1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hình tượng người phụ nữ trong tiểu thuyết xứ tuyết của yasunary kawataba

64 707 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 512,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác phẩm của ông kết tinh những tố chất đẹp nhất của truyền thống văn chương Nhật mà người ta thường tìm thấy trong các kiệt tác tiểu thuyết và nhật ký thời Heian 794 – 1185, trong sân k

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Lý do khoa học

Y.Kawabata (1899 – 1972) là một trong những nghệ sỹ vĩ đại nhất thế

kỷ XX Ông được xem là nhà văn tiêu biểu cho tâm hồn Nhật Bản Tác phẩm của ông kết tinh những tố chất đẹp nhất của truyền thống văn chương Nhật

mà người ta thường tìm thấy trong các kiệt tác tiểu thuyết và nhật ký thời Heian (794 – 1185), trong sân khấu Nô, trong thơ Haikư… Dù viết về con người, về thiên nhiên, tình yêu… tác phẩm của Y.Kawabata luôn dạt dào một

vẻ đẹp Nhật Bản Trong suốt quãng đời cầm bút của mình, nhà văn luôn muốn khơi dậy tất cả những vẻ đẹp trinh nguyên trong quá khứ nay bị lãng quên giữa nền công nghiệp phồn thịnh Nhật Bản

Năm 1968, Y.Kawabata được trao giải Nobel Văn học với ba tiểu

thuyết nổi tiếng: Xứ tuyết (1947), Ngàn cánh hạc (1951) và Cố đô ( 1962)

Ông được cả thế giới trân trọng và ngưỡng mộ với vai trò là vị cứu tinh Cái Đẹp Nhật Bản, Cái Đẹp của thế gian này Cái Đẹp Nhật Bản ấy được kết tinh trong thiên nhiên, vạn vật và đặc biệt là trong hình tượng những người phụ

nữ Người phụ nữ Nhật Bản trong sáng tác của Y.Kawabata có một vẻ đẹp rất riêng biệt luôn là đề tài hấp dẫn đối với những người say mê văn chương khi đến với dòng văn học xứ sở Phù Tang

1.2 Lý do sư phạm

Việc tìm hiểu tác phẩm của Y.Kawabata sẽ giúp người giáo viên tương lai có cái nhìn sâu sắc, toàn diện hơn về văn học nước ngoài, đặc biệt là văn học Nhật Bản Để từ đó có thể liên hệ, mở rộng cho học sinh hiểu về những sáng tác cùng thời được học trong nhà trường như Haikư của Basho Và đặc biệt giúp các em có cái nhìn đúng đắn trong cuộc sống và học tập, biết trân

Trang 2

trọng những giá trị truyền thống nhất là khi xã hội đang trên đà phát triển và hội nhập

1.3 Lý do cá nhân

Tác phẩm văn chương hấp dẫn với người đọc trước hết bởi tư tưởng mà nhà văn gửi gắm trong đó Tư tưởng của Y.Kawabata trong sáng tác văn chương của ông chính là tư tưởng trân trọng và đề cao Cái Đẹp Nhật Bản vốn hình thành từ thời Heian Mà Cái Đẹp của mọi thời, mọi quốc gia luôn làm rung động lòng người, bồi đắp tâm hồn chúng ta thêm yêu và trân trọng cuộc sống hơn

Xuất phát từ suy nghĩ đó, nên tôi chọn đề tài “Hình tượng người phụ nữ

trong tiểu thuyết Xứ tuyết của Y.Kawabata” với hy vọng sẽ khám phá được

Tạp chí Văn học số 51, 52 (tháng 12/ 1996) trong bài “ Truyện ngắn trong lòng bàn tay” (tr 138), Nhật Chiêu nói thêm về “Thi pháp Chân không” của Y.Kawabata

Tạp chí Văn học số 9 năm 1999 có bài của Lưu Đức Trung bàn về “Thi pháp tiểu thuyết Kawabata – Nhà văn lớn Nhật Bản” Bài viết nêu bật thi pháp đặc trưng trong sáng tác của Y.Kawabata là thi pháp Chân không

Trang 3

Tạp chí Văn học số 15 (tháng 6/2001) có bài “Đọc Xứ tuyết suy nghĩ

về cái nhìn huyền ảo của Y.Kawabata” của Đào Ngọc Chương Ở bài viết này, người nghiên cứu không đề cập đến lý thuyết tiếp nhận như một cơ sở để xây dựng các luận điểm mà chỉ mới dừng lại ở việc so sánh, hệ thống các yếu

tố tác phẩm hướng tới lí giải cái nhìn huyền ảo của Y.Kawabata chủ yếu trong

Xứ tuyết như một đặc trưng thi pháp của ông

Tạp chí Văn học tháng 2 năm 2002, Nhật Chiêu viết về “ Thế giới Kawabata Yasunary trong tác phẩm của ông”

Tạp chí nghiên cứu khoa học số 1 năm 2004 với bài “Thủ pháp tương

phản” trong truyện Người đẹp say ngủ của Y.Kawabata” của tác giả Khương Việt Hà Bài viết chủ yếu đi sâu về nghệ thuật tác phẩm Người đẹp say ngủ

Trong tạp chí nghiên cứu văn học số 7 năm 2005 có bài “Yasunary Kawabata giữa dòng chảy Đông – Tây” của Đào Thị Thu Hằng đã nghiên cứu

về sự ảnh hưởng của văn hoá phương Tây đối với nhà văn Y.Kawabata Tuy nhiên tác giả lại viết kết luận: văn hoá phương Đông vẫn là gốc rễ trong tư tưởng của nhà văn này

Tạp chí văn học số 11 năm 2005 với bài “ Y.Kawabata – Lữ khách muôn đời đi tìm Cái Đẹp” của tác giả Nguyễn Thị Mai Liên Bài nghiên cứu

đi sâu vào vẻ đẹp Nhật Bản trong sáng tác của Y.Kawabata Đó là vẻ đẹp thiên nhiên, phong tục, vẻ đẹp của tâm hồn con người được Nguyễn Thị Mai Liên chia thành những phương diện khác nhau như: vẻ đẹp của những sự vật khiêm nhường, vẻ đẹp tâm hồn thanh tao, trong sáng ,vẻ đẹp thanh xuân, vẻ đẹp hài hoà, vẻ đẹp của cái u buồn và vẻ đẹp hư ảo

Gần đây, Khương Việt Hà với bài viết “Mỹ học Y.Kawabata” trong Nghiên cứu văn học số 6 năm 2006 cũng đã trình bày rõ quan điểm về Cái Đẹp của Y.Kawabata và nguồn gốc hình thành những quan điểm đó

Trang 4

Các bài viết trên hoặc đi sâu một khía cạnh nghệ thuật, một quan điểm thẩm mỹ, hoặc khái quát thi pháp tiểu thuyết của Y.Kawabata hoặc khái quát

về con đường đi tìm Cái Đẹp của nhà văn … Nhìn chung những bài viết ấy đều tập trung làm nổi bật vẻ đẹp Nhật Bản trong sáng tác của Y.Kawabata Tuy nhiên, chúng mới ở dạng khái quát Trong khoá luận này, người viết muốn đi sâu vào một phương diện của Cái Đẹp trong quan niệm của

Y.Kawabata, đó chính là người phụ nữ trong Xứ tuyết

Xứ tuyết là một trong những thi phẩm đặc sắc nhất của Y.Kawabata

Tác phẩm được coi là “quốc bảo”, “ một xứ tuyết trong nước Nhật mà như một vương quốc riêng, nơi đó giữ nguyên được cảnh sắc, con người, phong tục tập quán, lối sống của một vùng đất mà sự hồn hậu, chất phác của Trời - Đất và Người như còn được giữ nguyên vẹn” ( Ngô Văn Phú)[11;234] Trong

đó, hình tượng người phụ nữ được hiện lên sinh động hấp dẫn qua phong cách văn chương độc đáo của Kawabata

3.Đối tượng nghiên cứu và phạm vi khảo sát

3.1.Đối tượng nghiên cứu

Hình tượng người phụ nữ trong Xứ tuyết của Y.Kawabata

3.2.Phạm vi khảo sát

Việc khai thác hình tượng người phụ nữ ở đây được tập trung chủ yếu

trong tiểu thuyết Xứ tuyết

Tuy nhiên để tiện cho việc phân tích, đối chiếu, so sánh, người viết có thể

mở rộng sang một số tác phẩm khác của Kawbata nếu thấy cần thiết

4.Mục đích nghiên cứu

Với đề tài “Hình tượng người phụ nữ trong tiểu thuyết Xứ tuyết của

Y.Kawabata”, người viết nhằm mục đích làm nổi bật những nét đẹp của người phụ nữ Nhật Bản như một phương diện trong quan niệm thẩm mĩ của Kawabata Qua đó, chúng ta thấy được tài năng của nhà văn này và những

Trang 5

đóng góp lớn lao của ông cho nền văn học dân tộc nói riêng và cho nhân loại nói chung

5.Phương pháp nghiên cứu

Quá trình thực hiện đề tài này, người viết đã sử dụng phối hợp nhiều phương pháp Trong đó chủ yếu là những phương pháp sau:

Trang 6

5.1.Phương pháp khảo sát tác phẩm

5.2 Phương pháp phân tích, so sánh, đối chiếu

5.3 Phương pháp tổng hợp nâng cao vấn đề

Những phương pháp này có khi được sử dụng độc lập, nhưng cũng có khi được kết hợp với nhau để có thể đạt được hiệu quả tối đa cho mục đích nghiên cứu

6.Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn gồm hai chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận chung

