh dự”[44, 238] và thỉnh thoảng
dưới ngòi bút Lan Khai “hình tượng nọ nối tiếp hình tượng kia thành một
điệu dài làm cho người đọc như bị mê sảng không biết mình ở trong mộng hay trước cảnh thực” và “ văn ông bóng bẩy, đẹp đẽ Không mấy khi ông tả màu s ắc bằng một phẩm từ cộc lộc Ông phải dùng lối ví
“Mái tóc màu hạt dẻ…”
“Đỉnh núi xa màu lơ nhạt…”
“Su ối nước đen như mực loãng…”
Trang 11
(…)văn Lan Khai tổng hợp, đằm thắm và dễ cảm động”[44, 240] Như
vậy, với ý kiến của Trương Tửu, ta có thể khẳng định vị trí của Truyện đường
r ừng cũng như tài năng sáng tạo của Lan Khai trong miêu tả thiên nhiên miền
núi ngay từ đầu những năm 1930 và phần nào thấy được Chất thơ trong
Truy ện đường rừng qua những bức tranh thiên nhiên và cuộc sống con người
đầy thơ mộng
được “tài nghệ của Lan Khai”, tác giả tập trung vào tìm hiểu các tiểu thuyết
Ti ếng gọi của rừng thẳm và tập Truyện đường rừng, ông viết: “Đọc Tiếng gọi
c ủa rừng thẳm người ta cảm về cái tâm hồn ngây thơ và chất phác của cô sơn
n ữ bao nhiêu, thì đọc Truyện đường rừng của Lan Khai người ta lại ghê sợ về
nh ững cái bí hiểm của rừng núi bấy nhiêu và người ta có cái cảm tưởng như những chốn sơn lâm của Mường, Mán chỉ là những nơi ma thiêng nước độc, người man di còn ở lẫn với thú dữ và… ma Hai quyển sách là hai bộ mặt của
r ừng: một đằng là cái vẻ đẹp của người, của cảnh phô bày trước mặt người lữ khách; còn m ột đằng là những điều huyền bí ẩn náu ở sau những người và
nh ững cảnh ấy”[17, 262] Và theo Vũ Ngọc Phan thì “Đọc Truyện đường
r ừng của Lan Khai, ta không nên nghị luận về hư thực, không nên đứng vào
m ặt khoa học để bài bác; ta nên đọc với óc thơ mộng, pha chút huyền ảo của
c ổ nhân, như khi đọc Liêu Trai của Bồ Tùng Linh vậy”[21, 263] Ngoài ra
bút rất tài tình để viết truyện ngắn Không hiểu sao ông lại chỉ viết có tập Truy ện đường rừng? Thật đáng tiếc!”[22, 246] Cũng theo Vũ Ngọc Phan thì
“Ti ếng gọi của rừng thẳm là một tập truyện đường rừng tươi đẹp của Lan Khai (…) L ời văn thật giản dị và linh động(…) Cả truyện đều là những cảnh
Trang 12
dịu dàng kế tiếp” “Trong tập Truyện đường rừng của Lan Khai, truyện Tiền
m ất lực (trang 97) có cái cốt cách của một truyện dài; chuyện thật cảm động, nào lòng hào hi ệp, nào sự chung tình, rồi cái kết cục của đôi nhân tình mới oanh li ệt làm sao! Rồi trong truyện còn điểm nhiều đoạn đầy thơ mộng Cả
truy ện là một bài thơ trường thiên có hương vị của rừng núi”[22, 159-160]
thấy được tài năng nghệ thuật của Lan Khai trong thể loại truyện ngắn
hút được sự chú ý của không ít nhà nghiên cứu, phê bình văn học nổi tiếng Song hầu hết các bài nghiên cứu mới chỉ tập trung ở các tác phẩm tiểu thuyết
song chưa đầy đủ và toàn diện
• T ừ sau Cách mạng tháng Tám đến trước 1986:
nhận xét đánh giá cao sở trường viết tiểu thuyết và khả năng viết Truyện
đường rừng của Lan Khai: “Chúng ta thấy về tiểu thuyết đường rừng Thế Lữ
đã có viết nhưng chính Lan Khai mới là nhà văn của miền thượng du Bắc Việt
… Thế Lữ đứng từ ngoài nhìn vào, cố đem đầu óc khoa học để giải thích vài
bí m ật đường rừng Lan Khai muốn từ trong bước ra mở cửa cho ta chứng
ki ến cái thế giới huyền bí li kì của dân thượng du”[20, 287] Ngoài ra Phạm
của Lan Khai: “là một cây bút biết tự chăm sóc và có nhiều đức tính văn
Trang 13
chương… Ở những tác phẩm, những trang ông viết kỹ hơn cả ta thấy một bút pháp th ực già dặn điêu luyện”[20, 292]
và đưa ra một số nhận xét “nhà văn lãng mạn rẽ bước chốc lát sang con
đường hiện thực … cố nhiên vốn hiểu biết của “Nhà văn đường rừng” về giai
c ấp công nhân cũng khá mong manh…”
dài do di sản văn học của Lan Khai bị thất lạc hoặc chưa được tái bản nên các bài nghiên cứu, phê bình về ông còn thưa thớt
• Từ 1986 đến nay:
Năm 1989, trong cuốn “Tổng tập văn học Việt Nam tập 29A” tác giả
m ột nhà văn viết Truyện đường rừng và Tiểu thuyết lịch sử theo khuynh hướng lãng mạn thoát ly Tuy nhiên trong toàn bộ sáng tác của Lan Khai cũng có một số truyện ngắn (Thằng gầy; Kẻ chiến bại) và tiểu thuyết (Lầm than; Mực mài nước mắt) viết theo khuynh hướng hiện thực phê phán” Nhìn
