1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đặc điểm kịch nguyễn đình thi

141 532 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 141
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Riêng bản thân người viết, sau một thời gian suy nghĩ, cân nhắc đã mạnh dạn chọn đề tài tìm hiểu về đặc điểm kịch của Nguyễn Đình Thi hầu mong được đi sâu nghiên cứu những đặc điểm thật

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP Hồ CHÍ MINH

PHẠM THỊ TRÚC LINH

ĐẶC ĐIỂM KỊCH NGUYỄN ĐÌNH THI

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NGỮ VĂN

CHUYÊN NGÀNH : VĂN HỌC VIỆT NAM

MÃ SỐ: 5.04.33

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KH: PGS-TS PHÙNG QUÝ NHÂM

TP.HCM - 2003

Trang 3

CHÂN DUNG NGUY ỄN ĐÌNH THI VÀ DANH MỤC CÁC

THỜI GIAN

Trang 5

M ỤC LỤC

4T

Trang 8

D ẪN NHẬP

Nguyễn Đình Thi là một nghệ sĩ đa tài trong đội ngũ văn nghệ sĩ khá đông đảo của nền văn học Việt Nam hiện đại Ông sáng tác nhạc, làm thơ, viết văn, kịch, tiêu luận phê bình ở mỗi lĩnh vực, Nguyễn Đình Thi đều gặt hái được những thành công, để lại dấu ấn tài hoa riêng trong sự tìm tòi, sáng tạo của mình

Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Đình Thi chủ yếu được hình thành và phát triển từ sau Cách mạng tháng Tám Những sáng tác của ông chất chứa nhiệt tình và nguồn cảm xúc mãnh liệt trước thực tế cuộc sống Chính vì vậy, văn thơ của ông mang chất khỏe khoắn, mạnh mẽ, được nhiều thế hệ bạn đọc yêu mến Những ai đã trải qua những năm tháng ngồi trên ghế nhà trường hẳn không thể quên được hình ảnh chú mèo con dễ thương gan dạ trong tác phẩm Cái tết của mèo con hay hình ảnh Tổ quốc đẹp nhưng đau thương trong bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi Những tác phẩm đó đã góp phần giúp cho tên tuổi của Nguyễn Đình Thi sống mãi trong lòng bạn đọc bao thế hệ

Riêng về kịch, một trong ba phương thức phản ánh cuộc sống của văn học đòi hỏi tính cô đọng và sức sáng tạo lớn, Nguyễn Đình Thi cũng đã có những đóng góp quan trọng Nhiều tác phẩm kịch của ông được người đọc quan tâm, tìm hiểu như: Nguyễn Trãi ở Đông Quan, Tiếng sóng, Giấc mơ, Hoa và Ngần

và đặc biệt là vở Rừng trúc, một vở kịch khá tâm huyết của Nguyễn Đình Thi được dàn dựng trên sân khấu gần đây, gặt hái được nhiều thành công với sự góp mặt của đông đảo diễn viên nghệ sĩ tài danh (Nhà hát Tuổi trẻ biểu diễn năm 1999) Rừng trúc còn vinh dự được chọn làm tiết mục tham dự Hội diễn sân khấu cuối cùng của thê kỷ khai mạc ngày 12-10-1999 tại Hà Nội

Tuy nhiên, về mặt nghiên cứu văn học, việc tìm hiểu kịch của Nguyễn Đình Thi nhìn chung vẫn còn khá giản lược, chưa có ngòi bút nào đi sâu phân tích, đánh giá một cách toàn diện và hệ thống xuất phát từ đặc điểm thể loại Vì vậy, có thể nói tìm hiểu kịch của Nguyễn Đình Thi đang còn là vấn đề mới mẻ,

Trang 9

hấp dẫn cho những ai có điều kiện quan tâm

Riêng bản thân người viết, sau một thời gian suy nghĩ, cân nhắc đã mạnh dạn chọn đề tài tìm hiểu về đặc điểm kịch của Nguyễn Đình Thi hầu mong được đi sâu nghiên cứu những đặc điểm thật riêng, thật đặc sắc tạo nên chân dung Nguyễn Đình Thi, người mà bằng tài năng và tâm huyết của mình đã cho

ra đời mười vở kịch thật có giá trị nhưng cho đến nay có thể nhận thấy chưa có một công trình nghiên cứu và giới thiệu nào xứng đáng với tầm vóc của nó Đồng thời, chúng tôi cũng muôn góp thêm một phần sức mình vào công trình nghiên cứu chung về tác giả Nguyễn Đình Thi để qua đó thấy được những đóng góp quí báu của ông đối với nền văn học Việt Nam hiện đại

Hơn nữa, những trang viết của chúng tôi hôm nay còn thay cho nén nhang chúng tôi thành kính đưa tiễn Nguyễn Đình Thi, ông đã vĩnh viễn ra đi vào ngày 18 tháng 4 năm 2003 sau một cơn bệnh hiểm nghèo Chúng ta thương tiếc

từ giã nhà văn có thể được xem như là cây đại thụ của nền văn học Việt Nam,

từ giã một người nghệ sĩ đa tài có gương mặt đôn hậu và nụ cười trong sáng Mười năm trước, dường như đã nghĩ tới một ngày này, Nguyễn Đình Thi viết

"Anh đi không vội vàng Anh biết - Con đò vẫn đang đợi "(32, 599) Hôm nay ngày ấy đã đến ở tuổi 79 nhưng có lẽ ông đã mãn nguyện với những gì mình đã làm được ở cuộc đời này

Về kịch của Nguyễn Đình Thi, đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống Phần nhiều những trang viết nghiên cứu về kịch của ông chỉ là những bài tiểu luận, bài giới thiệu ngắn Gần đây, một số bài đã được giáo sư Hà Minh Đức và Trần Khánh Thành đã tập hợp lại và cho in trong quyển: Nguyễn Đình Thi, về tác gia và tác phẩm, Nhà

xuất bản Giáo dục ấn hành năm 2000 Nhìn chung các bài viết cũng đã đề cập đến những đặc điểm về nội dung và nghệ thuật kịch của Nguyễn Đình Thi tuy mức độ đậm nhạt có khác nhau

Cũng như các tác phẩm kịch của Nguyễn Đình Thi, các bài viết nghiên cứu về kịch của ông chủ yếu xuất hiện từ sau năm 1975, tiêu biểu có thể kể các

Trang 10

bài viết của: Trần Hữu Tá, Marian Tkatchep, Tất Thắng, Phan Trọng Thưởng, Sao Mai, Hà Minh Đức, Trần Bạch Đằng Ở mỗi bài viết, tùy theo dụng ý riêng của từng tác giả mà những vấn đề về đặc điểm nội dung và nghệ thuật kịch Nguyễn Đình Thi được đề cập đến một cách khác nhau nhưng nhìn chung các nhà nghiên cứu đều thống nhất đánh giá khá cao tài năng viết kịch của Nguyễn Đình Thi ở cả hai mặt nội dung và nghệ thuật

Trước hết, về nội dung kịch Nguyễn Đình Thi, có rất nhiều ý kiến đánh giá của các nhà nghiên cứu, phê bình kịch Hà Minh Đức trong bài viết dài giới thiệu về sự nghiệp văn chương của Nguyễn Đình Thi đã có những nhận xét xác đáng khi cho rằng: "Ông (Nguyễn Đình Thi) vừa quan tâm tới việc phản ánh hiện thực trực tiếp qua kịch và ông cũng đặc biệt chú ý đến những vấn đề đặt ra cho muôn đời: thiện và ác, chính và tà, hạnh phúc và bất hạnh, hy vọng và tuyệt vọng, những bi kịch của kiếp người và những phẩm chất cao cả trong đời

Có thể nói phần lớn kịch Nguyễn Đình Thi đều khai thác từ những câu chuyện lịch sử, có phần chính sử và phần nhiều là những chuyện mang màu sắc dân gian." (33, 24) và ông đã khẳng định: "Cái gốc của tất cả những câu chuyện xa xôi và gần gũi ấy đều quy tụ lại ở cái gốc nhân bản Chuyện của con người, chuyện của muôn đời không có gì xa lạ mà gần gũi, xót xa, đớn đau." (33, 28) Tất Thắng, trong bài viết Thế giới kịch của Nguyễn Đình Thỉ đã nhận xét: "Thế giới kịch của Nguyễn Đình Thi là một thế giới như hư, như thật, nó kỳ ảo như một giấc mơ nhưng lại sờ sờ ra đấy như một Hòn cuội và trong cái thế giới ấy, Nguyễn Đình Thi đã làm hiển hiện lên trước mặt ta, trong sự tiếp nhận của ta, những con người, những cảnh đời vừa quen vừa lạ, vừa thấy đây như một dòng

sông, một bến nước, một người vợ đêm đêm chờ chồng mà thoắt cái đã trở thành cái bóng oan nghiệt, đã biến đi xa vời vợi như mặt trăng tròn ở tít chân trời cao"(33, 357) Có lẽ ông đã đánh giá khá cao về kịch của Nguyễn Đình Thi khi cho rằng đó là: "một thế giới văn hoa nơi mà dấu vết văn hóa cổ kim và đông tây, dân gian và bác học được hội tụ nhân bản và tinh thần nhân đạo nó

có sức mạnh kỳ diệu đưa con người và cảnh đời từ hiện thực trở thành huyền thoại" (33, 365) Phan Trọng Thưởng trong bài rừng trúc của Nguyễn Đình Thi

và một số vấn đề lý luận sáng tác về đề tài lịch sử đã nhận thấy ở Nguyễn Đình

Trang 11

Thi "khả năng khai thác vào các sự kiện lịch sử tưởng như đã cũ để tìm ra trong

đó những bài học mới về đạo đức nhân sinh; khả năng lý giải những vấn đề lớn đặt ra cho mọi thời đại" (33, 367) và còn phát hiện được "Trong kịch của ông (Nguyễn Đình Thi), ta luôn nhận thây một sự cảm khái và thái độ bất nhẫn về thân phận của con người trước quyền lực" (33, 372)

Trần Bạch Đằng có hai kì báo liên tiếp đăng bài: Tiễn anh Nguyễn Đình Thi - Nhớ lại "Nguyễn Trãi ở Đông Quan" trên báo Công an TPHCM như lời tiễn biệt nhà văn Nguyễn Đình Thi khi hay tin ông từ giã cõi đời Nội dung bài báo, ngoài việc nhắc lại những kỉ niệm giữa tác giả và Nguyễn Đình Thi, lòng trân trọng và thương tiếc một nhà văn tài hoa đã ra đi mãi mãi, tác giả đã cho đăng lại bài Nhân xem Nguyễn Trãi ở Đông Quan được viết cách đây 23 năm, khi vở kịch vừa mới ra đời Trong bài đó, có đoạn ông viết: "Trong Nguyễn Trãi ở Đông Quan, Nguyễn Đình Thi nêu lên các tiền đề và quá trình chín muồi

tư tưởng của Nguyễn Trãi giữa lúc ông ở vào độ tuổi 21-31: cứu nước đi với cứu dân, lòng yêu nước đi với biện pháp yêu nước " (2, 9) Ngoài ra, ông cũng rất xem trọng sự phù hợp giữa chủ đề vở kịch đối với hiện thực: "đã là sáng tác,

dù lịch sử tận nghìn xưa đi nữa, chủ đề vẫn phải gần gũi với chúng ta, bởi vì ngày nay, vì chúng ta mà lịch sử đã giới thiệu, khắc họa Không thể bảo rằng tác giả không gửi gấm gì cả khi làm sống lại con người cũ, không đặt vào lời nói của con người cũ những tâm tư, tình cảm mà tác giả muốn biểu lộ." (2, 9)