Chương2: Hình tượng người phụ nữ trong tiểu thuyết Xứ tuyết của

Y.Kawabata

Trang 7

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG

1.1 Khái niệm “Hình tượng nghệ thuật”

Như chúng ta đã biết, vai trò của nghệ thuật là phản ánh cuộc sống và

nó lấy hình tượng làm phương tiện thể hiện Ở bất cứ loại hình nào từ kiến trúc, điêu khắc , âm nhạc, hội hoạ đến văn học đều dùng đến hình tượng nghệ thuật nhằm dựng lên bức tranh đời sống của số phận con người với những cảnh đời riêng biệt Tất cả đều nhằm khơi dậy trong lòng người đọc, người xem những ý nghĩ đối với đời sống bằng một tác động tổng hợp cả lý trí lẫn tình cảm

Vậy hình tượng nghệ thuật là gì? “Hình tượng nghệ thuật là các khách thể đời sống được nghệ sĩ tái hiện bằng tưởng tượng sáng tạo trong những tác phẩm nghệ thuật ( ) Nói tới hình tượng nghệ thuật người ta nghĩ tới hình tượng con người, bao gồm cả hình tượng một tập thể người với những chi tiết biểu hiện cảm tính phong phú” [6; 147]

“Hình tượng nghệ thuật tái hiện đời sống, nhưng không phải sao chép y nguyên những hiện tượng có thật, mà là tái hiện có chọn lọc sáng tạo thông qua trí tưởng tượng và tài năng của nghệ sĩ, sao cho các hình tượng truyền lại được ấn tượng sâu sắc, từng làm cho nghệ sĩ day dứt, trăn trở cho người khác Hình tượng nghệ thuật vừa có giá trị thể hiện những nét cụ thể, cá biệt không lặp lại, vừa có khả năng khái quát làm bộc lộ bản chất của một loại người hay một quá trình đời sống theo quan niệm của nghệ sĩ Hình tượng nghệ thuật không phải phản ánh các khách thể tự nó, mà thể hiện toàn bộ quan niệm và cảm thụ sống động của chủ thể đối với thực tại Người đọc không chỉ thưởng thức “bức tranh” hiện thực, mà còn thưởng thức cả nét vẽ, màu sắc, cả nụ

Trang 8

cười, sự suy tư ẩn trong bức tranh ấy Hình tượng nghệ thuật thể hiện tập trung các giá trị nhân học và thẩm mỹ nghệ thuật” [6; 148]

Như vậy, cấu trúc của Hình tượng nghệ thuật bao giờ cũng là sự thống nhất cao độ giữa các mặt đối lập: chủ quan và khách quan, lý trí và tình cảm, cá biệt và khái quát, hiện thực và lý tưởng, tạo hình và biểu hiện, hữu hình và vô hình Và cũng chính vì những lẽ trên, hình tượng còn là quan hệ xã hội – thẩm mỹ vô cùng phức tạp Trước hết là quan hệ giữa các yếu tố và chỉnh thể của bức tranh đời sống được tái hiện qua hình tượng Thứ đến là quan hệ giữa thế giới nghệ thuật với thực tại mà nó phản ánh Về phương diện này, hình tượng không chỉ tái hiện đời sống mà còn cải biến nó để tạo ra một thế giới mới, chưa từng có trong hiện thực Đó là quan hệ giữa tác giả với hình tượng, với cuộc sống trong tác phẩm Một mặt, hình tượng là hình thức,

là ký hiệu của một tư tưởng, tình cảm, một nội dung nhất định, là sản phẩm sáng tạo của nghệ sĩ Mặt khác, hình tượng lại là một khách thể tinh thần có cuộc sống riêng, không phụ thuộc vào ý muốn và cuối cùng là quan hệ giữa tác giả, tác phẩm với công chúng của nghệ thuật, giữa hình tượng với ngôn từ của một nền văn hoá

Mỗi loại hình nghệ thuật sử dụng một loại chất liệu riêng biệt để xây dựng hình tượng Chất liệu của hội hoạ là đường nét, màu sắc, của kiến trúc là mảng khối, của âm nhạc là giai điệu, âm thanh Văn học lấy ngôn từ làm chất liệu Hình tượng nghệ thuật là hình tượng ngôn từ

1.2 Y.Kawabata và những yếu tố ảnh hưởng đến sáng tác của ông

1.2.1 Hành trình của “ Người lữ khách muôn đời đi tìm Cái Đẹp”

Y.Kawabata là hiện tượng kỳ diệu nhất của văn học Nhật Bản thế kỷ

XX Sáng tác của ông là hành trình đi tìm Cái Đẹp Niềm khao khát làm sống dậy những gì tốt đẹp nhất của văn học quá khứ thời Heian đã giúp

Trang 9

Y.Kawabata sáng tạo nên những văn phẩm tuyệt vời về tình yêu, về Cái Đẹp đặc biệt là về người phụ nữ

Y.Kawabata sinh ngày 11 tháng 6 năm 1899 tại một làng gần thành phố Ôsaka Tuy sinh ra trong một gia đình khá giả nhưng ông lại có một tuổi thơ đầy bất hạnh Cha và mẹ Y.Kawabata đều lần lượt qua đời để lại đứa con trai yếu ớt chưa đầy bốn tuổi cho ông bà nội Rồi không lâu, ông bà nội cũng qua đời Từ đó, Y.Kawabata cùng chị gái về sống với ông bà ngoại Nhưng những đau thương mất mát cứ chồng chất lên cuộc đời cậu bé này Bà ngoại

và chị gái lần lượt qua đời trước khi Y.Kawabata lên chín tuổi Y.Kawabata chỉ còn chỗ dựa duy nhất là ông ngoại Nhưng chẳng bao lâu, ông ngoại cũng

ra đi khi nhà văn mười sáu tuổi Những cái tang liên tục trong gia đình kéo qua cuộc đời Y.Kawabata dường như đã tạo nên cho ông một “vết thương tâm tính” và để lại dấu ấn trong các tác phẩm của nhà văn Từ những bi kịch

đó, ông đã nuôi ý chí tự lập, dồn nghị lực để học hành và kiếm sống

Từ nhỏ, Y.Kawabata đã say mê hội họa Đến khi mười lăm tuổi, ông cảm thấy mình viết tốt hơn vẽ nên quyết định theo nghiệp văn chương Ông bắt đầu viết bài cho báo địa phương để thể hiện lý tưởng của mình Bên

giường bệnh của ông ngoại, tác giả đã hoàn thành cuốn Nhật ký tuổi mười

sáu Khi tốt nghiệp Trung học phổ thông, Y.Kawabata thi vào Đại học Tổng

hợp Tôkyô Ban đầu, nhà văn theo học khoa Anh ngữ sau đó lại chuyển sang khoa Ngữ văn Nhật và tốt nghiệp Đại học với luận văn về tiểu thuyết Nhật Bản Sau khi tốt nghiệp Đại học, ông cùng một số nhà văn khác thành lập tạp chí “Bunkyzidai” (Văn nghệ thời đại), khởi phát trào lưu “Tân cảm giác” trong văn học Trào lưu này đã ảnh hưởng lớn đến sáng tác của nhà văn

Năm 1968, Y.Kawabata được cử làm chủ tịch của trung tâm văn bút Nhật Bản Cũng năm đó, ông được trao giải thưởng Nobel văn chương với ba

tiểu thuyết Xứ tuyết, Cố đô, Ngàn cánh hạc Ngày 16 tháng 4 năm 1972,

Trang 10

đang ở trên đỉnh cao của quang vinh, ông lặng lẽ tự sát trong ngôi nhà nhỏ trên bờ biển bằng hơi đốt Y.Kawabata đã ra đi song thế giới Cái Đẹp mà ông tạo dựng vẫn tồn tại và ngự trị Sự tồn tại của nó là vĩnh viễn, là bất tử cũng như chính Y.Kawabata vậy

Cái Đẹp theo quan điểm của Y.Kawabata là những thuần phong, mỹ tục được xây dựng từ thời Heian, là hoa đào, trà đạo, vẻ đẹp kimônô, là thiên nhiên diễm lệ ở cố đô Tôkyô, là tâm hồn phụ nữ xứ Phù Tang Cái Đẹp có ở khắp nơi Nhiệm vụ của con người là phải biết phát hiện ra nó Cái Đẹp làm cho cuộc sống thế gian mới mẻ từng phút, từng giây Trong thế giới của Cái Đẹp ấy, Y.Kawabata đặc biệt nhấn mạnh vẻ đẹp của phụ nữ Nhật Bản Theo ông, vẻ bề ngoài khả ái, tâm hồn tuyệt vời và trái tim nhân hậu, khao khát sống, khao khát yêu nhưng số phận lại mỏng manh của họ là một phần không thể thiếu được của Cái Đẹp

Cuộc hành trình đi tìm Cái Đẹp của Y.Kawabata được chia thành hai chặng đường: trước chiến tranh và sau chiến tranh thế giới thứ hai Mỗi chặng đem lại cho người đọc những cảm giác khác nhau

Thời kỳ trước chiến tranh, những tác phẩm Vũ nữ Izu, Cánh tay, Xứ

tuyết , Y.Kawabata đem đến cho người đọc cảm giác tươi mát, trong ngần

và thanh khiết Đặc biệt, tác phẩm Vũ nữ Izu là bài ca về tình yêu bất tận của

một đôi trai gái: một chàng học sinh được về nghỉ hè và một cô vũ nữ trong gánh hát rong Họ gặp nhau thật tình cờ, để lại trong lòng nhau những tình cảm khó quên Nó chưa hẳn là tình yêu, nhưng còn đẹp hơn tình yêu khiến người ta lưu luyến nhớ nhung mãi Hình ảnh cô gái được miêu tả thanh khiết, thánh thiện giống như thiên nhiên Nhật Bản sau trận mưa rào

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, trước nỗi đau quá lớn của dân tộc, Y.Kawabata tuyên bố từ nay ông chỉ sáng tác những tác phẩm bi ca mà thôi

