1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

hình tượng người phụ nữ trong tiểu thuyết của thiết ngưng

185 1,3K 14

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 185
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

• Tiểu thuyết Những Người Đàn Bà Tắm ra đời vào năm 2000 miêu tả số phận và sự trưởng thành về thế giới tinh thần của một phụ nữ, tác phẩm được độc giả hoan nghênh nhiệt liệt khiến tên

Trang 1

Phạm Thị Hòa

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh - 2012

Trang 2

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS Đinh Phan Cẩm Vân

Thành phố Hồ Chí Minh - 2012

Trang 3

LỜI TRI ÂN

Khóa luận này là thành quả của những năm tháng gắn bó với văn chương của tôi tại trường ĐHSP –ĐHQG TPHCM Để hoàn thành khóa luận, ngoài nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được sự giúp đỡ của những người thân yêu

Tôi xin gửi lời tri ân đến:

- T.S Đinh Phan Cẩm Vân, người thầy nhiệt tình, tận tâm, luôn giúp đỡ tôi trong thời gian học tập cũng như thực hiện khóa luận

- Thầy cô khoa văn (ĐHSP – ĐHQG TP.HCM) và các trường đại học khác

đã truyền dạy kiến thức bổ ích cho tôi từ bậc Đại học đến Cao học

- Gia đình, người thân, bạn bè đã luôn hỗ trợ, chia sẻ, động viên tôi trên con đường học vấn

TP.HCM, ngày 18 tháng 10 năm 2012

Phạm Thị Hòa

Trang 4

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời tri ân

Mục lục

DẪN NHẬP 1

Chương 1 VĂN HỌC THỜI KỲ CÁCH MẠNG VĂN HÓA VÀ NHÀ VĂN THIẾT NGƯNG 14

1.1 Văn học thời kỳ Cách Mạng Văn Hóa 14

1.2 Thiết Ngưng trong dòng chảy thời đại 20

1.2.1 Vài nét về cuộc đời Thiết Ngưng 20

1.2.2 Sự nghiệp sáng tác 23

1.2.3 Quan niệm của Thiết Ngưng về tiểu thuyết 26

1.3 Người phụ nữ - Đề tài lớn trong sáng tác của Thiết Ngưng 30

1.3.1 Người phụ nữ thôn quê 31

1.3.2 Người phụ nữ thành thị 37

TI ỂU KẾT 43

Chương 2 VẺ ĐẸP TÂM HỒN NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG TIỂU THUYẾT THIẾT NGƯNG 44

2.1 Sự trỗi dậy mạnh mẽ của ý thức cá nhân 45

2.1.1 Ý thức cá nhân của người phụ nữ trong xã hội Trung Quốc 45

2.1.2 Người phụ nữ giàu cá tính 49

2.2 Khát vọng vươn tới những giá trị chân chính 74

2.2.1 Khát vọng dung hòa giữa bản năng và lí trí 74

2.2.2 Niềm tin vào con người và hy vọng ở cuộc sống phía trước 86

2.2.3 Khát vọng yêu đẹp, sống đẹp 88

TIỂU KẾT 94

Trang 5

Chương 3 NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ 96

3.1 Nghệ thuật miêu tả ngoại hình 97

3.1.1 Ngoại hình qua điểm nhìn trần thuật 98

3.1.2 Ngoại hình qua điểm nhìn của nhân vật đối diện 99

3.2 Nghệ thuật xây dựng tâm lý nhân vật 106

3.2.1 Nghệ thuật miêu tả xung đột nội tâm 108

3.2.2 Ngôn ngữ nhân vật 130

KẾT LUẬN 160

TÀI LIỆU THAM KHẢO 164

PHỤ LỤC 1

Trang 6

NHÀ VĂN THIẾT NGƯNG

Trang 7

Đặc biệt, giai đoạn Cách Mạng Văn Hóa (1966 -1976) đã đem lại những chuyển biến hết sức quan trọng cho nền văn học Trung Quốc hiện đại

Tháng 5/1978, Đại hội mở rộng lần thứ 3 của hội liên hiệp văn học nghệ thuật Trung Quốc khóa 3, khôi phục “hội văn liên”, hội nhà văn Trung Quốc và các hội nhà văn địa phương Từ những điều kiện thuận lợi đó, lực lượng các nhà văn lúc bấy giờ như được “tháo cũi sổ lồng” sau những tháng năm phải dè dặt tránh né Do

đó văn học thời kì này phát triển rực rỡ, đa thể loại, đề tài Văn học Trung Quốc đón nhận nhiều đóng góp quan trọng của các cây bút trẻ sau Cách Mạng Văn Hóa Có thể kể đến: Trương Hiền Lượng; Giả Bình Ao; Quách Mạt Nhược; Mạc Ngôn; Quỳnh Dao; Trương Khiết; Vương An Ức… Khối lượng các sáng tác viết ra là vô cùng nhiều nhưng không phải không có chất lượng Bạn đọc đón nhận với thái độ hân hoan càng làm tăng hiệu suất lao động của các văn sĩ Một số lớn các tác phẩm

đem lại vinh quang cho các nhà văn như Phế Đô của Giả Bình Ao; Cao Lương Đỏ của Mạc Ngôn; Thái Văn Cơ của Quách Mạt Nhược…

Có thể nhận xét thẳng thắn rằng, nền văn học Trung Quốc đã chịu ảnh hưởng của các luồng văn học ngoại lai, đặc biệt là từ Pháp, Mỹ Điều này rất dễ hiểu bởi Trung Quốc đã có thời gian dài trở thành “miếng bánh ngọt” khá ngon dưới sự đô

hộ của các nước này Từ tháng 12/1984 đến tháng 1/1985 đã diễn ra Đại hội đại

Trang 8

biểu hội nhà văn Trung Quốc, đồng chí Đặng Tiểu Bình, Tổng bí thư Ban chấp

hành Trung Ương Đảng Cộng sản Trung Quốc lúc bấy giờ tuyên bố khẩu hiệu “Tự

do sáng tác” “Nhà văn có đầy đủ tự do lựa chọn đề tài, chủ đề và phương pháp biểu hiện nghệ thuật” [15]

Sau Cách Mạng Văn Hóa, xã hội Trung Quốc từ trong đau thương bước ra, nhìn nhận lại chính mình, người phụ nữ cũng bước chân vào một xã hội mới với tâm thế mới Họ có điều kiện bộc lộ khát vọng thầm kín của mình, họ sống chân thực hơn, mạnh mẽ hơn, và tất nhiên khát vọng của họ cũng không đi quá xa với những giá trị nhân bản của con người Các nhà văn đã sớm nhận thức được điều này, hình tượng người phụ nữ đến với họ như một nguồn cảm hứng dạt dào, bất tận

Hình tượng người phụ nữ trong tác phẩm của Thiết Ngưng là một sự tiếp nối

nguồn cảm hứng ấy Tuy nhiên trong sự khai thác của mình về hình tượng người phụ nữ, nhà văn Thiết Ngưng đã có nhiều thành tựu mới đáng ghi nhận Người phụ

nữ trong sáng tác của Thiết Ngưng là những con người rất bản năng nhưng cũng rất

lí trí Họ không tuân theo sự sắp đặt trước của số phận mà luôn muốn vươn lên tìm cho mình một cuộc sống mới trong khả năng có thể Trong quá trình vươn lên đó,

họ phải trải qua biết bao đau thương, mất mát nhưng cũng nhờ đó mà họ trưởng thành hơn, chín chắn hơn Sự “lột xác” của người phụ nữ phản ánh một xu thế mới trong xã hội – xu thế người phụ nữ dần làm chủ chính bản thân và cuộc sống của mình Hơn nữa “đi sâu vào thế giới tác phẩm của Thiết Ngưng như đi vào một

vườn hoa tâm linh rộng mở vô bờ, ở đó có hoa thơm và rộn tiếng chim, với những nhân vật có xương có thịt và cả tầng tầng chúng sinh không được con người chú ý Thiết Ngưng yêu thương con người bằng cả trái tim yêu thương của mình, phanh phui đến tận cùng thế giới tâm linh và trạng thái sinh tồn của nhân vật Trong nhiều năm qua như một thầy phù thủy có sức cảm thụ nhạy bén và trí tưởng tượng phong phú, khả năng khám phá sâu sắc…” (trích “Nhân dân nhật báo Trung

Quốc”) Đây cũng chính là lí do lôi cuốn sự hứng thú của chúng tôi đến với đề tài :

Hình tượng người phụ nữ trong tiểu thuyết của Thiết Ngưng

Những tác phẩm chính của Thiết Ngưng

Trang 9

• Ôi, Hương Tuyết (哦,香雪)

• Chiếc Áo Đỏ Không Cúc (沒有紐扣的紅襯衫)

• Đề Tài Chuyện Tháng Sáu (六月的話題)

• Cửa Hoa Hồng (tiểu thuyết)

• Thành Phố Không Mưa (tiểu thuyết)

• Những Người Đàn Bà Tắm (tiểu thuyết)

• Chơi Vơi Trời Chiều (tập truyện ngắn)

1.2 Lý do thực tiễn

Ngày nay, trong xu thế rộng mở của thế giới, ngoài các vấn đề phát triển kinh tế toàn cầu, vấn đề quyền trẻ em, quyền phụ nữ cũng được tổ chức nhân đạo thế giới đặc biệt quan tâm, trong đó vấn đề “nữ quyền” – giải phóng phụ nữ vẫn

đang là điều nhức nhối của nhân loại Đến với đề tài: Hình tượng người phụ nữ

trong tiểu thuyết của Thiết Ngưng cũng là một động thái góp tiếng nói ủng hộ của

chúng tôi đối với người phụ nữ trong phong trào tự giải phóng mình – “phong trào bình định giới” Người phụ nữ hoàn toàn có quyền làm chủ bản thân, làm chủ số phận và tự tin vào tài năng (trong cái nhìn ngang bằng với nam giới) để đóng góp

công sức của mình vào sự nghiệp chung của đất nước, của nhân loại Chúng tôi

đồng tình với cái nhìn của nhà văn Thiết Ngưng về người phụ nữ - người phụ

nữ hiện đại năng động, thông minh, bản lĩnh luôn đấu tranh để được sống đúng với bản chất, khát vọng chân chính của mình Họ đã đứng vững và luôn khẳng định mình trước nam giới, tiếng nói mạnh mẽ của họ là tiếng nói khẳng

Trang 10

định “nữ quyền” trong xu thế mới của thời đại Họ xứng đáng được tôn vinh,

ca ngợi và đáng được tin yêu, trân trọng

2 Lịch sử vấn đề

2.1 T ình hình nghiên cứu trong nước

Trước hết, chúng tôi điểm qua về tình hình tác phẩm của Thiết Ngưng đã được dịch ra tiếng Việt :

Tiểu thuyết Cửa Hoa Hồng được ra đời vào năm 1988 là cuốn tiểu thuyết đầu

tiên, đã làm thay đổi hẳn phong cách và chủ đề trong sáng tác của nhà văn Thiết Ngưng Thông qua mô tả sự cạnh tranh, tàn sát lẫn nhau của mấy thế hệ phụ nữ, Thiết Ngưng muốn phơi bày những mặt tha hóa, xấu xa và đau thương trong cuộc sống ở thời kỳ Cách Mạng Văn Hóa Tác phẩm được dịch giả Sơn Lê dịch ra Tiếng Việt và được xuất bản theo hợp đồng chuyển nhượng quyền xuất bản giữa Nhà xuất bản Phụ Nữ và nhà văn Thiết Ngưng vào tháng 9 năm 2003

Tiểu thuyết Những Người Đàn Bà Tắm ra đời vào năm 2000 miêu tả số phận và

sự trưởng thành về thế giới tinh thần của một phụ nữ, tác phẩm được độc giả hoan nghênh nhiệt liệt khiến tên tuổi Thiết Ngưng đã vượt ra khỏi biên giới Trung Quốc Tác phẩm cũng được dịch giả Sơn Lê dịch ra tiếng Việt và xuất bản lần đầu tiên tại

Việt Nam vào tháng 3 năm 2003 – Nhà xuất bản Thanh Niên, với tên gọi Khát Vọng

T hời Con Gái Sau tái bản, tác phẩm được dịch lại tên theo nguyên tác là Những

N gười Đàn Bà Tắm, tác giả Thiết Ngưng viết lời tựa và nhà phê bình Vương Trí

Nhàn viết lời bạt, bản dịch cũng đã được sửa chữa và chỉnh lý so với lần xuất bản đầu tiên

Tiểu thuyết Thành Phố Không Mưa, dịch từ nguyên bản chữ Hán Vô Vũ Chi

Thành in trong tuyển tập Thiết Ngưng (Nhà xuất bản văn nghệ Bách Khoa, Thiên Tân) Tác phẩm được dịch giả Sơn Lê dịch và sửa bản in – Nhà xuất bản Hội Nhà Văn, in tháng 3 năm 2004)