chung cho đến thời điểm này việc nghiên cứu về sự nghiệp văn học của Lan Khai còn sơ lược
điều về nhà văn Lan Khai”, tác giả đã cung cấp một số tư liệu mới về lịch sử
đình Lan Khai Bài viết đã giúp ta hiểu hơn về thân thế, sự nghiệp của nhà
văn: “Kể cả thời gian đi học và viết báo, viết văn, Lan Khai sống ở Hà Nội
chưa đầy mười năm, thời gian còn lại ông sống gần gũi gắn bó với miền núi Chính vì thế mà cuộc sống con người miền núi được thể hiện trong tác phẩm
c ủa Lan Khai một cách ưu ái, trân trọng và khá đậm nét”[8, 313]
Trang 14
như “Hành hương về thủ đô kháng chiến” (Tuần báo văn nghệ 25/08/1990) và
“Ki ếm sống bằng nghề văn” (Văn nghệ số 26, 1991) tác giả cũng cung cấp
thêm một số tư liệu về nhà văn Lan Khai trước cách mạng
và giai tho ại” (1992), tác giả Ngọc Giao trong bài “Lan Khai với truyện lạ đường rừng” đã cung cấp thêm một số tư liệu về cuộc đời nghệ thuật của Lan
Năm 1997, trên báo “Giáo dục và thời đại” số 38, Hoàng Dạ Vũ có bài
xuôi lãng mạn Việt Nam 1930 – 1945” (tập 2) trong đó có giới thiệu vắn tắt
thuy ết lịch sử và tiểu thuyết đường rừng”
điển tác phẩm văn xuôi Việt Nam giai đoạn cuối thế kỉ XIX – 1945” Trong
“L ầm than”, “Cô Dung”, “Gái thời loạn”, “Suối Đàn”…
Tuân, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng, Hải Triều,… Trên báo Văn nghệ
Trang 15
đã đánh giá cao tư tưởng văn nghệ của Lan Khai dựa trên các tư liệu lý luận
và phê bình văn học của nhà văn: “Từ quan niệm đến sáng tác, đương thời
Lan Khai đã thể hiện cái nhìn khá toàn diện và sâu sắc về vị trí nhà văn đối
v ới cuộc sống và nghệ thuật”[34, 194] và theo Lan Khai “Nhà văn là tinh hoa của dân tộc và văn minh nhân loại được tỏa sáng bằng tài năng, tri thức và nhân cách, c ần có sự phấn đấu không ngừng vì lợi ích dân tộc và mục tiêu cao c ả nhất là làm ra cái đẹp để phụng sự con người… Phản ánh chân thực
cu ộc sống là thước đo cái tâm, cái tài của người nghệ sĩ, là sức sống trường tồn của nghệ thuật”[34, 194]
Tác giả Nguyễn Thanh Trường, trong luận văn thạc sĩ khoa học Ngữ
văn: “Truyện đường rừng của Lan Khai”, 2001 khi nói về thiên nhiên trong
Truy ện đường rừng có nhận xét: “Cảm nhận đầu tiên của người đọc khi đến
v ới những tác phẩm: Tiếng gọi của rừng thẳm, Đường đi Cao Bằng, Đỉnh non Thần, Hồng Thầu, Mọi rợ, Suối Đàn, Mưa xuân vv… là thế giới thiên nhiên trong nh ững Truyện đường rừng này hiện lên thật đẹp, một vẻ đẹp chân thực tươi trẻ vừa mộc mạc gần gũi thân quen lại rất mộng và thơ”[40, 34] và
Lan Khai là cây bút vi ết về cuộc sống miền núi gây được nhiều ấn tượng sâu
s ắc trong bạn đọc… Đó là cảnh núi non trùng điệp, hùng vĩ, là những cảnh
s ắc tươi sáng trong trẻo của bầu trời và vạn vật, những hương thơm của hoa
r ừng, những lay động dịu êm của cây cỏ, những nét trẻ trung tràn đầy sức
s ống của muôn loài Và xen vào đó là hình ảnh của sông, suối, của những màn sương mỏng lúc chiều buông, của những ánh nắng vàng tươi rói bao trùm lên c ả một không gian rộng lớn”[40, 33-34] Từ đó Nguyễn Thanh
Trường đi đến khẳng định: “ta đến với rừng xanh yêu thương qua những
trang vi ết chứa chan cảm xúc của nhà văn là đến với cái đẹp trong sáng tràn
Trang 16
đầy sức sống làm ấm lòng người, là đến với một thế giới thiên nhiên chân
th ực thơ mộng hòa hợp với con người”[40, 34] Khi viết về con người miền
cách chân th ực, sinh động, hòa hợp với thiên nhiên với môi trường sống và trở thành điểm sáng thẩm mĩ giữa núi rừng trùng điệp”[40, 102] Đồng thời
thuy ết của Lan Khai, ta thấy sức cuốn hút mạnh mẽ của một ngôn ngữ nghệ thu ật giầu chất thơ lan tỏa trong nhiều trang viết Nhà văn đã triệt để khai thác vẻ đẹp của văn hóa dân gian để đưa vào trong tác phẩm của mình như
vi ệc xen các câu ca dao, dân ca mượt mà, đằm thắm của đồng bào dân tộc thi ểu số vào trong nhiều trang tiểu thuyết”[40, 104] Nhìn chung những đánh
cũng như nghệ thuật Truyện đường rừng của Lan Khai
Khai m ột số điều cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu” nhân kỉ niệm 100 năm ngày