Và hàng loạt những tác phẩm bi ca đã ra đời Đó là Cố đô, Ngàn cánh hạc,

Trang 11

Tiếng rền của núi, đặc biệt là Người đẹp say ngủ Tất cả những tác phẩm

này đều vang lên một bức thông điệp rằng “Cái Đẹp đang bị đoạ đầy Hãy cứu lấy Cái Đẹp” Thực tế, Y.Kawabata đã làm việc hết sức mình để giữ gìn và bảo vệ Cái Đẹp truyền thống cho dân tộc Nhật Bản đến tận những năm cuối đời

1.2.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến sáng tác của Y.Kawabata

Sáng tác của Y.Kawabata chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố Trong đó thời đại và truyền thống văn học là hai yếu tố quan trọng nhất tác động trực tiếp đến tư tưởng, tài năng nghệ thuật của nhà văn vĩ đại này

1.2.2.1.Thời đại

Trước cải cách Minh Trị, nước Nhật trải qua thời kỳ Trung cổ Lúc này, dòng họ Tôkugaoa đóng phủ chúa ở Yêkô chủ trương đóng cửa Nhật Bản Hòn đảo nhỏ Đêyima ở cảng Nagasaki là cửa sổ duy nhất mở ra thế giới bên ngoài, là địa điểm duy nhất buôn bán với nước ngoài (chỉ chấp nhận Trung Quốc và Hà Lan) Chính sách đóng cửa này khiến Nhật Bản lạc hậu so với các quốc gia khác

Y.Kawabata may mắn được sinh vào thời kỳ nước Nhật có nhiều biến động tích cực Năm 1868, vua Minh Trị lên ngôi khởi xướng “đổi mới đất nước” với tinh thần “học hỏi phương Tây, đuổi kịp phương Tây, vượt lên phương Tây” Từ đó, nước Nhật mở ra trang sử mới, chia tay thời Trung cổ bước vào thời hiện đại Nó được đánh dấu bằng bước nhảy vọt về kinh tế khiến cho cả thế giới phải kinh ngạc, nhiều dân tộc Châu Á phải thán phục

Sự đổi mới về kinh tế tác động mạnh mẽ đến nền Văn học nghệ thuật của Nhật Bản cả mặt tích cực và tiêu cực

Nếu trước đây văn học Nhật Bản chịu ảnh hưởng tư tưởng Nho – Phật của Trung Quốc thì đến thới kỳ mở cửa này lại tiếp thu thêm nhiều luồng tư

Trang 12

tưởng tự do dân chủ phương Tây: Anh, Pháp , Mỹ Nhiều trào lưu trường phái

ra đời: chủ nghĩa tự do, chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa tượng trưng, chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa tự nhiên Khoảng mười lăm năm đến hai mươi năm đầu Minh Trị, văn đàn Nhật Bản đã làm quen, học hỏi, bắt chước, thể nghiệm để chuẩn bị cho một nền văn học mới ra đời Đó là một nền văn học Nhật Bản trẻ trung, phong phú, táo bạo Thời kỳ đầu tương đối hình thức và tràn lan nên có trào lưu phản ứng việc đề cao văn hoá truyền thống, có hiện tượng xung đột Đông – Tây, ảnh hưởng đến sinh hoạt của văn nhân Nhưng hiện tượng phổ biến nhất là chất men phương Tây kích thích truyền thống, đem lại những thành tựu đặc sắc trong văn học nghệ thuật Thí dụ, hai thể thơ cổ Oaka (thể

31 vần: 5 + 7 + 5 + 7 + 7) và Haikư (mỗi bài có 3 câu, 17 âm tiết: 5 + 7 + 5) đang mất dần vị trí thì nay lại nổi bật lên nhờ cải cách thơ ngay giữa thời Minh Trị, do đó đứng ngang hàng trên thơ đàn với dòng thơ mới (Sintaisi) theo phong cách phương Tây Sau đó, nhìn chung người Nhật nhìn nhận chế

độ phương Tây như một hình mẫu và dựng lên lý tưởng xây dựng lại đất nước của họ bằng việc thừa nhận các hình mẫu này với mục đích đuổi kịp và vượt lên Châu Âu trong vòng ba năm, nghĩa là vượt qua quãng đường mà Châu

Âu phải trải qua hàng trăm năm

Bước vào thế kỷ XX, với những chính sách mở cửa, Nhật Bản có nhiều triển vọng lớn Và trên thực tế, bằng những nỗ lực của người Nhật trong việc tiếp thu văn minh Châu Âu đã đem lại cho đất nước Nhật những thành tựu khả quan Nhà thơ R Tagore sau khi đến thăm Nhật Bản lúc bấy giờ đã nhận xét: “Châu Á đang thức dậy khỏi giấc ngủ hàng thế kỷ Nhật Bản nhờ những mối quan hệ va chạm với phương Tây đã chiếm một vị trí danh dự trên thế giới Bằng cách đó, người Nhật đã chứng tỏ rằng: họ sống bằng hơi đốt của thời đại chứ không phải bằng thần thoại hão huyền của quá khứ”

Trang 13

Văn minh Châu Âu đã mang vào cho Nhật Bản những nhân tố tích cực thúc đẩy sự phát triển về kinh tế, văn hoá của nước này nhưng đồng thời nó cũng phá vỡ không ít những thuần phong mỹ tục lâu đời của người Nhật Nhiều ngành nghệ thuật có khuynh hướng coi thường truyền thống Kỹ thuật hội họa và điêu khắc phương Tây đã được du nhập vào Nhật Bản Nhưng bên cạnh đó, một số nhà nghiên cứu phê bình nghệ thuật lại có tư tưởng khôi phục truyền thống, như Ecnixt Phônôblôxa luôn đề cao nghệ thuật tạo hình cổ điển Nhật (mặc dù ông là người Mỹ)

Riêng bản thân văn học, do ảnh hưởng nhiều trào lưu phương Tây, nên cuối thế kỷ XIX đã xuất hiện những nhà văn đàn anh của thời Minh Trị Đây

là bước ngoặt lớn của nền văn học mới Các nhà văn này ít mặn mà với đề tài truyền thống (gái giang hồ, võ sĩ ) mà hướng về phương Tây Một số tác giả cuối đời có quay về truyền thống nhưng lại ở dưới góc độ một người phương Tây đi tìm Cái Đẹp ở nơi ly kỳ, xa lạ Đặc biệt là sự xuất hiện của bốn nhà văn lớn đầu tiên: Futabalei Shimei (1864-1909), Mori Ogai (1862 – 1922), Natshume Soseki (1867 – 1916) và Shimazaki Toson (1872 – 1943) chịu ảnh hưởng rõ rệt của bốn nền văn học: Anh , Đức, Nga, Pháp

Đối với Y.Kawabata, ông cũng ảnh hưởng ít nhiều từ nền văn hoá phương Tây ấy Có thể thấy một số biểu hiện trong sáng tác của ông như, hệ thống nhân vật, chi tiết liên truyện, sử dụng nhiều độc thoại nội tâm, dòng ý thức, xây dựng cả những hiện thực và ước mơ huyền ảo cũng như hình ảnh mang tính biểu tượng Tuy nhiên, tác phẩm của Y.Kawabata vẫn phảng phất tinh thần Thiền tông, vẫn gắn bó với truyền thống hơn, một truyền thống văn chương cắm rễ vào hiện thực và tâm linh con người, tìm kiếm sự hoà điệu của hai thế giới ấy Chính nhà văn đã từng công nhận “Mười bốn năm trước, tôi

đã phác thảo trong đầu tác phẩm có nhan đề Bài ca phương Đông, trong đó,

tôi muốn tạo ra những bài ca kiệt xuất của chính mình Tôi sẽ hát theo cách

Trang 14

của mình, bằng hình ảnh của những tác phẩm kinh điển phương Đông Có thể tôi sẽ chết trước khi viết tác phẩm này, nhưng tôi muốn ít nhất cũng được hiểu rằng tôi muốn viết nó Tôi đã lĩnh hội được bước đầu về văn hoá phương Tây hiện đại và chính tôi cũng đã bắt chước nó, nhưng về cơ bản tôi vẫn là người

phương Đông” [5] Bài ca phương Đông này đã ngân lên ở rất nhiều tác

phẩm của ông bằng giai điệu trầm sâu, ý nhị Con người suốt cuộc đời bảo vệ văn hoá truyền thống ấy đã mượn những kỹ thuật văn chương và thể tài hiện đại để phục sinh văn xuôi Nhật Bản bằng cách đan dệt những yếu tố có vẻ tương phản như cũ và mới, sống và chết, trinh bạch và nhạy cảm, thực và ảo, con người và ngoại vật để tạo nên một Y.Kawabata giống như huyền thoại

Bước vào thời kỳ hiện đại, nước Nhật đã thay da đổi thịt nhanh chóng với sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế - xã hội Văn hoá Nhật Bản có sự ảnh hưởng lớn của văn hoá phương Tây vừa có những mặt tích cực và tiêu cực Trong đó, văn hoá truyền thống của Nhật Bản bị xói mòn, bị lãng quên, con người cũng thay đổi một cách chủ động theo nó Riêng Y.Kawabata- một con người luôn có ý thức bảo vệ và trân trọng truyền thống- đã miệt mài với sự nghiệp văn chương đi tìm Cái Đẹp và cứu rỗi Cái Đẹp Nhật Bản

1.2.2.2 Truyền thống văn học

Ngoài sự ảnh hưởng của yếu tố thời đại, sáng tác của Y.Kawabata đặc biệt chịu sự tác động của cả hệ thống di sản tinh thần văn hoá và ngôn ngữ dân tộc Ông chủ trương giữ vững di sản văn học và truyền thống mỹ học của dân tộc Nhà văn nói: “ Bị lôi cuốn bởi những trào lưu phương Tây, đôi lúc tôi cũng thử lấy đó làm mẫu Nhưng về gốc rễ, tôi vẫn là người phương Đông và không bao giờ từ bỏ con đường ấy”

Đối với Y.Kawabata, một trong những nguồn cổ vũ tác động mạnh mẽ nhất đến sáng tác của ông chính là truyền thống văn học Nữ tính thời Heian Dòng văn học này phản ánh những thú vui ở cung đình, của giai cấp quý tộc