Về nghệ thuật viết kịch, Nguyễn Đình Thi gặt hái được rất nhiều thành công, đặc biệt ở nghệ thuật xây dựng nhân vật, nghệ thuật tạo tình huống xung đột và nghệ thuật sử dụng ngôn từ Đầu tiên là bài viết về vở Giấc mơ và tác giả của Marian Tkatchep, một nhà văn Nga, ông đã tinh tường nhận ra: "Tài năng thi ca và âm nhạc của Nguyễn Đình Thi đã quyết định một phần quan trọng cái đặc sắc của công việc soạn kịch của ông" (33, 390) Điểm qua một số

vở kịch của Nguyễn Đình Thi, ông nhận xét:

"Bầu trời các vở kịch của Nguyễn Đình Thi rất phong phú về màu sắc và rất nhiều chất thơ Các nhân vật của ông không đóng kịch, không! Họ sống cuộc sống của họ, thật đến từng chi tiết nhỏ Họ lôi kéo chúng ta vào kích cỡ

Trang 12

thời gian của họ, làm chúng ta đau đớn, yêu thương, cười đùa, khóc lóc và thù ghét với họ" (33, 391) Trần Hữu Tá trong bài viết về tác giả Nguyễn Đình Thi

in trong giáo trình Văn học Việt Nam (1945-1975), dù đi sâu vào phân tích tài năng của Nguyễn Đình Thi ở ba lĩnh vực: thơ, tiểu thuyết, lý luận phê bình, song ông cũng không quên có vài nhận xét về kịch khi cho rằng: "Kịch Nguyễn Đình Thi thiên về tính trữ tình và triết lý Nhiều vở có lẽ là thứ văn để đọc hơn

là để diễn "(19, 247) Đây dường như cũng là nhận xét của nhiều nhà nghiên cứu khi đọc kịch Nguyễn Đình Thi Không những thế, ông còn phát hiện ra

"một nét góp phần làm nên cái riêng của Nguyễn Đình Thi, không chỉ trong thơ

mà cả trong truyện, kịch: thế giới tâm hồn cao đẹp của nhân vật trữ tình thường phảng phất một chút ngậm ngùi, đau xót Ngậm ngùi, đau xót ngay cả trong những tình huống vui: ngày chiến thắng, khi trùng phùng, đoàn tụ (18, 226)

Hà Minh Đức nhận thấy: "Nguyễn Đình Thi đã bộc lộ mặt mạnh của ngòi bút kịch bằng cách đột phá vào thế giới bên trong của nhân vật và qua đôi thoại, độc thoại để đưa nhân vật vượt lên Chất suy nghĩ, tầm vóc của sự suy nghĩ đã tạo cho nhân vật của Nguyễn Đình Thi một cốt cách riêng Các nhân vật đều có ý thức và chủ động trong hành động." (33, 25-26) Bên cạnh đó, khi bàn về xung đột trong kịch của Nguyễn Đình Thi, Hà Minh Đức cũng có nhận xét: "Xung đột kịch của Nguyễn Đình Thi không phải là những tình huống mâu thuẫn đúc lại thành xung đột có tính cách sách vở mà được khai thác từ cuộc đời thật trong thời gian và không gian khác nhau." (33, 27) Tất Thắng, trong bài Thế giới kịch của Nguyễn Đình Thi cũng đã viết: "Ta không thấy ở đây mối xung đột được trình bày theo kiểu Aristốt, tức là được trình bày trong hành động, từ giao đãi tới thắt nút, đến tạm thời hoa hoãn và đến giải tỏa trong kết thúc Cái môi xung đột kịch rất cổ điển và rất phương Tây này không có chỗ trong kịch Nguyễn Đình Thi hình thái xung đột quán xuyến các vở kịch của Nguyễn Đình Thi là sự diễn tả cuộc sống như ta thấy và như ta tưởng, như ta chứng kiến và như ta ao ước, như ta trải nghiệm và như ta khát khao để cho ta luôn ở trạng thái lo âu đến khi sợ hãi." (33, 363-364)

Qua các bài viết, bài báo, ta nhận thấy ý kiến của các nhà nghiên cứu nhìn

Trang 13

chung đều thống nhất đánh giá khá cao tài năng viết kịch của tác giả Nguyễn Đinh Thi, ở cả hai mặt nội dung và nghệ thuật, đặc biệt đề cao giá trị hiện thực

có được ở các tác phẩm kịch của Nguyễn Đình Thi Những vấn đề được phản ánh trong kịch của ông rất gần gũi với cuộc sống và mang tính nhân bản Nhìn tổng quát các bài nghiên cứu về kịch Nguyễn Đình Thi, ta thấy thiếu một công trình mang tính toàn diện và có hệ thống Các ý kiến đánh giá, nhận định về đặc điểm kịch của Nguyễn Đình Thi được các nhà nghiên cứu đề cập đến trong

bài viết của mình với một dung lượng nhỏ để kết hợp lý giải, phân tích những vấn đề có tính bao quát, tổng hợp khác nhưng nhìn chung, những ý kiến, nhận định ấy đều xác đáng, có thể làm cơ sở để triển khai những đề tài khoa học sâu hơn

Trên tinh thần kế thừa, học tập và tiếp thu thành tựu của những người đi trước, chúng tôi cố gắng đi vào tìm hiểu về đặc điểm kịch của Nguyễn Đình Thi một cách cẩn thận ở cả hai mặt nội dung và hình thức Thiết nghĩ đây cũng

là vấn đề hấp dẫn cho những ai thật sự quan tâm đến nền văn học của nước nhà, nhất là ngày nay khi mọi giá trị văn học đều được khẳng định một cách xứng đáng

Như đã nói ở phần lý do chọn đề tài, Nguyễn Đình Thi là một nhà nghệ sĩ

đa tài thể hiện ở các lĩnh vực: thơ, văn xuôi, nhạc, kịch Những cống hiến của ông đối với nền văn học nghệ thuật nước nhà thật đáng trân trọng Vì không có điều kiện để tìm hiểu hết những sáng tác của Nguyễn Đình Thi nên luận văn này chỉ tập trung khai thác những đặc điểm chủ yếu về kịch của ông, mảng văn

học mà từ trước đến nay vẫn chưa được nhiều ngòi bút đào sâu tìm hiểu Như chúng ta đều biết, so với văn xuôi và thơ, kịch là một thể loại văn học khá đặc biệt, hiện diện cả trong nghệ thuật lẫn văn học Cả hai mặc dù có tính chất độc lập nhưng lại tạo thành một khối thống nhất có liên quan chặt chẽ với nhau Kịch của Nguyễn Đình Thi có một số tác phẩm đã được hiện hình dưới ánh đèn sân khấu như: Con nai đen, Hoa và Ngần, Nguyễn Trãi ở Đông Quan, Rừng trúc Tìm hiểu được kịch của Nguyễn Đình Thi ở cả hai lĩnh vực văn học và

Trang 14

nghệ thuật là một điều đáng quý Tuy nhiên, do tầm hiểu biết và tính chất của ngành học, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu đặc điểm kịch của Nguyễn Đình Thi dưới dạng kịch bản, một trong ba phương thức cơ bản của văn học Còn nghệ thuật biểu diễn sân khấu, nơi quy tụ tổng hòa các nghệ thuật: đạo diễn, diễn viên, âm nhạc, trang trí, phục trang, tiếng động, ánh sáng có lẽ nên dành cho một ngành học khác, chuyên về nghệ thuật sân khấu

Trong quá trình nghiên cứu về đặc điểm kịch của Nguyễn Đình Thi, chúng tôi nhận thấy sự thành công của ông ở cả hai phương diện: nội dung và nghệ thuật, cả hai gắn bó chặt chẽ và bổ sung cho nhau Do vậy, ở luận văn này, chúng tôi có tham vọng tìm hiểu ở cả hai phương diện trên nhưng chỉ dừng lại ở những đặc điểm tiêu biểu và nổi bật nhất để qua đó thấy được những đóng góp đặc sắc của Nguyễn Đình Thi ở thể loại này Ngoài ra, để có thể thấy

rõ hơn những nét riêng về kịch của Nguyễn Đình Thi, chúng tôi sẽ đối chiếu,

so sánh với một số tác phẩm kịch của Nguyễn Huy Tưởng và các tác giả khác

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thực hiện luận văn này, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

4.1 Phương pháp phân tích - tổng hợp:

Phân tích - tổng hợp là phương pháp không thể thiếu đôi với mọi công trình khoa học Trên cơ sở những tư liệu đã được thu thập, thống kê, chúng tôi tập trung xoáy sâu vào những tiêu điểm cần thiết có tác dụng hình thành nên đặc điểm kịch của Nguyễn Đình Thi theo những nguyên tắc nghệ thuật nhất định Từ đó rút ra được những kết luận đúng đắn

4.2 Phương pháp hệ thống

Luận văn sử dụng phương pháp này để xác lập tính nhất quán trong phong cách nghệ thuật của tác giả Những đặc điểm về kịch của Nguyễn Đình Thi được nghiên cứu trong luận văn không chỉ tồn tại trong một tác phẩm mà còn hiện diện trong nhiều tác phẩm tạo nên đặc trưng phong cách của ông

Trang 15

4.3 Phương pháp so sánh

Trong khi nghiên cứu về kịch của Nguyễn Đình Thi, đặc biệt là những tác phẩm kịch lịch sử, kịch viết theo truyện truyền thuyết, cổ tích, chúng tôi cố gắng so sánh với những tài liệu lịch sử, với những tác phẩm văn học dân gian

để qua đó thấy được sự sáng tạo rất đáng trân trọng của ông trong thể loại kịch nói Đồng thời, trong quá trình phân tích, chúng tôi có so sánh với các sáng tác của Nguyễn Đình Thi ở những thể loại khác, cũng như với các tác phẩm kịch của các tác giả khác để góp phần khẳng định những nét riêng trong phong cách nghệ thuật của Nguyễn Đình Thi

Phương pháp này được dùng khi tìm hiểu những biểu hiện cụ thể, chi tiết

về đặc điểm kịch của Nguyễn Đình Thi để có thể có được những chứng cứ cụ thể, chính xác trong nghiên cứu, giúp cho việc trình bày vấn đề thêm tính thuyết phục

5.ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN

Với phạm vi của đề tài và trong khuôn khổ của một luận văn Cao học, chúng tôi cố gắng để mong có được những đóng góp, dù nhỏ Thứ nhất là đưa

ra một cái nhìn tương đối toàn diện và hệ thống về nội dung và nghệ thuật kịch của Nguyễn Đình Thi Thứ hai là trong từng đặc điểm cố gắng tìm hiểu một cách kĩ lưỡng, thấu đáo nhằm chỉ ra những nét riêng thật đặc sắc góp phần khẳng định thêm vị trí và tên tuổi của Nguyễn Đình Thi trên văn đàn

Do khuôn khổ và dung lượng của đề tài có giới hạn nên khi nghiên cứu về đặc điểm kịch của Nguyễn Đình Thi, người viết tìm hiểu ngay vào hai vấn đề chủ yếu là nội dung và nghệ thuật kịch của ông Có thể nói thê giới kịch của Nguyễn Đình Thi được thể hiện cụ thể và sinh động khi hai vấn đề trên được tìm hiểu một cách nghiêm túc và cẩn thận Trong hai chương, chương một là nội dung kịch Nguyễn Đình Thi và chương hai là nghệ thuật kịch Nguyễn Đình Thi thì dung lượng chương hai có phần nhiều hơn do đây là chương có khá

Trang 16

nhiều dẫn chứng Như vậy luận văn ngoài phần dẫn nhập (9 trang), kết luận (4 trang), thư mục tham khảo (3 trang), phần nội dung (114 trang) sẽ được trình bày thành hai chương chính:

Chương 1: Nội dung kịch của Nguyễn Đình Thi (51 trang)

Chương 2: Nghệ thuật kịch của Nguyễn Đình Thi (63 trang)