Khai, cũng có những điều cần bàn thêm: Là người sinh sống quen thuộc với núi r ừng lại là một họa sĩ một nhà thơ, Lan Khai đã có những trang viết khá đặc sắc trong các Truyện đường rừng của ông”[29, 83] Cũng trong “Lan Khai nhà văn hiện thực xuất sắc”, tác giả Nguyễn Thanh Trường trong bài
“B ằng bút pháp nghệ thuật so sánh, ví von, liên tưởng Lan Khai đã phác họa thành công chân dung người phụ nữ từ ngoại hình cho đến nội tâm, vừa có
Trang 17
dấu ấn phong tục, vừa mang bản sắc của mỗi cộng đồng vừa có chiều sâu nhân b ản”[29, 98]
Trên báo Văn nghệ số 15, ngày 15/04/2006, trong bài viết: “Nhà văn
Lan Khai – người mở đường vào thế giới sơn lâm”, tác giả Trần Mạnh Tiến
lãng mạn và hiện thực, đôi khi xen cả những yếu tố truyền kì làm cho câu chuy ện thêm “hương vị của rừng” Riêng ở phạm vi này có thể xem Lan Khai
là nhà văn đã tìm một hướng đi riêng cho tiểu thuyết, tiêu biểu với các tác
ph ẩm Rừng khuya, Mọi rợ, Tiếng gọi của rừng thẳm, Suối Đàn, Tiền mất lực, Hồng Thầu…” [33, 156] và “Sức hấp dẫn trong tiểu thuyết đường rừng biểu
hi ện ở những bức tranh phong cảnh đặc sắc trong đó hiện lên chân dung sống động của con người…Lan Khai là người nghệ sĩ đã mang đến cho tiểu thuyết
c ủa mình những phẩm chất tinh túy của thơ ca và nhạc họa”[33,158] Nói về
Ch ất thơ trong Truyện đường rừng của Lan Khai, tác giả Trần Mạnh Tiến còn
đi sâu vào một số tác phẩm cụ thể và khẳng định: “Trong Rừng khuya đoạn
mô t ả tấm thân nõn nà của Dua Phăn ngâm mình trong bồn nước trong vắt
gi ữa rừng xanh là một bức tranh tràn đầy mĩ cảm… Cái tên Suối Đàn không
ch ỉ là địa danh thôn bản mà còn là bản tình ca bất tận của thiên nhiên ban
t ặng con người Trong Chiếc nỏ cánh dâu cuộc tình giữa Pengai Lâng với Mai Khâm tr ở nên sống động hơn bằng làn điệu dân ca Giarai uyển chuyển qua ti ếng hát của người thiếu nữ làm cho núi rừng Tây Nguyên thêm thơ
m ộng” [33,158] Và “Những trang viết của ông hiện lên nhiều từ ngữ giàu tính t ạo hình và biểu cảm, câu văn chứa nhiều ánh sáng và màu sắc với âm thanh hương vị gợi ra những trường cảm giác mới lạ Cùng đó là những biện pháp so sánh ví von giàu s ức liên tưởng tạo nên những vẻ đẹp thi ca trong
ti ểu thuyết”[33,159]
Trang 18
Năm 2010, “Tuyển tập Lan Khai” được Trần Mạnh Tiến biên soạn và
hết những sáng tác của nhà văn từ tiểu thuyết, truyện ngắn đến kí, thơ ca, phê bình văn học Điều này đã giúp cho người đọc có cái nhìn đầy đủ, toàn diện
Tám đến nay đã được nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu, đánh giá cao song chưa được tiến hành thường xuyên và toàn diện Đến nay chưa có một công trình
r ừng của Lan Khai Tuy trong các bài nghiên cứu của Trần Mạnh Tiến,
đường rừng của Lan Khai nhưng chưa đi sâu vào nghiên cứu một cách cụ thể
định, đánh giá Do vậy, luận văn này là công trình đầu tiên đi sâu vào nghiên
thơ và biểu hiện cụ thể vẻ đẹp của Chất thơ trong Truyện đường rừng của
Lan Khai
3 Đối tượng và phạm vi, nhiệm vụ nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Chất thơ trong Truyện đường rừng của Lan
Khai
Ph ạm vi nghiên cứu: Để thực hiện đề tài này, chúng tôi tiến hành khảo
V ề tiểu thuyết bao gồm:
R ừng khuya (1935);
Trang 19Con thu ồng luồng nhà họ Ma;
Con bò dưới thủy tề;
Ngoài ra chúng tôi còn tham khảo thêm một số tiểu thuyết lịch sử và tiểu
Trang 20
(1944),…
Nhi ệm vụ nghiên cứu: Nhiệm vụ của đề tài này là nghiên cứu những
r ừng
4 Phương pháp nghiên cứu
pháp nghiên cứu chính sau đây:
- Phương pháp hệ thống: Tiến hành tập hợp những tiểu thuyết và truyện
ngắn viết về miền núi của Lan Khai để khảo sát chất thơ trong những tác
đẹp, trong sáng; những chàng trai tài giỏi, gan dạ; những lễ hội mùa xuân;
- Phương pháp phân tích tổng hợp: Chúng tôi tiến hành phân tích những
nghiên cứu và chỉ ra biểu hiện của chất thơ trong nội dung và nghệ thuật của các sáng tác đó
- Phương pháp so sánh: Trong quá trình nghiên cứu Chất thơ trong Truy ện đường rừng của Lan Khai, khi cần thiết chúng tôi sẽ so sánh với chất
thơ trong tác phẩm của một số nhà văn khác để làm nổi bật nét đặc sắc và sự sáng tạo của nhà văn
Trang 21
Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu tương đối hệ thống về Chất thơ