Trang 15

trong một xã hội duy mĩ và hưởng lạc, những mối tình say đắm, thú tiêu khiển tao nhã như: cầm, kỳ, thi, họa, những cuộc du ngoạn Tất cả đều đượm một nỗi buồn ngao ngán của kiếp phù du nơi trần thế (do ảnh hưởng của quan niệm Phật giáo là sống gửi thác về” Thời kỳ này, phụ nữ được đề cao Họ vừa là trung tâm của văn học (là đối tượng mà văn học phản ánh), vừa là những nữ sỹ sáng tạo nghệ thuật như: Izuni Shikibu, Sêishônagôn đặc biệt

là sự xuất hiện của Murasaki Shikibu (978 - 1014) với Genji Mônôgatari

(Truyện Genji) Đây cũng chính là bộ tiểu thuyết tâm lý đầu tiên trên thế giới

Truyện Genji kể về những cuộc phiêu lưu tình ái của hoàng tử Genji

hào hoa, phong nhã Xuất hiện trong mối quan hệ tình cảm với Genji là hàng loạt những cô gái xinh đẹp Họ hồng nhan nhưng bạc mệnh, thường chết khi còn rất trẻ, trước khi thời gian kịp làm băng hoại nhan sắc của họ Họ giống như cánh hoa anh đào quyến rũ nhưng mong manh, nở rồi vội vã tàn phai Song những cô gái ấy mãi mãi trẻ trung, xinh đẹp trong tâm hồn người đàn ông yêu họ Và vì thế, họ trở thành Cái Đẹp bất tử Trong số những cô gái ấy, Murasaki là tuyệt vời hơn cả Nàng yêu Genji, dâng trọn trái tim, tình yêu và cuộc đời mình cho chàng Đến với chàng, Murasaki chấp nhận tất cả những bất hạnh vì sự đa tình của Genji Nhưng bằng tình yêu chân thành, nàng đã chiếm vị trí quan trọng trong trái tim Genji (Genji chỉ yêu và nhớ Murasaki dù chàng đến với nhiều người phụ nữ khác) Nàng Murasaki tất nhiên cũng ghen, cũng buồn, cũng đau khổ khi Genji đến với người khác nhưng nàng không nói, không cản trở Genji mà im lặng thể hiện một tình yêu vị tha, độ lượng, sự chiều chuộng và chăm sóc chu đáo cho chàng Cuối cùng, bằng trái tim nhân hậu, tình yêu chung thuỷ cũng như sự tận tuỵ, Murasaki khiến chàng hoàn toàn thuộc về cô

Với nhân vật mang tên chính mình nữ giai nhân kiệt xuất nhất của dòng văn học Nữ tính, Murasaki đã tạo dựng nên một chân dung Nữ tính vĩnh cửu

Trang 16

của xứ sở Phù Tang trong Genji – cuốn tiểu thuyết đầu tiên của Nhật Bản và thế giới Cùng với nghệ thuật điêu luyện, Genji Mônôgatari đã trở thành một

tác phẩm Văn học cổ điển trứ danh có ảnh hưởng mạnh mẽ đến nền văn học sau này Đặc biệt, tác phẩm này tác động mạnh mẽ đến sáng tác của

Y.Kawabata Chính nhà văn đã thừa nhận : Truyện Genji đã tác động sâu sắc

đến khiếu thẩm mỹ và ngôn ngữ của ông Trong sáng tác của Y.Kawabata, hình tượng nhân vật phụ nữ đóng vai trò quan trọng như hệ thống nhân vật

trong Truyện Genji Một số nhà văn khác cũng học hỏi, bắt chước Truyện

Genji nhưng đều thua xa nó về mọi mặt Bởi Truyện Genji là thiên truyện

quá tuyệt vời, là hiện tượng kỳ diệu nhất của văn học Nhật Bản hồi đầu thế kỷ

XI Nhà văn Môtôri Nôrinata (1730 – 1801) đã đánh giá chính xác về giá trị

thẩm mĩ của thiên truyện này Theo ông “Trong số các Mônôgatari, Truyện

kể về Genji là thiên truyện tuyệt vời nhất, không ai có thể vượt qua được, kể

cả trước và sau đó, không tác phẩm nào sánh được với thiên truyện này, không có tác phẩm nào thấm sâu vào lòng người đến thế, không có tác giả nào biết thể hiện “vẻ đẹp u buồn” của sự vật một cách sâu sắc đến thế Nhiều tác

giả đã cố bắt chước Genji nhưng đều thua xa nó về mọi mặt Không phải bàn cãi gì nữa, bút pháp của Genji là vô song Phong cảnh Nhật với sắc trời thay

đổi theo bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông Hình ảnh người đàn ông và người phụ

nữ được mô tả rõ ràng, sinh động tưởng như trông thấy những con người bằng xương, bằng thịt”

Người phương Đông, đặc biệt người Nhật Bản, khát vọng thẩm mỹ thường hướng tới vẻ đẹp kinh điển Tiểu thuyết văn học Nhật Bản coi cái đẹp

mỹ lệ là điểm tựa Từ thi tuyển Vạn diệp tập (thế kỷ VIII), Truyện Genji (thế

kỷ XI) đến những sáng tác của tác giả hiện đại như Mori Ogai (1862 – 1922), Natsume Soseki (1867 – 1916), Tanizaki Junichiso (1886 – 1965) độc giả thường xuyên bắt gặp vẻ đẹp tinh tế, nhẹ nhàng và xa xôi thẩm thấu trong

Trang 17

từng câu, từng chữ Đối với Y.Kawabata, người “kế thừa tinh thần u tình của

Mỹ học truyền thống Nhật Bản”, thì thiên nhiên thanh tao, nhan sắc các cô gái trẻ diễm lệ như là tác phẩm của tạo hoá luôn là đối tượng cảm hứng nghệ

thuật Chúng ta có thể thấy trong tiểu thuyết Xứ tuyết, nhà văn đã ca ngợi tinh

thần của miền băng giá phía Bắc Nhật Bản, nơi con người tìm lại sự trinh bạch của tâm hồn trước vẻ đẹp tinh khiết của tuyết trắng và nét đẹp thuần hậu

của người con gái bản xứ Hay trong Ngàn cánh hạc, Y.Kawabata đã tái tạo

sự tinh tế nghệ thuật trà đạo và vẻ đẹp gần gũi với làn da con gái, của đồ sứ Nhật Bản

Y.Kawabata đã học tập, kế thừa sâu sắc giá trị văn hoá truyền thống từ

thời Heian, từ Truyện Genji – một cuốn tiểu thuyết được coi là “Sách giáo

khoa” của nhiều nhà văn Nhật Bản Ông biết kết hợp những khái niệm mỹ học và triết học Nhật Bản một cách chặt chẽ và sinh động Để từ đó, nhà văn rút ra những nét đặc sắc của truyền thống văn hoá dân tộc với những khám phá, sáng tạo của riêng mình

Đọc tiểu thuyết của Y.Kawabata, mọi người đều cảm nhận thi pháp của ông rất gần gũi với thi pháp thơ Haikư Chính Y.Kawabata nói: “Tác phẩm của tôi thường được tả như là tác phẩm Chân không” Cái Chân không

đó thực sự trống vắng thường được thể hiện trong thơ Haikư, trong tranh thuỷ mặc, trong sân khấu kịch Nô, trong vườn đá tảng Thơ Haikư ngắn gọn , cô đọng, hàm súc Một bài thơ chỉ có ba câu, mười bảy âm tiết, thường không quá dài mười từ Thơ Haikư thường diễn tả một ấn tượng, một trạng thái tâm hồn thông qua một âm thanh hay một hình ảnh để có thể cảm nhận được Trọng tâm của bài thơ không nằm trong câu chữ mà nằm ở khoảng trống Thi pháp “Chân không” đòi hỏi ta phải “mở mắt mà nhìn, lấy tai mà nghe, trải lòng ra mà đón nhận” [13]

Trang 18

Y.Kawabata còn tiếp thu truyền thống yêu cái đẹp của người Nhật Bản “Người Nhật vốn thích sống thanh cao, biết trọng danh dự, gìn giữ đạo đức, khuôn phép, tâm hồn rộng mở, hoà hợp với thiên nhiên Họ yêu vẻ đẹp

từ trong phiến đá, một bông hoa trên cành, một hoa tuyết lửng lơ bay Họ thích suy ngẫm qua một chén trà, trầm lặng trước cảnh cô tịch của một ngôi chùa” Trong cuốn “Thiên nhiên Nhật” P.Iu Smít đã nhận xét: “ Cảm xúc về cái đẹp, khuynh hướng chiêm ngưỡng vẻ đẹp là đặc tính tiêu biểu cho người Nhật – từ người nông phu đến nhà quý tộc Bất cứ người nông dân Nhật Bản nào cũng là nhà mĩ học, một nghệ sĩ biết cảm thụ cái đẹp từ trong thiên nhiên Đôi khi anh ta sẵn sàng chu du thật xa để thưởng ngoạn một cảnh đẹp nào đó Một quả núi, một con suối hay một ngọn tháp đều có thể được người ta sùng bái và trong suy nghĩ của một người bình thường, chúng gắn liền với các tượng trong ngôi đền thờ Khổng Tử và đức Phật Nghệ thuật Nhật Bản nảy sinh từ lòng tôn thờ vẻ đẹp thoát ra từ tổng thể hoà điệu của thế giới xung quanh ấy” [13]

Y.Kawabata đã kế thừa và phát huy một cách xuất sắc truyền thống đề cao Cái Đẹp của văn học Nhật Bản, của con người Nhật Bản Trong những sáng tác của ông, Cái Đẹp đặc biệt được hiện hữu qua thế giới nhân vật phụ

nữ

Yếu tố thời đại và truyền thống văn học đã có ảnh hưởng sâu sắc đến thế giới thẩm mỹ trong sáng tác của Y.Kawabata Nhà văn đã tập trung xây dựng hình tượng người phụ nữ - vương quốc của cái đẹp – một vẻ đẹp rất Nhật Bản