Trang 17

CHƯƠNG 1: NỘI DUNG KỊCH CỦA NGUYỄN ĐÌNH THI

Nguyễn Đình Thi sinh ngày 20-12-1924 ở Luông Phabăng (Lào) Quê gốc của ông ở Phú Xuyên (Hà Sơn Bình) nhưng sau đó gia đình ông đã chuyển ra làm ăn sinh sống ở ngoại thành Hà Nội Cha ông là viên chức Sở Bưu điện Đông Dương, có thời gian sang làm việc ở Lào (lúc ấy Việt Nam, Lào, Campuchia đều là thuộc địa của Pháp) nên Nguyễn Đình Thi được sinh ra ở đấy

Năm 1930 (có tài liệu ghi là 1931), ông cùng gia đình về nước và lần lượt

ở các nơi: Hà Nội, Hải Phòng, Chợ Lớn Từ năm 1941, Nguyễn Đình Thi về học ở Hà Nội Do điều kiện di chuyển nhiều nơi như vậy đã giúp ông ngay từ thời niên thiếu hiểu biết được nhiều vùng của đất nước

Năm mười bảy tuổi (năm 1941), ý thức được hoàn cảnh sống nô lệ của nhân dân ta, Nguyễn Đình Thi bắt đầu hoạt động cách mạng Ông tham gia vào phong trào đấu tranh sôi nổi của sinh viên - học sinh cũng như phong trào Mặt Trận Việt Minh Năm 1943, cùng với Nguyễn Huy Tưởng, Nguyên Hồng, Như Phong, Nam Cao, Tô Hoài , ông là một trong những thành viên đầu tiên của Hội văn hóa cứu quốc (phụ trách báo Độc lập, tham gia soạn tạp chí Tiên Phong) Năm 1945, Nguyễn Đình Thi vinh dự là đại biểu tham gia tham dự Đại hội quốc dân Tân Trào và được cử vào ủy ban Giải phóng dân tộc Việt Nam Sau Cách mạng tháng Tám, Nguyễn Đình Thi được cử làm Tổng thư kí Hội văn hóa cứu quốc, ủy viên tiểu ban dự thảo Hiến Pháp và ủy Viên Ban thường trực Quốc hội (khóa 1) Năm 1948, ông là Phó tổng thư kí Hội Văn nghệ Việt Nam Năm 1952, Nguyễn Đình Thi gia nhập quân đội, làm chính trị viên phó tiểu đoàn thuộc trung đoàn thủ đô, đại đoàn 308 cho đến hết chiến dịch Điện Biên Phủ Thời gian này, giúp Nguyễn Đình Thi tìm hiểu kĩ về người chiến sĩ, đối tượng phản ánh chủ yếu trong nhiều tác phẩm sau này của ông

Từ sau năm 1954, Nguyễn Đình Thi tiếp tục giữ các chức vụ quan trọng trong các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam Năm 1955, ông về công tác tại Hội

Trang 18

văn nghệ Việt Nam, giữ trách nhiệm Tổng thư kí Hội Văn nghệ Năm 1958 đến

1989, ông làm Tổng thư kí Hội Nhà Văn Việt Nam các khóa 1, 2 và 3 Từ năm

1995, Nguyễn Đình Thi là Chủ tịch ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam

Nguyễn Đình Thi bắt đầu viết văn rất sớm Từ trước Cách mạng tháng Tám, năm 1942, ông cho giới thiệu hàng loạt tác phẩm triết học như: Triết học nhập môn, Siêu hình học, Triết học Aristôt, Đe Các Tơ, Căng Trong thời kì hoạt động ở Hội Văn hóa cứu quốc, ông đã viết một số tiểu luận đăng trên các báo chí bí mật và công khai Đáng chú ý nhất là bài nói chuyện ở ngày hội sinh viên năm 1944: Sức sống của dân Việt Nam trong ca dao và cổ tích đăng trên tạp chí Tri tân ca ngợi sức sống của dân tộc và tình cảm yêu nước của thanh niên

Tài năng văn học của Nguyễn Đình Thi được hình thành từ trong ngọn lửa kháng chiến chống Pháp Tuổi trẻ đấu tranh và hòa nhập vào trong không

khí cách mạng đã tạo điều kiện cho chất nghệ sĩ tài hoa của Nguyễn Đình Thi phát triển Tuy chưa qui tụ vào một thể loại nào, nhưng những tác phẩm đầu tay của Nguyễn Đình Thi về văn xuôi, thơ, nhạc đã bộc lộ tài năng đa dạng của nhà văn trẻ tuổi này Các bài ca diệt Phát Xít và Người Hà Nội nói lên tấm lòng yêu nước và tâm hồn nghệ sĩ thật đằm thám của ông đối với cuộc đời Đặc biệt bài viết Nhận Đường (1947) mang ý nghĩa như lời tuyên ngôn về nghệ thuật phản ánh nhiệt tâm của giới văn nghệ sĩ một lòng đi theo cách mạng, sẩn sàng từ bỏ nếp sống cũ để tìm đến những nơi hàng đầu của cuộc kháng chiến Ông cho rằng phải "Sống được cuộc sông kháng chiến của dân tộc, hiểu được hướng đi của dân tộc ta hiện thời, cảm xúc được những cảm xúc mới của kháng chiến, tất cả vấn đề sáng tác quyết định ở điểm ấy" (32, 13) Từ đó Nguyễn Đình Thi bám sát bộ đội, đi hết chiến dịch này đến chiến dịch khác Thực tế cuộc sống kháng chiến đã giúp tôi luyện thêm ngòi bút Nguyễn Đình Thi, những năm tháng chiến đấu gian khổ đã để lại dấu vết đậm đà trong các tập truyện kí, tiểu thuyết, tập thơ: Bên bờ Sông Lô, Thu đông năm nay, Xung kích, Người chiến sĩ

Trang 19

Càng đi nhiều nơi, càng thâm nhập nhiều vào cuộc sống, Nguyễn Đình Thi càng hiểu và gắn bó thêm với đất nước, con người Việt Nam tươi đẹp, anh hùng Những tình cảm thiết tha, trìu mến đó thấm quyện vào các tác phẩm của ông, hàng loạt các tác phẩm có giá trị ra đời đưa tên tuổi Nguyễn Đình Thi đến gần hơn với bạn đọc: Vào lửa, Mặt trận trên cao, Vỡ bờ, Bùi thơ Hắc Hải, Dòng sông trong xanh, Công việc của người viết tiếu thuyết

Riêng về kịch, một lĩnh vực Nguyễn Đình Thi đặt khá nhiều tâm huyết và

kỳ vọng, cũng đã mang lại cho Nguyễn Đình Thi những thành công không ít Nhắc đến kịch của Nguyễn Đình Thi, người ta nhớ ngay đến những tác phẩm

có giá trị : Nguyễn Trãi ở Đông Quan, Rừng trúc, Con nai đen, Cái bóng trên tường, Người đàn bà hóa đá ở những tác phẩm kịch của mình, Nguyễn Đình Thi vừa quan tâm tới việc phản ánh hiện thực cuộc sống một cách trực tiếp và vừa đặc biệt chú ý đến những vấn đề hệ trọng đặt ra cho muôn đời: thiện và ác, chính và tà, hạnh phúc và bất hạnh

Nói đến Nguyễn Đình Thi, nhiều nhà nghiên cứu đã nhận xét: nét đặc sắc nhất ở ông là một tài năng nhiều mặt Là một trong những người hoạt động văn nghệ chủ chốt từ những ngày đầu Cách mạng tháng Tám đến nay, ông đã có những đóng góp quan trọng trong nhiều phương diện sáng tạo nghệ thuật Có thể hình dung ông như một con ong cần mẫn, miệt mài đem lại mật ngọt cho đời Chính vì thế, Nguyễn Đình Thi có một vị trí không thể thay thế được trong nền văn nghệ cách mạng và trong lòng của bạn đọc bao thế hệ

Ngày 18- 4- 2003, ông đã vĩnh viễn từ giã cõi đời do không qua khỏi căn bệnh hiểm nghèo, mặc dù được sự quan tâm chăm sóc của Đảng, chính phủ, gia đình và tập thể thầy thuốc tận tình cứu chữa Nguyễn Đình Thi ra đi đã để lại niềm thương tiếc cho bao người còn ở lại

Nguyễn Đình Thi sáng tác tương đối sớm và mau chóng "nặng nợ" với văn chương Trong tất cả các thể loại mà Nguyễn Đình Thi sáng tác, kịch ra đời khá muộn, bởi lẽ kịch rất cần sự trải nghiệm Là một nhà văn có vốn văn hóa sâu rộng, Nguyễn Đình Thi đến với văn chương từ tri thức sách vở và từ sự

Trang 20

quan sát cuộc sông thường nhật Ông rất quí và xem trọng kinh nghiệm sống, ông cho rằng nếu không kinh qua, không nếm trải nhưng đắng cay của cuộc đời thì khó có thể sáng tác: "Nếu không từng trải, không hiểu biết về thực tế đời sống thì có gì mà viết, cũng như không có gạch ngói vôi cát tre gỗ thì sao làm được nhà" (32, 104)

Năm 1946, khi viết bài tiểu luận Kịch Bắc Sơn, Nguyễn Đình Thi khiêm tốn cho rằng mình "chẳng biết gì về nghề kịch", chỉ xin "dựa cột mà nghe" và thật lâu sau đó Nguyễn Đình Thi mới bắt đầu sáng tác kịch (Con nai đen - 1961) nhưng những lời nhận xét xác đáng của Nguyễn Đình Thi về Kịch Bắc Sơn cho ta thấy ông đã thật sự quan tâm tới kịch, đã bắt đầu "bén duyên" với kịch: "( ) theo ý tôi, vấn đề kỹ thuật không phải là vấn đề then chốt của vở kịch Bắc Sơn Trận đánh chung quanh Bắc Sơn là về nội dung của nó kia ( ) Đấy là điều đáng chú ý nhất và cần nhấn mạnh nhất" (32, 38)

Đến với kịch, Nguyễn Đình Thi dồn cả lòng nhiệt thành và tâm huyết của mình Ông đã khơi nguồn sáng tạo từ văn hóa dân tộc với một tấm lòng trân trọng Ông yêu quí, chắt chiu giá trị của từng câu chuyện cổ, chuyện dân gian, những giai thoại có ý nghĩa trong quần chúng Tìm cái mới cho nội dung, cho hình thức trong sáng tạo nghệ thuật là phẩm chất quen thuộc của ngòi bút Nguyễn Đình Thi Ong giông như một người bộ hành không hề mệt mỏi luôn kiên trì, vững vàng tiến về phía trước dù cho có bao nhiêu khó khăn, trắc trở trên con đường mình đã và sẽ đi qua Tuy vậy, lúc nào ông cũng có thái độ khiêm tốn thật đáng kính trọng:

" Tóc bạc trong mưa bay anh cười Tôi không nói được mình đã trải đời

Không nói được mình đã hiểu người Không dám nói mình đã biết yêu Không dám nói mình đã biết sống Mỗi bước mùa xuân đến kia dịu dàng trên cỏ non Cái tổ ong hồn tôi cuống quýt rộn ràng "

( Tóc bạc - Nguyễn Đình Thi)

Trang 21

1.2.1 K ịch viết về đề tài lịch sử

Tổ quốc Việt Nam được thanh bình, thịnh vượng như ngày hôm nay cũng chính nhờ ở cồng lao dựng nước và giữ nước của các bậc tiền nhân Trải qua hàng bao thế kỉ dài đó, nền độc lập cũng như hạnh phúc của nhân dân ta phải được đánh đổi bằng máu và nước mắt Với truyền thống uống nước nhớ nguồn, lịch sử dân tộc bao giờ cũng được hậu nhân trân trọng và lưu truyền Đặc biệt