Tập truyện ngắn Chơi Vơi Trời Chiều, bản dịch từ nguyên bản tiếng Trung Quốc

Đệ Thập Nhị Da – Nhà xuất bản văn nghệ Trường Giang – tháng 5 năm 2004 Bản

tiếng Việt xuất bản theo hợp đồng chuyển nhượng tác quyền giữa công ty văn hóa

Trang 11

và truyền thông Nhã Nam và tác giả Thiết Ngưng, 2005 – 2010 Tác phẩm do dịch giả Sơn Lê dịch, nhà phê bình Vương Trí Nhàn giới thiệu - Nhà xuất bản Hội Nhà văn, in quý I năm 2006

Nhìn chung, các tác phẩm của Thiết Ngưng chưa được dịch thuật nhiều ở Việt Nam nên việc nghiên cứu còn hạn chế Các sáng tác của Thiết Ngưng chỉ được

đề cập ở một số tác phẩm nghiên cứu văn học nói chung, hoặc xuất hiện ở các tạp chí, các bài giới thiệu sách, các bài cảm nhận trên các trang mạng (website) văn học

Trong lời bạt viết nhân dịp cuốn sách Những Người Đàn Bà Tắm được dịch

sang Tiếng Việt, bản in lần thứ nhất của NXB Văn Nghệ Xuân Phong - tháng 3 năm

2003, dịch giả Sơn Lê, nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn đã viết: “Lối viết

bám sát dòng ý thức, cách bắt đầu câu đối thoại mà cứ để trơn, không dùng dấu gạch đầu dòng và lời dẫn của tác giả thì được đặt lẫn giữa lời nhân vật khiến cho

“N hững Người Đàn Bà Tắm” khá hiện đại Song nhờ sự vận dụng nhuần nhị, những tìm tòi trên trở nên tự nhiên và toàn bộ vẫn toát lên một cốt cách cổ điển.”

Với Vương Trí Nhàn thì đây quả là một sự đối thoại giữa cũ và mới, giữa cổ điển và hiện đại Điều này cho thấy nhà phê bình Vương Trí Nhàn đánh giá rất cao những đổi mới trong sáng tác của Thiết Ngưng

Cũng trong lời bạt này, tác giả viết: “Dù chỉ viết về những chi tiết có vẻ đời

thường khi đọc lại tiểu thuyết như “Những Người Đàn Bà Tắm” người ta vẫn thấy không khí gọi là Cách mạng ở Trung Quốc hai chục năm, chúng cắt nghĩa tính cách con n gười Trung Hoa hiện đại” Vương Trí Nhàn mong muốn: “… trong hoàn cảnh của một người viết phê bình văn học loanh quanh ở Hà Nội và không đọc được bao nhiêu, sao tôi vẫn muốn tin rồi tác phẩm này của Thiết Ngưng sẽ không bị phôi pha rất nhanh như nhiều cuốn sách “nổi loạn” đương thời Mà, không biết chừng, sẽ gia nhập vào kho tàng cổ điển của nền văn học Trung Hoa vốn giàu truyền thống lịch sử”

Báo Công An Nhân Dân số ra thứ Tư, ngày 9/4/2008 đăng bài Nữ Văn sĩ

Thiết Ngưng thiên vị người cùng giới của tác giả Lê Huy Tiêu có viết: “Nhiều tác

Trang 12

phẩm của Thiết Ngưng thành công trong việc miêu tả vẻ đẹp của phụ nữ Đó không phải là vẻ đẹp yếu đuối của những người con gái kiểu xưa mà là vẻ đẹp khỏe khoắn.” […] “Trong "Đại Dục Nữ", ngoài việc ca ngợi vẻ đẹp thuần phác thanh tú

và miêu tả dục vọng sinh tồn của những người con gái ra, tác giả tiếp tục phê phán thái độ vô trách nhiệm của những người đàn ông”

Nhân dịp tái bản lần thứ nhất tác phẩm Những Người Đàn Bà Tắm, báo Sài

Gòn Tiếp Thị và báo Tuổi Trẻ cũng cho đăng hai bài viết giới thiệu về cuốn sách

này Hai bài viết đó có tên Những Người Đàn Bà Tắm – thách thức khuôn mẫu của tác giả Nguyễn Hữu Trâm Anh và Những Người Đàn Bà Tắm – cuộc chiến giữa lý

trí và bản năng của tác giả Đỗ Phước Tiến Như tên hai bài báo, hai tác giả này đã

đề cập đến hình ảnh người phụ nữ hiện đại trong Những Người Đàn Bà Tắm luôn

đấu tranh day dứt giữa lý trí và bản năng để tìm cho mình một cách sống thanh thản nhất mà không trái với lương tâm

Theo tạp chí Nghiên Cứu Văn Học số 10-2009, tác giả Trần Lê Hoa Tranh

có bài viết Vài nét về văn học nữ đương đại Trung Quốc (Viện Văn Học – Viện

khoa học xã hội Việt Nam), bài viết mang đến cái nhìn khái quát và sâu sắc về những hiện tượng văn học nữ Trung Quốc Trong đó, tác giả cung cấp nhiều thông tin về các tác giả văn học nữ hiện đại và đương đại Trung Quốc, nhất là các tác giả dòng “văn học linglei” gây chú ý trong thời gian qua nhưng chưa được nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện Tác giả Hoa Tranh cũng đề cập đến những thành công

của nhà văn Thiết Ngưng đối với tác phẩm Ôi, Hương Tuyết; Cửa Hoa Hồng;

Thành Phố Không Mưa …

Theo tạp chí Văn Nghệ Trẻ với bài viết Thiết Ngưng, tiểu thuyết là những

món quà tôi dành tặng cho độc giả của tác giả Mỹ Duyên nhận định: “Đọc tác phẩm của Thiết Ngưng, độc giả hình dung được bức tranh rõ nét về cuộc sống đầy rẫy đau buồn cũng như chân dung của những người phụ nữ Trung Quốc điển hình

Ở những sáng tác khác nhà văn lại vẽ nên bức tranh toàn cảnh về nông thôn Trung Quốc trong sự phát triển mạnh mẽ của xã hội”

Trang 13

Thiết Ngưng cũng được nhắc đến trong cuốn sách Một số vấn đề văn học

Trung Quốc đương đại, PGS-TS Hồ Sĩ Hiệp – Nhà xuất bản Đồng Nai, với bài Thiết Ngưng với tiểu thuyết mới nhận định: “Thiết Ngưng có ý thức thẩm mỹ riêng

và ý thức nữ tính rõ ràng Đối với linh hồn của nữ nhân vật, tác giả tìm hiểu để có lời giải đáp Tác phẩm của Thiết Ngưng thường lấy đề tài trong cuộc sống thường ngày của con người bình thường, với mục đích thể hiện tâm linh, tình cảm của nhân vật thông qua tường tận, cụ thể từng sự việc, sự vật”

Tác giả Thiết Ngưng thực sự thu hút độc giả Việt Nam khi cuốn Đại Dục Nữ được dịch sang tiếng Việt với tên gọi Những Người Đàn Bà Tắm Cuốn sách đã

đem đến cho độc giả Việt Nam cái nhìn mới mẻ, táo bạo và đầy cá tính nhưng cũng không kém phần nữ tính của các nhân vật nữ Từ đây, những bài cảm nhận, những nhận xét và phê bình cũng tập trung nhiều vào tác phẩm này Đối với tiểu thuyết

Cửa Hoa Hồng (Dịch –xuất bản tháng 9 năm 2003), Thành Phố Không Mưa (Dịch

xuất bản tháng 3 năm 2004) và tập truyện ngắn Chơi Vơi Trời Chiều (Dịch - Xuất

bản quý I năm 2006) chỉ được giới thiệu hoặc điểm thoáng qua về nội dung của tác phẩm Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy rất ít bài viết đi sâu vào nghiên cứu một

cách toàn diện về hình tượng những người phụ nữ trong các tác phẩm này

2.2 T ình hình nghiên cứu ngoài nước

Thiết Ngưng là nhà văn có tên tuổi trên văn đàn Trung Quốc, theo sự hiểu biết của chúng tôi thì hiện nay các công trình nghiên cứu về tiểu thuyết của bà đã được giới thiệu một cách khái quát trong giáo trình văn học đương đại Trung Quốc, dạy học ở các trường Đại Học trong nước như “Giáo trình lịch sử văn học đương đại”, cuốn hai, do Trần Tư Hòa chủ biên được dạy ở trường Đại Học Phúc Đán Mặt khác, các tác phẩm của bà còn được thể hiện ở một số bài cảm nhận, phê bình hoặc một số bài giới thiệu ở mục điểm sách, xuất hiện trên các tạp chí, nhà xuất bản tại Trung Quốc, Mỹ, Anh, Pháp, … Đặc biệt là sau khi bà được bầu vào chức vụ Chủ Tịch Hội Nhà Văn Trung Quốc (2005) – vị nữ chủ tịch đầu tiên và trẻ nhất từ trước đến nay của tổ chức này, sự kiện đó đã gây sự chú ý lớn trong giới báo chí và giới phê bình văn học Trung Quốc lúc bấy giờ Báo mạng cũng có những bài giới thiệu,

Trang 14

những nhận định về sáng tác của nhà văn, đồng thời điểm lại những thành công cũng như những dấu ấn mang phong cách trong các tác phẩm của bà Do quá trình thu thập tài liệu còn nhiều hạn chế, nguồn tham khảo chính của chúng tôi khi tìm hiểu về tình hình nghiên cứu tiểu thuyết của Thiết Ngưng (tại Việt Nam cũng như trên Thế giới) giới hạn ở giáo trình văn học đương đại Trung Quốc (bản tiếng Hoa) của Đại Học Phúc Đán, Phê bình văn học đương đại Trung Quốc do Trần Minh Sơn tuyển chọn và dịch, và một số bài viết bài cảm nhận, bài giới thiệu, … được đăng trên các tạp chí (chủ yếu qua nguồn Internet) Trong đó, có một số bài viết có liên quan, có giá trị tìm hiểu về nội dung cũng như nghệ thuật tiểu thuyết Thiết Ngưng Chúng tôi đã nghiên cứu và sử dụng vào trong quá trình tìm hiểu tiểu thuyết Thiết Ngưng nhằm giúp cho khóa luận có cái nhìn hoàn chỉnh hơn, toàn diện hơn khi tìm hiểu một hiện tượng văn học đương đại Trung Quốc

“phương thức sinh tồn” trạng thái sinh tồn và quá trình sống của người phụ nữ”… Trong cái thế giới tinh thần nữ tính của Thiết Ngưng có yêu thương, trìu mến, có chiếm hữu, có dịu dàng và cả ghen tị, hiềm khích, có nhân nhượng và có cả phản bội… ”[Hạ Thiệu Tuấn, nhà văn - Thiết Ngưng cuộc dạo chơi vui vẻ bên ngoài viết văn ]

Qua nhận xét cho thấy, nhà văn Hạ Thiệu Tuấn có cái nhìn rất bao quát và nắm bắt một cách sâu sắc các cung bậc tình cảm trong các mối quan hệ của các nhân vật nữ thể hiện trong truyện Đúng vậy! cuộc sống nội tâm của những người phụ nữ ấy là cả một thế giới tinh thần phức tạp và đa diện Nó gợi cho người ta cảm nhận được sự tồn vong của kiếp nhân sinh đầy bí ẩn mà đẫm chất nhân văn

Nhân Dân Nhật Báo (Trung Quốc) từng viết :

Trang 15

“ Đi vào thế giới tác phẩm của Thiết Ngưng như đi vào một vườn hoa tâm linh rộng mở vô bờ, ở đó có hoa thơm và rộn tiếng chim, với những nhân vật có xương có thịt và cả tầng tầng chúng sinh không được con người chú ý Thiết Ngưng yêu thương con người bằng cả trái tim yêu thương của mình, phanh phui đến tận cùng thế giới tâm linh và trạng thái sinh tồn của nhân vật … […] Trong nhiều năm qua bà như một thầy phù thủy có sức cảm thụ nhạy bén và trí tưởng tượng phong phú, khả năng khám phá sâu sắc … Hiếm thấy trên văn đàn một nhà văn cuốn hút người đọc lâu bền đến thế ”

[Trích Nhân Dân Nhật Báo - Trung Quốc, ngày 07/03/2001]

Cùng trên tờ Nhân Dân Nhật Báo Trung Quốc, số ra ngày 07/03/2001 có đoạn viết về cách sáng tác của Thiết Ngưng:

“… Bất cứ một kỳ tích nào cũng có thể thấy ở Thiết Ngưng, bởi trong nhiều năm qua, bà như một thầy phù thủy có sức cảm thụ nhạy bén, đầu óc tưởng tượng phong phú, khả năng khám phá sâu sắc, trình độ hiểu biết và phân tích hiếm có, cùng kỹ xảo tinh tế đã liên tiếp cho người đọc những tác phẩm ưu tú với những sắc màu và vẻ đẹp khác nhau, có sức hấp dẫn mạnh mẽ Từ những tác phẩm thời kỳ đầu như “Ôi! Hương Tuyết”; “Tấm Áo Đỏ Không Cúc”; tiếp theo là “Cửa Hoa Hồng”;

“ Thành Phố Không Mưa”; “Đụn Bông”; “Người Đàn Bà Chửa Và Con Bò”; “Đối

Di ện” và gần đây là “Vĩnh Viễn Không Xa”; “Những Người Đàn Bà Tắm” … của

bà luôn luôn được người đọc trân trọng đón nhận”

Ngoài ra, rải rác ở các công trình nghiên cứu về văn chương của Thiết Ngưng cũng đề cập đến tiểu sử, cuộc đời cũng như những đặc trưng, phong cách nghệ thuật và những cách tân trong kỹ thuật viết văn của bà mà chúng tôi sưu tầm

từ các website trên Internet (có giá trị tin cậy) sẽ được chúng tôi sử dụng vào luận văn và được liệt kê trong phần thư mục tham khảo

Tất nhiên, đây là những cố gắng bước đầu của chúng tôi trong tiếp cận với tài liệu tiếng Trung Quốc để tìm hiểu về tình hình nghiên cứu tiểu thuyết của Thiết Ngưng Bởi vì những năm gần đây, chắc chắn sẽ còn nhiều bài viết, bài tiểu luận, phê bình hay luận văn cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ … nghiên cứu về Thiết Ngưng mà

Trang 16

chúng tôi chưa có dịp khảo sát hết được, nhưng mục đích và hướng nghiên cứu

của chúng tôi là “hình tượng người phụ nữ” trong một số tiểu thuyết của Thiết

Ngưng, chúng tôi nhận thấy: Hầu hết các công trình nghiên cứu chỉ đưa ra nhận xét

về “hình tượng người phụ nữ” trong tác phẩm Những Người Đàn Bà Tắm của bà mà

chưa đi sâu vào phân tích một cách sâu sắc, toàn diện về hình tượng người phụ nữ trong sáng tác của bà, cũng như chưa đi sâu vào phân tích những đặc sắc nghệ thuật

mà tác giả sử dụng trong tác phẩm

Nghiên cứu về hình tượng người phụ nữ trong tiểu thuyết không phải là một vấn đề mới nhưng đối với tiểu thuyết của Thiết Ngưng ở Việt Nam là một vấn đề chưa được khám phá toàn diện Vì vậy ở luận văn này, chúng tôi mong muốn đem đến một cái nhìn đầy đủ hơn về bức tranh người phụ nữ hiện đại và một số khám phá mới về nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật qua ngòi bút của nữ văn sĩ Thiết Ngưng

3 Đối tượng và phạm vi đề tài

Ở luận văn này, chúng tôi tập trung làm rõ hình tượng người phụ nữ trong tiểu thuyết của Thiết Ngưng, nhưng do thời gian hạn hẹp, chúng tôi chưa thể tiếp

cận với bản gốc của một số tác phẩm khác của Thiết Ngưng như Mạch Khiết Đóa (1986) và Miên Hoa Đóa (1988) - hai tác phẩm này hiện nay chưa được dịch sang

tiếng Việt - mà chúng tôi sẽ khảo sát chủ yếu ở 3 tác phẩm Cửa Hoa Hồng (1988),

Thành P hố Không Mưa (1999) và Những Người Đàn Bà Tắm (2000), đồng thời

trong quá trình khảo sát, chúng tôi có đề cập đến một số truyện ngắn trong tập

truyện ngắn Chơi Vơi Trời Chiều (1982) nhằm đem đến một cái nhìn bao quát hơn

về hình tượng người phụ nữ trong sáng tác của nhà văn Thiết Ngưng

Ngoài ra chúng tôi còn tham khảo các bài báo, bài phê bình, phóng sự, hình ảnh có liên quan để làm rõ hơn nội dung đề tài trong tiểu thuyết của Thiết Ngưng

4 Phương pháp nghiên cứu

Trang 17

Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu chính sau đây:

4.1 P hương pháp tiểu sử

Văn học phản ánh đời sống hiện thực, đời sống tâm hồn, tính cách và tư tưởng tình cảm của con người Trong đó, phần trải nghiệm từ đời sống của chính tác giả ít nhiều có liên quan đến nội dung tác phẩm Do đó, khi nghiên cứu tác phẩm của Thiết Ngưng, chúng tôi cũng nhận thấy có nhiều chi tiết liên quan đến đời sống thật của bà Bối cảnh xã hội, gia đình và đời sống nội tâm của tác giả là những yếu

tố có ảnh hưởng lớn đến tâm lý và cảm hứng sáng tác của nhà văn Vì thế, khi tiếp cận tìm hiểu đời sống thực của nhà văn Thiết Ngưng đã giúp chúng tôi hiểu và lý giải được ý nghĩa và diễn biến tâm lý nhân vật trong tác phẩm của bà

4.2 P hương pháp so sánh

Chúng tôi so sánh hình tượng người phụ nữ trong tác phẩm của Thiết Ngưng với tác phẩm viết về người phụ nữ của các tác giả đương thời khác để thấy được sự tương đồng và dị biệt Bên cạnh đó, chúng tôi có sử dụng phương pháp liên ngành giữa văn học và điện ảnh để thấy được quá trình tiếp nhận tác phẩm của Thiết Ngưng trong những lĩnh vực nghệ thuật khác

4.3 P hương pháp tổng hợp

Từ những phân tích so sánh trên, chúng tôi sử dụng phương pháp tổng hợp

để tổng kết vấn đề Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng các thao tác thống kê, đối chiếu, phân loại, loại hình, phân tích, tổng hợp…

5 Cấu trúc luận văn

Luận văn gồm ba phần: Dẫn nhập - Nội dung - Kết luận, trong đó phần nội dung là phần chính của luận văn

DẪN NHẬP: Giới thiệu những vấn đề khái quát về lí do chọn đề tài, những công

trình nghiên cứu trước đó đối với nhà văn Thiết Ngưng và các tác phẩm của bà, giới hạn phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và bố cục luận văn

NỘI DUNG: gồm 3 chương

Trang 18

Chương một: VĂN HỌC THỜI KỲ CÁCH MẠNG VĂN HÓA

VÀ NHÀ VĂN THIẾT NGƯNG

Ở chương này, chúng tôi sẽ giới thiệu một cách khái quát về nhà văn Thiết Ngưng trong bối cảnh lịch sử xã hội Trung Quốc, trước và sau Cách Mạng Văn

Hóa, trong mối quan hệ với gia đình, thời đại Từ đó làm rõ sự ảnh hưởng tác động lên nhận thức của nhà văn, đặc biệt là nhận thức về người phụ nữ trước và sau Cách

Mạng Văn Hóa Người phụ nữ trưởng thành về tư tưởng, hoàn thiện về tâm hồn trong nhịp sống hiện đại của xã hội Từ đó lí giải vì sao người phụ nữ trở thành một

đề tài lớn trong các sáng tác của Thiết Ngưng Chúng tôi sẽ khái quát cả hai đối tượng: Người phụ nữ thôn quê và Người phụ nữ thành thị

Chương hai: VẺ ĐẸP TÂM HỒN NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG TIỂU THUYẾT

THIẾT NGƯNG

Để làm rõ vẻ đẹp tâm hồn Người phụ nữ trong tiểu thuyết của Thiết Ngưng, chúng tôi sẽ đề cập đến các vấn đề về ý thức cá nhân của người phụ nữ trong xã hội phong kiến qua một số tác phẩm văn học truyền thống và nhân vật nữ trong các sáng tác của nhà văn Lỗ Tấn v.v…, để từ đó thấy được sự kế thừa, sự phát triển, sự thức tỉnh của ý thức cá nhân người phụ nữ hiện đại trong sáng tác của nhà văn Thiết Ngưng Từ đây chúng tôi sẽ tập trung phân tích vẻ đẹp đầy cá tính, vẻ đẹp bản năng

và lí trí của người phụ nữ với khát vọng vươn tới những giá trị chân chính: Khát vọng tình yêu, khát vọng hạnh phúc, khát vọng làm chủ bản thân, hòa với xu thế đổi mới của xã hội hiện đại

Chương ba: NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ

NỮ

Ở chương này, chúng tôi sẽ tập trung trình bày những thủ pháp nghệ thuật đặc sắc được nhà văn Thiết Ngưng sử dụng hiệu quả trong xây dựng hình tượng nhân vật nữ Chúng tôi sẽ chú ý đến nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật: Nghệ thuật miêu tả ngoại hình, nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật như xung đột nội

Trang 19

tâm, ngôn ngữ nhân vật (ngôn ngữ độc thoại, ngôn ngữ đối thoại), thủ pháp dòng ý thức v.v…

KẾT LUẬN: Phần kết luận khái quát lại những vấn đề tác giả, tác phẩm, khẳng

định sự đóng góp của tác giả và tác phẩm với nền văn học đương đại Trung Quốc, văn học thế giới, đồng thời khẳng định lại một lần nữa sự đóng góp của khóa luận trong sự nghiên cứu về nhà văn Thiết Ngưng và các tác phẩm của bà so với các công trình nghiên cứu trước đó

Trang 20

Chương 1 VĂN HỌC THỜI KỲ CÁCH MẠNG

VĂN HÓA VÀ NHÀ VĂN THIẾT NGƯNG

1.1 V ăn học thời kỳ Cách Mạng Văn Hóa

Theo chỉ thị của chủ tịch Mao Trạch Đông, ngày 16/05/1966, hội nghị Bộ Chính Trị mở rộng của Đảng Cộng Sản Trung Quốc đã ra thông tư chính thức phát động cuộc “Đại Cách Mạng Văn Hóa Vô Sản” (Gọi tắt là “Cách Mạng Văn Hóa”) Đây là một làn sóng vận động chính trị chưa từng có trong lịch sử Trung Quốc hiện đại Cuộc Cách Mạng Văn Hóa bắt đầu từ năm 1966 và kết thúc vào năm 1976 Lịch sử Trung Quốc trải qua 10 năm động loạn, bi thảm gây tổn thất và ảnh hưởng sâu rộng đối với kinh tế, chính trị, văn hóa, văn học Đặc biệt là gây đau thương cho nhân dân, cho bao nhiêu cán bộ ưu tú của Đảng và nhà nước Trung Quốc Trong cuộc vận động này, các phần tử trí thức là người trực tiếp bị bức hại, bởi vì “Đại Cách Mạng Văn Hóa” từ lúc bắt đầu, dựa trên nền tảng nghệ thuật văn học làm lãnh vực phê phán chủ yếu, tuy là sau lưng nó có nhiều quyền lực chính trị hiểm ác làm

bộ phận quan trọng

“Trong những năm đầu thập kỷ 60, do sai lầm tả khuynh trong chỉ đạo, khoa học xã hội và nhân văn ở Trung Quốc gặp nhiều khó khăn và chịu nhiều tổn thất Những mâu thuẫn trong nội bộ lãnh đạo Đảng Cộng Sản Trung Quốc đã ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động xã hội và đời sống văn nghệ Trung Quốc Nhiều tác giả, tác phẩm bị quy chụp là “cỏ độc” là “chống Đảng” một cách vô căn cứ Tháng 11 năm 1963, Mao Trạch Đông đã phê phán Bộ Văn Hóa là “Bộ của Đế Vương quan tướng, của tài tử giai nhân, của thây ma ngoại quốc” [28; 334]

Tháng 1 năm 1964, Trung Ương Đảng Trung Quốc tổ chức tọa đàm về văn nghệ, nhận định rằng trên mặt trận văn nghệ, giai cấp vô sản và chủ nghĩa xã hội chỉ chiếm được một vị trí rất nhỏ, phần lớn trận địa văn nghệ do chủ nghĩa phong kiến, chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa xét lại chiếm giữ Nhận định đó đã gây chấn động lớn trong giới văn nghệ sĩ Tiếp theo đó là cuộc “chỉnh phong” nhằm phê phán các văn

nghệ sĩ tiêu biểu Nhà soạn kịch nổi tiếng Điền Hán trong kịch bản Kinh kịch Tạ

Trang 21

Giao Hoàn có nhắc lời của Võ Tắc Thiên: “Nước nâng thuyền mà cũng lật thuyền”