Trang 19

CHƯƠNG 2: HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG

TIỂU THUYẾT XỨ TUYẾT

2.1 Hình tượng người phụ nữ trong sáng tác của Y.Kawabata

Sáng tác của Y.Kawabata là cuộc hành trình đi tìm Cái Đẹp Trong đó, nhà văn đặc biệt chú ý đến vẻ đẹp của người phụ nữ xứ Phù Tang Từ đầu đến cuối sự nghiệp của mình, Y.Kawabata luôn bị hấp dẫn bởi phụ nữ trẻ, trinh trắng Đối với ông, dường như họ tượng trưng cho bản chất của Cái Đẹp, làm nên vẻ đẹp Nhật Bản

Ngay từ tác phẩm đầu tiên, Vũ nữ Izu được viết năm 1925,

Y.Kawabata đã miêu tả vẻ đẹp của một vũ nữ mà ông được gặp trên hòn đảo Izu Vẻ đẹp của cô gái mười bảy tuổi trẻ trung, đầy sức sống đang hoà lẫn ánh nắng xuân bên dòng suối trong ngần Vẻ đẹp thanh sạch của cô như “Con suối tràn nước sau trận mưa ánh lên ấm áp dưới ánh mặt trời vào ngày mùa thu

Trang 20

trong veo mà tiết trời còn ấm áp như mùa xuân xứ Izu” Vẻ đẹp đó khiến người du khách quyến luyến không muốn rời khỏi hòn đảo Hình ảnh vũ nữ Izu đọng mãi trong tâm trí Y.Kawabata với cảm giác “đầu tựa hồ không còn

gì nữa, chỉ còn lại một niềm thư thái, dịu dàng”

Đến với tiểu thuyết Xứ tuyết - một tác phẩm được Y.Kawabata miệt

mài viết từ năm 1935 – 1947, chúng ta còn thấy vẻ đẹp phụ nữ Nhật Bản được tập trung trong hai hình ảnh: Kômakô và Yôkô Nàng Kômakô thì tràn trề, tươi mát, vừa nồng nhiệt, say đắm yêu, khát khao được yêu và được tận hiến trong tình yêu Còn Yôkô với “giọng nói trong vắt”, “đôi mắt đẹp tuyệt vời”, một vẻ đẹp cổ xưa huyền bí Vẻ đẹp trong trắng, nhưng hư ảo, xa vời đó khiến cho Shimamura suốt đời phải tìm kiếm

Đến năm 1951, Y.Kawabata làm cho độc giả tiếp tục kinh ngạc về tài

năng nghệ thuật của mình Tiểu thuyết Ngàn cánh hạc của ông được Viện

Hàn Lâm nghệ thuật Nhật Bản trao giải thưởng cao nhất Qua tiểu thuyết này, một mặt Y.Kawabata muốn phản ánh sự suy vi của trà đạo, nuối tiếc Cái Đẹp đang phai tàn Mặt khác, ông cũng cho người đọc thấy được số phận của phụ

nữ Nhật Bản lúc bấy giờ được biểu hiện thông qua bà Ota và cô con gái Fumikô Đó là những người phụ nữ đẹp, đầy sức hấp dẫn

Bà Ota tuy đã trung tuổi (trên dưới bốn mươi năm) nhưng lại có thân hình như một thiếu nữ “vẫn cái cổ trắng trẻo, thon dài, vẫn đôi vai tròn trặn xứng hợp lạ lùng với cái cổ thanh tú Dáng dấp bà ta trông trẻ hơn tuổi rất nhiều( ), cái mũi, cái miệng xinh xinh thật là duyên dáng hết sức” Vẻ đẹp của bà khiến cho người cha của Kikuji cả đời say đắm Khi ông chết đi, chính bản thân Kikuji cũng bị cuốn hút một cách kỳ lạ, đắm chìm trong tình yêu với người tình của cha mình Khi ôm bà Ota trong tay, chàng có cảm giác như ôm một cô gái ít tuổi hơn mình

Trang 21

Cô con gái Fumikô cũng được thừa hưởng “cái cổ thon dài và đôi vai tròn đầy của bà mẹ” “Đôi mắt nàng đen hơn mắt mẹ nhưng luôn đượm vẻ u buồn” Và chính bản thân nàng cũng có cảm tình với Kikuji Vì đau khổ và tuyệt vọng, nàng đã đập vỡ chén trà Shinô có vết son của mẹ nàng Nàng muốn xoá đi cái kỷ niệm đau buồn đó, muốn nó lắng chìm vào dĩ vãng Kikuji lại muốn lưu giữ những mảnh vỡ đó lại vì nó là kỷ niệm mối tình giữa cha chàng và mẹ Fumikô, đó cũng là mối tình giữa chàng và bà Ota khi cha chàng mất

Mối tình trầm luân ấy là sợi dây oan trái chằng chịt phản ánh sự giằng

co giữa giá trị truyền thống trà đạo với cái lố bịch mà trà đạo đang rơi vào Tác phẩm kết thúc gợi sự xót xa, day dứt trong lòng người đọc về cái chết của

bà Ota và cô con gái Hai người đã chọn cái chết để chấm dứt mối tình trầm luân tội lỗi của mình Vẻ đẹp của họ chính là vẻ đẹp u buồn

Quả thật, những người phụ nữ trong sáng tác của Y.Kawabata đẹp

nhưng cũng đầy bất hạnh Trong tác phẩm Cố đô (1961 – 1962), nhà văn kể

lại thật cảm động số phận của Chiêkô - một cô gái song sinh bị bỏ rơi ngoài đồng Ông bà Takichiro, chủ một cửa hàng kinh doanh tơ lụa, không có con cái, mang Chiêkô về nuôi Khi Chiêkô hai mươi tuổi, ông bà mới nói sự thật cho nàng biết Vì mặc cảm với thân phận của mình nên nàng sinh ra buồn phiền và quyết đi tìm cha mẹ đẻ Sau khi gặp được Nakiô, người em gái song sinh, nàng mới biết cha mẹ đẻ đã mất Nàng đưa em gái về nhà Đó là một đêm đông giá lạnh, hai chị em được sống bên nhau trong tình huyết thống Nhưng sau đó, Nakiô cảm thấy không thể sống cùng chị trong căn nhà giàu sang đó được, cô đành tạm biệt chị để trở lại núi rừng nơi mình đang sống Chiêkô bùi ngùi chia tay em trong buổi sáng tinh mơ lạnh lẽo, tuyết tan dần lúc mọi người ở thành phố Kyôtô đang trong giấc ngủ Chiêkô đứng lặng yên đau buồn nhìn theo người em mờ dần trong tuyết

Trang 22

Tác phẩm kết thúc gợi trong lòng người đọc một suy ngẫm về kiếp phận của những người phụ nữ

Truyện ngắn Thuỷ Nguyệt – một tác phẩm kết tinh đầy đủ phong cách

đậm đà màu sắc phương Đông và Nhật Bản của Y.Kawabata - kể về nàng Kyôkô - một phụ nữ Nhật Bản truyền thống điển hình Kyôkô có một “vẻ đẹp đặc biệt toát lên từ một tâm hồn rất đỗi dịu dàng, e lệ, kín đáo, vị tha, yêu thương nhưng cũng hết sức cứng cỏi, nghị lực” [7] Nàng là người phụ nữ chịu nhiều bất hạnh Khi lấy chồng, chưa được hưởng hạnh phúc trọn vẹn, chỉ trong ba tháng nàng đã đóng vai trò là một người mẹ để chăm sóc một người chồng liệt giường vì bệnh lao phổi – một căn bệnh nan y lúc bấy giờ Trong khoảng thời gian ấy, Kyôkô đã tận tâm chăm sóc chồng, tìm cách cho anh thấy thế giới tự nhiên để tâm hồn anh hết cô quạnh Nàng luôn hy vọng người chồng sẽ khỏi bệnh Và nàng đã vun đắp cho hy vọng của mình qua việc chăm sóc vườn rau trước nhà Nhưng đau đớn thay chồng nàng vẫn ra đi trước tình yêu bao la của người vợ Khi ấy Kyôkô đã không muốn đi bước nữa để giữ mãi lòng chung thuỷ của mình với người chồng quá cố Nhưng vì

sự thúc giục của anh chồng, nàng buộc phải tái giá Thật đáng thương cho người phụ nữ ấy khi sống bên người chồng mới mà nàng vẫn đau đáu kỷ niệm xưa với người chồng đầu tiên của mình Nàng cảm thấy ngượng ngùng, xấu

hổ và mặc cảm mỗi khi tiếp xúc với người chồng mới Bao yêu thương Kyôkô

đã dành hết cho người chồng cũ kể từ khi nàng đặt chiếc gương con của mình trên ngực của anh, để anh mang nó về thế giới bên kia

Kết thúc truyện, người đọc thật bất ngờ trước câu hỏi của Kyôkô khi nàng đứng nhìn ngôi nhà cũ : “Ta sẽ làm gì hả anh nếu đứa con em đang mang trong bụng nó giống anh” Kyôkô đã toàn tâm, toàn trí nghĩ về người chồng quá cố ngay cả khi nàng có con với người chồng thứ hai Nàng quả là một người phụ nữ điển hình cho người phụ nữ Nhật Bản với tình yêu thuỷ

Trang 23

chung, son sắc Qua hình tượng nhân vật Kyôkô, Y.Kawabata muốn hướng tới vấn đề xã hội có ý nghĩa lớn lao hơn Rằng xã hội Nhật Bản hiện đại tuy đầy đủ về vật chất nhưng quá khứ mãi mãi vẫn đẹp, con người cần giữ gìn, bảo vệ nó Liệu người ta có thể quên đi quá khứ khi nó vẫn cứ hiện diện từng giây, từng phút trong mỗi con người?