trong truy ện đường rừng của Lan Khai trên cơ sở tiếp thu những ý kiến đánh
phần khẳng định vị trí của Lan Khai trong dòng văn học Việt Nam những
năm 1930 – 1945 và chỉ ra những nét đặc sắc trong phong cách nghệ thuật của
ông khi viết Truyện đường rừng
6 C ấu trúc của luận văn
luận văn chúng tôi triển khai thành ba chương như sau:
Chương một: Những vấn đề chung
Trong chương này, người viết giới thiệu những nét cơ bản về cuộc đời
phú, đa dạng của nhà văn cũng như vị trí Truyện đường rừng và những nhân
Cùng với đó, người viết cũng tiến hành lí giải khái niệm về chất thơ và chất
thơ trong văn xuôi để làm cơ sở lí luận nền tảng cho việc nghiên cứu đề tài
này
Chương hai: Chất thơ trong bức tranh thiên nhiên miền núi sống
động, nhiều màu sắc
Trong chương này, người viết đi vào phân tích chất thơ trong bức tranh
thiên nhiên miền núi sống động, nhiều màu sắc Đó là một bức tranh tươi đẹp,
thơ mộng với những gam màu tươi sáng, ấm áp đầy tính nhạc, tính họa và
phân tích bút pháp nghệ thuật miêu tả thiên nhiên tinh tế, giàu hình ảnh, cùng
với lối so sánh, ví von sinh động góp phần làm nổi bật chất thơ của bức tranh
Chương ba: Chất thơ tỏa ra từ cuộc sống, con người miền núi
Trang 22
Trong chương này, người viết đi sâu vào tìm hiểu chất thơ tỏa ra từ cuộc
mang đầy tính nhân văn với những lễ hội, phong tục đậm đà bản sắc dân tộc
trong chương này, người viết cũng chú ý phân tích tình huống và cốt truyện
để làm nổi bật chất thơ trong bức tranh về cuộc sống, con người miền núi
Trang 23
CHƯƠNG MỘT:
1.1 Lan Khai – nhà văn đường rừng xuất sắc
1.1.1 M ột sự nghiệp văn chương phong phú, đa dạng
Vĩnh Lộc, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang Cha ông là cụ Nguyễn Đình
nhà Nho kiêm ngh ề lương y, tính thích uống rượu ngâm thơ và rất yêu say
c ảnh núi sông, hoa cỏ”[30, 11] Nhà Nho ấy là người từng trải, có vốn văn
truyện dân gian phong phú
thuy ết, Truyện ngắn, K í, Thơ ca, Văn học dân gian, Thơ ca dân gian và cả Lí
lu ận và Phê bình văn học Hầu hết các tác phẩm của Lan Khai đều rất đặc sắc,
tính chân thật trong văn học
Có lẽ, người đọc biết đến Lan Khai đầu tiên với tư cách là một nhà tiểu thuyết tâm lý xã hội Lan Khai đặt chân vào làng tiểu thuyết trước tiên với đề
(1929- 1934, xu ất bản 1938), Liếp ly (1938), Sóng lúa reo (1938), Nàng (1940), M ực mài nước mắt (1941), Tội nhân hay nạn nhân (1941), Tội và
Trang 24
thương (1942), Mưa xuân (1942- 1943),… Đó là những bức tranh cuộc sống
m ắt (1941) của Lan Khai đã cho ta thấy những bức tranh nối tiếp về bi kịch
tinh thần của người nghệ sĩ trong xã hội thuộc địa Đây là những sáng tác ra
đời trước cả Đời thừa, Trăng sáng và Sống mòn của Nam Cao nhiều năm
cô gái Lào
tính hiện thực toát lên vốn sống phong phú của nhà văn
Cùng với danh hiệu nhà tiểu thuyết tâm lý – xã hội, Lan Khai còn được
Tình và máu (1932), Mũi tên độc (1933), Lên thác xuống ghềnh (1934), Rừng khuya (1935), Ti ếng gọi của rừng thẳm (1936), Dấu ngựa trên sương (1939- 1940), H ồng Thầu (1940), Suối Đàn (1941), Chiếc nỏ cánh dâu (1941), …
trắng trong sương mù, Trong cơn binh lửa,… Tuy là những tiểu thuyết lịch
sử, nhưng nhân vật, tập quán và địa danh vẫn là những bức tranh sinh động về
Trang 25
luồng, Con thuồng luồng nhà họ Ma, Con bò dưới Thủy tề, Gò thần, Tiền mất
l ực, Khảm khắc, Pàng Nhả, Dưới miệng hùm, Sóng nước Lô Giang,… Có thể
thấy cái nhìn nhân văn sâu sắc về thiên nhiên đất nước con người Bằng
trên lãnh thổ Việt Nam
Lan Khai còn là một nhà tiểu thuyết lịch sử Sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống yêu nước, Lan Khai luôn mang trong mình lịch sử của quê hương đất nước Nhà văn đồng thời cũng sống trọn thời kì lịch sử có nhiều sự kiện trọng đại Ông đã để lại một di sản lớn với gần 30 tiểu thuyết
Nga (1938), Chàng áo xanh (1938), Bóng c ờ trắng trong sương mù (1938), Đỉnh non Thần (1940), Cưỡi đầu voi dữ (1940), Gửi cái xuân tàn (1941), Sầu lên ng ọn ải (1941), Người thù mặt trời (1941), Trăng nước hồ Tây (1941), Treo b ức chiến bào (1942), Trong cơn binh lửa (1942), Thành bại với anh hùng (1942), Tình ngoài muôn d ặm (1942), Rỡn sóng Bạch Đằng (1942), Cánh bu ồm thoát tục (1942), Theo lớp mây đưa (1942), Ái tình và sự nghiệp (1942), Gi ấc mơ bạo chúa (1942), Việt Nam- Ngươi đi đâu? (1941),… Đương