đề tài về lịch sử rất được sự quan tâm của nhiều ngành nghệ thuật: hội họa, sân khấu, điêu khắc Riêng về văn học, lịch sử dân tộc được tái tạo nhiều trong thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết Kịch tuy ra đời có muộn, nhưng cũng có những đóng góp đặc sắc về mảng đề tài này Nhất là vào cuối những năm 30, đầu những năm 40 của thế kỷ trước, kịch viết về đề tài lịch sử là những hiện tượng rất đáng chú ý Có những tác phẩm kịch vừa ra đời đã được nhiều người biết đến và nhận chân được giá trị như hai vở kịch thơ mở đầu cho mùa kịch thơ về

đề tài lịch sử: Trần Can và Lý Chiêu Hoàng của Phan Khắc Khoan, các vở kịch của Nguyễn Huy Tưởng: Vũ Như Tô, Cột đồng Mã Viện, Bắc Sơn và hàng loạt các vở kịch khác: Hưng Đạo đại vương (Trần Văn Bích), Trận giết Liễu Thăng (Đỗ Hoàng Lạc), Ngọc Hân (Tân Phương), Trại Lam Sơn (Phan Xuân Thiện), Trưng Vương (Phạm Thao)

Trong suốt cả chiều dài lịch sử, có biết bao giai đoạn, biết bao sự kiện, cá nhân đáng để người nghệ sĩ quan tâm Họ có thể tự do lựa chọn nếu có sự am hiểu về lịch sử và cảm hứng lấy từ thời đại Bên cạnh đó tác phẩm của họ có thể chuyên chở được những khát vọng sáng tạo và gởi gấm được những ý tưởng nghệ thuật có giá trị Nguyễn Đình Thi viết Rừng trúc và Nguyễn Trãi ở Đổng Quan trong cùng một năm Rừng trúc được viết vào dịp Tết Mậu Ngọ, còn Nguyễn Trãi ở Đông Quan thì vào tháng chạp năm Mậu Ngọ (1978) Đây

là hai tác phẩm kịch rất có giá trị của Nguyễn Đình Thi và cũng là những vở kịch mà Nguyễn Đình Thi rất tâm đắc Có tài liệu kể lại khi viết xong vở Rừng trúc Nguyễn Đình Thi ôm bản thảo đến đoàn kịch Trung ương đọc cho các nghệ sĩ và đạo diễn Đào Mộng Long, Phạm Thị Thành và Tuệ Minh nghe, cả

ba đều tấm tắc khen hay và dự định dàn dựng ngay nhưng không thành, để đến

Trang 22

21 năm sau (10/1999) Rừng trúc mới được hiện diện trên ánh đèn sâu khấu, bước vào thế giới hình sắc, xứng đáng với tầm vóc của nó

Ở rừng trúc, Nguyễn Đình Thi đã khai thác ngay những xung đột lịch sử ở thời điểm cao nhất: lúc triều Lý đã suy vong và ngôi vua đã về tay nhà Trần được 11 năm Khi ấy, Trần Thái Tông đã 20 tuổi, hoàng hậu Chiêu Thánh 19 tuổi Lấy lý do Vua và hoàng hậu chưa có con nối nghiệp, thái sư Trần Thủ Độ cùng vợ là Công chúa Thiên Cực(Trần Thị Dung) sắp đặt cho công chúa Thuận Thiên (vợ Trần Liễu - chị Chiêu Thánh) đã có mang ba tháng lấy Trần Thái Tông Với sự kiện loạn luân này, nhà Trần lục đục, Trần Liễu nổi loạn, Thái Tông bỏ lên Yên Tử tìm đến cửa Thiền Trần Thủ Độ theo lên Yên Tử quyết rước vua về Do thù trong giặc ngoài và sự an nguy của quốc gia, Trần Thái Tông chấp thuận trở về kinh đô để chấn hưng đất nước

Ở phương diện nào đó, có thể xem Rừng trúc lù một bi kịch lịch sử Dưới ngòi bút của Nguyễn Đình Thi, các nhân vật hiện lên thật ân tượng, sắc nét, thể hiện được cá tính của từng người: Trần Thủ Độ cơ mưu quyền biến, được xem như là bậc khai quốc công thần của triều Trần, không từ một thủ đoạn nào để đem và giữ vững giang sơn xã tắc cho dòng tộc nhà mình; Thiên Cực công chúa đa mưu túc trí, khôn ngoan toan tính những điều mà bà cho là có lợi cho triều Trần Việc sắp đặt cho Trần Thái Tông lấy công chúa Thuận Thiên phần lớn cũng do miệng lưỡi dẻo ngọt của bà tác động vào; Trần Cảnh (ông vua đầu nhà Trần) thì hiền đức, khoan dung, mộ đạo, được mọi người yêu mến nhưng

từ bé sớm chịu mọi sự sắp đặt của Trần Thủ Độ; hoàng hậu Chiêu Thánh hiền hòa nhưng cương quyết, bằng nhưng lời lẽ trầm tĩnh nhưng sắc bén như một lưỡi dao nàng đã khiến cho những kẻ làm khổ nàng không thể nào yên lòng được; Trần Liễu vì mất vợ phẫn uất, điên cuồng manh động; Thuận Thiên như con cờ trong tay Trần Thủ Độ và mẹ mình

Ngần ấy nhân vật được Nguyễn Đình Thi xây dựng thật thành công Vở kịch chỉ hơn 100 trang sách nhưng thể hiện được khả năng sáng tạo lớn của Nguyễn Đình Thi Mỗi lời, mỗi chữ trong tác phẩm đều đã kinh qua sự suy

Trang 23

nghĩ, cân nhắc thật kĩ lưỡng của một trí tuệ lớn Tác phẩm kết thúc thật yên ổn: Trần cảnh và Trần Liễu giảng hòa, vua sống bên hoàng hậu Thuận Thiên và chăm lo việc nước, Chiêu Thánh bằng lòng với cuộc sống giản dị, bình lặng của mình nhưng ta vẫn ngầm hiểu rằng cơn sóng gió ba đào vẫn nổi lên từng lúc, khó có thể nào yên được trong lòng họ

Đến Nguyễn Trãi ở Đông Quan, Nguyễn Đình Thi đã xây dựng một nhân vật lịch sử có tầm vóc lớn Nhắc đến Nguyễn Trãi người ta nghĩ ngay đến một nhà thơ, nhà quân sự tài hoa lỗi lạc có một tâm lòng bao la như biển Phạm Văn Đồng đã từng suy tôn ông: "Nguyễn Trãi, người anh hùng của dân tộc, văn võ song toàn, văn là chính trị, chính trị cứu nước, cứu dân ( ), võ là quân sự: chiến lược và chiến thuật ( ), văn và võ đều là vũ khí, mạnh như vũ bão, sắc như gươm dao" (35, 34) Nguyễn Đình Thi đã chọn khoảng thời gian mười năm Nguyễn Trãi bị quân Minh giam lỏng ở Đông Quan để hình thành nên vở kịch của mình Đây là khoảng thời gian mà trong tiểu sử Nguyễn Trãi chính sử không nói đến nhiều, vì vậy ta càng thấy được năng lực sáng tạo thật dồi dào của ông Trong danh tướng Việt Nam (tập 2) của Nguyễn Khắc Thuần chỉ có mấy dòng ghi lại bối cảnh lúc đó: Nguyễn Trãi bị Hoàng Phúc và Trương Phụ giam lỏng ở kinh thành Thăng Long với mục đích dụ dỗ mua chuộc để ông ra làm quan phục vụ cho chúng nhưng ông kiên quyết từ chối và ẩn nhẫn chờ thời Cho đến giờ, lịch sử vẫn không nói rõ ông đã thoát khỏi cảnh giam lỏng đó bằng cách nào và đến gặp Lê Lợi vào thời điểm cụ thể nào, chỉ biết đó là lúc nghĩa quân Lam Sơn đang ở trong tình thế khó khăn gian khổ nhất và ông đã cùng Lê Lợi chung vai sát cánh để dựng nên nghiệp lớn Trong quyển Lịch sử Việt Nam (tập 1) có viết: Đây là thời kì Nguyễn Trãi sống trong cảnh "no nước uống thiếu cơm ăn" (thơ nôm Nguyễn Trãi), phải tạm thời nhẫn nhục để che mắt quân thù, đồng thời suy tính phương cách đuổi giặc cứu nước (13, 240) Lịch sử chỉ ghi lại ít dòng đơn giản như vậy nhưng bằng tài năng sáng tạo của mình, Nguyễn Đình Thi đã dựng lại thật thành công khoảng thời gian mười năm gian khổ của Nguyễn Trãi, ông đã sống trong lòng nhân dân, trong sự che chở, đùm bọc của nhân dân và trốn tránh nanh vuốt của kẻ thù Nguyễn Trãi và

Trang 24

các nhân vật xung quanh ông xuất hiện trong trang viết của Nguyễn Đình Thi một cách thật xuất sắc với vai trò của mình Người ta nhận thấy một Nguyễn Trãi sống thanh đạm nhưng hiên ngang, mềm mỏng nhưng kiên quyết, trước kẻ thù không hề nao núng, run sợ Trương Phụ thì hống hách, gian ác Hoàng Phúc khôn ngoan, mưu sâu kế độc Trần Nguyên Hãn yêu nước, thức thời Ngoài ra tác phẩm không thiếu những tình cảm ấm áp của những người dân nghèo, hiền lành, tốt bụng như Cúc, người con gái dệt lụa phường Nghi Tàm, Bác An thợ rèn, cô đào hát Ngọc Xuyên, cô gái câm Bích Thảo Và cũng không vắng bóng những tên chó săn đầu hàng nhà Minh một cách nhục nhã như Nguyễn Đại, Bùi Bá Kỳ, những tên chỉ điểm Chính vì được tiếp xúc với nhiều loại người như vậy Nguyễn Trãi càng thấy được rõ ràng hơn nỗi thống khổ của nhân dân và sự gian ác tột cùng của kẻ thù đối với người dân lành vô tội Những điều mắt thấy tai nghe đó đã bắt Nguyễn Trãi phải suy nghĩ, không lúc nào yên Ông bị giày vò đau đớn, muốn vượt lên trên hoàn cảnh khó khăn hiện tại để tìm ra con đường cứu nước Ông tự dặn mình phải tỉnh táo và tuyệt đối phê phán những cách nghĩ, cách làm không đúng: "Một ông quay lưng lại việc đời, tìm một góc vắng để chết một mình cho sạch Một ông lẫm liệt nhảy vào mũi dao của chúng nó để chết cho anh hùng Các ông muốn đánh lại chúng

nó nhưng mà cái đầu của các ông chỉ nghĩ được trong vòng cái khuôn của chúng nó" (phê phán cách nghĩ của hai tiến sĩ Lê Cảnh Tuân và Vũ Mộng Nguyên) (30, 469) Như vậy, theo Nguyễn Trãi, người anh hùng thức thời là phải sống, phải tỉnh táo để tìm ra kế sách đuổi giặc cứu nước Tác phẩm kết thúc trong cảnh Nguyễn Trãi cùng Trần Nguyên Hãn tìm vào đất Lam Sơn, đến đầu quân Lê Lợi Đây là một quyết định quan trọng và sáng suốt trong cuộc đời Nguyễn Trãi, đồng thời cũng là may mắn cho Lê Lợi có được Nguyễn Trãi như

cá thêm vi Hai người tạo thành một sức mạnh tổng hợp cùng lãnh đạo nghĩa quân đập tan các ách xâm lược phương Bắc và thống nhất vẹn toàn lãnh thổ nước ta

Để sáng tác được những vở kịch về đề tài lịch sử đòi hỏi ở mỗi tác giả ngoài tài năng cần phải có tấm lòng và tâm huyết Xét toàn bộ các mảng đề tài kịch của Nguyễn Đình Thi thì có thể nhận thấy đây là mảng đề tài ông viết