Nói về người phụ nữ hết mực chung thuỷ, thực hiện tròn trách nhiệm của người vợ, chúng ta không thể không kể đến người phụ nữ trong tác phẩm

Trái tim của Y.Kawabata Đây là người phụ nữ điển hình nhất cho tâm hồn

phụ nữ Nhật: chung thuỷ đến chết, chung thuỷ ngay cả khi biết người chồng

đã bội bạc, đã xa vời với cuộc sống của mình Nàng một mình vò võ chăm sóc đứa con gái yêu và trông đợi tin chồng Người chồng bội bạc của nàng ngày càng đi xa, nhưng vẫn viết những lá thư về cho nàng, khuyên nàng: “đừng cho con chơi bóng ( ) đừng cho con đi giày tới trường ( ) đừng cho con gái ăn bằng bát sứ ( ) Em đừng làm gì phát ra tiếng động nữa ( ) Em đừng khép cửa, đừng mở cửa ( ) Đừng lên giây đồng hồ, để không ai nghe tiếng tích tắc của nó Em đừng thở mạnh ” Người vợ chung thuỷ ấy đã lần lượt làm theo

ý chồng: tước bóng của con, bắt con đi đôi xăng đan làm bằng thứ da mềm, bắt con ăn bằng bát đàn, đũa tre như một đứa trẻ, đánh con vì nó lôi bát sứ ra

ăn, rồi cuối cùng nàng phải “thì thầm một mình”, nước mắt ứa ra, giàn giụa trên mặt và trong nhà không còn nghe thấy một âm thanh nào nữa Cả hai mẹ con nàng đã chết Đến cả khi chết đi rồi mà người vợ vẫn còn chung thuỷ son sắc với chồng Bởi “trên gối, bên cạnh mặt người vợ đã chết, còn thấy khuôn mặt người chồng đã chết cũng đang yên giấc Tác phẩm để lại trong lòng người đọc sự xót xa vô hạn trước tấn bi kịch của một người vợ chung thuỷ son sắc với một ông chồng bội bạc

Thế giới nhân vật người phụ nữ của Y.Kawabata còn là những cô gái sống trong căn phòng kín – một dạng lầu xanh của xã hội Nhật Bản lúc bấy

Trang 24

giờ Những cô gái ấy cũng hiện lên với vẻ đẹp trong trắng đến mức thánh thiện, một vẻ đẹp mà khi chiêm ngưỡng, những kẻ đã có cuộc đời oanh liệt với những mối tình cuồng nhiệt như ông già Eguchi cũng bị xúc động mạnh

mẽ Đó là vẻ đẹp thanh tú của cô gái đêm thứ nhất, sự “lẳng lơ” của cô gái đêm thứ hai, nét ngây thơ của cô gái đêm thứ ba, sức sống tràn trề của cô gái đêm thứ tư và sắc đẹp rực rỡ của cô gái đêm thứ năm đã được tái họa sống động, hiện thực, tinh tế và sắc sảo Những vẻ đẹp của các cô gái này đã làm cho ông già Eguchi phải tôn trọng, khát khao, nâng niu, dằn vặt Chính sức sống , tuổi trẻ và vẻ đẹp tự nhiên của các cô gái có sức hướng thiện sâu sắc

làm trỗi dậy bản chất lương thiện của ông già Eguchi Cái tên Người đẹp say

ngủ khác với Những mỹ nữ của Eguchi nằm trong dụng ý của tác giả muốn

hướng đến vẻ đẹp của các cô gái Chính dụng ý này cũng thể hiện tư tưởng:

ca ngợi vẻ đẹp của cô gái, đồng thời phê phán hành vi của bất cứ ai làm hoen

ố vẻ đẹp đó Các cô gái say ngủ là hiện thân của sự sống và Cái Đẹp, là đối tượng thẩm mỹ lý tưởng của tác giả

Qua một số tác phẩm điển hình của Y.Kawabata, chúng ta thấy thế giới nhân vật của ông chính là người phụ nữ Đó là những người phụ nữ đẹp

nhưng bất hạnh Từ cô gái trẻ Kaoru trong Vũ nữ Izu với vẻ đẹp trinh bạch,

thánh thiện, Kômakô tràn trề, tươi mát, khát khao yêu và hết lòng với tình

yêu, Yôkô với tâm hồn trong trắng nhưng hư ảo trong Xứ tuyết đến bà Ota, cô con gái Fumikô đầy quyến rũ trong Ngàn cánh hạc, rồi Kyôkô dịu dàng, e lệ,

vị tha, thuỷ chung son sắc trong tác phẩm Thuỷ nguyệt đến vẻ đẹp mang màu sắc nhục cảm của những mĩ nữ khoả thân trong Người đẹp say ngủ tất

cả đều sống động, mạnh mẽ, duyên dáng và tràn đầy nữ tính, tinh tế, ngọt ngào, bằng những dáng nét yêu kiều gợi cảm Mỗi người trong số những cô gái đó đều được Y.Kawabata tái tạo trong khoảnh khắc đẹp nhất của đời người Đó là tuổi trẻ, là tình yêu và sắc đẹp Cái Đẹp điển hình, riêng biệt

Trang 25

khiến họ đọng mãi trong lòng độc giả khi cảm thụ tác phẩm Tuy nhiên, họ đều có cuộc đời đau khổ: hoặc bị người tình phụ bạc, hoặc phải chết đi, hoặc luôn sống với ký ức của quá khứ Điều đó rất phù hợp với quan niệm của Y.Kawabata là Cái Đẹp luôn gắn với nỗi buồn trong quan hệ tương hỗ Đây là quan điểm được Y.Kawabata kế thừa từ những ý niệm mĩ học truyền thống Nhật Bản vốn cho rằng: “nỗi buồn, nỗi u sầu, nỗi cô đơn không tách khỏi khái niệm Cái Đẹp, bởi Cái Đẹp không đầy đủ nếu thiếu nỗi buồn, và “Cái Đẹp” với tư cách là cái bé bỏng, mong manh, yếu đuối” [4]

2.2 Hình tượng người phụ nữ trong tiểu thuyết Xứ tuyết

Trong tiểu thuyết Xứ tuyết, hình ảnh những người phụ nữ hiện lên khá

đông bao gồm cả những con người có tên tuổi nhất định và những con người

vô danh Đó là những cô geisha xứ tuyết trẻ trung, xinh đẹp được đào tạo bài bản như Kikyuu, Kômakô Đó còn là một cô gái nông dân mà Shimamura gặp trên toa tàu “cô buộc một tấm khăn màu đen trên đôi vai chắc nịch, vạm vỡ Hai má cô tươi thắm một màu đỏ hoang dã tuyệt đẹp” Đó là một phụ nữ Bạch Nga bán hàng rong, tuy đã tứ tuần, gương mặt nhăn nheo và đầy bụi nhưng vẫn có vẻ đẹp rất duyên của xứ tuyết “làn da mịn, trắng ngần, đẹp, hiện ra ở ngực, ngấn cổ để hở, ở cánh tay và bàn tay” Đó còn là bà giáo dạy nhạc của Kômakô với tài đánh đàn độc đáo và một bà già mù nhưng rất khéo tay, khéo cảm nhận, biết thưởng thức âm nhạc vì bà cũng từng chơi đàn Đó là những

cô gái xứ tuyết đang dẻo dai, bền bỉ ngày đêm kéo sợi, dệt thành những tấm vải gai mỏng để tạo nên thứ áo kimônô truyền thống Tất cả những người phụ

nữ ấy đều mang một vẻ đẹp rất riêng của xứ tuyết, vừa yêu kiều, diễm lệ, vừa đôn hậu, chất phác

Trong những người phụ nữ ấy, nổi bật lên hai hình tượng xuyên suốt tác phẩm là Kômakô và Yôkô Vẻ đẹp của xứ tuyết được kết tinh trong hai người phụ nữ này Nếu Kômakô là ảnh thực thì Yôkô chỉ là ảnh ảo Họ hiện

Trang 26

lên như hình và bóng cần phải nhập làm một để tạo nên một vẻ đẹp đích thực của người phụ nữ Nhật Bản Trong suốt cuộc hành trình từ Tôkyô lên vùng xứ tuyết xa xôi để tắm suối nước nóng và chiêm ngưỡng vẻ đẹp của núi non nơi đây, Shimamura đã bị choáng ngợp và hút hồn trước vẻ đẹp của hai người con gái ấy Nếu nàng Kômakô biểu tượng cho vẻ đẹp nhục cảm, nồng nàn rực cháy như lửa thì Yôkô trong trắng như tuyết, là hình ảnh của một vẻ đẹp lý tưởng, thánh thiện nhưng xa vời mà Shimamura hằng mơ tưởng Để tạo nên những nhân vật ấn tượng, Y.Kawabata thường phác hoạ một vài đường nét

về nhân vật đó, còn lại là những khoảng trống hư không Nét đẹp của Kômakô

- một ca nữ tài sắc chủ yếu hiện lên qua làn da mịn màng, đôi má hồng rực, đôi môi gợi cảm thì đôi mắt đen sâu thẳm, giọng nói trong veo, thánh thót, tâm hồn vị tha của Yôkô làm rung động sâu xa tâm hồn Shimamura Nếu những đường nét chấm phá tả Kômakô rất chân thật, sống động thì vẻ đẹp siêu phàm của Yôkô dường như không hiện hữu trong thế giới thực mà chỉ tồn tại trong thế giới ảo, trong không gian gương soi Vẻ đẹp của hai người con gái ấy làm cho tâm hồn Shimamura bị giằng xé giữa đam mê nhục cảm và một tình yêu thuần khiết