đã bị quy tội là “kêu gọi quần chúng lật đổ chuyên chính vô sản” Điền Hán bị quy

là “nhà văn chống Đảng” Nhiều văn nghệ sĩ tiêu biểu lúc bấy giờ như Hạ Diễn, Dương Hán Sênh, Mao Thuẫn, Mạnh Siêu … đều bị phê phán Từ đầu năm 1964, phong trào phê phán lan ra các lãnh vực triết học, kinh tế học, sử học, giáo dục học,…

Ngày 10/11/1965, Văn Hối Báo (Thượng Hải) đăng bài của Diêu Văn

Nguyên 1 phê phán vở kịch Hải Thụy Bãi Quan của tác giả Ngô Hàm Ứng (Phó chủ

tịch hội sử học Trung Quốc, chủ tịch hội sử học Bắc Kinh) gây chấn động lớn trong các giới học thuật, văn nghệ Cuộc phê phán, quy kết đối với giới học thuật và văn nghệ sĩ những năm đầu thập kỷ 60 là nhằm tạo dư luận để chuẩn bị Cách Mạng Văn Hóa Bài báo của Diêu Văn Nguyên phê phán vở kịch Hải Thụy Bãi Quan của tác

giả Ngô Hàm Ứng là phát súng hiệu mở màn cho cuộc “Đại Cách Mạng Văn Hóa

Vô Sản” sau đó

Sở dĩ Ngô Hàm Ứng viết Hải Thụy Bãi Quan là do hưởng ứng sự phát động

của Mao Trạch Đông vào năm 1959 – Tuyên truyền học tập theo chủ trương của Hải Thụy, nhưng vì Bàng Đức vẫn hoài bão trên hội nghị Lư Sơn với chính sách

“Đại Nhảy Vọt” nên đã bày tỏ một số ý kiến phê bình quyết liệt với Mao Trạch Đông để tranh chức Bộ trưởng quốc phòng Khang Sinh và Giang Thanh đã mượn

nội dung của vở kịch Hải Thụy Bãi Quan và ý kiến của Bàng Đức tác động đến

Mao Trạch Đông, thúc đẩy Mao Trạch Đông nhận định vở kịch này có ý nghĩa “ám chỉ” Bài viết phê phán của Diêu Văn Nguyên là do gợi ý trực tiếp từ kế hoạch của Giang Thanh và Trương Xuân Kiều, đồng thời cũng do chính Mao Trạch Đông tán đồng sau khi thẩm định lại vở kịch Từ ngày 29 tháng 11 năm ấy, toàn quốc chủ yếu chuyển tải bài báo do nhân dân xuất bản một chiều

1 Diêu Văn Nguyên nằm trong nhóm “Bè lũ bốn tên” bao gồm: Giang Thanh, Trương Xuân Kiều,

Diêu Văn Nguyên, Vương Hồng Văn

Trang 22

Tháng 2 năm 1966, Giang Thanh được Lâm Bưu lấy danh nghĩa ở Thượng Hải chiêu mộ hội đàm công tác văn nghệ quân đội, sau đó hình thành một bộ kỷ yếu

do Giang Thanh, Trương Xuân Kiều, Trần Bá Đạt soạn thảo và Mao Trạch Đông thẩm duyệt sửa đổi Kỷ yếu có 10 điều nội dung, bao gồm “Hắc tuyến chuyên chính luận”, tổ chức đội văn nghệ mới, phá trừ đội văn nghệ mê tín, bài trừ đối với văn nghệ cổ điển, mê tín Trung Ngoại, phản đối văn nghệ ngoại quốc tu chính chủ nghĩa

… Đồng thời điểm danh phê phán và rất nhiều những tác phẩm văn nghệ (có liên quan) Trong đó liên quan đến “văn nghệ hắc tuyến chuyên chính luận” được giải

thích như sau: Giới văn nghệ kiến quốc nhận thấy văn nghệ hắc tuyến đã mắc phải

một điều đối lập với tư tưởng của Mao Trạch Đông, phản động, phản Đảng, phản

Xã Hội Chủ Nghĩa… (Phạm Thị Hòa dịch) [44; 163] Điều này cho thấy “Hắc

tuyến” chính là tư tưởng văn nghệ của giai cấp tư sản và hiện nay tư tưởng văn nghệ

tu chính chủ nghĩa kết hợp với văn nghệ thời kỳ những năm 30, cùng với những

biểu thị của những tư tưởng văn nghệ này nên cần phải “tiến hành một mặt trận đại

cách mạng văn hóa chủ nghĩa xã hội, nhằm tiêu diệt tận gốc rễ những kiểu văn nghệ hắc tuyến này” [44; 163] Mặt khác tổ chức đội ngũ văn nghệ mới cùng phối

hợp từ đường lối văn nghệ và tổ chức văn nghệ, hai phương diện này đã phủ định hoàn toàn lịch sử và hiện trạng của văn nghệ mới Điều này đã làm nên cuộc thanh trừng thảm hại trong giới văn nghệ sĩ và ảnh hưởng cực hại cho sự phát triển của văn nghệ sau này

Tháng 4 năm 1966, để thực hiện được hội nghị kỷ yếu này, Lâm Bưu đã ủy quyền cho Giang Thanh triệu tập mở cuộc họp công tác văn nghệ quân đội bàn bạc

về việc ra kỷ yếu, lấy hình thức văn kiện của Trung Ương Cộng Sản Đảng phát động đến toàn Đảng

Trong hội nghị thảo luận kỷ yếu này, cái gọi là “Đề cương tháng 2” được hình thành, nó hoàn toàn đối lập và phủ định những đóng góp của các tác giả sau này Nội dung “Đề cương tháng 2” đã cường điệu vấn đề học thuật của tác giả Ngô

Hàm Ứng trong Hải Thụy Bãi Quan Đồng thời khẳng định vai trò tuyệt đối của

Giang Thanh trong việc lãnh đạo hoạt động của giới văn nghệ

Trang 23

Từ đầu những năm 1960 cho đến sau này, Giang Thanh chiếm một vị trí quan trọng trong giới văn nghệ, được đề cao và được coi như là một hiện tượng nổi bật của giới, điều này bộc lộ rõ những biến động mới Nhưng thực chất nó là một sự tiếp nối của phong trào “chống phái hữu” 2 ở thời kỳ “ngũ tứ” vào những năm 1957 trở đi

Tháng 5 năm 1966, tại hội nghị Cục chính trị Trung ương mở rộng, Hồ Trần, Lục Định, La Thoại Khanh, Dương Thưởng Côn bị coi là “tập đoàn phản Đảng”,

Đề cương tháng 2” cũng bị xoá bỏ, nguyên “văn cách ngũ nhân tiểu hổ” cũng bị

giải tán và thống nhất thông qua Khang Sinh, Trần Bá Đạt tiến hành soạn thảo và

Mao Trạch Đông tiến hành thẩm duyệt, chỉnh sửa thành “Trung Ương Cộng Sản

Trung Quốc Ủy Viên Thông Tri” tức “Thông Tri 516” [44; 164] Đây cũng là lần

đầu tiên biểu đạt một cách hoàn chỉnh lý luận cách mạng dưới chế độ chuyên chính giai cấp vô sản của Mao Trạch Đông Ba tháng từ sau Thông Tri 516 “Đại Cách

Mạng Văn Hóa Giai Cấp Vô Sản” đã có tính văn kiện và được chính thức phát động Ngày 18/8/1966, tại quảng trường Thiên An Môn, Mao Trạch Đông đã diễn

Nội dung của đợt chỉnh phong này là chống tệ quan liêu và bè phái, dùng biện pháp phê bình và tự phê để giải quyết đúng đắn mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân Nhưng trong quá trình triển khai chỉnh phong, thực tiễn đã diễn ra không như tinh thần chỉ đạo ban đầu, dẫn tới sai lầm trong phong trào “chống phái hữu” Từ ngày 20/09/1957 đến 09/10/1957, Hội nghị Trung Ương 3 khóa VIII Đảng Cộng Sản Trung Quốc họp, nhận định một cách sai lầm rằng: Đa số trí thức là trí thức của giai cấp tư sản, là “lực lượng chủ yếu đối chọi với giai cấp vô sản”, là một hướng hoạt động của các phần tử phái hữu Mao Trạch Đông quy cho những người có quan điểm khác với mình là “phái hữu” và dùng biện pháp chuyên chính để xử lý họ”… chính vì vậy mà phần lớn trí thức bị quy là “phái hữu” Họ bị gắn đủ mọi tội lỗi : Chống Đảng, chống Chủ Nghĩa Xã Hội, họ bị đấu tố, bị lăng mạ, bị nhục hình, bị sa thải và bị bắt bớ, giam cầm, … dẫn đến những hậu quả thật đau lòng

[28; 324]

Trang 24

thuyết trước đội quân Hồng Vệ Binh, hô hào tăng tốc và duy trì trên toàn quốc đối với việc hưởng ứng những chỉ thị của cuộc đại cách mạng văn hóa giai cấp “chuyên chính vô sản”

Ngày 23/8/1966, Lão Xá – tác giả nổi tiếng trong giới văn nghệ Bắc Kinh bị

phê đấu, bị hành hạ tàn nhẫn, ông đã tự tử ở Bắc thành hồ Thái Bình, tiếp theo sau

đó là các nhà lý luận Diệp Nhu Quân, Thiểu Bàn Lan, Hồ Kim Kinh, Ba Nhân, Trịnh Thạch, nhà phiên dịch Phù Lôi, nhà nghệ thuật Mã Liên Lương, Nghiêm Phong Anh, Thái Sợ Sinh, Trịnh Quang Lý; Các nhà văn Triệu Thụ Lý, Điền Hán, Ngô Hàm Ứng, Dương Tường, Giang Kiệt, Ngụy Kim Chi, Trần Tường Hạc, Tiêu

Đế Mộc, Hại Mạc, …Tùy theo “văn cách” được triển khai mà các nhà văn, nhà nghệ thuật bị phê đấu, ép hại, … Sự nghiệp văn nghệ Trung Quốc đương thời đứng trước những khó khăn, thử thách rất lớn, thậm chí nó còn phải đối đầu với những tai họa, thảm họa

Thấy rõ được sức mạnh của lực lượng văn hóa tư tưởng truyền thống (sau

khi “thanh trừng” xong), Giang Thanh tuyên bố “vô sản hóa giai cấp văn nghệ tân

kỷ nguyên” được bắt đầu, đồng thời dùng quyền lực ép các lực lượng trí thức, lực

lượng sáng tác phải “đấu tranh phục vụ cao độ cho chính trị hóa” Khái niệm hóa về sáng tác văn nghệ, mọi sáng tác trong “văn cách” đều phải xuất bản công khai Nhìn tổng thể văn học thời kỳ này phát triển một cách cô lập, “hoang vu”, tuy nhiên cũng

có những giai đoạn ngắn văn nghệ cũng có sự biến hóa nhưng chủ yếu vẫn là gắn bó mật thiết với sự kiện chính trị đương thời

“Văn cách” từ lúc bắt đầu cho đến những năm 1970, chính phủ đề xướng

“cách mạng như bản kịch”, điều này đã ảnh hưởng rất lớn đến các tác phẩm văn nghệ Giang Thanh là người đích thân đào tạo những “văn nhân đích thực” để tạo ra cái gọi là “tác phẩm cách mạng hiện đại” Đến năm 1975 số lượng “văn nhân” đã lên đến 18 người, trong đó có kinh kịch chiếm 11 người Hoạt động sáng tác các tác phẩm văn nghệ cách mạng do Giang Thanh chỉ đạo, chủ yếu đả đảo tất cả những tác phẩm ngoại văn, văn hóa truyền thống trong thời đại lúc bấy giờ Tuy số lượng những tác phẩm ấy không nhiều nhưng những tác phẩm ấy được công khai lưu hành

Trang 25

thông qua các hoạt động sân khấu biểu diễn, đài phát thanh, điện ảnh và văn học ngôn ngữ, … Nhà nước đã thống chế, tuyên truyền, cưỡng hành trong toàn dân và hình thành khẩu hiệu “ba đột xuất”, “ba kết hợp” đối với quan niệm hình thức hóa trong sáng tác văn học [44; 165] Đây đều là lý luận cưỡng hành cho “văn cách kỷ yếu” Vì vậy nó đã ảnh hưởng vô cùng ác liệt đến các sáng tác văn học thời kỳ này

Từ ngày 13/09/1971, phát sinh sự kiện Lâm Bưu phạm tội vượt ngục đến cuối năm 1974, có thể xem “văn học Cách Mạng Văn Hóa” được công khai ở giai đoạn lần thứ hai Tùy vào biến động của tầng lớp lãnh đạo, quốc gia đối với chính sách văn nghệ mà văn nghệ cũng có những tương quan và thay đổi thích ứng Một mặt sách văn nghệ được xuất bản có giới hạn như: Tháng 12/1971, báo Thành Thị