Trang 25

thành công hơn cả Không chỉ thành công ở dung lượng dầy dặn của tác phẩm

mà còn ở nội dung tư tưởng, ở cái tâm, ở tấm lòng của tác giả dành cho tác phẩm

Truyện cổ tích, truyền thuyết vốn là những tác phẩm rất quí trong kho tàng văn học dân gian Nội dung của những tác phẩm ấy nhằm khuyên đời, răn người làm lành lánh dữ, làm thiện lánh ác nên nó được lưu truyền rộng rãi từ đời này sang đời khác và trong chúng ta không mây ai là không biết đến

Trong gia tài kịch quí báu của mình, có một số tác phẩm Nguyễn Đình Thi đã khéo chọn nội dung cốt truyện từ những truyện cổ tích truyền thuyết và phả vào đó sức sống, hơi thở của cuộc đời thật để nó được gần gũi hơn với đời sông hiện đại, có thể kể: Người đàn bà hóa đá, Cái bóng trên tường, Trương Chi, Con nai đen Tuy là chuyện xưa nhưng ngẫm nghĩ sâu xa thời nào lại chẳng có, những bi kịch, những buồn vui đau khổ của đời người

Người đàn bà hóa đá và Cái bóng trên tường đều nói đến cái định mệnh nghiệt ngã, tàn khốc của con người, đặc biệt là của người phụ nữ Dầu trong đau khổ, ở họ vẫn bừng lên nét đẹp tâm hồn thật đáng quí: thủy chung, đoan chính, hiền dịu và thậm chí có thể hy sinh cả mạng sống của mình để chứng minh lòng trinh bạch, trong trắng đối với chồng Người đàn bà hóa đá là vở kịch Nguyễn Đình Thi sáng tạo dựa vào truyền thuyết Đá vọng phu: hai anh em ruột lấy nhau mà không tự biết, sau do tình cờ người chồng phát hiện ra sự thật, quá đau khổ anh bỏ đi biền biệt, chị vợ ngày đếm thương nhớ chồng bồng con lên núi ngóng trông đến khi hóa đá Nhân gian có câu hát truyền tụng lại:

"Đồng Đăng có phô Kì Lừa - Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh" để ghi lại hình ảnh bất tử của người thiếu phụ chờ chồng Khác với câu chuyện cổ, trong

vở kịch của Nguyễn Đình Thi còn có nhân vật ông già tiêu phu - người hàng xóm tốt bụng biết rõ sự tình đã khuyên người chồng đi ngay sau khi biết chuyện Ông giống như là một chứng nhân của lẽ phải và đạo lý, không thể nào chấp nhận một sự việc mang tính loạn luân như vậy Đọc vở kịch này người ta

dễ nghĩ ngay đến vở ơđip làm vua (Xôphốc) của sân khấu Hy Lạp, con lấy mẹ

Trang 26

mà không biết Sự việc tày trời không thể nào chấp nhận đó theo sân khấu Hy Lạp là một phán xét của thần linh, khó có thể cưỡng lại Vở Cái bóng trên tường được Nguyễn Đình Thi chuyển thể từ truyện Người con gái Nam Xương một trong 20 truyện in trong quyển Truyền kì mạn lục của tác giả Nguyễn Dữ ở vào thế kỉ thứ XVI Trong phần nhiều truyện của mình, Nguyễn Dữ xây dựng nhân vật chính diện chủ yếu là những người phụ nữ bình thường, có phẩm chất tốt đẹp, khao khát hạnh phúc, nhưng gặp nhiều bất hạnh, đau khổ trong cuộc đời Người phụ nữ trong truyện Người con gái Nam Xương cùng vậy, một người phụ nữ nết na, đức hạnh đã gặp phải nỗi oan không thể thanh minh đến nỗi phải lấy cái chết để bày tỏ lòng mình Khi chuyển thể sang kịch, Nguyễn Đình Thi hầu như vẫn giữ nguyên cốt truyện trên, kể cả tên của nhân vật cũng không thay đổi nhưng bố cục câu chuyện có phần ngắn gọn hơn Mở đầu vở kịch là lúc chàng Trương đi lính trở về, bà mẹ đã mất nên toàn bộ vở kịch chỉ

có ba nhân vật (người chồng, người vợ và tiếng nói của đứa con) Nguyễn Đình Thi đã tạo ra không khí đầm ấm gia đình bằng tình cảm yêu thương và bàn tay chăm sóc của người vợ, người mẹ: mừng đến phát khóc khi thấy chồng về, lật đật trải chiếu, đặt đèn, bưng nước, dậy sớm lo bữa sáng cho hai cha con, xuýt xoa với vết thương trên vai chồng, chuẩn bị cơm, rượu, hương hoa cúng mẹ chồng/ Đây là hình ảnh người vợ thật lý tưởng đối với các chàng trai, bởi vậy người đọc rất dễ rơi nước mắt xót thương cho nỗi oan và sự bất hạnh của nàng, cũng như thầm tức giận cho tính đa nghi, cố chấp của người chồng, nguyên nhân xảy ra bi kịch Có vài chi tiết, dù nhỏ nhưng Nguyễn Đinh Thi đã thể hiện

sự sáng tạo của mình mà không nhất nhất theo sát bản truyện Ví dụ như trong truyện, hoàn cảnh mà đứa con nói ra câu nói tai hại để chàng Trương nghi ngờ lòng trinh bạch của vợ là ở ngoài mộ bà nó, lúc hai bố con đi thăm mộ, còn trong vở kịch của mình, Nguyễn Đình Thi để đứa trẻ nói ở nhà, lúc hai bố con mới bắt đầu trò chuyện Nếu ngẫm nghĩ ta thấy chi tiết trong vở kịch của Nguyễn Đình Thi hợp lý hơn vì đứa trẻ sẽ rất ngạc nhiên và phản đối cái người

mà mẹ nó bảo gọi là bố trong khi nó đinh ninh phải là người khác kia Vì là đứa trẻ nên nó sẽ nói ra ngay cái ý nghĩ chân thật của nó chứ không phải đợi đến lúc đi thăm mộ bà mới nói ra, biết kiềm giữ lòng mình như vậy thì nó không

Trang 27

còn là đứa trẻ con bốn tuổi nữa Chi tiết khác nhau thứ hai trong vở kịch là chàng Trương sau khi nghe Lời đứa trẻ nói thì vô cùng tức giận, đuổi vợ đi ngay, không muốn nhìn thấy vợ, không muốn nghe vợ nói, cũng không cho vợ vào nhà gặp con Còn trong tác phẩm truyện, thì họ hàng làng xóm nghe chuyện tới hết lời bênh vực và biện bạch cho nàng cũng không được, nàng khóc lóc giải bày cùng chẳng lay chuyển được chồng, nên nàng mới tắm gội chay sạch, ra bên Hoàng Giang mà tràm mình Ở chi tiết này, ta thấy điều tiên trong vở kịch nhanh hơn trong tác phẩm truyện, Nguyễn Đình Thi đã lượt bỏ bớt những tình tiết mà ông cho là không cần thiết Cuối cùng, trong vở kịch của mình, Nguyễn Đình Thi đã không xây dựng phần li kì về Vũ Nương sau khi nàng đã chết (được các nàng tiên ở thủy cung cứu sống, ẩn hiện trên dòng sông lúc gặp chàng Trương, kiệu hoa lộng lẫy, cờ tán, võng lọng rực rỡ ) mà là chỉ

có bóng người vợ dịu dàng hiện đến bên chồng Bóng hình người vợ thân thương ấy không_ chút oán trách chàng Trương, mà chỉ là những lời yêu thương, dặn dò: "Anh thay em mà trông nom con anh nhé Anh vừa làm bố vừa làm mẹ cho con Rồi sau này anh tìm một người làm bạn, anh tìm người nào biết thương con" ; "Nếu anh vẫn yêu thương em, thì đến lúc anh không còn nhớ

rõ được nét mặt em, lúc ấy em vẫn ở gần anh nhất, lúc ấy em chẳng còn bóng hình, nhưng em vẫn ở cùng với anh với con " (30, 637) Những lời nói ấy khiên chàng Trương đau đớn như ngàn vết dao cắt vào lòng và khó có thể nào quên được người vợ yêu quí của mình Về phần độc giả, hình ảnh người vợ bất hạnh hiện lên trong giấc mơ của chồng với những lời lẽ bao dung, ân cần sẽ khiến cho họ vô cùng cảm động và nhận thấy tính chất đời thường, sự gần gũi với cuộc sông hiện tại hơn là những hình ảnh li kì, hoang đường trong tác phẩm truyện

Sáng tác vở Trương Chi, Nguyễn Đình Thi rất tâm đắc với câu chuyện cổ xưa, cả tên tác phẩm cũng không đổi (Truyện Trương Chi), nhân vật chính cũng vậy (Trương Chi, Mị Nương) Câu chuyện kể về chuyện tình buồn của chàng Trương Chi và nàng Mị Nương Trương Chi được giới thiệu là một chàng trai đánh cá có giọng hát thật hay, thật lôi cuốn khiến cho Mị Nương, cô gái con quan thừa tướng có nhan sắc tuyệt trần ngày ngày nghe tiếng hát của

Trang 28

chàng mà xao xuyến say mê Đến khi gặp được Trương Chi, người mà nàng tưởng là sẽ rất khôi ngô và thông minh nhưng không ngờ lại quá tầm thường và xấu xí khiến nàng vô cùng thất vọng về phần Trương Chi, tủi cho thân phận nghèo hèn và xấu xí của mình, không thể sánh cùng Mị Nương nên đã nhảy xuống sông tự vẫn sau khi cất lên lời hát:

U

" Kiếp này đã dở dang nhau

U

Thì xin kiếp khác, duyên sau lại lành "

Sau khi chết, hồn Trương Chi nhập vào cây gỗ bạch đàn và cứ vấn vương mãi Thấy gỗ tốt người ta tiện thành chén uống trà Kỳ lạ thay, mỗi khi rót nước vào chén thì lại hiện lên hình ảnh người chèo thuyền đánh cá và văng vẳng tiếng hát năm xưa như than, như trách Mị Nương nhìn thấy Trương Chi chạnh lòng thương tiếc mối tình đã qua, giọt nước mắt của nàng rơi xuống chén nước, chén nước vỡ tan

Ở vở kịch này, Nguyễn Đình Thi cũng rất "tiết kiệm" nhân vật, ông chỉ đưa lên sân khấu có ba nhân vật: Trương Chi, Mị Nương, bà vú mà bỏ qua nhân vật quan thừa tướng hay nói khác hơn quan thừa tướng chỉ là nhân vật

"ẩn", nhân vật được nhắc đến Trái lại bà vú (nhân vật không có trong tác phẩm truyện) lại xuất hiện hầu hết trong vở kịch của Nguyễn Đình Thi Bà là người chứng kiến được chuyện tình bi thảm giữa Trương Chi và Mị Nương từ đầu đến cuối Đồng thời, bà là người đầy tớ trung thành, người bạn thân thiết quan tâm, chia sẻ cùng cô chủ của mình trong những khoảnh khắc chờ mong tưởng chừng như vô vọng, những cơn đau ốm bỏ ăn bỏ ngủ Có thể nói qua nhân vật

bà vú, qua những lời tâm sự của Mị Nương cùng bà, người đọc mới có thể hiểu hết những tâm tư tình cảm thầm kín của Mị Nương

Điểm sáng tạo thứ hai trong vở kịch khác với tác phẩm truyện là chi tiết hồn Trương Chi nhập vào cây gỗ bạch đàn Trong tác phẩm truyện, sau khi Trương Chi nhảy xuống sông tự vẫn thì hồn nhập vào cây bạch đàn trôi trên sông, người ta vô tình vớt được và đem bán cho thừa tướng, thừa tướng thấy gỗ quí liền bảo thợ tiện thành bộ chén trà Còn trong vở kịch, sau khi Trương Chi chết, xác được chôn dưới gốc bạch đàn, những lúc thanh vắng, người ta nghe