thời, khi viết tiểu thuyết lịch sử, các nhà văn Nguyễn Tử Siêu, Nguyễn Triệu
mẫu, nhưng với Lan Khai, ngoài việc bám sát các tư liệu lịch sử, ông còn
mới có chiều sâu nhân bản
Ngoài tiểu thuyết tâm lý xã hội, truyện đường rừng, tiểu thuyết lịch sử,
Trang 26
ca và dịch thuật Truyện ngắn của ông bao gồm hai loại là: truyện ngắn đường
s ự đời (1934) bao gồm 5 truyện: Lẩn sự đời, Giông tố, Bỡn cợt với tình, Một
vi ệc tự tư, Vì cánh hoa trôi cùng nhiều truyện ngắn ở các tờ báo khác như: Nơi ước hẹn trên Đông Phương (1934); Anh Sẩm, Thằng Gầy, Cái của nợ, Cô Bụt, Khóc thông reo trên Ngọ báo (1934); Kiếp con tằm, Khổ tình, Chung tình trên Loa (1935) V ề truyện ngắn đường rừng có tập Truyện đường rừng
(1940) và các truyện ngắn đăng trên các báo như Ngọ báo, Đông Pháp Tác
Trường hận ca về sự chết (1933), Sáu năm cách biệt nay hồi cố hương (1933,
vi ết cùng Yên Sơn), Thầy đồ tôi (1933), Viếng cô Hồng Yến (1933), Cháu tôi
ch ết (1933), Tập hồi kí nhan đề 8023 (viết 1930-1932, in 1935), Biệt ly (1934), Cánh hoa mua (1929 in 1935), Con ng ựa hồng của tôi (1930 in 1935), M ột cuộc săn đêm (1935), Đau và chết (1939)… Đó là những bức
đó không dễ dàng phân biệt giữa tự truyện và ký trong nhiều trang viết của ông
một nhà thơ, nhưng thơ ca lại đến với ông một cách hồn nhiên chân thực
Dòng huy ết lệ, Tiếng hát xa, Tiếc xuân, Cõi Tiên, Tiếng hát làm dâu…
Ở mảng dịch thuật, dường như người nghệ sĩ này cũng luôn tham vọng
bạn đọc Ông từng dịch về các tác gia nước ngoài như: Anđrêgit, Lev Tolxtoi, Stêphan Zweig, Romain Rolland, Đôxtôiepxky, Phêlixiêng Sale, E Dôla…
Trang 27
những bài báo, hay sách kinh điển, được viện dẫn linh hoạt trong các bài nghị
luận về văn học, về giáo dục và lý luận nói chung
đại, Lan Khai còn là một cây bút nghiên cứu, lý luận và phê bình sắc bén có ảnh hưởng mạnh mẽ với đương thời và sau này Quan niệm nghệ thuật của
c ảnh (1934); Đẹp; Nguồn cảm hứng của thi nhân; Âm điệu mới (1935); Cần
m ột ông trời; Tính cách Việt Nam trong văn chương; Cảm tưởng về cách dạy hát của nhạc sĩ Nguyễn Văn Diệp; Thiên chức của văn sĩ Việt Nam; Cái nguy
m ất gốc; Gửi một bạn trẻ muốn theo đuổi nghề viết văn; Một niềm tin cần
ph ải có; Bàn qua về nghệ thuật; Một quan niệm về văn chương; Phác họa hình dung và tâm tính thi sĩ Tản Đà; Con người Vũ Trọng Phụng (1939); Gió núi trăng ngàn (1933); Những câu hát xanh (1937); Cái đẹp với nghệ thuật (1940); Lê Văn Trương (1940); Vũ Trọng Phụng (1941)… Tất cả các vấn đề
nghệ thuật và nhân sinh của Lan Khai thể hiện trong những bài viết và chuyên
luận, hoặc đan xen trong nhiều trang tiểu thuyết, tạo thành một hệ thống quan
cách tân văn nghệ; vai trò của nhà văn và nền văn nghệ tương lai; mối quan
cứu về phong tục của nhiều dân tộc thiểu số trên lãnh thổ Việt Nam như
núi trăng ngàn (1933) và Những câu hát xanh (1937)… là những di sản quí về
thơ ca dân gian của đồng bào Tày bao gồm các thể đồng dao, tục ngữ, cao dao, dân ca vô cùng sinh động với bút danh Lâm Tuyền Khách Lan Khai
Trang 28
cũng nghiên cứu phong tục nhiều dân tộc thiểu số từ Việt Bắc đến Tây
Nguyên, như các công trình Mán Mèo, Người Thổ nâu, Quần Cộc chơi xuân,
Chút ph ảo nòn thoai, Mang lung, Đầu đỏ với ngày xuân, Tiếng tiêu trên núi
L ịch… Đó là các bài khảo cứu có giá trị về bản sắc văn hóa các dân tộc Tày,
H’Mông, Đại Bản, Tiểu Bản, Pà Thẻn, Dao Tiền, Quần Cộc, Lô Lô, Ba Na, Gia Rai…
Khai đã để lại một dấu ấn sâu đậm cho nền văn học Việt Nam hiện đại Ông
tham gia vào nhiều lĩnh vực văn học và ở đề tài nào cũng thể hiện những năng
trước nhân dân và đất nước
1.1.2 Truy ện đường rừng trong sự nghiệp sáng tác của Lan Khai
Về khái niệm Truyện đường rừng:
Khai, Lý Văn Sâm, Thế Lữ,… chúng tôi mạnh dạn đưa ra một số tiêu chí sau
để xác định một tác phẩm văn học có phải là Truyện đường rừng hay không:
1 Lấy khung cảnh rừng núi làm bối cảnh
Trang 29
3 Câu chuyện có yếu tố kỳ lạ, khác thường
Về Truyện đường rừng của Lan Khai:
Vào đầu những năm 30 của thế kỉ XX, Truyện đường rừng của Lan
cũng như giới nghiên cứu Sự ra đời của Truyện đường rừng này là một hiện
tượng mới trong đời sống văn học nước ta bởi trong suốt thời kì trung đại cho đến đầu những năm 30 của thế kỉ trước hình bóng cuộc sống và con người
trong văn học còn mờ nhạt Năm 1936, tiểu thuyết Tiếng gọi của rừng thẳm
của Lan Khai được Hội Trí tri trao giải nhất
Truy ện đường rừng của Lan Khai là những bức tranh về thế giới thiên
hương cũng là không gian tràn ngập tiếng chim cùng với tiếng reo của suối
trung, thơ ngây; những chàng trai tài giỏi, chất phác, họ cùng nhau sống hòa
c ủa rừng thẳm, Ẻn trong Suối đàn, Mai Kham và Dua Phăm trong Rừng khuya, Mai Khâm và Pengai Lâng trong Chi ếc nỏ cánh dâu Viết nên những
Trang 30
sống
Bước vào thế giới Truyện đường rừng của Lan Khai ta thấy bên cạnh
trong mình tình yêu lao động, yêu cuộc đời, yêu núi rừng tha thiết Đó là Peng
lương thiện, những chàng trai chất phác, gan dạ, những cô gái trong sáng, thơ ngây đẹp như những bông hoa rừng
tên nha lại trong Dấu ngựa trên sương, vị tù trưởng trong Chiếc nỏ cánh
dâu,… Nói chung những tác phẩm này của Lan Khai đã để lại ấn tượng sâu
sống khác nhau từ thung lũng đến non cao
tình thơ mộng của những đôi nam thanh nữ tú khác nhau về sắc tộc: chàng trai dân tộc Dao với cô gái Tày (Rừng khuya), chàng trai Kinh với cô gái Thổ (Ti ếng gọi của rừng thẳm), chàng trai Kinh với cô gái Tày (Suối Đàn), thiếu
Lan Khai được mệnh danh là nhà văn đường rừng còn bởi ông biết lẫn
sinh hoạt, vui chơi, tín ngưỡng, trang phục, hôn nhân và những nét tâm lý
đóng góp của Lan Khai cho thấy cái nhìn nhân văn sâu sắc và đầy chất thơ về
thiên nhiên, đất nước, con người “Nhà văn đã mang đến những trang viết
Trang 31
của mình nhiều phẩm chất tinh túy của thi ca nhạc họa, những câu văn nhiều ánh sáng, màu s ắc, âm thanh, gợi ra những trường cảm giác mới lạ”[1,28]
Lan Khai được coi là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất viết về đề tài
Phan, Trương Tửu, Phạm Thế Ngũ, Trần Mạnh Tiến, Nguyễn Văn Long, Hà Minh Đức, Nguyễn Thanh Trường,…
1.1.3 Nh ững nhân tố tác động tạo nên Chất thơ trong Truy ện đường rừng của Lan Khai
thi ện cùng với môi trường sinh thái phong phú, khí hậu mát mẻ ở miền rừng
như tất cả những vốn văn hóa dân gian, những truyền thống lịch sử của quê hương đã được Lan Khai hấp thụ qua lời ru của mẹ và lời kể của cha Những năm tháng tuổi thơ đẹp đẽ đó đã tạo cho Lan Khai có một vốn sống, vốn văn
đượm chất thơ về cuộc sống, con người và bức tranh thiên nhiên miền sơn cước
Khi đã trở thành nhà văn nổi tiếng trên văn đàn, viết về thời thơ ấu của
g ần gũi hú hý với nhau, mà mẹ tôi lại đã không kể cho tôi nghe ít nhất là một
Trang 32
sự tích về cái thời mà Bụt còn năng hiện xuống trần để can thiệp vào nhân sự,
ho ặc cái lai lịch não nùng của bà Chúa Ba, hoặc sự kiên quyết của bao kiếp luân h ồi của Phật tổ? Mẹ tôi kể bằng một giọng chìm chìm, bí mật và đầy thi
v ị, trong khi một vẻ mơ màng say đắm hiện long lanh trong hai mắt mẹ tôi…
Ng ồi nghe mẹ kể tôi đã sống hiển hiện cuộc đời các nhân vật lạ lùng của những chuyện cổ tích ấy”[30, 13] Còn với cha, Lan Khai cũng có những hồi
ức rất đẹp: “Thầy tôi còn hay kể cho tôi nghe những chuyện về Thúy Kiều, về
Chiêu Quân, nh ững tích rút ở Tình sử và Liêu Trai…”[30, 14]
Gâm đến vùng đất tỉnh lị bên bờ sông Lô đã đi vào sáng tác của ông với
trong môi trường thiên nhiên linh thiêng và thơ mộng của vùng đất Tuyên
Quang Sau này, khi đã thành một học sinh Trường Bưởi và sinh viên Trường
Cao đẳng Mĩ thuật Đông Dương, cũng như khi đã có một gia đình riêng yên
ấm, là một anh đồ Khải thì cái chất đường rừng với cái men nghệ sĩ đã đưa
bước chân anh đi khắp đó đây, từ núi rừng Việt Bắc đến các buôn sóc Tây
sơn cước
Năm 1927, Lan Khai kết hôn với bà Hà Thị Minh Kim (1909- 1999) -
hưởng sâu sắc đến sự nghiệp văn chương của Lan Khai Không chỉ là người
còn là người “trợ bút” đắc lực cho Lan Khai trong nhiều trang viết
Lan Khai là người đam mê vẽ tranh phong cảnh, thích sưu tầm văn học dân gian, làm thơ về quê hương, tình bạn, tình yêu Không những thế ông còn