2.2.1 Nàng Kômakô - một geisha của xứ tuyết

2.2.1.1 Nhan sắc và phẩm hạnh

Trong tác phẩm của Y.Kawabata, hình ảnh những cô geisha được đặt dưới nhiều tên khác nhau: vũ nữ, geisha, kỹ nữ nhưng họ không giống với

kỹ nữ theo cách hiểu thông thường Nhà văn viết về họ với cảm hứng trân

trọng, ngợi ca Kômakô trong tiểu thuyết Xứ tuyết là một trong số ít ỏi những

geisha con sót lại của một nền nghệ thuật sắp tàn phai được Y.Kawabata miêu tả với tất cả vẻ đẹp của người phụ nữ Nhật Bản Nàng là hiện thân của tâm hồn xứ Phù Tang được hoàn thiện qua gần mười thế kỷ từ những giai nhân kiệt xuất thời Heian

Trang 27

Vẻ đẹp của Kômakô hiện lên qua sự cảm nhận của Shimamura Ngay

từ lần đầu gặp Kômakô, Shimamura đã bị choáng ngợp trước vẻ đẹp của cô

“cô gái gây cho Shimamura cảm giác tuyệt vời bởi sự sạch sẽ và tươi mát của

cô Trong giây lát anh nghĩ rằng toàn bộ thân thể cô chắc phải sạch sẽ lắm lắm, sạch đến chân tơ kẽ tóc, thậm chí anh tự hỏi sự tinh khiết ấy phải chăng

là ảnh ảo vì mắt anh vẫn bị chói bởi ánh sáng rực rỡ của mùa hè vừa chớm đến vùng núi” Kômakô như được đặt trong bầu không khí vô trùng Nàng đẹp đến nỗi Shimamura không tin rằng đó là sự thật

Sau cái lần choáng ngợp ấy, Shimamura có cơ hội được chiêm ngưỡng nhan sắc tuyệt vời của Kômakô qua những lần gặp gỡ, trò chuyện Những làn trò chuyện với Kômakô “anh quan sát mặt cô và thấy ở đó một vẻ đẹp gợi tình đằm thắm, có lẽ bởi hai hàng mi dài và dày của cô mà đôi mắt cụp xuống càng tôn thêm giá trị” Ngòi bút của Y.Kawabata còn tô đậm từng đường nét trên khuôn mặt nàng Các đường nét ấy hài hoà với nhau tạo nên một khuôn mặt kiều diễm “Mũi cô thanh tú và cao, với một vẻ côi cút trên gương mặt, khiến anh cảm động và gợi một chút buồn, nhưng đôi môi cô thì giống như một nụ hoa lúc chụm, lúc nở, nồng nàn, sống động và khao khát”, đặc biệt

“đôi môi linh hoạt và hình như tự nó chuyển động mịn màng đỏ mọng dồi dào sức sống Hàng mi cô không cong, cũng không hướng lên phía trên, cắt ngang

mí mắt thành một đường thẳng đến nỗi trông có vẻ kỳ dị nếu nó không được bao bọc một cách tinh tế bởi hàng lông mày rậm, cong và mượt như tơ lụa Mặt cô rất tròn, hai gò má hơi cao, nước da hồng mịn màng với cái cổ trinh bạch, và đôi vai mảnh dẻ còn sắp đầy lên chút nữa ”

Vẻ đẹp của Kômakô được tác giả khắc hoạ tỷ mỉ, rõ nét Các đường nét hiện lên thật sống động Nó tạo nên một vẻ đẹp tổng hoà trên gương mặt Kômakô, nó khiến cho Kômakô trở nên cực kỳ hấp dẫn không hẳn là vì đẹp

mà còn vì một lý do khác, đó là cái duyên trời cho Chính vẻ đẹp đó gây được

Trang 28

ấn tượng tươi mát, trong sạch đến choáng ngợp trong lòng Shimamura ngay

từ cái nhìn đầu tiên cho dù cô không đẹp hoàn hảo

Xuyên suốt chiều dài của truyện, các chi tiết miêu tả về vẻ đẹp của đôi

má, của làn da qua sự chiêm ngưỡng của Shimamura được nhắc đi nhắc lại nhiều lần Dưới sự tác động của ánh sáng trong phòng, Shimamura nhận thấy

“vẻ tươi thắm của má cô, một màu đỏ hồng tươi tắn và rực rỡ khiến Shimamura bị hớp hồn Vẻ đẹp của đôi má hồng còn được cảm nhận trước sự đối lập của nó với cái màu trắng của tuyết ở trong gương: “Đỏ rực lên đôi má của người đàn bà trẻ Vẻ đẹp của sự tương phản ấy cực kỳ trong sạch, vô cùng

dữ dội vì nó sắc nhọn và sống động’’

Qua lớp kính của toa tàu, Kômakô càng trở nên hư ảo Vẻ đẹp của người con gái ấy đối lập với môi trường Y.Kawabata ví “cô giống như một trái cây của xứ lạ không hiểu tại sao lại được bày trong một tủ kính của một cửa hàng thảm hại ở nông thôn” Một sự tưởng tượng kỳ diệu “khuôn mặt Kômakô chợt xuất hiện ở đó như một khoảng sáng nhỏ để rồi biến mất ngay Màu đỏ của má cô trở nên phi thực, cũng bừng lên như màu đỏ rực giữa nền tuyết chói mắt trong tấm gương buổi sáng hôm xưa” Dưới ánh sáng lung linh

ma quái của dải Ngân Hà, khuôn mặt Kômakô còn hiện lên như “một mặt lạ

cổ xưa, phía sau đó lại hiện rõ một sắc mặt đầy nữ tính”

Điều gì đã làm nên vẻ đẹp tuyệt vời của nàng Kômakô? Đó có phải là

vẻ đẹp hư cấu? Không hẳn là hư cấu mà do thiên nhiên Nhật Bản ban tặng Chính Y.Kawabata cũng phải thừa nhận “gương mặt sống động và tươi tắn của người đàn bà trẻ với sức khoẻ tràn trề và làn da hồng hào mà cô có được

là nhờ khí hậu khắc nghiệt ở vùng cao Nghĩa là vẻ đẹp của Kômakô được kết tinh bởi thiên nhiên Nhật Bản Và đó cũng là vẻ đẹp điển hình của người phụ

nữ Nhật Bản

Trang 29

Vẻ đẹp hình thức của cô geisha Kômakô là một vẻ đẹp chân thật, dễ nắm bắt Nó gợi trong lòng chàng trai Shimamura – một du khách đến từ thủ

đô Tôkyô một tình yêu thể xác với những đam mê nhục cảm Ở nơi cô, chàng như muốn khám phá những cảm giác mới lạ, những yêu thương ngọt ngào mà Kômakô mang lại Shimamura đã ngây ngất ngắm làn da mát rượi, lành mạnh trắng đến tinh khiết của Kômakô “gáy cô và làn da ở đó trông thật khêu gợi

và khi tương phản với mái tóc đen sẫm, da thịt cô chỗ ấy càng làm anh thèm muốn Trong cơn thèm khát rạo rực cháy bỏng, anh tưởng như cô đang khoả thân trước mặt anh” Và rồi Shimamura cũng không giữ được ý định ban đầu: chỉ coi Kômakô là bạn trò chuyện Chàng đã bị cuốn theo những đam mê nhục cảm, thả hồn mình trong tình yêu say đắm của Kômakô Khi xa Kômakô, anh luôn nghĩ về cô với những kỷ niệm về đôi bàn tay, sự vuốt ve của những ngón tay Còn lúc “biết cô gần bên anh, đột nhiên thêm thèm muốn đến khao khát một làn da, sự đụng chạm với một nước da người mịn màng, thanh khiết” Tình yêu của Shimamura chỉ thoảng qua như một cơn gió nhẹ, một ham muốn nhất thời để thoả mãn nhu cầu, rồi khi về Tôkyô, trên tàu chàng có thể quên ngay hình ảnh cô gái xinh đẹp tuyệt vời ấy

Nàng geisha Kômakô không chỉ đẹp bởi vẻ bề ngoài của làn da, của khuôn mặt, mái tóc mà nàng còn là một người mạnh mẽ, sống động, một geisha biết nói chuyện, biết lắng nghe , biết chia sẻ, một geisha vẫn giữ được nhân phẩm của mình

Ở Nhật Bản, geisha khác hẳn với các cô kĩ nữ Việt Nam Geisha được coi là một nghề đáng trân trọng Các cô geisha ở đây không chỉ xinh đẹp mà còn được đào tạo có bài bản Họ biết đàn, biết hát múa, biết làm thơ, biết đánh cờ, đặc biệt là biết giao tiếp, biết lắng nghe và biết chia sẻ, biết an ủi Gia đình nào nuôi geisha trong nhà đều rất trân trọng các cô Thời hạn làm việc của geisha là do hai bên thoả thuận hợp đồng Các cô geisha có thể làm

Trang 30

việc trong các cửa hàng, quán bia rượu Điều đặc biệt là “các geisha đều tự

do, không ai có thể bắt buộc họ làm những gì mà họ không muốn làm” Bởi lẽ

“geisha mới là người quyết định khách có ở lại qua đêm hay không Nếu cô ta

tự nguyện ở lại thì một mình cô ta chịu trách nhiệm Nhưng nếu cô ta ở lại mà được chủ cô ta cho phép, thì chuyện gì xảy ra thì nhà chủ chịu hết trách nhiệm” Điều đó cho thấy geisha Nhật Bản cũng là những con người bình thường, có quyền giữ nhân phẩm của mình

Trong những cô geisha ở vùng xứ tuyết này, Kômakô hiện lên hoàn hảo nhất, vừa xinh đẹp lại vừa tài năng Mới đầu, cô không phải là một geisha thật sự Nhưng về sau, do phải kiếm tiền để lo thuốc thang cho con trai bà dạy nhạc – vị hôn phu của cô, cô đã quyết định làm geisha Nhưng Kômakô vẫn khác hẳn những cô geisha khác, khiến mọi người phải trân trọng cô Ngay Shimamura cũng phải thừa nhận: “không thể xếp cô vào hàng geisha chuyên nghiệp” Mặc dù giữa anh và Kômakô ở hai thế giới khác nhau, hoàn toàn xa

lạ, một người thì ở Tokyo, một người ở vùng xứ tuyết xa xôi, nhưng mới lần đầu gặp gỡ, anh đã coi cô là người bạn tâm giao, một người mà “suốt bảy ngày một mình lang thang trên núi cao anh vẫn muốn có để bầu bạn” Shimamura thật sự trân trọng cô geisha này Anh còn muốn cô sẽ trở thành bạn của vợ anh, sẽ dạy cho vợ anh biết chút ít về đàn, hát, múa cho vợ anh bớt buồn Anh còn sung sướng cảm thấy cô xứng đáng được anh chia sẻ sự hứng khởi cao quý và sự thanh thản mà anh có được ở vùng núi cao này Một người bạn như Kômakô thật không dễ gì tìm thấy được!