Bắc Kinh chủ trì xuất bản Bắc Kinh Tân Văn Nghệ (nguyên là Bắc Kinh Văn Nghệ,

theo sau là Quảng Tây Văn Nghệ, Quảng Đông Văn Nghệ và Cách Mạng Văn Nghệ

…) Mùa hè năm 1973, liên quan đến văn học, bộ phận các tỉnh thành cả nước, các

cơ quan báo chí cũng đã bắt đầu được phục hồi Đồng thời các tác phẩm văn nghệ thư tập cũng được phục hồi xuất bản, như Lỗ Tấn với tác phẩm đóng thành cuốn,

đến năm 1973 toàn bộ 24 cuốn đã được xuất bản, và Lỗ Tấn Toàn Tập (1938) gồm

20 cuốn cũng được in lại, vào năm 1974 đến 1975, các tác phẩm như Tam Quốc

D iễn Nghĩa, Nho Lâm Ngoại Sử, Thủy Hử Truyện và các tác phẩm cổ điển đều do

“nhân dân văn học” xuất bản, đây cũng được coi là thời kỳ cao trào của Cách Mạng

Văn Hóa

Tháng 1 năm 1975, triệu tập đại hội toàn quốc lần thứ IV do Chu Ân Lai tổng phụ trách báo cáo trước chính phủ về việc thực hiện “tứ hiện đại hóa”, đây là mục tiêu chính của hội nghị Có thể nói, đến lúc này về tổ chức cũng như về đường lối, Chu Ân Lai và Đặng Tiểu Bình là hạt nhân của bộ máy nhà nước Hội nghị đã

có một số thay đổi rất hiển sinh – tức thi hành một hệ thống chính sách trong nỗ lực cải cách và giải quyết những hậu quả do Cách Mạng Văn Hóa để lại, đồng thời ổn định lại chính trị, kinh tế và kiến thiết lại văn hóa Đặng Tiểu Bình đã chủ trì công tác trung ương, trực tiếp đẩy mạnh công tác điều chỉnh chính sách đối với văn nghệ

Trang 26

Năm 1976, Nhân dân văn học, Tập san Thơ gồm 06 nhà văn học trí thức toàn

quốc được phúc san Trong thời gian này, Diệp Tân, Trương Kháng Kháng, Vương

Tiểu Ó, Giả Bình Ao, Thiết Ngưng và một số thanh niên trí thức nổi tiếng khác bắt

đầu từ các nơi đổ về tham gia sáng tác và đóng góp những tác phẩm của mình cho phong trào Mặc dù những tác phẩm này, trong một chừng mực nào đấy, nó vẫn chưa thoát khỏi phạm vi của thời đại, nhưng họ đã viết một cách chân thực những cảm nhận về những hoạt động và cuộc sống của bản thân trước thời đại Những tác phẩm này đã tạo nên dấu ấn khá đậm nét của dòng “văn học vết thương” trong suốt quá trình 10 năm Cách Mạng Văn Hóa

Đến tháng 5 năm 1978, Đại hội mở rộng lần thứ III của Hội liên hiệp văn học nghệ thuật Trung Quốc khóa 3, khôi phục hội văn liên, Hội nhà văn Trung Quốc và các Hội nhà văn địa phương Từ những điều kiện thuận lợi đó, lực lượng các nhà văn lúc bấy giờ như được “tháo cũi sổ lồng” sau những tháng năm phải dè dặt, tránh

né Do đó mà văn học thời kỳ này phát triển rực rỡ, đa dạng về thể loại, đề tài Văn học Trung Quốc đón nhận nhiều đóng góp quan trọng của những cây bút trẻ sau Cách Mạng Văn Hóa, có thể kể đến như Trương Hiền Lượng, Giả Bình Ao, Quách

Mạt Nhược, Mạc Ngôn, Quỳnh Dao, Trương Khiết, Vương An Ức và Thiết Ngưng

– nhà văn mỹ nữ cũng có đóng góp một phần không nhỏ trong việc hình thành nên

xu thế văn học Trung Quốc sau Cách Mạng Văn hóa

1.2 Thiết Ngưng trong dòng chảy thời đại

1.2.1 Vài nét về cuộc đời Thiết Ngưng

Nữ văn sĩ Thiết Ngưng sinh năm 1957 tại Bắc Kinh trong một gia đình làm nghệ thuật, cha bà là họa sĩ, mẹ là nhạc sĩ Có lẽ chính cốt cách nghệ sĩ của cha và

mẹ đã ảnh hưởng nhiều đến Thiết Ngưng Nó giúp tạo ra một Thiết Ngưng với trái tim nhân hậu, giàu tình yêu thương, dễ đồng cảm, dễ xúc động và giàu cảm hứng sáng tạo

Thiết Ngưng sinh ra và lớn lên trong hoản cảnh đất nước Trung Quốc xảy ra nhiều biến động lớn, phong trào đấu tranh chống “phái hữu” (1957) nổ ra mạnh mẽ

ở Trung Quốc Không khí “nặng nề” bao trùm Sau đó là một loạt các chính biến,

Trang 27

cao trào trong thời kỳ xây dựng CNXH Trung Quốc – tưng bừng hồ hởi: Thời kỳ

“ba ngọn cờ hồng”, “đại nhảy vọt” “nhanh, nhiều, tốt, rẻ” … sôi nổi khắp nơi Tuổi thơ của Thiết Ngưng sớm chứng kiến mùi vị cay đắng của những biến động lịch sử của đất nước, đặc biệt là ở Bảo Định, tỉnh Hà Bắc Có lẽ đây cũng là những trải nghiệm quý báu, nó đã để lại dấu ấn sâu đậm trong ký ức của Thiết Ngưng, để rồi những ký ức ấy chuyển hóa thành nguồn cảm hứng trong sáng tác của bà sau này

Sau khi học hết cao trung (phổ thông trung học) vào năm 1975 – cũng là năm cuộc Cách Mạng Văn Hóa sắp kết thúc, Thiết Ngưng cũng như nhiều trí thức thanh niên khác phải rời thành phố về nông thôn tham gia lao động sản xuất và tự cải tạo Thiết Ngưng tham gia lao động tại một đội sản xuất ở nông thôn tỉnh Hà Bắc Nói

về những năm tháng ở nông thôn, Thiết Ngưng tâm sự: “Nhìn lại quãng thời gian

sống ở nông thôn, tôi thấy biết ơn cuộc đời vô cùng Những tháng ngày lao động cật lực trên đồng ruộng, làm bạn với những người nông dân đã giúp tôi am hiểu sâu sắc về thế giới tinh thần của người dân Trung Quốc [47] Những trải nghiệm đó

chính là một tài sản vô giá, là chất liệu để Thiết Ngưng sử dụng trong sáng tác của mình

Năm 1979, Cách Mạng Văn Hóa chấm dứt, Thiết Ngưng làm biên tập viên tiểu thuyết tạp chí văn học “Hoa Sơn” có trụ sở tại Quý Châu Năm 1980, bà được

chuyển về làm công tác biên tập trong phòng sáng tác Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật tỉnh Hà Bắc Với những cố gắng và tận tâm với nghề, bà đã được đồng nghiệp yêu quý và tín nhiệm Năm 1996, Thiết Ngưng đã được bầu làm chủ tịch Hội văn học nghệ thuật tỉnh Hà Bắc và tiếp đó là phó chủ tịch Hội nhà văn Trung Quốc

Bàn về việc Thiết Ngưng được bầu làm chủ tịch Hội nhà văn Trung Quốc,

dư luận trong nước thảo luận khá sôi nổi Nhà văn Tôn Vân Hiểu đã viết: “Thời đại

của các bậc vĩ nhân trong văn đàn Trung Quốc đã kết thúc, thời đại của những người bình thường (những nhà văn) đã bắt đầu [50] Dương Hoành Hải, một nhà

văn kỳ cựu người Thẩm Quyến cũng nhận định: “ Việc lựa chọn một nhà văn tương

đối trẻ như thế vào chiếc ghế chủ tịch cho thấy những bước thay dổi cơ bản của Hội nhà văn trong kỷ nguyên mới” [47]

Trang 28

Nhà văn Thượng Hải có tên Diệp Vĩnh Liệt bày tỏ: “Xưa nay, chủ tịch Hội

chỉ là một chức danh mang tính tượng trưng dành cho các nhà văn lớn Bây giờ chúng tôi hy vọng một vị lãnh đạo trẻ tuổi sẽ mang đến sự năng động và một luồng sức sống mới cho Hội, giúp các nhà văn bắt nhịp với lối viết thiết thực hiện nay.”

[47] Nhìn chung, xung quanh dư luận đều thể hiện một niềm tin tưởng vào vị tân chủ tịch trẻ tuổi nhất Trung Quốc từ trước tới nay này sẽ mở ra một kỷ nguyên mới trên văn đàn Trung Quốc Giới văn sĩ cũng như độc giả cũng đặt ra hy vọng ở Thiết Ngưng sẽ tạo nên những bước chuyển mới cho văn học nước nhà

Là một phụ nữ tài hoa, Thiết Ngưng hội tụ cả ba thân phận: Nhà văn nổi tiếng trên văn đàn, chủ tịch Hội nhà văn Trung Quốc và là Ủy viên Trung Ương dự

khuyết Bà từng có phát biểu hết sức thẳng thắn: “Tôi rất vui vì được làm quan”,

với vị trí “cầm cân nảy mực” bà lại càng ý thức sâu sắc hơn trách nhiệm của mình đối với nghề, đối với sự nghiệp văn học nước nhà Đây cũng là một áp lực mà cũng

là một nguồn động viên, thúc đẩy Thiết Ngưng trong vai trò tiên phong, sáng tạo, đổi mới về mọi phương diện sáng tác Đặc biệt là đối với truyện ngắn, tiểu thuyết để văn học đương đại Trung Quốc có được những dấu ấn và thành công nhất định, đóng góp vào sự nghiệp văn học nói chung của đất nước

Nhiều người ưu ái gọi Thiết Ngưng là “nhà văn mỹ nữ” Quả thật bà là một phụ nữ tài hoa, xinh đẹp, có bản lĩnh, có chính kiến rõ ràng.Thế nhưng ta vẫn thấy một Thiết Ngưng vô cùng dè dặt, thận trọng trong tình cảm Nhiều độc giả quan tâm

đến đời sống riêng của Thiết Ngưng, bà nói: “Tôi không phải là người theo chủ

nghĩa độc thân, đã từng trải qua chuyện tình cảm, suýt nữa thì kết hôn, nhưng cuối cùng đều không thành công” [48] Thiết Ngưng lý giải: “Tôi là một người kiểu truyền thống từ trong xương cốt, kỳ vọng khá cao ở hôn nhân , luôn nghĩ là mình chưa chuẩn bị tốt để kết hôn, thà sống một mình cả đời chứ quyết không chấp nhận kiểu hôn nhân ghép lại thành đôi Hôn nhân không liên quan gì đến người tốt hay người xấu Người tốt thì nhiều đấy, nhưng anh ta không hợp với mình hoặc mình khôn g hợp với người ta, đó mới là cái khó của chuyện tình cảm và hôn nhân là chuyện của sự thích hợp, thích hợp là được, hôn nhân không hợp nhau thì không có

Trang 29

vẫn hơn” [48] Có lẽ vì cuộc đời như thế nên các nhân vật trong sáng tác của Thiết

Ngưng đều ít nhiều mang hình bóng và nếp nghĩ của tác giả Tuy nhiên, khát vọng

về hạnh phúc lứa đôi luôn là điều mà con người tìm kiếm và vươn tới Nhà văn

Thiết Ngưng cuối cùng đã tìm được “sự thích hợp” trong hôn nhân của mình, năm

2007 bà đã kết hôn với Hoa Sinh – Hiệu trưởng trường đại học Hoa Kiều Yên Kinh

Lễ kết hôn của họ không ồn ào náo nhiệt mà có cái thâm trầm, kín đáo của người từng trải Việc Thiết Ngưng kết hôn có thể coi là một tín hiệu vui đối với làng văn học Trung Quốc Hy vọng hạnh phúc gia đình sẽ là một động lực cho tác giả trên những bước đường hoạt động nghệ thuật sắp tới của bà

1.2.2 Sự nghiệp sáng tác

Lớn lên trong bão táp Cách Mạng Văn Hóa, bà là nhà văn thuộc dòng “văn học vết thương” Người phụ nữ ấy đã sống và mở lòng ra với văn học từ khi còn là một cô bé 10 tuổi Bước qua “vùng cấm” và “văn học tuyến đen” (hắc tuyến), Thiết Ngưng thực sự để ngòi bút của mình mổ xẻ nỗi đau và phơi bày cục diện xã hội Trung Quốc thời kỳ Cách Mạng Văn Hóa Đó là sự tố cáo sâu sắc những tai ương

và đau xót về vết thương tâm hồn mà “mười năm động loạn” đã gây nên cho nhân dân bà