Trang 33
là người có thú chơi sách, “anh đã lập cho mình một thư viện lớn ngang bằng
nhà sách ở phố Hàng Bông thời bấy giờ, gồm các loại sách báo cổ, kim, Đông, Tây với tên tuổi các tác gia văn học, triết học và sử học nổi tiếng trên
th ế giới… Anh đam mê khảo cứu phong tục tập quán và ngôn ngữ các dân tộc thi ểu số ở các vùng miền đất nước”[30, 17] Thú chơi sách này đã tạo cho Lan
đượm chất trữ tình
đủ thứ sách và tiếp tục dạy học, viết văn, vẽ truyền thần Ông mất vào cuối thu 1945 tại quê nhà Tuyên Quang
1.2 Ch ất thơ và chất thơ trong văn xuôi
Thơ là một thể loại văn học nảy sinh rất sớm trong đời sống con người Đặc trưng của thơ biểu hiện rất sâu sắc từ cảm hứng sáng tạo, tình ý trong thơ đến ngôn ngữ, nhạc điệu… Thơ là những rung động và cảm xúc của con
người trước cuộc sống được bộc lộ một cách chân tình, tự nhiên “Thơ là tiếng
nói h ồn nhiên nhất của tâm hồn” (Tố Hữu) Gorki cũng cho rằng “thơ trước
h ết phải mang tính chất tình cảm”[168] Là một thể loại văn học nằm trong
phương thức trữ tình, ngôn ngữ thơ luôn giàu nhạc tính, hàm súc và có tính
thì được gọi là chất thơ trong văn xuôi Chất thơ trong văn xuôi góp phần làm
hơn
Theo Từ điển Thuật ngữ Văn học, Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn
Khắc Phi (đồng chủ biên), NXB Giáo dục TP.HCM,2007 thì “Khái niệm chất
Trang 34
thơ để chỉ những sáng tác văn học bằng văn vần hoặc văn xuôi giàu xúc cảm, nội dung cô đọng, ngôn ngữ giàu hình ảnh và nhịp điệu”[13,543] Nói đến vai
trò chất thơ để tạo hồn văn, nhà văn Trung Quốc Quách Mạt Nhược nói :
“Trong tiểu thuyết và trong kịch nếu như không có chất thơ thì giống như rượu bia và nước hoa đã bay hết hơi hết mùi, giống như một xác ướp không
có linh hồn” Nhà lý luận Chu Quang Tiềm thì ví von chất thơ và cốt truyện
trong tiểu thuyết giống như hoa và giàn hoa, cốt truyện chỉ như cái giàn ghép bằng những cành cây khô để cho chất thơ là những dây hoa mềm mại, mơn mởn, rực rỡ, ngát hương vươn lên (Thi pháp văn học trung đại, Trần Đình
Sử) Còn Kuranốp - nhà nghiên cứu người Nga cũng từng khẳng định: “Trong
nền văn học hôm nay, chúng ta chứng kiến sự xích lại gần nhau giữa thơ và văn xuôi Sự xích lại này làm cho văn xuôi chúng ta thêm nồng ấm, run rẩy, nhiều chất hội hoạ, cô đọng hơn trong những ẩn dụ thấm vào từng câu, từng đoạn Việc xích lại gần với thơ làm cho văn xuôi vừa trở nên sâu sắc hơn, vừa
dễ hiểu hơn Thứ dòng chảy ngầm này cần cho mọi truyện ngắn Nó giúp cho truyện ngắn gọn mà vẫn súc tích” Và chính chất thơ trong tác phẩm văn xuôi
là yếu tố đưa người đọc đến những rung cảm mãnh liệt, sâu sắc Phađeep đã
từng nói: “Văn xuôi cần phải có cánh Đôi cánh ấy chính là thơ” Chất thơ là
chiếc cầu nối mềm mại đưa văn xuôi thấm vào hồn người một cách êm ái, dịu
dàng hơn bao giờ hết Nhà thơ Puskin cũng cho rằng: “Văn chương bao giờ
cũng thấm đượm chất thơ như chất nước ngọt ngào thấm trong trái táo” và
“Văn xuôi là sợi cốt còn thơ là sợi ngang Cuộc sống trong văn xuôi không đựng chất thơ sẽ thành thô thiển, thành một thứ chủ nghĩa tự nhiên nhưng không cánh, không thúc gọi, không dẫn dắt ta đi đâu cả”
đến chất thơ: “Văn xuôi trữ tình là dạng thức văn xuôi dung hợp, đa tạp,
chuy ển hóa một cách hài hòa, nhuần nhụy giữa chất thực và chất thơ, giữa tự
Trang 35phương diện khác suy cho cùng đều là do cái nhìn của nhà văn quy định Văn xuôi trữ tình, không phải là lối nhìn đời một cách nghiêm ngặt, tỉnh táo theo
bình thường mà nên thơ của cuộc sống”[17, 260] để nhằm tô điểm cho cuộc
sống, con người
Phản ánh hiện thực và bộc lộ cảm xúc trữ tình đã đưa lại cho văn xuôi
trữ tình những trang viết giàu chất thơ Chất thơ trong văn xuôi là nét khu biệt trong đặc điểm thẩm mĩ của văn xuôi trữ tình Chính chất thơ trong văn xuôi
đã tạo nên chiều sâu và sức ngân vang của những trang viết Cái âm hưởng
văn xuôi rất nhiều vang hưởng Chất thơ trong văn xuôi trữ tình được phát
Hiện thực được phản ánh trong văn xuôi trữ tình là hiện thực được vang vọng, được lắng lọc qua tâm hồn nhạy cảm, tinh tế của nhân vật, của người viết, nghĩa là thông qua những phản ứng, những động thái tâm lý, thông qua sắc