Kômakô là một geisha được nhiều người yêu mến Các chàng trai, các

du khách luôn có nhu cầu được trò chuyện với cô trong những bữa tiệc Ngay

cả một đứa trẻ con nhà chủ cho thuê trọ của Shimamura cũng quấn quýt với nàng Cứ nhìn thấy bất cứ cô geisha nào, bé đều gọi rối rít là “Kômakô” Sự đáng quý của người con gái ấy còn toát lên ở chính cách cô nói chuyện tâm

Trang 31

tình, cách cô chia sẻ với người khác, và sự am hiểu tâm lý đàn ông Kômakô không chỉ biết lắng nghe, biết chia sẻ cùng Shimamura những sở thích của anh mà còn tỏ ra hết sức thoải mái, cởi mở kể cho chàng về quá khứ của mình Trong những câu chuyện ấy, cô tỏ ra là một người rất thông minh, am tường các lĩnh vực như kịch Kabuki, về các diễn viên và phong cách của loại kịch này, kể về những ngọn núi cao, về các cuốn tiểu thuyết Kômakô hào hứng, say sưa với giọng kể: “Mỗi lúc một tin cậy, dễ dãi một cách thoải mái như một người đã được dạy dỗ đầy đủ và đã có ít nhiều kinh nghiệm về tâm trạng của đàn ông” Và quả thực, một người vốn say mê nhiều ngành nghệ thuật như Shimamura bị cuốn hút, cảm thấy sung sướng khi tìm được người bạn để anh có thể sẻ chia những hứng khởi cao quý

Được tiếp xúc với nhiều loại khách, Kômakô cũng đúc rút cho mình những kinh nghiệm đánh giá con người Theo cô “vị khách nào không nói gì với ta, nhưng lại có cảm tình với ta, không có lý do gì rõ rệt, vị khách nào không thú thật là cảm mến ta, nhưng lại thấy được lòng cảm mến ấy thì người

đó bao giờ cũng để lại kỷ niệm đẹp đẽ nhất Sau khi khách đi rất lâu, ta vẫn còn nghĩ tới người ấy với một niềm sung sướng, và nếu có ai viết thư cho ta, thì chính là người khách ấy”

Là một geisha nhưng Kômakô vẫn luôn đề ra những quy định để bảo vệ nhân phẩm của mình Tuy rằng cuộc sống của nàng là ở những lễ hội, những quán rượu để tiếp khách du lịch, nhưng nàng không bao giờ cho phép mình ở lại qua đêm với bất kỳ vị khách nào Khi biết mình quá chén, nàng cố gượng trở về quán trọ hoặc về với Shimamura (người mà nàng yêu tha thiết) Cuộc sống của nàng lúc thì sôi động nhưng cũng có lúc lại lắng sâu tâm hồn trong những trang nhật ký

2.2.1.2.Kômakô - một kỳ nữ

Trang 32

Nàng Kômakô còn hoàn hảo hơn bởi tài năng đánh đàn đạt đến trình độ điêu luyện Tiếng đàn của nàng không thể nhầm lẫn với tiếng đàn của bất cứ một cô geisha nào khác ở vùng núi tuyết này Một bà già goá mù khi tẩm quất cho Shimamura đã nhận xét: “Kômakô chơi đàn hay tuyệt” Bà so sánh với chính tiếng đàn mà một geisha đang chơi ở quán Izutsuya và bà cho là dở Thực tế, Kômakô sử dụng đàn một cách thành thạo: thay dây và chỉnh âm Khi nghe Kômakô đánh đàn, Shimamura bị chìm ngập trong cảm giác đê mê

Ở bản thứ nhất, Kanjincho, anh cảm thấy như “bị nhiễm điện, anh rùng mình

và nổi da gà lên đến tận má”, rồi “sững sờ” như bị một cú đòn giáng trúng đầu, bị cuốn theo một cảm giác gần như “sùng kính”, gần như bị chìm trong

cả những luyến tiếc, cảm động, hẫng hụt, không thể chống cự Shimamura còn ngạc nhiên đến sửng sốt “thế là thế nào nhỉ? Vì nói cho cùng, đây chỉ là một geisha miền núi, một phụ nữ chưa đầy hai mươi tuổi, lẽ nào cô lại có tài đàn đến thế!” Và chàng lặng đi theo dòng suy tưởng của mình Khi nghe đến bản thứ ba, cảm giác “rùng mình” trong Shimamura đã bớt đi, để lại “một dòng nóng ấm tuyệt diệu chảy tràn trong anh, Shimamura đang cảm thấy sâu sắc sự gần gũi xác thịt” Thật là kỳ diệu! Nghe tiếng đàn mà Shimamura lại có cảm xúc từ nơi da thịt Chàng như nghe được cả cõi lòng của Kômakô từ những âm thanh tuyệt diệu ấy “cô ấy yêu ta Người phụ nữ này phải lòng ta”

Y.Kawabata đã miêu tả những cung bậc của tiếng đàn: lúc thì khoan thai kỹ lưỡng, đoạn thì lướt nhanh dồn dập đặc biệt là tiếng đàn của nàng trở nên tuỵêt diệu hơn trong khung cảnh thiên nhiên mùa đông tràn ngập tuyết trắng Chính Kômakô cũng phải thừa nhận sự tuyệt diệu này “Khi thời tiết thế này tiếng đàn nghe khác hẳn” Độ âm vang phong phú, sức hoà âm mạnh mẽ, quả thật đúng như lời cô nói Và còn nhiều cái đặc biệt nữa, bởi khung cảnh, trong sự cô đơn thân mật này, xa những nhốn nháo của thành phố, xa những xảo thuật của sân khấu, không có những bức tường của nhà hát, không có

Ngày đăng: 31/10/2015, 22:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Ngọc Chương (6/2001), “Đọc Xứ tuyết suy nghĩ về cái nhìn huyền ảo của Kawabata Yasunary” , Tạp chí văn học (số 15) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc" Xứ tuyết "suy nghĩ về cái nhìn huyền ảo của Kawabata Yasunary” , "Tạp chí văn học
2. Nguyễn Thị Bích Dung (1999), “Y. Kawabata – người sinh ra bởi vẻ đẹp của Nhật Bản”, Thông báo khoa học ĐHSP HN2 (số 1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Y. Kawabata – người sinh ra bởi vẻ đẹp của Nhật Bản
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Dung
Nhà XB: Thông báo khoa học ĐHSP HN2
Năm: 1999
3. Khương Việt Hà (2004), “Thủ pháp tương phản” trong truyện Người đẹp say ngủ” của Y. Kawabata,Tạp chí nghiên cứu văn học (số 1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủ pháp tương phản” trong truyện "Người đẹp say ngủ”" của Y. Kawabata",Tạp chí nghiên cứu văn học
Tác giả: Khương Việt Hà
Năm: 2004
4. Khương Việt Hà (2006), “Mỹ học Y. Kawabata”,Nghiên cứu văn học (số 6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mỹ học Y. Kawabata
Tác giả: Khương Việt Hà
Nhà XB: Nghiên cứu văn học
Năm: 2006
5. Đào Thị Thu Hằng (2005), “Y. Kawabata giữa dòng chảy Đông – Tây”, Nghiên cứu văn học (số 7) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Y. Kawabata giữa dòng chảy Đông – Tây”", Nghiên cứu văn học
Tác giả: Đào Thị Thu Hằng
Năm: 2005
6. Lê Bá Hán (Chủ biên), (2004), Từ điển thuật ngữ văn học Nxb ĐHQG. H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb ĐHQG. H
Năm: 2004
7. Nguyễn Thị Mai Liên (2005), “Y. Kawabata – Lữ khách muôn đời đi tìm Cái Đẹp”, Nghiên cứu văn học (số 11) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Y. Kawabata – Lữ khách muôn đời đi tìm Cái Đẹp
Tác giả: Nguyễn Thị Mai Liên
Nhà XB: Nghiên cứu văn học
Năm: 2005
8. Phương Lựu (chủ biên), (2006), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Phương Lựu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
9. Y. Kawabata (1998), Ngàn cánh hạc (sách dịch), Nxb Kiên Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngàn cánh hạc
Tác giả: Y. Kawabata
Nhà XB: Nxb Kiên Giang
Năm: 1998
10. Y. Kawabata (1995), Thuỷ nguyệt, Văn học lớp 12, Nxb, Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuỷ nguyệt
Tác giả: Y. Kawabata
Nhà XB: Nxb
Năm: 1995
11. Y. Kawabata (1995), Xứ tuyết, (sách dịch) Nxb Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xứ tuyết
Tác giả: Y. Kawabata
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 1995
12. Nguyễn Đức Khuông (2006), Nhân vật nữ trong tácphẩm văn học nhà trường, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân vật nữ trong tácphẩm văn học nhà trường
Tác giả: Nguyễn Đức Khuông
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Chương 2: Hình tượng người phụ nữ trong tiểu thuyết Xứ tuyết  18 - Hình tượng người phụ nữ trong tiểu thuyết xứ tuyết của yasunary kawataba
h ương 2: Hình tượng người phụ nữ trong tiểu thuyết Xứ tuyết 18 (Trang 62)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w