Sinh ra và lớn lên trong một gia đình làm nghệ thuật, cha là họa sĩ, mẹ là nhạc sĩ nhưng Thiết Ngưng lại sớm tỏ ra mình là người có năng khiếu văn học Bà bắt đầu sáng tác từ khi 10 tuổi, và năm 20 tuổi bà đã chính thức bước vào làng văn học với những tác phẩm được đánh giá cao Và đến hôm nay thì số lượng tác phẩm cũng như chất lượng tác phẩm của bà được viết ra là rất lớn

Nội dung chính các tác phẩm của nhà văn Thiết Ngưng có ảnh hưởng rất lớn

từ đời sống thực của bà; Từ tuổi thơ dữ dội ở Bảo Định (Hà Bắc) cùng với những biến động dữ dội của lịch sử qua 10 năm Cách Mạng Văn Hóa, cũng như sự hàn gắn vết thương, sự thay da đổi thịt của đất nước, của đời sống nông dân, trí thức … đã tác động khá nhiều vào cảm hứng sáng tác của bà, đặc biệt là hình ảnh những người phụ nữ Trung Quốc từ nông thôn đến thị thành

Trang 30

Hà Bắc tuy là vùng nông thôn song cũng không xa Bắc Kinh là mấy Ở đó, Thiết Ngưng có điều kiện chứng kiến đất nước mình đang từng ngày hàn gắn vết thương sau chiến tranh và những nỗ lực trong công cuộc xây dựng Chủ Nghĩa Xã

Hội Từ những năm tháng cọ xát ở nông thôn, chứng kiến cảnh người nông dân đói khổ, hơn ai hết Thiết Ngưng thấu hiểu, thông cảm sâu sắc với họ, đặc biệt là người phụ nữ Hoàn cảnh xã hội đã góp phần nuôi dưỡng tâm hồn văn chương của bà

Về sự nghiệp sáng tác của Thiết Ngưng, có người nhận xét: “Trong thời đại

Internet, khi những tên tuổi mới mọc lên như nấm sau mưa, Thiết Ngưng có thể không phải là nhà văn nữ nổi tiếng nhất trên văn đàn nhưng các nhà phê bình cho rằng bà là người có được sự ái mộ lớn của cả độc giả lẫn dân trong nghề” [47] Sự

nghiệp văn học của Thiết Ngưng được mở đầu bằng tác phẩm Chiếc Liềm Bay, bà chính thức thành danh với truyện ngắn Ôi, Hương Tuyết (1982) Từ đây Thiết

Ngưng được nhìn nhận như một nhà văn có tài năng và thực lực Bằng giọng văn mộc mạc, trong sáng cùng với việc sáng tạo những hình ảnh giàu chất thơ, Thiết Ngưng đã cho người đọc thấy được sự đam mê và tình yêu đối với văn chương của

mình Tác phẩm Ôi, Hương Tuyết đã được đặt vào danh sách “100 tác phẩm văn

học nổi tiếng của văn học đương đại Trung Quốc”

Không dừng lại ở Ôi! Hương Tuyết, hai năm sau, Thiết Ngưng tiếp tục cho in

Câu C huyện Tháng Sáu và Chiếc Áo Đỏ Không Cúc (1984) Cả hai tác phẩm đều

được vinh dự nhận giải thưởng truyện vừa xuất sắc và được chuyển thể thành kịch

bản phim Riêng phim Thiếu Nữ Áo Đỏ được chuyển thể từ tác phẩm Chiếc Áo Đỏ

Không Cúc đã xuất sắc đánh bại những bộ phim cùng được yêu thích khác để dành giải phim truyện hay nhất năm Một số truyện ngắn, truyện vừa khác của bà cũng

đạt được những thành tích đáng nể như Đống Rơm (Giải thưởng truyện vừa ưu tú năm 1986-1987); Đối Diện, Vĩnh Viễn Không Xa (bản tiếng Việt đăng trên tạp chí văn học nước ngoài số tháng 1 năm 2001) rất được hoan nghênh, Người Đàn Bà

C hửa Và Con Bò, Thôn Tú Sắc, Người Con Gái Của Dòng Sông cũng rất đặc sắc

Năm 1986 và năm 1988 được xem là cái mốc đánh dấu thời kỳ sáng tác mới của Thiết Ngưng Ý thức thẩm mỹ và hình thức biểu hiện nghệ thuật của bà có phần

Trang 31

thay đổi Không chỉ dừng lại ở các sáng tác truyện ngắn, truyện vừa, Thiết Ngưng

đã thử sức mình ở thể loại tiểu thuyết và bà cũng gặt hái được những thành công vang dội Thiết Ngưng lần lượt giới thiệu đến độc giả hai bộ tiểu thuyết có tính chất

đi ngược lại lịch sử văn hóa lâu đời, quan tâm hơn tới thân phận con người, đặc biệt

là hướng đến thân phận người phụ nữ - Đó là Mạch Khiết Đóa và Miên Hoa Đóa Cũng trong thời gian này Thiết Ngưng cho ra đời tiểu thuyết dài đầu tiên Cửa Hoa

H ồng (1988)

Ở tiểu thuyết Cửa Hoa Hồng, chúng ta thấy một Thiết Ngưng mạnh dạn, bà

đã dùng ngòi bút mổ xẻ, phân tích các vấn đề nhức nhối của xã hội, phơi bày những

tệ trạng xấu xa, bỉ ổi và đẫm máu trong cuộc sống Đây là tác phẩm có thể coi là tiêu biểu cho đề tài nữ tính

Năm 2000, Thiết Ngưng tiếp tục cho ra đời tiểu thuyết Đại Dục Nữ (bản dịch tiếng Việt là Những Người Đàn Bà Tắm) được độc giả hoan nghênh nhiệt liệt,

khiến tên tuổi của bà vượt khỏi biên giới Trung Quốc Tác phẩm được trao giải thưởng Mao Thuẫn lần thứ 6 – một giải thưởng có uy tín của Hội nhà văn Trung

Quốc, bên cạnh những tác phẩm và những tên tuổi nổi tiếng khác như Đàn Hương

Hình của Mạc Ngôn, Hoài Niệm Sói của Giả Bình Ao, Vô Tư của Trương Khiết, …

Tính đến nay các tác phẩm của Thiết Ngưng có một số lượng không nhỏ và được in thành tuyển tập hoặc trong các tuyển tập:

Tuyển tập Thiết Ngưng (5 tập)

Tuyển tập tác phẩm tự chọn (4 tập)

Tuyển tập truyện (2 tập)

Tuyển tập 50 nhà văn hàng đầu Trung Quốc - Tập Thiết Ngưng

Tuyển tập tác giả đương đại Trung Quốc - Tập Thiết Ngưng

Ngoài ra, các nhà xuất bản ở Trung Quốc lần lượt cho in 29 tập truyện ngắn, truyện vừa và 16 tập tùy bút, tản văn, nhật ký của Thiết Ngưng

Điểm qua quá trình sáng tác của Thiết Ngưng, chúng ta không thể phủ nhận một điều rằng : Bà có một bút lực dồi dào, khả năng sáng tạo đáng nể phục Các tác phẩm của bà ra đời liên tục, khoảng cách thời gian là rất ít Tuy vậy, chúng là những

Trang 32

sáng tác được người đọc đón nhận nồng nhiệt Thiết Ngưng đã ba lần nhận giải thưởng toàn quốc về truyện ngắn, truyện vừa, hai lần liên tiếp nhận giải thưởng văn học Lỗ Tấn Năm 2003, Thiết Ngưng được độc giả tạp chí “Tiểu thuyết chọn lọc” bầu chọn là một trong mười “nhà văn nổi tiếng nhất thế kỷ” Bà trở thành một trong các nhà văn có tầm ảnh hưởng lớn nhất Trung Quốc Tên tuổi của bà được xếp ngang hàng với các nhà văn nổi tiếng khác ở Trung Quốc, tác phẩm của bà được đưa vào giáo trình giảng dạy tại các trường đại học, như giáo trình “Văn học đương đại Trung Quốc”, “văn học Trung Quốc”

Đến nay, với hơn 30 năm cầm bút, Thiết Ngưng đã đóng góp cho nền văn học hiện đại một khối lượng tác phẩm không nhỏ, có giá trị Vượt xa hơn ra khỏi biên giới Trung Quốc, các sáng tác của Thiết Ngưng đã đến Việt Nam và các nước khác trên thế giới là dịp để bạn đọc có cái nhìn toàn cảnh hơn về người Trung Quốc hiện đại, đặc biệt là người phụ nữ

1.2.3 Quan niệm của Thiết Ngưng về tiểu thuyết

Văn chương là một lĩnh vực nghệ thuật thuần túy và vô cùng khắc nghiệt Nhà văn muốn tạo cho mình chỗ đứng trên văn đàn hay trong lòng độc giả đều phải

có quá trình của sự trải nghiệm Trong quá trình đó, buộc nhà văn phải tạo cho mình một phong cách nghệ thuật độc đáo, ấn tượng, mới lạ Trước sự xâm nhập của các khuynh hướng văn học Phương Tây, văn học Trung Quốc đã có những bước chuyển mình đáng kể Bên cạnh đó là tư tưởng văn học do người Nhật mang đến Trung Quốc trong quá trình xâm lược Phái Tân Cảm Giác du nhập vào văn đàn Trung Quốc ở những năm 1930 Đến những năm 1950, 1970 của thế kỷ XX, tiểu thuyết mới hình thành ở Pháp và sau đó lan rộng đến nước này Cùng với chủ nghĩa tượng trưng phương Đông, tất cả đã làm nên một nền văn hóa đa màu sắc, đa thanh điệu Bối cảnh đó đặt ra cho nhà văn Trung Quốc những yêu cầu mới với sáng tác của mình

Nhà văn Lỗ Tấn cho rằng: “Sự buồn vui, đau khổ, phấn khởi đều là tình cảm

con người… Những người nghèo thì không bao giờ có nỗi buồn do bị lỗ vốn trong việc làm ăn, cũng như ông vua dầu lửa thì không bao giờ biết được nỗi chua xót

Trang 33

của một bà cụ đi nhặt xỉ than đá ở Bắc Kinh, hoặc nạn nhân ở khu vực đói kém và đại để là họ không bao giờ trồng hoa lan …” [1]

Cho nên trong đại hội thành lập Liên minh “cánh tả”, nhà văn Lỗ Tấn nói:

“Loại văn chương chưa từng tiếp xúc với cuộc đấu tranh thực tế ngoài xã hội, mà chỉ là những bài văn, những vấn đề nghiên cứu trong một văn phòng có cửa kính, thì có sôi nổi quyết liệt tới đâu, dù có “tả” tới đâu đều là việc rất dễ làm được, nhưng một khi động vào thực tế thì nó tức khắc tan vỡ…” [1]

Nhà văn muốn sáng tác của mình có sức thuyết phục bạn đọc thì phải có sự trải nghiệm ngoài thực tế Điều này giúp tăng vốn sống, nâng tầm bút lực của nhà văn và nuôi dưỡng tấm lòng nhân đạo của họ

Với Thiết Ngưng, văn học ngoài mục đích thể hiện những niềm vui, nỗi buồn của cá nhân, nó còn phải phản ánh được những biến động của cuộc sống

hiện đại qua sự trải nghiệm thực tế Nhà văn tâm sự: “như người nông dân cày

sâu cuốc bẫm trên đồng ruộng, tôi cũng gắn bó sâu nặng với cuộc đời để nuôi dưỡng tâm hồn mình Tôi sẽ luôn trung thực với thời đại mà tôi sống, với ngòi bút, với lương tâm và với những độc giả yêu thương” Những năm tháng lao động và

trải nghiệm ở vùng nông thôn Hà Bắc đã đem lại cho bà những kiến thức – vốn sống thực tế vô cùng quý báu Dưới ngòi bút của bà, hiện thực đời sống nông thôn

mở ra với vẻ tiêu điều nghèo khó Người nông dân phải kham khổ, cực nhọc quanh năm mà vẫn thiếu thốn Họ chịu nhiều thiệt thòi khi gắn bó đời mình vào chốn

“thâm sơn cùng cốc”, xa dân, xa thông tin văn hóa Họ nghèo cả về vật chất lẫn tinh thần Nhà văn Thiết Ngưng cay đắng kể cho chúng ta về một thực tại: Con người đánh đổi thân xác, danh dự để lấy miếng ăn, cái mặc Cuộc sống khó khăn không cho phép họ được cái quyền tự trọng Từ những câu chuyện đời thường trong cuộc sống ở nông thôn, những nghèo đói, những đau buồn của kiếp người, Thiết Ngưng