Trang 29

có tiếng hát văng vẳng lẫn trong tiếng cành lá rì rào, thừa tướng nghe chuyện mới sai người chặt cây đem đốt đi Ông lão tiều phu thấy gỗ trắng, tốt mới lấy một ít về gọt thành chén Thấy chiếc chén có điều kì lạ, ông lão bèn giữ kín và mang chén lại phủ thừa tướng đưa cho Mị Nương So sánh chi tiết này trong vở kịch và tác phẩm truyện ta thấy dù có đồi chút khác nhau nhưng chung qui lại đều nói đến sự nhiệm mầu của chiếc chén gỗ Tuy nhiên, có lẽ điều đáng nói nhất trong vở kịch là chuyện tình của Trương Chi và Mị Nương đã được sự quan tâm và thông cảm của nhân dân (mà đại diện là ông lão tiêu phu) Ong đã bát châp sự can thiệp của thừa tướng đối với họ, kể cả sau khi Trương Chi chết (cho chặt và đốt cây gỗ bạch đàn), lại dám mang chiếc chén gỗ có hình bóng Trương Chi đến tận phủ thừa tướng, tìm cách chuyển đến tay Mị Nương

Ở cuối vở kịch, lúc sự kiện kì lạ xảy ra sau khi giọt nước mắt của Mị Nương nhỏ xuống chén nước, Nguyễn Đình Thi cũng có những sáng tạo khác với tác phẩm truyện Trong tác phẩm truyện, khi nước mắt của Mị Nương rơi xuống; thì chiếc chén vỡ tan thành nước Phải chăng nói đến một kết thúc không vui vẻ, một sự chia li mãi mãi Còn trong vở kịch thì khi đó Trương Chi

từ từ biến đi theo bóng con thuyền xa dần sau khi thốt lên những lời nói chân thành, đầy vẻ cảm thông đối với Mị Nương: "Một lời em nói với anh, một giọt nước mắt em nhỏ xuống, là như vậy mãi mãi rồi" Suy cho cùng Mị Nương đã hối hận, đã đau buồn và rơi nước mắt vì Trương Chi thì nên chăng để cho Trương Chi cảm thông và tha thứ cho Mị Nương, thiết nghĩ đó cũng là một kết cục hợp lý

Con nai đen là vở kịch Nguyễn Đình Thi phỏng theo một truyện cổ tích nước Ý Năm 1954, nhân một chuyến sang Nga công tác và được xem múa rối

vở Vua nai của tác giả người Ý Carlo Gozzi, Nguyễn Đình Thi rất tâm đắc với nội dung câu chuyện được xem nên một thời gian sau khi về nước ông bắt tay vào viết vở kịch, vở kịch vừa ra đời đã nhanh chóng được dàn dựng trên sân khấu Nhà hát lớn Hà Nội (đạo diễn Thế Lữ) và được nhiều người biết đến Tuy nhiên, sau đó nó bị sự phê phán của những người quản lý văn hóa - văn nghệ nhìn từ góc độ chính trị khi cho rằng vở kịch đã chạm đến những vấn đề thời sự

Trang 30

của đất nước lúc bấy giờ, thế là theo thông lệ thời ấy, vở kịch bị "xếp lại" và dần dần rơi vào quên lãng Mãi đến hơn 20 năm sau, năm 1983, nghĩ về vở kịch đầu tiên của mình, Nguyễn Đình Thi đã sửa lại theo hướng cô đọng hơn và trong một lần có dịp trở lại Nga, Nguyễn Đình Thi may mắn tìm được nguyên bản tác phẩm Vua nai của tác giả người Ý Carlo Gozzi trong một tiệm sách cũ Rất vui mừng khi đọc được tác phẩm này, Nguyễn Đình Thi quyết định không sửa chữa gì thêm ở kịch bản Con nai đen vừa được sửa chữa và sau đó ông cho

in trong tuyển tập kịch của mình (Nxb Văn học, 1993) Nội dung vở kịch rất hay và có ý nghĩa kể về đất nước có một vị vua và hoàng hậu đức độ, nhân từ, giàu lòng thương yêu nhân dân Trong triều có tên quận công vốn là người gian

ác và có phép thuật phù thủy, thấy hoàng hậu xinh đẹp hắn muốn chiếm đoạt cho riêng mình nên đã dùng phép thuật biến nhà vua thành con nai đen, còn hắn thì đội lốt nhà vua Xung đột vô cùng căng thẳng giữa nhà vua thật trong hình hài con vật và lão quận công trong hình hài nhà vua cho đến khi hồn nhà vua trong xác con nai đen nhập vào xác ông lão hát rong và trở về triều để vạch

rõ chân tướng sự thật Với sự giúp sức của hoàng hậu sự thật đã được sáng tỏ, lão quận công phải đền tội bằng cái chết của mình và nhà vua đã trở về với hình hài thật sống vui vẻ, hạnh phúc bên cạnh hoàng hậu cùng thần dân trăm

họ

Hòn cuội (1987) là một vở kịch hài, mà theo Marian Tkatchep gọi là "hài kịch thần tiên" Đây là một vở kịch tương đối dài được Nguyễn Đình Thi bỏ khá nhiều tâm huyết để xây dựng Thoạt đọc, kịch có nhiều tình tiết có vẻ vui tươi, dí dỏm nhưng ngẫm nghĩ sâu xa quả thật là cười ra nước mắt Nhân vật được Nguyễn Đình Thi tỏ ra đặc biệt thích thú là Cuội Với những lời nói và hành động thông minh, nhanh nhẹn, lém lỉnh của mình, Cuội đã đứng về phía người nghèo khổ, bất hạnh để dành lấy sự công bằng cho họ và ngang nhiên chống lại những người có thế lực trong xã hội nhưng là sự chống đối có dự mưu, có tính toán khéo léo Tác phẩm với những tình tiết và lời đối đáp thú vị gây cuốn hút người đọc từ đầu đến cuối Sau chuyến giao du nhân gian ấy, Cuội đã trở về nơi chốn thật của mình, làm chú Cuội ở cung trăng, lưu lại trần thế những tình cảm ấm áp khó quên giữa Cuội với những người dân hiền lành,

Trang 31

lương thiện như Thêu, cô gái diễn trò rong, ông già

Có thể nhận thấy kịch viết về đề tài này chiếm phân nửa trong tổng số kịch của Nguyễn Đình Thi Tuy nhiều về số lượng nhưng đa phần đó là những

vở kịch ngắn được phỏng theo những tác phẩm truyện cổ tích truyền thuyết trong dân gian Vì vậy, một số vở có nội dung rất quen thuộc với bạn đọc Điều chúng ta cần trân trọng là sự sáng tạo của Nguyễn Đình Thi khi chuyển thể sang kịch, làm cho tác phẩm mang sức sống của cuộc đời thật, nhân vật trở nên sống động và gần gũi hơn với con người hiện đại Tuy nhiên, công bằng mà nói, trừ Con nai đen, còn ngoài ra kịch viết về đề tài này của tác giả không được nhiều sự chú ý của bạn đọc và công chúng

Trải qua hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, kịch nói đã ra đời

và ngày càng phát triển lớn mạnh Đặc biệt kịch viết về thời kháng chiến chống Pháp- Mỹ thì rất nhiều, có thể nhắc đến tên tuổi của một số kịch tác gia với các tác phẩm như: Nguyễn Huy Tưởng, Bắc Sơn, Những người ở lại, Tờ báo, Anh

Sơ đầu quân ), Học Phi (Chị Hòa, Một đảng viên, Ni cô Đàm Vân, Cô hàng rau ), Đào Hồng cẩm (Trước giờ chiến thắng, Chị Nhàn, Nối gió ), Nguyễn

Vũ (Đất, Nàng bắn lén, Mùa xuân, Ngọn lửa ) Hòa vào không khí chung đó

và cũng để thể hiện tấm lòng yêu nước, căm thù giặc sâu sắc của mình, Nguyễn Đình Thi cũng góp vào mảng đề tài này một vài tác phẩm như: Hoa và Ngần, Tiếng sóng, Giấc mơ So với một số tác giả khác và xét trong khoảng thời gian Nguyễn Đình Thi sáng tác kịch (nằm trong và sau kháng chiến chống Mỹ) thì

số lượng tác phẩm kịch Nguyễn Đình Thi viết về kháng chiến không nhiều nhưng đó là những tác phẩm mô phỏng khá chân thực và cảm động về bối cảnh cuộc sông và chiên đấu của dân tộc

Hoa và Ngần là một vở kịch viết về Hà Nội trong những năm kháng chiến chống Mỹ, từ năm 1956 đến năm 1973 Hoa và Ngần là tên của hai nhân vật chính trong tác phẩm, cũng là hai người bạn rất mực thân thiết với nhau Hoa là

y sĩ và Ngần là giáo viên Họ rất nhiệt tình với công việc và với cách mạng, tự nguyện ở lại Hà Nội, bám giữ Hà Nội, cả vào những lúc bom đạn kẻ thù điên

Trang 32

cuồng tàn phá Họ vẫn kiên cường sống với bộn bề công việc, với hiểm nguy rình rập và với nỗi đau của những mất mát trong chiến tranh Cùng với họ, hàng loạt nhân vật khác cũng có những cảnh ngộ khó khăn, gian khổ riêng như: Chị Mười, Khánh, Duyên, Bảo, Lâm, Bình Tất cả những người họ đều khao khát được sống tự do Họ không ngần ngại vượt qua những khó khăn, thử thách của cuộc đời để xả thân vì cách mạng Tác phẩm kết thúc vào lúc tình hình chiến sự có phần sáng sủa hơn: Mỹ ký tắt Hiệp định Pa-ri, cam kết rút quân ra khỏi Việt Nam Đây thật sự là niềm vui lớn lao của tất cả mọi người Chiến tranh gần tàn, con người có nhiều niềm hy vọng và hạnh phúc khi được gặp lại những người thân yêu: anh Mười, Bảo, Bình từ chiến trường trở về, từ nhà tù của giặc trở về Ngoài niềm vui sum họp, sự trở về của họ còn báo hiệu sự thắng lợi tất yếu của đất nước, bởi không gì có thể tiêu diệt nổi sức mạnh của những con người yêu nước tự nguyện xả thân vì sự nghiệp giải phóng dân tộc Đến vở Tiếng sóng, trong sáu phân cảnh của vở kịch thì có ba cảnh (cảnh một, hai và bốn) là viết về thời kháng chiến chống Pháp- Mỹ, về những con người Việt Nam trong kháng chiến, cảnh một: hiện lên những con người nghèo khổ, nhỏ bé, buồn bã của thời kháng chiến chống Pháp: hai người thợ đàn bà đi làm đến đêm mới về như những chiếc bóng, người đàn ông say sưa hát nghêu ngao, tiếng em bé khóc thét đòi mẹ, hình ảnh người đà bà lầm lũi chôn con Đặc biệt, Nguyễn Đình Thi dồn tâm lực của mình vào ngòi bút ở đoạn cuối, lúc

bà Nhiêu tìm gặp đầu chồng treo lẫn với các quả bưởi trên cành Không còn hình ảnh nào để diễn tả sự tàn ác, nhẫn tâm của bọn giặc hơn hình ảnh ây Và chính hình ảnh ây và cảnh tượng bà lão Nhiêu run rẩy, đau đớn khóc than thảm thiết trước cái chết của chồng mình đã thức tỉnh tấm lòng của người lính canh, thức tỉnh tình thương của những người vốn là nam quốc nam nhân với nhau Anh lính tự nguyện giúp bà gỡ những đầu người cho vào bọc vải rồi cùng đi với bà Anh đã từ con đường tối đi theo con đường sáng, đi theo tiếng gọi của dân tộc mình Cảnh hai: nội dung cảnh kịch lồng ghép câu chuyện của mẹ và con ở cả hai cuộc kháng chiến Hiện tại là kháng chiến chống Mỹ và quá khứ (người mẹ nhớ lại) là kháng chiến chống Pháp Tuổi trẻ tươi đẹp hừng hực nhiệt huyết cống hiến cho cách mạng của cô gái khiến người mẹ nhớ lại thời