Trang 36
con người Thế giới nghệ thuật trong văn xuôi trữ tình thường ít có cái xô bồ,
hiu hắt Và trong văn xuôi trữ tình, vẻ đẹp tâm hồn nhân vật, cùng bức tranh
Trang 37
CHƯƠNG HAI:
CH ẤT THƠ TRONG BỨC TRANH THIÊN NHIÊN
MI ỀN NÚI SỐNG ĐỘNG, NHIỀU MÀU SẮC
màu sắc Đó là âm thanh trong trẻo của tiếng chim họa mi, khướu, của tiếng
tươi, của bầu trời khi bình minh lên, lúc chiều xuống Tất cả hợp thành một
đang tận mắt chiêm ngưỡng vẻ đẹp cùng sự huyền bí của rừng xanh Qua
biết bao những cô sơn nữ xinh đẹp, trong sáng thơ ngây, yêu những chàng trai
miền núi gan dạ, chất phác, Tất cả những vẻ đẹp ấy như hòa quyện với nhau,
Trang 38
làm cho con người lung linh hơn Có thể nói những bức tranh thiên nhiên
ánh sáng, và luôn gắn bó hòa quyện với con người
Bước vào thế giới của: Sóng nước Lô Giang, Đôi con vịt, Tiền mất lực,
Vì cánh hoa trôi, Bên r ừng xuân, Tiếng sáo đêm thu, Rừng khuya, Dấu ngựa trên sương, Tiếng gọi của rừng thẳm, Suối Đàn, là bước vào một thế giới
tươi đẹp, thơ mộng của cỏ cây, hoa lá, của suối chảy, gió reo, của những tiếng chim sơn ca, họa mi thánh thót Cảnh vật như có linh hồn, có sự sống, đầy
chất nhạc, chất họa và có sức khơi gợi trong tâm hồn ta một tình yêu núi rừng tha thiết
giang đã gợi trong lòng người nhiều rung cảm sâu xa Câu chuyện xoay
và m ột đứa con thơ còn nằm ngửa” trong một chiếc thuyền nan con đang lướt
thơ mộng, nhưng pha chút buồn quạnh hiu của dòng sông khi phải chứng kiến
đe dọa đến mạng sống vì nạn Cờ Đen đang hoành hành khắp nơi Khung cảnh thiên nhiên mở đầu cho câu chuyện ấy là:“Một buổi sớm thu tàn Phương
Đông, chân trời sau những chòm cây xanh thẫm, đỏ rỡ ràng như lửa cháy
D ọc theo sông Lô, những ngọn đồi tranh liên tiếp, cằn cỗi xác xơ Một vệt khói rơm ai đốt nghi ngút bốc lên cao, vẽ ra trên bức cảnh đìu hiu một nét
ho ạt động rời rã…”[31, 577] Mùa thu vốn đã gợi trong lòng người ta những
Trang 39
ràng như lửa cháy” của mặt trời sau những chòm cây xanh thẫm, với sự “cằn
c ỗi xác xơ” của những ngọn đồi và điểm vào đó là những làn khói rơm nghi
ngút đang bốc lên cao khiến cho bức tranh phong cảnh càng thêm đìu hiu Và
giác điêu linh tàn tạ nặng nề như trong một thế giới kiếp hồi nào…Dân gian, cũng như chim ngàn thú nội, lẩn đâu mất cả, lẩn vào những hang sâu, bụi
r ậm, cố giữ lấy cuộc sống gieo neo”[31, 577] Cảnh sông nước vào những
do giữa sông nước, núi rừng tươi đẹp này
trước những điều không hay xảy đến với những ai đi qua trên khúc sông ấy
tung tóe, sóng v ỡ tơi bời, phút giây lại phẳng lỳ yên lặng, nhưng không ngờ
r ằng vừa nuốt chửng một tấm linh hồn oan khổ đáng thương”[32, 112]
Người thiếu phụ xấu số thà văng mình xuống dòng sông lạnh chứ không chịu
để tướng giặc làm nhục khiến cho dòng sông vốn đã buồn tịch mịch lại càng
v ẳng nghe tiếng chim rừng trong đêm tối lòng vẫn bồi hồi, xúc động, tưởng đâu hồn thiếu phụ trăm năm còn tha thiết gọi chồng con…”[32, 112] Ở đây,
Trang 40
thể nói, bức tranh thiên nhiên trong Sóng nước Lô giang là một bức tranh thơ
hòa giữa các giác quan (bằng thị giác: rừng cây xanh thẫm, mặt trời đỏ rỡ ràng; bằng thính giác: tiếng chim rừng trong đêm, tiếng sóng vỡ tơi bời) cùng
nỗi buồn, một niềm thương cảm khôn nguôi Cảnh thiên nhiên sông nước,
manh, bất trắc
Truy ện đường rừng của Lan Khai còn chan chứa một chất thơ ngay
thu ồng luồng nhà họ Ma lại mở ra một một không gian nhẹ nhàng nên thơ
dưới vòm trời trong vắt, núi xa mơ màng trong bức màn sương mỏng”[31,
543] Mùa thu thường là mùa của sự tàn phai, rơi rụng vì thế mà bức tranh thiên nhiên mùa thu dù thơ mộng, lãng mạn đến đâu cũng pha chút buồn mơ
nay mai Nh ững đám lau lách bạc đầu, ngất ngưởng trước làn gió nhẹ, như các ông già đã gác bỏ sự đời Chim ngàn thú nội, ngẩn ngơ vì cái lặng lẽ chung quanh, cũng ngậm hơi kín tiếng” Cả núi rừng như đang nín thở chờ
đợi sự rơi rụng tàn úa nay mai khi mùa thu đi Cảnh vật như chìm đắm trong
cũng “ngẩn ngơ” trước cái lặng lẽ của mùa thu mà ngưng tiếng hót Bằng
tác của Lan Khai hiện lên như những thực thể sống động và có hồn