đã phản ánh một bức tranh toàn cảnh về nông thôn Trung Quốc Bà quan tâm đến số phận của con người, bà yêu thương và đi sâu vào nội tâm nhân vật, từ đó nói lên được những mâu thuẫn và đau khổ, những ước mơ và con đường vươn đến hạnh phúc tương lai

Trang 34

Trả lời câu hỏi “tại sao Thiết Ngưng thường quan tâm đến người nông dân?”,

bà trả lời: “Tôi hy vọng tôi có thể chuyển tải được vẻ đẹp trong cảm xúc và những

mối quan hệ của con người ở nông thôn Trung Quốc Những chuẩn mực cơ bản của đạo đức con người vẫn được lưu giữ trong trái tim mỗi con người” [47] Càng về

sau, đối tượng phản ánh trong tác phẩm của Thiết Ngưng không ngừng được mở rộng, không chỉ là nông dân mà còn là trí thức, không chỉ là người dân ở nông thôn

mà còn là người dân ở thành thị, không chỉ là những vấn đề của cá nhân mà còn là những vấn đề lớn của cộng đồng, là các cách ứng xử, không chỉ trong gia đình mà còn với xã hội, với toàn cầu …

Liên quan đến việc tạo nên một tác phẩm văn học, nhà văn cần có những trải nghiệm từ thực tế, nhà văn Thiết Ngưng cũng nhấn mạnh rằng: “để viết tiểu thuyết cần phải “trung thực” Nhân giải thích cho vấn đề này, Thiết

Ngưng có kể một câu chuyện của bà qua một chuyến đi công tác: Bà nhìn thấy một

quán cơm nhỏ bên đường ở một vùng nông thôn, bên trong quán có hai ông già đang ngồi ăn bánh nguội Đương nhiên là cửa ra vào của quán cơm đã rất cũ nát rồi, nhưng cửa này lại treo một biển hiệu rất bắt mắt “HILLTON HOTEL” Thiết Ngưng nói: “Hillton Hotel, là một kiểu hiện tượng”, trong giới văn học trước mắt cũng có lúc phải nhìn tới Đây là một thời đại đặc biệt: Sợ bị người khác nói mình

là không sâu sắc, hiện đang có rất nhiều người tham gia vào nghệ thuật và văn học, nhưng cũng đặc biệt sợ bị cho là “thợ”, mà không phải là “chuyên gia” [52; Phạm

Thị Hòa dịch]

Thiết Ngưng nói thêm về câu chuyện của mình:

“ Thiết Ngưng nhớ, trước đây có một nhà văn tiền bối thường nói với bà rằng: Làm người “trung thực” cần phải có giới hạn tối đa của nó, viết tiểu thuyết trung thực cũng cần có hạn định tối đa của nó Đương thời cho rằng, làm người trung thực thì rất dễ, còn viết một tiểu thuyết trung thực thì thật khó, vì bên trong sự trung thực này còn bao hàm rất nhiều nội dung Những năm gần đây, càng viết tiểu thuyết tôi càng cảm thấy rằng, viết tiểu thuyết rất cần sự trung thực Đương nhiên,

sự trung thực ở đây là chỉ thái độ của người sáng tác đối với bản thân văn học,

Trang 35

không có lập trường văn học hoặc thái độ với văn học một cách trung thực thì sẽ không thể nào có được bố cục tác phẩm và cũng không có được tư duy để viết văn

Sự trung thực là một đỉnh điểm của trình độ nhận thức, tư duy.” [52; Phạm Thị Hòa

dịch]

“Thi ết Ngưng còn cho rằng, tiểu thuyết không phải là siêu hình học, Trên thực tế, các hoạt động tư duy của tiểu thuyết rất hẹp, nó là một vòng tròn khép kín Các khả năng “tấn công” *(từ dùng của tác giả) của tiểu thuyết đối với người đọc chứ không phải là sự kết hợp hoán vị của một kiểu tư tưởng sâu sắc nào đó, hơn nữa, đối với tiểu thuyết gia phải mang được hơi thở của cuộc sống để tạo ra các biểu hiện về sức mạnh và tính phong phú của tư tưởng Đây là một vấn đề không thể nóng vội

Thiết Ngưng nhận thấy rằng, cần phải có khả năng mô tả các biểu hiện của

tư tưởng chứ không phải là bản thân tư tưởng ấy Từ đó tiểu thuyết mới có thực lực

“tấn công” người đọc Tiểu thuyết có thể hình dung như một cuộc cách mạng, là phút giây phấn chấn của sự co thắt tình cảm đối với quốc gia Các tiểu thuyết gia cần phải kiên nhẫn và không nên bốc đồng Nó phải là mối quan tâm thực sự bằng tình cảm của nhà văn đối với cuộc sống sinh tồn của nhân loại, như vậy người đọc mới có thể tiếp nhận và bị lôi cuốn bởi tác phẩm của bạn …” [52; Phạm Thị Hòa

dịch]

Thiết Ngưng là một nhà văn hiện thực, dưới ngòi bút của bà là bức tranh rõ ràng nhất về xã hội Trung Hoa sau Cách Mạng Văn Hóa Đề tài bà chọn là cuộc sống đời thường của những con người lao động bình thường Ở đó bà không ngoảnh mặt trốn tránh hay che lấp thực tại Thiết Ngưng mạnh dạn nhìn đúng, nhìn thẳng vào sự thật Từ những người nông dân đến những người trí thức bà không ngại phơi bày những đau thương mất mát của họ trong cuộc sống Tuy nhiên dưới ngòi bút của Thiết Ngưng, hiện thực cuộc sống không chỉ cung cấp dưới dạng thông tin mà

nó còn mang cả tình cảm của thời đại thông qua thế giới tư tưởng của nhà văn Thiết Ngưng đến với văn học bằng một trái tim nóng bỏng yêu thương của một tấm lòng nhân ái Sự trải nghiệm trong thực tế đã khiến bà càng dễ cảm thông, yêu

Trang 36

thương chân thành với biết bao số phận con người Chính vì sự yêu thương và quan tâm ấy đã vun đắp cho bà có một khả năng nắm bắt và phân tích tâm lý nhân vật một cách tinh tế, tuyệt vời Phải nói thêm rằng, những chuyển biến hết sức tinh vi

dù là rất nhỏ của nhân vật, cũng không thể qua được sự quan sát tỉ mỉ của bà Thiết Ngưng đúng là một bậc “phù thủy” về tâm lý con người

Về vấn đề ngôn ngữ tiểu thuyết, Thiết Ngưng cho rằng : “Ngôn ngữ là một phương diện rất quan trọng của tiểu thuyết Ngôn ngữ không chỉ là công cụ

tham gia vào việc phát triển và hoàn thành tiểu thuyết mà nó còn là công cụ tạo nên sức rung động, ái mộ đối với bạn đọc Bản thân ngôn ngữ chính là một bộ phận của tiểu thuyết” Biết là vậy, nhưng Thiết Ngưng luôn cảm thấy thất vọng, vì bà cho rằng ngôn ngữ của mình chưa đủ để nghiên cứu các vấn đề ngôn ngữ trong tiểu thuyết, bà cảm thấy “lực bất tòng tâm”, có những lúc bà không biết làm thế nào để

mô tả Thiết Ngưng cho rằng, sự việc thế nào thì ngôn ngữ phải chính xác thế ấy

Do đó ta rất cần một “cảm giác” về ngôn ngữ Vì thế ngôn ngữ không phải là một vấn đề đáng kể, mà vấn đề quan trọng là bản thân người viết [52; Phạm Thị Hòa

dịch]

Thiết Ngưng tâm sự: “Với tôi, viết không phải là một sứ mệnh Tôi không có

sự lựa chọn nào khác ngoài viết văn Chỉ có được làm như thế, tôi mới cảm nhận được sự thoải mái, niềm vui trọn vẹn và sự bình yên trong tâm hồn Tiểu thuyết là những món quà tôi dành tặng độc giả.” [48].

Ta nhận thấy những đóng góp trong quan niệm tiểu thuyết của Thiết Ngưng chính là chìa khóa tạo nên sự thành công trong tiểu thuyết của bà Sự trải nghiệm,

sự “trung thực” và “cảm giác” ngôn ngữ là sự gợi mở, là phương hướng cho nhà văn khi hình thành tác phẩm, cũng là sự gợi mở, là phương hướng giúp người đọc tiếp nhận tác phẩm của bà

1.3 N gười phụ nữ - Đề tài lớn trong sáng tác của Thiết Ngưng

Có thể nói, đề tài về người phụ nữ trong văn học từ trước đến nay luôn nhận được sự ưu ái của các nhà văn Nhưng mỗi người trong số họ lại có những cách nhìn, cách cảm và khai thác ở những khía cạnh khác nhau Văn học Trung Quốc

Trang 37

đương đại như một lẵng hoa với trăm hoa đua nở Nữ văn sĩ Thiết Ngưng là một bông hoa đẹp trong nhiều bông hoa đó

Trong các sáng tác của mình, Thiết Ngưng tỏ ra đặc biệt thành công khi viết

về người phụ nữ hiện đại với nhiều cách ứng xử khác nhau Chính vì vậy mà người

ta gọi bà là “nhà văn của nữ giới” Ở mỗi nhân vật, Thiết Ngưng đều chú trọng đến những chuyển biến tinh vi trong thế giới nội tâm, làm nổi bật những diễn biến tâm

lý xảy ra trong lòng họ Nhân vật nào của Thiết Ngưng cũng đều có nội tâm phong phú, có mối quan hệ rộng lớn Thiết Ngưng tin rằng mục đích của văn học không phải chỉ để thể hiện những niềm vui nỗi buồn của cá nhân mà còn phản ánh được nhịp đập của cuộc sống hiện đại thông quan trải nghiệm cá nhân Có lẽ, với cái tâm thế ấy mà ta thấy rằng ở các tác phẩm của Thiết Ngưng không có những ồn ào, náo nhiệt mà lúc nào cũng có vẻ bình lặng Nhưng ẩn sâu trong đó là những đấu tranh, những xung đột nội tâm vô cùng khốc liệt Chúng tôi tin rằng Thiết Ngưng sẽ còn tiến xa hơn nữa trên con đường sự nghiệp của mình

1.3.1 N gười phụ nữ thôn quê

Đồng trang lứa và cùng giữ chức vụ như Thiết Ngưng, nhà văn thị trưởng Lý Thái Ngân cũng chọn cho mình đề tài về nông thôn Tác giả này đến với nông thôn

vì chính trị phải gắn bó mật thiết với cuộc sống Lấy đề tài từ đời sống chính trị và dùng tư duy trừu tượng để sáng tác Nhìn có vẻ đi ngược lại con đường Thiết Ngưng đã chọn, thế nhưng họ gặp nhau ở công việc chọn đề tài, nhân vật Trong sáng tác của Lý Thái Ngân thường là những cô gái nông thôn chất phác dưới ảnh hưởng của tập quán truyền thống, họ hy vọng thông qua hôn nhân để thoát ly cuộc sống nông thôn Thế nhưng mục đích không thực hiện được và cuối cùng nhân vật rơi vào tấn bi kịch Cốt lõi những vấn đề tư tưởng nổi bật của nhà văn Lý Thái Ngân

là mối quan hệ giữa sức lao động, nông thôn, nông dân và thành thị Chúng ta cần phải làm gì để kéo gần khoảng cách giữa chúng Đó là Lý Thái Ngân

Mạc Ngôn cũng là nhà văn viết về nông thôn, thế nhưng trong sáng tác của ông, nông thôn hiện lên xơ xác và cuộc sống nông thôn hết sức bần cùng Tiểu

thuyết của Mạc Ngôn say sưa với cuộc sống kỳ lạ của “tiền nhân gia tộc” thì Thiết

Trang 38

Ngưng lại hướng lòng mình về người phụ nữ Nhiều sáng tác của bà khá thành

công trong việc miêu tả vẻ đẹp người phụ nữ Người phụ nữ đẹp trong vẻ khỏe

khoắn của người lao động với hình thức bên ngoài và nội tâm thuần khiết bên trong

Hoặc như nhà văn Trì Lợi, người dành cho phụ nữ sự ưu ái hết đỗi Tuy vậy nội dung chủ yếu mà những truyện ngắn của tác giả này quan tâm là “góc nhìn của

nữ tính và lập trường của nữ tính” [15; 181] Đó là tiếng nói bênh vực thân phận người phụ nữ, vạch rõ mâu thuẫn và giằng co quyết liệt giữa hai phái

Trong thời đại Internet ngày nay, không khó tìm được các sáng tác của các nhà văn trẻ Họ được ví như nấm mọc sau mưa và các tác phẩm của họ được giới thiệu rộng rãi Những cái tên như: Vệ Tuệ, Tào Đình, Trương Duyệt Nhiên, Sơn Táp, … dần dần trở thành quen đối với người đọc toàn thế giới Tuy nhiên không thể phủ nhận một điều, các nhà văn trẻ tuổi này, ít nhiều chạy theo thị hiếu bạn đọc,

ví như bối cảnh chủ yếu trong sáng tác của Vệ Tuệ thường là các quán bar, vũ trường, nhà hàng … Do đó truyện đề cập đến các vấn đề hết sức nhạy cảm, nó mang tính dục rất cao như ân ái, làm tình, khỏa thân, …