Trang 33

tuổi trẻ của mình Lúc ấy bà là một nữ cứu thương trẻ đẹp tình nguyện ở lại cùng các chiến sĩ quyết tử thủ đô Bà thương anh chiến sĩ tự vệ thành và có con cùng với anh là cô gái trẻ bây giờ Ngày anh ra đi cùng đồng đội bắt đầu trận đánh, bà định báo tin vui là mình đang mang trong người giọt máu của anh, nhưng không kịp, anh đã ra đi mãi mãi không về Cô gái lớn lên thật tự nhiên, vui tươi hồn nhiên trong tình yêu thương của mẹ và người bố nuôi sau này Cô không biết được sự thật cho đến khi cô hai mươi tuổi, lúc người mẹ thấy cô đủ lớn để có thể nói rõ với cô Và cô gái đã không phụ lòng bà mẹ, thế hệ thanh niên lớn lên trong cách mạng đã thật vững vàng trước nghịch cảnh của cuộc đời Cô khá bình tĩnh đón nhận với tấm lòng yêu kính và biết ơn cả hai người

bô của mình, người có công sinh thành và người có cồng dưỡng dục Qua đó,

cô cũng hiểu được thực chất của cuộc chiến tranh đã cướp đi biết bao sinh mạng con người, trong đó có bố cô và cũng làm trỗi dậy tấm lòng bao dung, nhân hậu, sẵn sàng chở che, gánh vác như người bố nuôi của cô để cô có được cuộc sống hôm nay Cảnh bốn: Thời gian đang ở vào giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Pháp, bối cảnh là khu bệnh nhân cách ly của một bệnh viện kháng chiến trong rừng, mọi thứ đều đơn sơ, thiếu thốn Nguyễn Đình Thi bằng ngòi bút thắm đượm tình thương của mình đã xây dựng thật thành công hình tượng các nhân vật, đặc biệt là hoàn cảnh khó khăn tội nghiệp của vợ chồng anh bộ đội Bằng hành động, lời nói và các cử chỉ chăm sóc, đỡ đần vợ, anh bộ đội đã thể hiện tấm lòng chan chứa yêu thương vợ của mình, nhưng anh không thể ở suốt bên vợ bởi anh còn mang nặng trên vai một nhiệm vụ thiêng liêng khác, nhiệm vụ đối với đất nước, với sự sông còn của dân tộc Nhìn vợ hóc hác, mệt mỏi vì bệnh tật, anh đau đớn trong lòng chỉ biết nói những câu an ủi vợ và

hy vọng một ngày đất nước được toàn thắng, vợ chồng cùng trở về Hà Nội tìm lại ngôi nhà cũ, mái ấm yêu thương ngày xưa Phút chia tay giữa hai người thật cảm động, chồng thương vợ ở lại trong cơn đau yếu, vợ thương chồng ra nơi trận mạc sống chết không biết thế nào, giã từ nơi bến sông này không biết có còn gặp lại nhau không, họ nghẹn ngào quyến luyến mãi không muốn rời Không cần phải diễn giải rườm rà, phức tạp, chỉ cần xây dựng nên tình cảnh xúc động lòng người này, Nguyễn Đình Thi đã thành công trong việc tố cáo tội

Trang 34

ác chiến tranh Chiên tranh đã chia chồng rẽ vợ trong những lúc người ta thật

sự cần có nhau nhất Chiến tranh đã khắc nên dáng vẻ cô đơn tôi nghiệp của người vợ khi mãi nhìn theo bóng dáng của chồng đến khi khuất xa

Giấc mơ là một vở kịch thơ được Nguyễn Đình Thi xây dựng khá thành công Loại kịch này có một thời gian rất được các tác giả kịch ưa chuộng, nhất

là khi chọn để viết về các đề tài lịch sử (theo thống kê từ năm 1940 đến 1945 kịch thơ chiếm đến 78% toàn bộ kịch về đề tài lịch sử) Nhân vật chính của vở kịch là người lính (sau là anh thương binh), bị thương nặng trong trận đánh với giặc Mỹ trên một mỏm đồi tưởng chừng như anh không thể nào sống nổi nhưng bằng ý chí kiên cường của người lính và chút hơi sức yếu ớt còn sót lại, anh đã chiến thắng được Thần chết để giành lấy sự sống Cuộc chiến tranh kết thúc, hậu quả nặng nề mà anh lính phải gánh chịu là anh chẳng nhớ được quá khứ của mình vết thương lớn ở đầu đã khiến anh quên đi tất cả, chẳng biết mình là

ai, tên gì, quê quán ở đâu, cha mẹ còn hay mất Sông giữa cuộc sống mới đang dần dần hồi sinh, anh không cảm thấy cô đơn lạc lõng, mọi người dành cho anh sự Ưu ái đặc biệt, các cụ già thương anh, trẻ em mến anh, anh cũng đã

có một công việc phù hợp với mình Tất cả những điều đó cũng phần nào giúp anh vơi đi nỗi đau riêng của mình Thế nhưng quá khứ qua đi chứ không thể nào biến mất, ông bà già đến tìm con, cô người yêu ngày xưa của anh đến tìm anh nhắc nhở lại những kỉ niệm ngày xưa khiến anh khao khát được biết về nguồn gốc của mình Chiến tranh đã hằn sâu dấu vết đau thương của nó lên cả một dân tộc chứ không chỉ riêng anh nhưng sống là phải tiến về phía trước chứ không phải mãi ôm quá khứ đau buồn để nhụt chí cùn lòng Hiểu được điều đó anh thấy vui hơn để hòa nhập vào cuộc sống mới, những gì đã qua như một giấc mơ mà anh muốn quên khi vừa thức dậy

Như vậy, trên đây là các vở kịch của Nguyễn Đình Thi được ông sáng tác trong gần 30 năm Như chính ông thú nhận, đó là khoảng thời gian ông say mê kịch nhất Nhà văn nói bằng tác phẩm của mình, điều tâm đắc đó đã thôi thúc Nguyễn Đình Thi sáng tác thật nhiều Mười vở kịch không phải là con số ít, nhất là khi đặt trong toàn bộ sáng tác của Nguyễn Đình Thi cả về nhạc, thơ,

Trang 35

tiểu thuyết, lí luận phê bình Thiên tư của Nguyễn Đình Thi quả thật phong phú, sức sáng tạo cũng vô cùng dồi dào Người ta vẫn thường gọi ông là nhà văn Nguyễn Đình Thi hay nhà thơ Nguyễn Đình Thi, hy vọng ngày càng có nhiêu công trình, bài viết nghiên cứu, tìm hiểu thêm về kịch của ông để người

ta sớm công nhận ông là nhà viết kịch Nguyễn Đình Thi

ĐÌNH THI

1.3.1 Nỗi suy tư, day dứt về lịch sử dân tộc - một thời đại nhức

Như đã giới thiệu ở phần trước, Nguyễn Đình Thi có hai vở kịch viết về

đề tài lịch sử là Rừng trúc và Nguyễn Trãi ở Đông Quan Các tác phẩm này tuy

có một số nhân vật và chi tiết hư cấu nhưng nhân vật chính và sự kiện chính thì được sáng tạo trên các sử liệu xác thực, tôn trọng lời ăn tiêng nói, trang phục, phong tục tập quán phù hợp với giai đoạn lịch sử ấy Người ta thường nói, thời gian như dòng chảy cứ mãi trôi đi nhưng quá khứ thì không bao giờ mất Có những quá khứ cứ tưởng sẽ nằm yên trong những trang vàng lịch sử nhưng mỗi khi giở ra lại thấy đau lòng, nhức nhối Các tác phẩm văn học lịch sử vốn thường mượn chuyện xưa để nói chuyện đời nay, hấp thu những bài học của quá khứ, bày tỏ sự đồng cảm với những con người và thời đại đã qua, nhưng không vì thế mà phá vỡ tính chân thực của thể loại

Rừng trúc dựng lại khoảng thời gian 20 năm từ 1237 đến 1258, lúc ngôi vua đã về tay nhà Trần Đây là giai đoạn nhà Trần đang củng cố để dần dần hưng thịnh Trần Thủ Độ với vai trò là quốc sư và cũng là chú họ của vua, được vua vô cùng kính nể và tin tưởng Ông quyết không phụ lòng tin cậy của vua nên ra sức bảo vệ giang sơn nhà Trần, bất cứ điều gì ông nghĩ là có hại cho

sự tồn vong của ngôi vua nhà Trần thì tìm mọi cách để diệt trừ Dù lắm mưu toan nhưng sử sách phải công nhận ông là một người tài giỏi hơn người Từ khi ngôi vua còn ở triều Lý, ông đã làm đủ mọi cách chiếm đoạt về tay nhà Trần, ông không từ một thủ đoạn nào kể cả bắt ép vua Lý Huệ Tông phải tự vẫn chết sau khi đã nhường ngôi vua lại cho con gái thứ là Lý Chiêu Hoàng, lúc đó mới

Trang 36

vừa bảy tuổi Với một vì vua bé bỏng miệng còn hôi sữa, Trần Thủ Độ dễ dàng tạo ra một cuộc hôn nhân giữa hai dòng họ Lý - Trần để rồi bắp ép Chiêu Hoàng phải nhường ngồi cho chồng mình là Trần Cảnh Từ đây nhà Trần chính thức lên ngôi với sự trị vì của một vị vua tám tuổi mà sau lưng là sự hậu thuẫn rất lớn của ông chú Trần Thủ Độ

Sở dĩ phải nói nhiều về nhân vật này, vì ông là một nhân vật rất quan trọng trong thời kỳ cuối nhà Lý đầu nhà Trần, đồng thời cũng là đầu mối gây ra nỗi đau cho Lý Chiêu Hoàng và sự bất hòa của anh em trong hoàng tộc nhà vua Trước sự xuống dốc không thể cứu vãn nổi của triều Lý, ông đã khôn khéo đưa họ Trần lên nắm lấy vũ đài chính trị từ năm 1226 và dần dần đặt nền tảng chắc chắn cho việc đưa họ Trần lên thay họ Lý trị vì thiên hạ Ông đã nghĩ ra

kế hoạch lợi dụng hôn nhân để giành ngôi nhà Lý Trước năm 1224 ông đã bố trí cho con trai trưởng của Trần Thừa là Trần Liễu kết hôn với công chúa Thuận Thiên là con gái trưởng của vua Lý Huệ Tông Đó là cuộc tảo hôn thứ nhất giữa hai họ Lý - Trần mà chính sử đã ghi chép lại Đến cuối năm Giáp Thân (1224), một lần nữa, ông đã khôn khéo bố trí để người con thứ của Trần Thừa là Trần cảnh kết hôn với Chiêu Thánh công chúa (bấy giờ là vua Lý Chiêu Hoàng vừa mới lên ngôi) Đây là cuộc tảo hôn lần thứ hai và cũng chính cuộc tảo hôn này đã góp phần vô cùng quan trọng vào việc làm thay đổi hoàn toàn ngôi vua Đại Việt Các sử gia xưa đã mô tả đại lược về cuộc tảo hôn này như sau:

"Trần Cảnh bấy giờ mới được tám tuổi, lo đứng ngoài cửa cung để chầu hầu nhà vua Một hôm (Trần Cảnh) phải bưng nước cho vua rửa, nhân đó mới được vào trong (Vua Lý) Chiêu Hoàng vừa trông thấy đã lấy làm ưa, cho nên, mỗi khi dạo chơi vào ban đêm, vẫn cho gọi (Trần) Cảnh đến đi cùng Thấy (Trần) Cảnh ở chỗ tối thì thân đến nô đùa, hoặc nắm tóc, hoặc đứng chèn lên bóng