Trong sự hỗn độn đa màu sắc đó , ta thấy một Thiết Ngưng trầm ngâm đứng bên thân phận người phụ nữ nghèo khổ, họ là phụ nữ lao động sản xuất của nông thôn

Những năm tháng sống và lao động ở nông thôn, chứng kiến cảnh người nông dân đói khổ, hơn ai hết, Thiết Ngưng thấu hiểu và thông cảm sâu sắc với họ, đặc biệt là người phụ nữ Thời kỳ đầu, Thiết Ngưng thường viết về những con người và những sự việc bình thường trong cuộc sống nông thôn, những chân dung

về người phụ nữ nông thôn đều được phản ánh trong các sáng tác của bà Càng về sau, đối tượng phản ánh trong tác phẩm của Thiết Ngưng không ngừng được mở rộng Đó không chỉ là người phụ nữ nông thôn mà còn là người dân thành thị,

không chỉ là nông dân mà còn là trí thức … Thiết Ngưng tỏ ra một sự nhạy bén trong cách nhìn, cách cảm về con người và cuộc sống Thiết Ngưng sâu sắc trong việc nắm bắt tâm lý nhân vật Ta cảm thấy Thiết Ngưng dường như có hai điểm

Trang 39

nhìn: Một là thành thị, một là nông thôn; Một là nam giới, một là nữ giới Thiết Ngưng lấy người ở thành thị để nhìn về người ở nông thôn, lấy người ở nông thôn nhìn về người ở thành thị; Lấy nam giới để nhìn về nữ giới, lấy nữ giới để nhìn về nam giới, …Nhưng cho dù người đó là người thành thị hay người nông thôn, người

đó là nam giới hay nữ giới thì đều được Thiết Ngưng mô tả và phân tích những diễn biến tâm lý cực kì sống động, linh hoạt đến chân thật và xúc động Thiết Ngưng quả thực có một khả năng bẩm sinh để kiểm soát các câu chuyện trong tác phẩm của mình

Với đề tài người phụ nữ nông thôn, các nhân vật trong sáng tác của Thiết Ngưng luôn đau đáu khát vọng đổi đời, khát vọng văn minh Họ phải

sống quẩn quanh bế tắc, nỗi lo cơm, áo, gạo, tiền Nơi chốn xa xôi, hẻo lánh theo cùng là những tập tục lạc hậu khiến người ta không ngừng ao ước, đôi khi chỉ là ao ước tầm thường và ảo tưởng

Tháng 6 năm 1982, Thiết Ngưng cho ra đời truyện ngắn Ôi! Hương Tuyết, tác phẩm đã được các độc giả nồng nhiệt đón nhận Truyện ngắn Ôi, Hương Tuyết

mô tả một cô gái vùng sơn cước với rổ trứng trên tay đã bị cuốn hút bởi chiếc hộp bút chì mà nhảy lên chuyến tàu xa lạ với mong muốn đổi giỏ trứng để có được nó Điều này cho thấy sự đơn giản đến trong sáng, đáng yêu của cô gái nông thôn – Hương Tuyết Bằng giọng văn trong sáng, mạch lạc, tác giả tỏ ra thông cảm, yêu thương, yêu thương hết lòng nhân vật của mình Hương Tuyết cũng như Phượng Kiều và các cô gái nông thôn khác, đều phải sống trong cảnh thiếu thốn, tù túng Đời sống nghèo khó, họ không chỉ nghèo về vật chất mà còn nghèo túng cả về đời sống tinh thần Vì thế, mỗi khi tàu chạy qua, nó như một thứ “ánh sáng văn hóa mới” đem đến cho Đài Nhi Câu một khoảng náo nhiệt và rộn rã, đặc biệt nó đem

đến sự háo hức vô bờ với các cô gái nơi đây: “Mỗi lần tàu chạy qua, những cô gái

kéo nhau ra đứng nơi đầu thôn, tham lam ngước nhìn đoàn tàu Có cô chỉ trỏ lên toa tàu, thỉnh thoảng lại nghe thấy tiếng đấm nhau thùm thụp và tiếng reo vui …”

Tàu sắp đến: “Các cô cứ hớt hơ hớt hải dọn cơm lên, ăn qua loa vài miếng rồi bỏ

bát đấy, vội vã chải chuốt, sửa soạn Các cô rửa sạch bụi để khuôn mặt đỏ hồng,

Trang 40

tóc chải thật mượt, đua nhau mặc những chiếc áo đẹp nhất Có cô đi đôi giày chỉ để

đi trong ba ngày Tết, có cô còn xoa lên mặt một chút kem cho dù tàu đến ga tối lắm rồi, nhưng các cô gái vẫn làm theo ý mình, vẫn phải ngắm nghía chọn lựa trang phục, chăm sóc dung nhan, cùng nhau ra đầu thôn, chạy nhanh về phía tàu sẽ chạy qua” “ Ôi! Hương Tuyết” là cả sự mong đợi của thôn Đài Nhi Câu Nơi đây biệt lập

với mọi sự phát triển của khoa học, kỹ thuật Chuyến tàu ọp ẹp thở phì phò từ thủ

đô chạy qua, mỗi ngày chỉ dừng lại một phút ngắn ngủi Tuy thời gian ngắn ngủi nhưng sự chuẩn bị để đoàn tàu đi qua là cả một ngày Các cô gái mười bảy, mười tám tuổi của Đài Nhi Câu rửa mặt, sửa soạn quần áo để đón đoàn tàu đi qua như chờ một điều thiêng liêng cao cả Đời sống vật chất nông thôn đầy thiếu hụt, với những tâm hồn trong sáng khát khao thay đổi … đã được Thiết Ngưng miêu tả vô cùng sắc sảo, giọng văn nghe có vẻ lạnh lùng mà lại đầy thương cảm, sẻ chia …

Mễ, trong Mùa Hái Bông, chúng ta lại bắt gặp một ngòi bút lạnh lùng chua

xót khác của tác giả Mùa Hái Bông mang bóng dáng của cái nhìn sử thi bao quát

một số phận cộng đồng trong lịch sử - vẫn là cái nhìn suồng sã, nhưng lại rất chân thật, rất gần gũi với con người Câu chuyện xoay quanh cuộc đời và số phận của những thế hệ phụ nữ nông thôn nối tiếp nhau …dai dẳng bế tắc, nghèo đói, nhơ nhớp… Họ có thể làm tất cả để đổi được cái ăn, cái mặc mà không dám một lần mơ

về hạnh phúc lứa đôi Nhân vật Mễ được tác giả miêu tả là cô gái nông thôn, lam lũ, xinh đẹp nhưng lại lười biếng, có lối sống ích kỷ để thu vén cho bản thân Mễ bất

chấp cả đạo lý, sống buông thả, chỉ là để nhận được những gánh bông : “Mỗi lần

Mễ đi bán bông, ông Tụ (cha của Mễ) lại bảo con gái đem bán luôn cả chỗ bông để

ở bên bể nước Mễ không đem bán Cô chỉ bán chỗ bông của mình tích góp Bông ở ngoài kia để ông Tụ bán, đó là sự đối phó giữa hai bố con Cho dù là đối phó, nhưng một khi thiếu Mễ cũng lấy bông của bố đi bán để gom góp thu vén cho bản thân”

Chuyện cô đêm đêm chui vào lều lán âu cũng để cho bản thân sau này lấy chồng, sinh con đẻ cái, cô không muốn tay không về nhà chồng.” [24;165] Đau

lòng vô cùng, khi chúng ta phải nhìn vào sự thật mà đặt một phép tính : Bên này là

Ngày đăng: 02/12/2015, 17:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vương Văn Anh (chủ biên), Phạm Công Đạt dịch (2005), Văn học hiện đại Trung Quốc nhìn từ Thượng Hải, NXB Văn Học, TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học hiện đại Trung Quốc nhìn từ Thượng Hải
Tác giả: Vương Văn Anh (chủ biên), Phạm Công Đạt dịch
Nhà XB: NXB Văn Học
Năm: 2005
2. Lê Huy Bắc (1997), “Đối thoại và độc thoại nội tâm của Hemingway”, Tạp chí văn học, số 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đối thoại và độc thoại nội tâm của Hemingway”, "Tạp chí văn học
Tác giả: Lê Huy Bắc
Năm: 1997
3. Dorothy Brewster và John Angus Burrell, Dương Thanh Bình dịch (2003), Tiểu thuyết hiện đại, NXB Lao Động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết hiện đại
Tác giả: Dorothy Brewster và John Angus Burrell, Dương Thanh Bình dịch
Nhà XB: NXB Lao Động
Năm: 2003
4. Tào Tuyết Cần, Vũ Bội Hoàng dịch (1999), Hồng lâu mộng, NXB Văn Học, TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồng lâu mộng
Tác giả: Tào Tuyết Cần, Vũ Bội Hoàng dịch
Nhà XB: NXB Văn Học
Năm: 1999
5. Jean Chevalier, Alain Gheerbrant (2002), Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới , NXB Đà Nẵng, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới
Tác giả: Jean Chevalier, Alain Gheerbrant
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 2002
6. Chương Chính giới thiệu và tuyển dịch, Tạp văn Lỗ Tấn, NXB Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp văn Lỗ Tấn
Nhà XB: NXB Giáo Dục
7. Trần Xuân Đề (2006), Tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc
Tác giả: Trần Xuân Đề
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
8. Trần Xuân Đề (1998), Tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc, NXB Giáo Dục, TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc
Tác giả: Trần Xuân Đề
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 1998
9. Trần Xuân Đề (chủ biên) (2002), Lịch sử văn học Trung Quốc, NXB Giáo Dục, TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn học Trung Quốc
Tác giả: Trần Xuân Đề (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 2002
10. Tào Đình, Nguyễn Thành Phước dịch (2008), Anh trai em gái , NXB Hội Nhà Văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Anh trai em gái
Tác giả: Tào Đình, Nguyễn Thành Phước dịch
Nhà XB: NXB Hội Nhà Văn
Năm: 2008
11. Tào Đình, Trang Hạ dịch (2007), Xin lỗi em chỉ là con đĩ, NXB Hội Nhà Văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xin lỗi em chỉ là con đĩ
Tác giả: Tào Đình, Trang Hạ dịch
Nhà XB: NXB Hội Nhà Văn
Năm: 2007
12. Lâm Ngữ Đường (2001), Đất nước con người Trung Hoa, NXB Văn Hóa Thông Tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất nước con người Trung Hoa
Tác giả: Lâm Ngữ Đường
Nhà XB: NXB Văn Hóa Thông Tin
Năm: 2001
13. Lý Khá ng Dục (1986), “Sự lúng túng của văn hóa”, Văn học bình luận, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự lúng túng của văn hóa”, "Văn học bình luận
Tác giả: Lý Khá ng Dục
Năm: 1986
14. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi - đồng chủ biên (2006), Từ điển thuật ngữ Văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ Văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi - đồng chủ biên
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
15. Phan Thị Thu Hiền (2005), Nhân vật nữ trong “Hồng Lâu Mộng”, Đại học Vinh, Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân vật nữ trong “Hồng Lâu Mộng”
Tác giả: Phan Thị Thu Hiền
Năm: 2005
16. Hồ Sĩ Hiệp (2007), Một số vấn đề văn học Trung Quốc đương đại, NXB Tổng Hợp Đồng Nai, Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề văn học Trung Quốc đương đại
Tác giả: Hồ Sĩ Hiệp
Nhà XB: NXB Tổng Hợp Đồng Nai
Năm: 2007
17. Đỗ Đức Hiểu chủ biên (2004), Từ điển văn học bộ mới, NXB Thế Giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học bộ mới
Tác giả: Đỗ Đức Hiểu chủ biên
Nhà XB: NXB Thế Giới
Năm: 2004
18. Trần Trọng Kim, Nho Giáo, Quyển Thượng, Bộ Giáo Dục- Trung Tâm Học Liệu xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho Giáo, Quyển Thượng
19. Trần Trọng Kim, Nho Giáo, Quyển Hạ, Bộ Giáo Dục- Trung Tâm Học Liệu xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho Giáo, Quyển Hạ
20. Nguyễn Hiến Lê (1969), Văn học Trung Quốc hiện đại 1898-1960 , NXB Nguyễn Hiến Lê, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Trung Quốc hiện đại 1898-1960
Tác giả: Nguyễn Hiến Lê
Nhà XB: NXB Nguyễn Hiến Lê
Năm: 1969

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w