Một hôm, (Trần) Cảnh bưng chậu nước đứng hầu (vua Lý) Chiêu Hoàng rửa mặt Vua lấy tay vốc nước, tát ướt hết cả mặt của (Trần) Cảnh rồi cười và chọc ghẹo Khi Trần Cảnh bưng khăn lau thì lấy khăn ném cho (Trần) Cảnh

Trang 37

(Trần) cảnh không dám nói gì cả, chỉ về ngầm thưa với (Trần) Thủ Độ (Trần) Thủ Độ nói rằng:

- Nếu thực như thế thì họ ta sẽ thành hoàng tộc hay là sẽ bị diệt hết đây? Lại có hôm, (vua Lý) Chiêu Hoàng lấy khăn ném cho (Trần) Cảnh (Trần) Cảnh lạy và thưa rằng:

- Bệ hạ có tha tội cho thần không? Có thế thần mới xin vâng mệnh (Lý) Chiêu Hoàng vừa cười vừa nói:

- Tha tội cho ngươi ư? Thế ra nay nhà ngươi đã biết nói khôn rồi đấy (Trần) Cảnh về thưa lại với (Trần) Thủ Độ (Trần) Thủ Độ sợ việc này mà tiết

lộ ra thì cả họ sẽ bị giết hết, bởi vậy, đem gia quyến vào trong cung cấm (Trần) Thủ Độ sai đóng chặt hết các cửa thành và cửa cung, canh giữ cẩn mật, không cho các quan vào chầu hầu (Trần) Thủ Độ lại loan báo:

- Bệ hạ nay đã có chồng rồi " (34, 71-72)

Ta thấy Trần Thủ Độ đã tận dụng được chớp nhoáng thời cơ để thực hiện

kế hoạch của mình Ngày 21 tháng 10 năm 1224, dưới sự tác động của Trần Thủ Độ, Lý Chiêu Hoàng triệu tập các quan vào chầu và xuống chiếu nhường ngôi vua cho Trần cảnh Và đến ngày 11 tháng 12 năm 1224, Lý Chiêu Hoàng

mở hội lớn ở điện Thiên An, các quan mặc triều phục vào chầu, quỳ lạy dưới sân Lý Chiêu Hoàng bèn trút bỏ ngự áo, mời Trần Cảnh lên ngôi hoàng đế, đổi niên hiệu là Kiến Trung năm thứ nhất Trần Thủ Độ được phong làm Quốc Thượng Phụ, nắm giữ mọi việc cai trị trong nước

Ngôi vua đã về tay nhà Trần trong điều kiện như vậy Bởi thế người ta nói Trần Thủ Độ là người có công khai sinh ra triều Trần Đầu năm 1926, Trần Thủ Độ tự phong cho mình hàm Thái sư và nhanh chóng áp dụng nhiều biện pháp rất kiên quyết nhằm nâng cao quyền lực của họ Trần, triệt để chấm dứt mọi mầm mống của họa loạn, ổn định tình hình chính trị của nước nhà Cụ thể

là tháng 8 năm 1226 Trần Thủ Độ đã bức tử Lý Huệ Tông, đồng thời truất ngôi hoàng hậu của bà Trần Thị Dung, giáng bà làm Thiên Cực công chúa và lấy bà làm vợ, cần nói thêm rằng bà Trần Thị Dung là chị họ của Trần Thủ Độ và

Trang 38

cũng chính Trần Thủ Độ là người đã chủ trương cho con em trong dòng họ Trần lấy nhau Đây là chủ trương nhằm đề phòng người khác họ lợi dụng hôn nhân để cướp ngôi Sự cẩn trọng giữ ngôi vua là cần thiết nhưng Trần Thủ Độ

và những người đương thời đã không thấy hết được những tác hại to lớn và lâu dài của chủ trương này

Sự kiện nổi bật nhất được Nguyễn Đình Thi đưa vào tác phẩm của mình

là sự kiện Trần Thủ Độ ép Trần Liễu phải nhường vợ của mình là Thuận Thiên công chúa cho Trần Thái Tông vào lúc Thuận Thiên công chúa có thai với Trần Liễu được ba tháng và Chiêu Thánh, từ khi nhường ngôi cho Trần cảnh được lập làm hoàng hậu, nay bị giáng xuống làm công chúa, ngôi vị hoàng hậu thuộc

về công chúa Thuận Thiên, sở dĩ có sự kiện đau lòng đó xảy ra cũng do Trần Thủ Độ lo sợ về sự mất còn của ngôi vua khi Chiêu Thánh chậm có con nối dõi, mà nhà vua đang độ tuổi xuân, cung phi mỹ nữ vây quanh, lỡ ra ngôi hoàng hậu thuộc về một dòng họ khác thì sẽ có chuyện không hay Vào tác phẩm, việc làm này của Trần Thủ Độ còn có được sự hỗ trợ chắc chắn của Trần Thị Dung Nguyễn Đình Thi cho ta thấy ý kiến táo bạo trên là của bà nghĩ ra và bàn với Trần Thủ Độ Phải chăng tác giả muốn chúng ta có một cái nhìn bớt gay gắt hơn với Trần Thủ Độ, nhân vật được tác giả xây dựng bằng ngòi bút khá độ lượng Và dẫu biết rằng việc làm đó sẽ gây ra nỗi đau đôi với Trần Liễu

và Lý Chiêu Hoàng nhưng vì cho đó là việc nước nên ông vẫn làm Hãy nghe ông nói đến sự quyết tâm của mình với Trần Liễu (lúc đó vẫn chưa hay biết gì):

“Nhưng mà tôi nghĩ thế này, ông Hoài vương ạ Phải làm thế nào cho được việc nước, đó là cái lẽ của người cầm nắm việc lớn Đã nắm việc nước, ắt phải xem bất cứ cái gì khác cũng là nhỏ, chỉ có việc nước là chuyện đáng kể thôi vương nghĩ có phải không?” (30, 295)

Sự việc sau đó xảy ra đúng như dự tính của Trần Thủ Độ đã gây ra sự phẫn uất rất lớn trong lòng của Trần Liễu và Lý Chiêu Hoàng Trần Liễu vì bất mãn đã cấu kết binh mã nổi loạn chống lại triều đình Còn Chiêu Thánh, một cô gái mảnh mai yếu đuối như vẫn còn ngơ ngác trước những sự việc đã xảy ra cho mình thì Nguyễn Đình Thi sẵn dành cho nàng một tấm lòng cảm thông, san

Trang 39

sẻ Ngòi bút nhân đạo của ông như nhỏ máu trước nỗi đau lịch sử của Lý Chiêu Hoàng Xây dựng nên hình tượng nhân vật nữ chính này, với những đau xót mà nàng phải gánh chịu, tác giả đã thể hiện được nỗi day dứt và xót xa của mình khi lần giở những trang sử đã qua Lý Chiêu Hoàng thật bé bỏng và đáng thương trước sức mạnh của quyền lực, nàng như hóa điên khi những người thân yêu dường như quay lưng lại với nàng Mẹ nàng, người đã rứt ruột sinh ra nàng lại cùng chồng âm mưu trong chuyện này Bao cay đắng trong lòng nàng như tuôn ra theo những lời nói thống thiết mà bi tráng với mẹ mình là Thiên Cực:

"CHIÊU THÁNH - Tôi biết, tôi nhìn thấy hết Ôi chao, khuôn mặt xinh đẹp nhường kia, tôi đã nhìn đến ngây người bao nhiêu lần từ những ngày tôi còn nhỏ, đến bây giờ như mới hai mươi lăm, hai mươi bảy tuổi, nhưng mà hai con mắt kia như hai lưỡi dao dính máu loang, trong cái trán kia lổn nhổn từng nút rắn độc ngoe ngay, tính toán, lật lọng, thu vén cho họ hàng nhà bà chiếm lấy thiên hạ, và cho bà nắm chặt quyền uy ở đời này! Bà có biết nhà vua năm

ấy chết như thế nào không? Tôi, tôi đã nhìn thấy, đứa bé gái lên tám hư đốn năm ấy đã chạy đến chùa Chân Giáo và tôi đã thây cha tôi Ôi mặt người thắt cổ to mọng lên bằng cái tráp, hai mắt trơn trắng dã, miệng ứa máu, và cái lưỡi đen bầm rơi ra ngoài miệng lủng liếng

THIÊN Cực - Thôi! Thôi! Thôi! Giời ơi! Đất ơi!

sơn nhà Lý ta giao lại Bờ cõi này còn chưa vững chắc thì các người phải ăn không ngon ngủ không yên! Còn ta, từ nay ta sẽ làm một người dân thường, xa nơi triều chính, còn được ngày tháng nào chỉ để mà lo hương khói thờ phụng

Trang 40

Đức vua cha ta, cho tròn đạo làm con, gọi là mong ăn năn tội lỗi của ta được phần nào Ta đã nói, bà đã nghe Hãy tuân theo ý ta, từ nay hãy để cho ta yên!" (30, 303-308)

Chúng tôi chỉ trích một số lời thoại trong một đoạn đối thoại thật dài giữa hai mẹ con Lý Chiêu Hoàng Những lời nói được phát ra từ miệng của Lý Chiêu Hoàng với tất cả sự oai hùng ẩn giấu trong cái vóc dáng gầy yếu cá nhân

mà chúng tôi cho rằng không ai có thể viết hay hơn thế được

Nàng đã vứt bỏ mũ niệm hoàng hậu dưới chân mình, nàng quá chán ngán trước địa vị và danh vọng Vì nó, biết bao người đã tranh giành, xâu xé và chém giết lẫn nhau Cha nàng, chẳng phải đã chết thật thảm thiết đó sao, còn

mẹ nàng lại trở thành vợ của kẻ giết cha nàng Chồng nàng, mẹ nàng, chị nàng tất cả đều xa lạ đối với nàng Nàng thật cao cả ở vị thế một vị vua cuối cùng của triều Lý đứng ra giao lại giang sơn cho nhà Trần Nàng mong muốn giang sơn nước Việt mà ông cha nàng bỏ bao xương máu gầy dựng phải được bền vững mãi mãi Hôn nhân của nàng là một sự xếp đặt để dành lấy danh vọng

và quyền lực cho một âm mưu thật sâu xa Cuộc hồn nhân đầy những mưu toan như vậy tất có lúc kết thúc như thế này Mặc dù vậy, trong nàng vẫn còn đọng lại kí ức của một thời làm vua, dòng máu hoàng tộc triều Lý vẫn không ngừng chảy trong nàng Dù thất bại nàng vẫn không cam chịu nhục, hãy nghe những lời nàng nói cùng Trần Cảnh trước lúc từ biệt:

"Thưa bệ hạ, không phải dễ dàng đâu Tiếc rằng nhà Lý tôi đến đây đã hết, nhưng tôi mừng là nhà Trần mở đầu đã có được bệ hạ Xin bệ hạ tha lỗi, tôi vẫn thầm coi chuyện nhường ngôi mười một năm trước là không có Hôm nay mới thật là ngày, trước trời đất núi sông, Chiêu Hoàng tôi kính mời Đức vua mở nghiệp lớn nhà Trần nhận lấy công việc đất nước Đại Việt này Từ lúc này, tôi chỉ xin là một người dân thường, cái tên Lý Chiêu Hoàng từ nay cũng không còn trong trí nhớ tôi nữa, dám mong bệ hạ rộng lượng cho tôi được một gian nhà không xa chùa Bảo Quang, để tiện đường đi lại trông nom hương khói cho cha tôi Được như vậy, xin không dám quên ơn." (30, 315-316)

Ngày đăng: 02/12/2015, 16:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w